Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI



    Steve Farr lại đưa Henry Davett vào la-bô. Nhà doanh nghiệp cảm ơn Farr và gật đầu chào Rhyme. Farr đi ra.

    “Henry”, Rhyme nói. “Cảm ơn ông đã tới.”

    Cũng giống như lúc trước, nhà doanh nghiệp không chú ý gì đến tình trạng của Rhyme. Tuy nhiên, lần này, thái độ của ông ta không đem đến cho anh nguồn an ủi. Nỗi lo lắng về Sachs đang xâm chiếm anh. Đầu óc anh cứ văng vẳng giọng Jim Bell.

    Thông thường anh có hai mươi tư tiếng đồng hồ để tìm thấy nạn nhân, sau khoảng thời gian đó nạn nhân trở nên mất tính người dưới con mắt kẻ bắt cóc và hắn sẽ giết họ chẳng cần suy nghĩ gì.

    Quy tắc này, lúc trước được áp dụng cho Lydia và Mary Beth, bây giờ thì nó có ảnh hưởng đến cả số phận của Amelia Sachs. Sự khác biệt, như Rhyme tin tưởng, chính là Sachs có lẽ sẽ có ít hơn hai mươi tư tiếng đồng hồ nhiều.

    “Tôi tưởng anh đã bắt được thằng nhãi. Tôi nghe nói vậy mà.”

    Ben đáp lời: “Hắn đã trốn thoát”.

    “Không!”. Davett cau mày.

    “Chắc chắn hắn đã trốn thoát”, Ben nói. “Một cuộc vượt ngục xưa như diễm.”

    Rhyme: “Tôi có thêm một số chứng cứ, nhưng tôi không biết phải hiểu chúng như thế nào. Tôi hy vọng lại được ông giúp đỡ”.

    Nhà doanh nghiệp ngồi xuống. “Tôi sẽ làm những gì có thể.”

    Một cái liếc mắt qua cây ghim cài cà vạt khắc các chữ cái WWJD.

    Rhyme hất đầu về phía bảng chứng cứ, nói: “Ông làm ơn đọc qua danh sách kia được không?Danh sách ở bên tay phải ấy”.

    “Cối xay – hắn đã ở đó à? Cái cối xay cũ kỹ nằm về phía đông bắc thị trấn?”

    “Đúng vậy”.

    “Tôi biết chỗ ấy.” Davett tức tối nhăn mặt. “Tôi đáng lẽ đã phải nghĩ tới nó.”

    Các nhà hình sự học không thể để cụm từ “đáng lẽ đã phải” len lỏi vào vốn từ vựng của họ. Rhyme nói: “ Trong công việc này, không thể nào mà nghĩ tới tất cả mọi điều được. Nhưng xin hãy đọc bảng chứng cứ. Có gì xem ra là quen thuộc đối với ông không?”.

    Davett thận trọng đọc.





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY


    Sơn nâu dây trên quần

    Cây gọng vó

    Đất sét

    Rêu nước

    Nước trái cây

    Sợi giấy

    Viên chua làm mồi câu

    Đường

    Camphene

    Chất cồn

    Dầu hỏa

    Men nở





    Vừa đăm đăm nhìn bảng chứng cứ, Davett vừa nói với giọng hết sức bối rối: “Giống như một câu đố vậy”.

    “Đó là bản chất công việc của tôi”, Rhyme nói.

    “Tôi có thể suy đoán tới mức nào?”, nhà doanh nghiệp hỏi.

    “Tới mức nào là tùy ý ông”, Rhyme trả lời.

    “Được rồi”, Davett nói. Ông ta nghĩ ngợi một lát. “Một cái vũng nguyệt quế Carolina.”

    Rhyme hỏi: “Là thế nào? Nước mưa à?”.

    Davett liếc nhìn Rhyme xem liệu anh có đang đùa không, rồi đáp: “Không, đó là một đặc điểm địa chất mà người ta vốn vẫn thấy dọc bờ biển miền Đông. Tuy nhiên, phần lớn chúng xuất hiện ở khu vực Carolina, Bắc và Nam. Về cơ bản, chúng có dạng những cái áo hình bầu dục, sâu chừng ba, bốn feet, chứa nước ngọt. Chúng có thể rộng từ nửa mẫu Anh cho tới vài trăm mẫu[36]. Đáy những cái ao này chủ yếu là đất sét và rêu nước. Hoàn toàn đúng với chứng cứ trên bảng kia.”

    “Nhưng đất sét và rêu nước – chúng cũng khá phổ biến xung quanh đây”, Ben nói.

    “Phải”, Davett đồng tình. “Và nếu các anh chỉ tìm thấy hai thứ đó, tôi sẽ không có manh mối nào lần ra nguồn gốc của chúng đâu. Nhưng các anh còn tìm thấy một số thứ khác. Xem đây này, một trong những đặc điểm thú vị nhất về vũng nguyệt quế Carolina chính là các loài cây ăn thịt côn trùng mọc xung quanh nó. Có hàng trăm loài cây bắt ruồi, cây gọng vó, cây nắp ấm – có thể vì môi trường ao nước khiến côn trùng sinh sôi nhiều. Nếu các anh tìm thấy cây gọng vó cùng với đất sét và rêu nước thì chẳng còn nghi ngờ gì, thằng nhãi ấy từng quanh quẩn đâu đấy xung quanh một cái vũng nguyệt quế Carolina”.

    “Tốt”, Rhyme nói. Rồi, đăm đăm nhìn tấm bản đồ, anh hỏi: “Vũng nguyệt quế có nghĩa thế nào?”.

    “Nó ám chỉ những cây nguyệt quế mọc xung quanh các ao nước này. Có đủ thứ chuyện hoang đường liên quan đến chúng. Những người tới định cư thuở xa xưa từng nghĩ chúng đã được những con quái vật biển khoét đất tạo thành hay do những mụ phù thủy niệm thần chú. Giả thuyết về dấu vết của thiên thạch rơi xuống trái đất tồn tại một số năm. Nhưng chúng thực sự chỉ là những chỗ lõm tự nhiên, kết quả của gió và các dòng chảy.”

    “Chúng có phải đặc điểm riêng biệt của khu vực cụ thể nào xung quanh đây không?”, Rhyme hỏi, hy vọng các ao nước này sẽ giúp thu hẹp phạm vi tìm kiếm lại.

    “Ở một mức độ nào đấy.” Davett đứng lên và bước tới trước tấm bản đồ. Ông ta dùng ngón tay khoanh tròn một khu vực rộng nằm về phía tây Tanner’s Corner. Từ ô B-2 đến ô E-2 và từ ô F-13 đến ô B-12. “Anh sẽ tìm thấy chúng phần lớn là ở đây, khu vực này, ngay trước khi anh tới chỗ các quả đồi”.

    Rhyme cảm thấy nản. Khu vực Davett khoanh tròn phải rộng tới bảy mươi háy tám mươi dặm vuông.

    Davett nhận ra phản ứng ở Rhyme. Ông ta nói: “Giá như tôi có thể giúp đỡ được nhiều hơn”.

    “Không, không, tôi rất biết ơn ông. Ý kiến của ông sẽ hữu ích. Chúng ta chỉ cần thu hẹp thêm phạm vi các manh mối”.

    Nhà doanh nghiệp đọc: “Đường, nước trái cây, dầu hỏa…”. Ông ta lắc đầu, mặt mày nghiêm trang. “Anh phải làm một công việc khó khăn đấy, Rhyme.”

    “Đây là những vụ án phức tạp”, Rhyme giải thích. “Khi người ta không có manh mối nào, người ta được suy đoán thoải mái. Khi người ta có rất nhiều manh mối, thông thường người ta khá nhanh chóng đi đến được câu trả lời. Nhưng có một vài manh mối, như thế này… “Giọng Rhyme nhỏ dần.

    “Chúng ta bị trói vào những thực tế đó”, Ben lẩm bẩm.

    Rhyme quay sang anh ta. “Chính xác đấy, Ben ạ. Chính xác”.

    “Tôi phải về nhà”, Davett nói. “Gia đình đang đợi tôi”. Ông ta ghi một số điện thoại lên tấm danh thiếp. “Anh có thể gọi cho tôi bất cứ lúc nào.”

    Rhyme cảm ơn Davett lần nữa, rồi lại quay sang đăm đăm nhìn bảng chứng cứ.

    Bị trói vào những thực tế đó…





    Rich Culbeau mút máu khỏi vết gai mâm xôi cào sâu trên cánh tay. Gã nhổ vào một thân cây to.

    Ba gã mất hai mươi phút vất vả luồn lách qua các bụi rậm mới tới được hàng hiên bên hông ngôi nhà nghỉ kiến trúc theo kiểu chữ A mà không bị đồ chó cái với khẩu súng bắn tỉa phát hiện. Đến cả Harris Tomel, bình thường trông cứ như vừa bước ra từ hàng hiên một câu lạc bộ thể thao ngoại ô, cũng lem luốc, đầy máu me.

    Gã Sean O’Serian mới mẻ, lặng lẽ và trầm tư và, chà, tỉnh táo nữa, đang đứng đợi ngoài lối mòn, nằm trên mặt đất với khẩu súng đen sì y như một tên lính bộ binh đang nằm càu nhàu tại khe Sahn, sẵn sàng cản bước Lucy và những tay Việt Cộng khác bằng vài phát đạn xả vào đầu bọn họ, phòng trường hợp bọn họ đặt chân lên lối mòn dẫn về phía ngôi nhà.

    “Mày sẵn sàng chưa?”, Culbeau hỏi Tomel, gã này gật đầu.

    Culbeau khe khẽ xoay quả đấm cửa tiền sảnh và đẩy cho cánh cửa mở vào, gã giương súng, sẵn sàng nhả đạn. Tomel theo sau gã. Hai gã bước rón rén như mèo, biết rằng cô ả cớm tóc đỏ với khẩu súng trường săn hươu mà cô ả chắc chắn thông thạo cách sử dụng có thể đang chờ đợi hai gã ở bất cứ ngóc ngách nào bên trong ngôi nhà.

    “Mày có thấy gì không?”, Culbeau thì thầm.

    “Chỉ nghe thấy tiếng nhạc.” Đó là thể loại soft rock – thể loại mà Culbeau vẫn nghe vì gã ghét thứ nhạc đồng quê miền Tây.

    Hai gã đàn ông di chuyển từ từ dọc theo dãy hành lang lờ mờ tối, súng giương lên, đã kéo cò. Hai gã bước chậm lại. Phía trước hai gã là căn bếp, nơi Culbeau lúc trước, khi nhìn qua kính ngắm của khẩu súng trường, đã trông thấy ai đó – có lẽ là thằng nhãi kia – đi đi lại lại. Gã hất đầu về phía căn bếp.

    “Tao nghĩ bọn nó không nghe thấy ta đến đâu”, Tomel nói. Tiếng nhạc được vặn lên khá to.

    “Ta cùng vào. Nhằm cẳng chân hoặc đầu gối bọn nó mà bắn. Đừng làm hắn ngoẻo đấy – ta vẫn còn cần hắn khai xem Mary Beth đang ở đâu.”

    “Cả cô ả kia nữa à?”

    Culbeau nghĩ một lát. “Ừ, sao không? Bọn ta có lẽ sẽ muốn giữ cho cô ả sống thêm tí chút. Mày biết để làm gì rồi”.

    Tomel gật đầu.

    “Một, hai… ba”.

    Hai gã ập vào căn bếp và nhận ra mình suýt nữa nã cho tay dự báo thời tiết trên chiếc tivi màn hình rộng mấy phát đạn. Hai gã khom người xoay một vòng, tìm kiếm thằng nhãi và cô ả cớm. Không trông thấy đâu. Rồi Culbeau nhìn chiếc tivi, nhận ra nó vốn chẳng được kê trong căn bếp này. Ai đó đã vần nó từ phòng khách sang và kê nó phía trước lò nướng, màn hình hướng về phía cửa sổ.

    Culbeau ngó qua tấm mành. “Mẹ kiếp. Hai đứa nó kê chiếc tivi ở đây để bọn ta từ bên kia bãi đất, từ chỗ lối mòn ấy, trông thấy. Và nghĩ có người trong nhà.” Gã dứt những ngôi sao đính trên tấm mành ra, hai cái một.

    “Khoan”, Tomel kêu to. “Ả đang ở trên gác, có súng.”

    Nhưng tất nhiên tóc đỏ hoàn toàn chẳng ở trên gác. Culbeau đạp cửa xô vào cái phòng ngủ mà lúc trước gã trông thấy nòng khẩu súng trường và chiếc kính ngắm chĩa về phía mình. Bây giờ thì gã phát hiện ra những thứ gần đúng như dự đoán của gã: một đoạn ống hẹp trên đỉnh được gắn với một đít vỏ chai bia Corona bằng băng dính.

    Gã nói trong cơn phẫn nộ: “Đấy là khẩu súng và chiếc kính ngắm ấy đấy. Lạy Chúa. Hai đứa nó đã bố trí để bịp bọn ta. Khiến bọn ta mất đứt nửa tiếng đồng hồ. Và đám cảnh sát chết tiệt có lẽ chỉ còn cách đấy năm phút. Bọn ta phải rời khỏi chỗ này thôi.”

    Culbeau chạy ào qua Tomel. Gã này vừa bắt đầu mở miệng: “Khôn ngoan như ả…”. Nhưng, nhìn thấy ánh mắt tức giận của Culbeau, gã quyết định không nói nốt câu.

    Hết ắc quy, cái động cơ điện bé tí im bặt.





    Chiếc xuồng hẹp họ đánh cắp từ ngôi nhà nghỉ trôi theo dòng Paquenoke, xuyên qua màn sương đặc quánh như dầu bao trùm trên sông. Trời đã chạng vạng. Mặt nước không còn màu ánh vàng nữa mà chuyển sang màu xám ảm đạm.

    Garrett Hanlon cầm một mái chèo từ dưới đáy xuồng lên, chèo vào bờ. “Chúng ta phải cập bờ ở chỗ nào đó”, gã nói. “Trước khi trời, nói chung, tối hẳn.”

    Amelia Sachs nhận ra quang cảnh đã thay đổi. Cây cối đã thưa thớt đi và những vũng lầy lớn gặp gỡ dòng sông. Gã trai nói đúng, một chỗ ngoặt sai lầm sẽ có thể đưa họ vào một ngóc ngách của bãi lầy nào đấy mà không thể thoát ra được.

    “Này cô, sao vậy?”, Garrett hỏi, trông thấy vẻ lo lắng trên gương mặt Sachs.

    “Tôi đang cách quá xa Brooklyn.”

    “Chỗ đó ở New York à?.”

    “Phải”, Sachs nói

    Garrett búng móng tay. “Và vì đang không ở đấy mà cô không yên lòng?”

    “Chắc chắn là thế.”

    Vừa lái xuồng vào bờ, Garrett vừa nói: “Đó là điều bọn côn trùng sợ hãi nhất”.

    “Điều gì?”.

    “Nói chung, thật kì lạ. Bọn chúng không ngại lao động, cũng không ngại chiến đấu. Tuy nhiên bọn chúng đều hoảng hốt hết cả khi rơi vào một môi trường xa lạ. Thậm chí nếu đấy là một môi trường an toàn. Bọn chúng ghét điều đó, không biết phải làm gì.”

    Được, Sachs nghĩ, tôi cho rằng tôi là một con côn trùng mang thẻ cảnh sát. Cô thích cách diễn đạt của Lincoln hơn: cá trên cạn.

    “Người ta luôn luôn nhận ra được khi nào thì một con côn trùng thực sự lo lắng. Nó cọ đi cọ lại râu… Râu của côn trùng bộc lộ tâm trạng của chúng. Giống như bộ mặt chúng ta vậy. Chỉ có điều…”, Garrett nói thêm đầy ẩn ý, “chúng không mang những bộ mặt giả vờ. Giống như chúng ta”. Gã cất tiếng cười kì cục - Sachs chưa nghe thấy tiếng cười kiểu ấy bao giờ.

    Garrett nhẹ nhàng đu qua mạn xuồng bước xuống nước và kéo chiếc xuồng lên bờ. Sachs trèo ra. Gã dẫn cô đi xuyên rừng và dường như biết chính xác sẽ phải đi đến đâu bất chấp bóng tối chạng vạng và không có lối mòn nào mà cô trông thấy được cả.

    “Làm sao cậu biết phải đi đến đâu?”, Sachs hỏi.

    Garrett nói: “Tôi cho rằng tôi là loài Vương Điệp. Tôi có khả năng xác định phương hướng khá tốt”.

    “Vương Điệp?”.

    “Cô biết đấy, một loài bướm ấy mà. Chúng di cư xa cả nghìn dặm và biết chính xác phải bay đến đâu. Thực sự rất hay nhé – chúng xác định phương hướng theo mặt trời và tự động đổi đường bay phụ thuộc vào đường chân trời. Ồ, và khi trời u ám hoặc đêm tối, chúng sử dụng một giác quan khác – chúng cảm nhận được từ trường của trái đất”.

    Khi một con dơi phóng ra một chùm âm thanh để tìm kiếm chúng, những con bướm đêm liền gấp cánh lại và thả mình rơi xuống đất, ẩn trốn.

    Sachs đang mỉm cười trước bài giảng đầy nhiệt tình của Garrett thì cô đột ngột ngưng lại, khom mình xuống. “Nhìn kìa”, cô thì thầm. “Kia kìa! Có ánh sáng”.

    Vùng ánh sáng yếu ớt phản chiếu trên mặt một cái ao âm u. Thứ ánh sáng màu vàng đáng sợ trông giống như ánh đèn lồng sắp tắt.

    Nhưng Garrett cười to.

    Sachs nhìn gã dò hỏi.

    Gã nói: “Chỉ là một hồn ma thôi”.

    “Cái gì?”, Sachs hỏi.

    “Đó là Thủy nữ Đầm lầy. Nói chung, cái cô gái Anh điêng này đã chết vào đêm trước lễ cưới. Hồn ma cô ta vẫn lội khắp đầm lầy Sầu Thảm tìm kiếm người con trai mà cô ta đáng lẽ sẽ lấy làm chồng. Chúng ta đang không ở khu vực đầm lầy Sầu Thảm, nhưng nó cũng gần đây”. Garrett hất đầu về phía ánh sáng mờ đục. “Thực ra thì đó chỉ là hiện tượng phát quang sinh học – một loài nấm khổng lồ phát sáng”.

    Sachs không thích thứ ánh sáng kia. Nó gợi cho cô nhớ tới cái cảm giác bứt rứt trong lòng khi họ lái xe đi vào Tanner’s Corner sáng nay, trông thấy cỗ quan tài nhỏ giữa đám tang ấy.

    “Tôi không thích khu vực đầm lầy này, dù có hay không có ma”, Sachs nói.

    “Thế á?”, Garrett hỏi lại “Có thể rồi cô sẽ thấy thích. Một ngày nào đó”.

    Gã dẫn Sachs đi dọc một con đường, và mười phút sau thì gã rẽ xuống một lối ngắn cho xe chạy vào nhà, um tùm cỏ mọc. Một cái nhà lưu động đỗ trên bãi đất trống. Trong bóng tối lờ mờ, cô không trông thấy được rõ ràng, nhưng dường như nó là một cái nhà lưu động đổ nát, nghiêng sáng một bên, gỉ sét, các lốp bẹp gí, phủ đầy dây thường xuân và rêu.

    “Của cậu à?”

    “Chà, đã nhiều năm không ai sống ở đây cả, nên tôi cho rằng nó là của tôi. Tôi có chìa khóa nhưng chìa khóa lại để đằng nhà. Tôi không kịp lấy.” Garrett đi vòng sang bên hông và cạy được một ô cửa sổ, đu lên chui vào qua đó. Lát sau, cửa ra vào mở ra.

    Sachs bước vào. Garrett đang lục lọi cái tủ kê trong căn bếp bé tí. Gã tìm thấy diêm và châm chiếc đèn lồng đốt bằng khí Propane. Nó tỏa ra thứ ánh sáng màu vàng ấm áp. Gã mở một cái tủ khác, nhòm vào bên trong. “Tôi có ít khoai tây chiên Doritos, nhưng lũ chuột xơi mất rồi”. Garrett lôi ra một cái hộp nhựa, xem xét. “Nhai nát hết cả. Mẹ kiếp. Nhưng tôi có mì ống hiệu Farmer John. Ngon đấy. Tôi ăn suốt. Và cả ít đậu nữa.” Gã bắt đầu mở các hộp thực phẩm trong lúc Sachs nhìn xung quanh. Vài cái ghế, một cái bàn. Cô trông thấy trong phòng ngủ một cái nệm dơ dáy. Trên sàn phòng khách là chiếc gối và tấm thảm dày. Bản thân ngôi nhà lưu động đã toát ra vẻ nghèo khổ: đồ đạc và các cánh cửa nứt gãy, cửa sổ vỡ kính, những vết đạn xuyên trên tường, thảm ố bẩn đến mức chẳng tài nào giặt sạch được. Hồi cô còn làm cảnh sát tuần tra ở Sở Cảnh Sát New York, cô từng nhìn nhiều chốn đáng buồn như thế này – nhưng bao giờ cũng chỉ nhìn từ bên ngoài. Bây giờ thì đây chính là chốn dung thân tạm thời của cô.

    Sachs nghĩ về lời Lucy nói ban sáng.

    Luật lệ bình thường không áp dụng đối với bất kì ai ở phía Bắc sông Paquo. Cả chúng tôi lẫn bọn họ. Anh có thể thấy chính anh nhả đạn trước khi anh đọc cho người ta biết về các quyền của người ta và điều đó hoàn toàn không vấn đề gì cả.

    Nhớ tới những phát súng săn quá đỗi bất ngờ, nhằm vào cô và Garrett.

    Gã trai mắc mấy mảnh vải nhờn nhụa lên cửa sổ để tránh cho người ta trông thấy ánh sáng bên trong ngôi nhà. Gã bước ra ngoài một lát rồi quay vào, mang theo cái cốc han gỉ, đựng đầy nước mưa, có lẽ thế. Gã chìa cái cốc cho Sachs. Cô lắc đầu. “Cảm giác như tôi phải uống phân nửa nước sông Paquenoke.”

    “Nước này hơn nước sông.”

    “Tôi chắc chắn vậy. Dù sao tôi cũng không uống đâu.”

    Garrett uống cạn cốc nước, rồi khuấy thức ăn đang đun trên chiếc bếp lò sử dụng khí propane. Bằng giọng êm ái, gã ngân nga mãi một giai điệu kì quặc: Farmer John, Farmer John. Hãy thưởng thức những thức ăn tươi ngon của Farmer John… Đó chỉ là một giai điệu quảng cáo, tuy nhiên cái giai điệu này gây tâm trạng bối rối không yên và Sachs thấy mừng khi gã thôi hát.

    Sachs không định ăn, nhưng cô bất chợt nhận ra rằng mình đang đói muốn chết. Garrett đổ thức ăn vào hai cái bát và đưa cho cô chiếc thìa. Cô nhổ nước bọt vào chiếc thìa, lấy áo sơ mi lau. Họ im lặng ăn vài phút.

    Sachs để ý thấy một âm thanh cất lên bên ngoài, một âm thanh cao, nghe chói tai. “Gì thế?”, cô hỏi. “Ve sầu à?”.

    “Phải”, Garrett trả lời. “Chỉ những con đực mới kêu như thế thôi. Chỉ những con đực. Chúng tạo ra tất cả những âm thanh đó chỉ nhờ những tấm màng nhỏ trên thân”. Gã nheo mắt, ngẫm nghĩ một lát. “Cuộc đời của chúng hết sức kì lạ… Ấu trùng đào đất chui xuống và ở dưới ấy, nói chung, hai mươi năm, trước khi nở. Rồi chúng chui lên và leo lên cây. Vỏ của chúng nứt theo đường dọc, con ve sầu trưởng thành bò ra. Tất cả ngần ấy năm trong lòng đất, ẩn trốn, trước khi bò ra làm con ve sầu trưởng thành.”

    “Tại sao cậu thích côn trùng đến vậy, Garrett?”, Sachs hỏi.

    Gã ngập ngừng. “Tôi không biết. Tôi cứ thích thế thôi.”

    “Cậu chưa bao giờ tự thắc mắc điều ấy à?”

    Garrett ngừng ăn. Gã gãi một vết lằn đỏ vì lá sồi độc. “ Tôi nghĩ tôi bắt đầu quan tâm đến côn trùng từ sau khi bố mẹ tôi mất. Khi việc đó xảy ra tôi rất buồn bã. Tôi cảm thấy đầu óc mình không bình thường. Tôi bối rối và, tôi không biết, chỉ biết rằng không bình thường. Các giáo viên tham vấn tâm lý ở trường cứ bảo nguyên nhân là do cái chết của bố mẹ và đứa em gái tôi, và họ, nói chung, bảo tôi nên chịu khó làm việc hơn để vượt qua. Nhưng tôi không thể. Tôi cứ cảm thấy như tôi không phải một người thực sự. Tôi không quan tâm đến bất cứ thứ gì. Tôi chỉ nằm bẹp trên giường hoặc đi vào đầm lầy, vào rừng, đọc sách. Trong vòng một năm, tôi chỉ làm chừng ấy việc. Nói chung, tôi hầu như không giáp mặt ai. Cứ chuyển từ nhà cha mẹ nuôi này sáng nhà cha mẹ nuôi khác… Nhưng rồi tôi đã đọc được những chi tiết thú vị trong cuốn sách kia.”

    Lật cuốn Thế giới thu nhỏ, Garrett tìm đến một trang. Gã đưa nó cho Sachs xem. Gã đã khoanh tròn đoạn có đầu đề là “Đặc điểm của những sinh vật lành mạnh”. Sachs lướt qua vài điểm trong số tám hay chín đểm được liệt kê.





    - Một sinh vật lành mạnh luôn luôn nỗ lực để lớn lên và phát triển.

    - Một sinh vật lành mạnh luôn luôn nỗ lực để sống sót.

    - Một sinh vật lành mạnh luôn luôn nỗ lực để thích nghi với môi trường xung quanh.





    Garrett nói: “Tôi đọc những điều ấy và, chà chà, xem chừng tôi có thể như thế được. Tôi có thể trở lại lành mạnh và bình thường. Tôi hết sức cố gắng làm theo các quy tắc kia. Và tôi cảm thấy khá hơn. Bởi vậy tôi cho rằng tôi trở nên gần gũi với chúng – ý tôi là đám côn trùng.”

    Một con muỗi đậu xuống cánh tay Sachs. Cô cười to. “Nhưng chúng cũng uống máu người ta nữa.” Cô đập cho nó một phát. “Hết đời cu cậu.”

    chứ”, Garrett đính chính. “Chỉ muỗi cái mới hút máu thôi. Muỗi đực hút mật hoa.”

    “Thật à?”

    Garrett gật đầu rồi im lặng một lát. Gã nhìn cái chấm máu trên cánh tay Sachs. “Côn trùng không bao giờ biến mất.”

    “Ý cậu là gì?”

    Garrett tìm đến một đoạn khác trong cuốn sách, đọc to. “Nếu có những sinh vật nào được gọi là bất tử thì đó chính là côn trùng, những sinh vật đã tồn tại trên trái đất hàng triệu năm trước khi các loài thú xuất hiện và sẽ vẫn còn tồn tại dài lâu sau khi đời sống văn minh chấm dứt”. Garrett đặt cuốn sách xuống, ngẩng nhìn Sachs. “Cô thấy đấy, vấn đề là, nếu cô giết chết một con sẽ vẫn còn nhiều con khác. Nếu bố mẹ và đứa em gái tôi là côn trùng thì khi họ qua đời sẽ có những người khác giống như họ và tôi sẽ không phải đơn độc.”

    “Cậu không có bạn bè à?”

    Garrett nhún vai. “Mary Beth. Cô ấy gần như là bạn duy nhất.”

    “Cậu thực sự thích cô ấy, phải không?”

    “Thực sự. Cô ấy đã cứu tôi khỏi cái thằng nhãi đang định giở trò đê tiện ra với tôi. Và, ý tôi là, cô ấy đã trò chuyện với tôi…” Garrett nghĩ ngợi một lát. “Tôi cho rằng vì thế mà tôi thích cô ấy. Trò chuyện. Tôi nghĩ, nói chung, có thể vài năm nữa, khi tôi nhiều tuổi hơn, cô ấy biết đâu sẽ muốn hẹn hò với tôi. Chúng tôi có thể làm những việc mà những người khác vốn vẫn làm. Cô biết đấy, đi xem phim. Hay đi dã ngoại. Tôi đã quan sát cô ấy trong một chuyến đi dã ngoại. Cô ấy đi cùng mẹ và mấy người bạn. Họ vui vẻ lắm. Tôi đã quan sát, nói chung, hàng tiếng đồng hồ. Tôi cứ ngồi dưới một bụi nhựa ruồi, với ít nước và khoai tây chiên Doritos, giả vờ như mình đang tham gia cùng họ. Cô đã bao giờ đi dã ngoại chưa?”

    “Rồi, tất nhiên.”

    “Tôi từng thường xuyên đi cùng gia đình. Ý tôi là gia đình thực sự của tôi ấy. Tôi đã rất thích. Mẹ và Kaye bày biện bàn và nướng các thứ trên cái bếp Kmart nhỏ. Bố và tôi tháo giày, tất ra, đứng xuống nước câu cá. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác khi chân sục vào bùn với nước lạnh.”

    Sachs tự hỏi phải chăng đây là lý do khiến Garrett thích nước và côn trùng dưới nước đến vậy. “Và cậu cho rằng cậu sẽ đi dã ngoại cùng Mary Beth?”

    “Tôi không biết. Có thể.” Rồi Garrett lắc đầu, mỉm cười buồn bã. “Tôi cho rằng không đâu. Mary Beth xinh xắn, thông minh, hơn tôi nhiều tuổi thế. Rốt cuộc thì cô ấy sẽ hẹn hò với một người nào đó đẹp trai, thông minh. Nhưng chúng tôi có thể làm bạn, cô ấy và tôi. Thậm chí nếu không được vậy, tất cả những gì tôi thực sự quan tâm là cô ấy được an toàn. Cô ấy sẽ ở với tôi đến chừng nào hết nguy hiểm. Hoặc cô và bạn cô, cái ông ngồi xe lăn mà mọi người đều nói tới ấy, ông ta và cô có thể giúp đỡ cô ấy đi đến nơi nào an toàn.” Gã nhìn ra ngoài cửa sổ, không nói gì nữa.

    “Thoát khỏi gã đàn ông mặc quần yếm à?”, Sachs hỏi.

    Garrett chưa trả lời ngay, rồi gật đầu. “Phải, đúng thế.”

    “Tôi đi lấy ít nước”, Sachs nói

    “Khoan.” Garrett dứt mấy chiếc lá khô từ cái cành nhỏ nằm trên kệ bếp, bảo cô chà lên hai cánh tay trần, lên cổ và má. Mùi thảo dược sực nức. “Đấy là sả”, gã giải thích. “Để đuổi lũ muỗi đi. Cô sẽ không phải đập chúng nữa.”

    Sachs cầm cái cốc lên. Cô đi ra ngoài, nhìn thùng nước mưa. Nó được đậy bằng một tấm lưới mắt mau. Cô nhấc tấm lưới ra, múc nước đầy cốc, uống cạn. Nước dường như có vị ngọt. Cô lắng nghe tiếng rúc và tiếng bay vun vút của đám côn trùng.

    Hoặc cô và bạn cô, cái ông ngồi xe lăn mà mọi người đều nói tới ấy, ông ta và cô có thể giúp đỡ cô ấy đi đến nơi an toàn.

    Mấy lời kia cứ vang vọng trong đầu óc Sachs: Cái ông ngồi xe lăn, cái ông ngồi xe lăn.

    Cô quay vào, đặt cái cốc xuống, nhìn xung quanh phòng khách bé tí. “Garrett, cậu làm hộ tôi một việc được không?”

    “Tôi nghĩ là được”.

    “Cậu tin tưởng tôi chứ?”

    “Tôi nghĩ thế.”

    “Hãy ngồi xuống ở đằng kia.”

    Garrett nhìn Sachs một lát rồi đứng lên, bước tới trước chiếc ghế bành cũ kĩ mà cô đang hất đầu chỉ. Sachs bước ngang qua căn phòng bé tí, nhấc một trong số những chiếc ghế dựa mây đặt trong góc phòng lên. Cô mang nó đến chỗ gã trai ngồi và đặt quay vào gã.

    “Garrett, cậu nhớ việc Tiến sĩ Penny bảo cậu làm lúc ở nhà giam không? Với chiếc ghế trống ấy?”

    “Nói chuyện với chiếc ghế à?”, Garrett hỏi, ngập ngừng nhìn chiếc ghế. Gã gật đầu. “Trò chơi đó hả?”

    “Phải. Tôi muốn cậu làm lại. Được không?”

    Garrett lưỡng lự, chùi hai bàn tay vào ống quần, nhìn chằm chằm chiếc ghế một hồi. Cuối cùng, gã nói: “Tôi nghĩ là được”.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT



    Amelia Sachs hình dung lại phòng thẩm vấn và phần làm việc của nhà tâm lý học.

    Từ vị trí quan sát thuận lợi của mình, Sachs đã quan sát kĩ lưỡng gã trai qua tấm gương một chiều. Cô nhớ ông bác sĩ đã cố gắng như thế nào để ép gã tưởng tượng rằng Mary Beth đang ngồi trên chiếc ghế đó nhưng, mặc dù Garrett không muốn nói gì với cô gái, gã rõ ràng muốn nói chuyện với một người nào đấy. Cô đã nhìn thấy vẻ mặt gã, vẻ mặt chờ đợi, thất vọng – và giận dữ nữa, cô đinh ninh như vậy – khi ông bác sĩ kéo gã ra khỏi cái chỗ gã muốn đi tới.

    Ôi, Rhyme, em hiểu rằng anh vốn vẫn ưa những chứng cứ cứng rắn, lạnh lùng. Rằng chúng ta không thể phụ thuộc vào những thứ “mềm yếu” ấy được – những lời lẽ, những vẻ mặt, những giọt nước mắt, và ánh nhìn của một người khi ta ngồi đối diện họ, lắng nghe những câu chuyện họ kể… Nhưng điều ấy không có nghĩa là những câu chuyện họ kể luôn luôn giả dối. Em tin tưởng rằng chứng cứ chưa nói hết với chúng ta về Garrett Hanlon đâu.

    “Hãy nhìn chiếc ghế”, Sachs bảo. “Cậu muốn tưởng tượng ai đang ngồi kia?”

    Garrett lắc đầu. “Tôi không biết.”

    Sachs đẩy chiếc ghế lại gần hơn. Cô mỉm cười khuyến khích gã. “Hãy nói cho tôi nghe nào. Có vấn đề gì đâu. Một cô gái à? Hay một người nào đấy ở trường học?”

    Garrett lại lắc đầu.

    “Hãy nói cho tôi nghe nào.”

    “Chà, tôi không biết. Có lẽ…” Garrett ngừng một chút, rồi buột thốt ra: “Có lẽ là bố tôi”.

    Sachs khó chịu nhớ tới ánh mắt lạnh lẽo và cách cư xử thô lỗ của Hal Babbage. Cô cho rằng Garrett sẽ có nhiều điều để nói với ông ta.

    “Chỉ bố cậu thôi à? Hay cả ông ấy và bà Babbage?”

    “Không, không, không phải ông ta. Ý tôi là bố đẻ của tôi cơ.”

    “Bố đẻ của cậu?”.

    Garrett gật đầu. Gã bối rối, căng thẳng, Liên tục búng móng tay.

    Râu của côn trùng bộc lộ tâm trạng chúng…

    Nhìn bộ mặt lo lắng của Garrett, Sachs băn khoăn nhận ra rằng cô không biết gì về việc mình đang làm. Chắc chắn có vô số cách mà các nhà tâm lý học thực hiện để khuyến khích bệnh nhân nói, để hướng dẫn họ, để bảo vệ họ, khi họ áp dụng bất cứ liệu pháp nào. Liệu có nguy cơ cô sẽ khiến Garrett rơi vào tình trạng tồi tệ hơn không? Đẩy cho gã vượt quá một ranh giới nào đấy và vì thế sẽ thực sự có hành vi bạo lực, làm hại bản thân hoặc người khác? Dù sao, cô cũng vẫn thử. Biệt hiệu của Sachs ở Sở Cảnh sát New York là “con gái cớm tuần tra”, con gái một cảnh sát tuần tra khu vực, và cô rõ ràng mang những đặc điểm giống cha mình: niềm say mê ô tô, tình yêu đối với nghề nghiệp, sự thiếu kiên nhẫn trước những thứ vớ vẩn, và đặc biệt là năng khiếu tâm lý học đường phố. Lincoln Rhyme hay gièm pha cô là một “cảnh sát nhân dân” và cảnh báo rằng điều đó sẽ đem đến cho cô kết cục thảm hại. Anh ca tụng cô là nhà hình sự học tài ba và, tuy cô đúng là nhà khoa học khám nghiệm có tài, về mặt tâm hồn, cô giống hệt cha. Đối với Amelia Sachs, những chứng cứ hữu ích nhất là những chứng cứ tìm thấy trong trái tim con người.

    Ánh mắt Garrett lang thang về phía cửa sổ, nơi những con bọ cứ va vào khung lưới han gỉ ý như muốn tự sát.

    “Bố cậu tên gì?”, Sachs hỏi.

    “Stuart. Stu.”

    Cậu đã gọi ông ấy như thế nào?”

    “Thường thì là bố, đôi khi là cha”. Garrett mỉm cười buồn bã. “Trong trường hợp tôi trót làm sai điều gì và nghĩ rằng mình nên, nói chung, cư xử cho tốt”.

    “Cậu và bố cậu hòa thuận với nhau chứ?”

    “Hòa thuận hơn phần lớn bạn bè tôi và bố chúng. Thi thoảng chúng lại bị ăn đòn và bố chúng lúc nào cũng quát tháo chúng. Cô biết đấy, đại loại như: “Tại sao mày không đạt được mục tiêu đó?”, “Tại sao phòng mày lộn xộn thế?” , “Tại sao mày quên làm bài tập?.” Nhưng bố tôi thì luôn luôn nhẹ nhàng với tôi. Cho tới khi…” Giọng Garrett nhỏ đi.

    “Tiếp tục nào.”

    “Tôi không biết.” Lại một cái nhún vai nữa.

    Sachs kiên trì. “Cho tới khi làm sao, Garrett?”

    Im lặng.

    “Hãy nói ra nào.”

    “Tôi không muốn nói với cô. Thật là một việc ngớ ngẩn.”

    “Chà, không phải nói với tôi. Nói với ông ấy cơ, bố cậu”. Sachs hất đầu chỉ chiếc ghế. “Bố cậu đang ở kia, trước mặt cậu. Hãy tưởng tượng như thế.” Gã trai dịch người về phía trước, nhìn chằm chằm chiếc ghế, gần như là ghê sợ.” Stu Hanlon đang ngồi kia. Hãy nói với ông ấy”.

    Trong một khoảnh khắc, ánh mắt gã trai xuất hiện vẻ chờ đợi khiến Sachs muốn phát khóc. Cô biết họ đã đến gần điều gì đó quan trọng và cô lo sợ gã sẽ chùn lại. “Hãy kể cho tôi nghe về ông ấy.” Cô nói, hơi thay đổi chiến thuật. “Hãy kể cho tôi nghe xem ông ấy trông như thế nào. Ông ấy hay mặc quần áo ra sao”.

    Sau một chút im lặng, gã trai nói: “Bố tôi cao và hơi gầy. Tóc ông thẫm màu và ngay sau khi cắt thì chúng cứ dựng đứng hết lên. Trong vòng vài ngày sau đó ông phải bôi một thứ keo có mùi thơm thơm để tóc ẹp xuống. Ông bao giờ cũng ăn mặc khá tươm tất. Ông thậm chí không mặc quần bò, tôi nghĩ là ông không mặc. Ông bao giờ cũng mặc sơ mi, cô biết đấy, có cổ cồn. Và quần có gấu lơ-vê”. Sachs nhớ lại rằng khi khám xét phòng gã cô đã chú ý tới việc gã không có quần bò mà chỉ có quần vải gấu lơ-vê. Một nụ cười yếu ớt hiện trên gương mặt Garrett.” Ông hay thả cho một đồng hai mươi nhăm xu rơi dọc theo ống quần và cố gắng dùng gấu lơ-vê bắt lấy nó, nếu được thì ông sẽ cho em gái tôi và tôi. Nói chung, đó là trò mà chúng tôi hay chơi. Vào dịp Giáng sinh, ông mang về nhà những đồng đô la bạc và cứ thả chúng trượt dọc theo ống quần cho tới lúc anh em tôi bắt được.”

    Những đồng đô la bạc trong cái lọ đựng ông bắp cày, Sachs nhớ lại.

    “Ông ấy có sở thích gì không? Chơi thể thao chẳng hạn?”

    “Bố tôi thích đọc. Ông hay đưa chúng tôi tới hiệu sách và đọc cho chúng tôi nghe. Rất nhiều sách về lịch sử và du lịch. Và sách về thiên nhiên. Ồ, ông còn hay đi câu cá. Gần như cuối tuần nào cũng đi.”

    “Chà, hãy tưởng tượng rằng ông ấy đang ngồi trên chiếc ghế trống kia, mặc chiếc quần đẹp cùng với chiếc sơ mi có cổ cồn. Và ông ấy đang đọc một cuốn sách. Được không?”.

    “Tôi nghĩ là được.”

    “Ông ấy đặt cuốn sách xuống…”

    “Không, đầu tiên thì ông, nói chung, sẽ đánh dấu đoạn đang đọc. Ông có vô số các cái đánh dấu sách. Ông gần như sưu tầm chúng. Em gái tôi và tôi đã tặng ông một cái vào dịp Giáng sinh trước khi xảy ra tai nạn.”

    “Được rồi. Ông ấy đánh dấu đoạn đang đọc và đặt cuốn sách xuống. Ông ấy nhìn cậu. Bây giờ, cậu có cơ hội để nói một điều gì đó với ông ấy. Cậu sẽ nói gì?”.

    Garrett nhún vai, lắc đầu. Nhìn xung quanh căn nhà lưu động tối lờ mờ, vẻ căng thẳng.

    Nhưng Sachs sẽ không mặc kệ.

    Cuộc đấu tay đôi…

    Cô nói: “Hãy nghĩ về một điều cụ thể mà cậu muốn nói với ông ấy. Một tai nạn chẳng hạn. Chuyện gì đó khiến cậu buồn bã. Có chuyện gì như thế không?”.

    Nhưng bố tôi luôn luôn nhẹ nhàng với tôi. Cho tới khi…

    Gã trai nắm chặt hai bàn tay vào nhau, tay nọ xát vào tay kia, móng tay búng tanh tách.

    “Hãy nói với ông ấy đi, Garrett.”

    “Được rồi. Tôi nghĩ là có một chuyện.”

    “Chuyện gì?”

    “Ờ, buổi tối đó… buổi tối bố mẹ và đứa em gái tôi qua đời.”

    Sachs thoáng rùng mình. Cô biết rằng với chuyện này họ có lẽ sẽ trải qua những khoảnh khắc đầy khó khăn. Trong giây lát, cô nghĩ tới việc rút lui. Nhưng rút lui vốn không phải bản chất của Amelia Sachs và bây giờ cô cũng không muốn hành động như vậy. “Buổi tối ấy làm sao? Cậu muốn nói với bố cậu về việc gì đó đã xảy ra à?”

    Garrett gật đầu. “Đấy, bố mẹ và đứa em gái tôi chuẩn bị lái xe đi ăn tối. Đó là một ngày thứ Tư. Thứ Tư hàng tuần chúng tôi lại tới quán Bennigan. Tôi thích món gà tẩm bột rán. Tôi luôn luôn gọi món gà tẩm bột rán kèm khoai tây chiên và một lon Coke. Còn Kaye, em gái tôi thì gọi hành thái khoanh tẩm bột rán, rồi anh em tôi chia nhau chỗ hành và khoai tây. Đôi khi, chúng tôi bóp chai xốt cà chua ra vẽ lên một cái đĩa đã hết thức ăn.”

    Bỗng mặt Garrett tái nhợt và phiền muộn. Biết bao nhiêu đau khổ hiển hiện trong ánh mắt gã, Sachs nghĩ. Cô đấu tranh dằn những tình cảm riêng xuống. “Cậu nhớ gì về buổi tối ấy?”.

    “Lúc đó là ở bên ngoài trời. Trên lối vào nhà. Họ đã ở trong xe, bố, mẹ và em gái. Họ chuẩn bị đi ăn. Và”, Garrett nuốt nước bọt, “vấn đề là họ chuẩn bị đi mà không có tôi”.

    “Thế ư?”

    Gã gật đầu. “Tôi về nhà muộn. Trước đó, tôi vào rừng ở Bến tàu kênh Nước đen. Tôi hầu như quên khuấy mất thời gian. Tôi đã phải chạy, nói chung, mất nửa dặm, hoặc đại loại vậy. Nhưng bố tôi không cho tôi lên. Ông hẳn rất tức giận vì tôi về nhà muộn. Tôi muốn lên xe biết bao. Trời rất lạnh. Tôi nhớ là tất cả chúng tôi đều run cầm cập. Tôi nhớ là có sương giá bám trên các cửa sổ xe. Nhưng ba người dứt khoát không cho tôi lên”.

    “Biết đâu bố cậu không trông thấy cậu. Vì cửa sổ xe bị sương giá bám.”

    “Không, ông trông thấy tôi mà. Tôi ở ngay phía ông ngồi. Tôi đập ầm ầm vào kính cửa sổ và ông trông thấy tôi nhưng không mở cửa. Ông chỉ cau màu và quát tôi mãi. Trong khi tôi cứ bám riết lấy ý nghĩ: Bố điên tiết với mình, còn mình thì lạnh và mình sẽ chẳng được ăn món gà tẩm bột rán kèm khoai tây chiên. Mình sẽ chẳng được ăn tối cùng gia đình”. Nước mắt chảy dài trên má Garrett.

    Sachs muốn quàng tay ôm lấy vai gã trai, tuy nhiên cô vẫn ngồi nguyên tại chỗ. “Tiếp tục nào”. Cô hất đầu chỉ chiếc ghế. “Hãy trò chuyện với bố cậu. Cậu muốn nói gì với ông ấy?”

    Garrett nhìn Sachs, nhưng cô chỉ chiếc ghế. Cuối cùng, Garrett cũng quay về phía nó. “Trời lạnh lắm”, gã hổn hển. “Trời lạnh và tôi muốn lên xe. Tại sao bố tôi chẳng cho tôi lên xe chứ?”.

    “Không, hãy nói với ông ấy. Hãy tưởng tượng rằng ông ấy đang ở kia.”

    Sachs nghĩ: Đây chính là cái cách Rhyme vốn vẫn thúc ép cô tưởng tượng rằng mình là đối tượng tại hiện trường vụ án. Thực hiện điều ấy thật khổ sở vô cùng và bây giờ cô cảm nhận được hết sức rõ ràng nỗi hãi sợ của gã trai. Tuy nhiên, cô không ngừng lại. “Hãy nói với ông ấy – hãy nói với bố cậu”.

    Garrett lo lắng nhìn chiếc ghế dựa cũ kỹ. Gã vươn người ra phía trước. “Con…”

    Sachs thì thầm: “Nói đi, Garrett. Không sao đâu. Tôi sẽ không để bất cứ chuyện gì xảy ra với cậu đâu. Hãy nói với ông ấy đi nào.”

    “Con chỉ muốn đến quán Bennigan cùng bố mẹ và Kaye!” Garrett nức nở nói “Có thế thôi. Nói chung, chỉ để ăn tối, cả nhà mình. Con chỉ muốn đi cùng bố mẹ và Kaye. Tại sao bố không cho con lên xe? Bố trông thấy con chạy tới và bố khóa cửa xe lại. Con có về muộn đến thế đâu!” Rồi Garrett trở nên giận dữ. “Bố khóa con bên ngoài! Bố điên tiết với con và như thế là không công bằng. Việc con đã làm, về nhà muộn… nó không tồi tệ tới mức ấy. Con hẳn đã làm việc gì đó khác khiến bố điên tiết. Việc gì? Tại sao bố không muốn con đi cùng? Hãy nói xem con đã làm việc gì?”. Gã nghẹn giọng. “Hãy trở lại và nói cho con biết đi. Hãy trở lại! Con muốn biết! Con đã làm gì? Hãy nói cho con biết, nói cho con biết, nói cho con biết!”

    Nức nở, Garrett nhảy lên đá mạnh vào chiếc ghế trống. Nó văng ngang qua căn phòng và đổ nghiêng. Gã túm lấy chiếc ghế, vừa thét lên trong cơn cuồng nộ vừa quật nó xuống sàn. Sachs lùi lại, chớp mắt bàng hoàng trước nỗi tức tối mà cô vừa giải phóng ra. Gã quật chiếc ghế cả chục lần cho tới lúc nó vỡ tan tành thành từng mảnh. Rốt cuộc, Garrett đổ sụp xuống sàn, vòng hai tay ôm lấy mình. Sachs đứng lên và ôm lấy gã trong khi gã vừa nức nở vừa lắc đầu.

    Năm phút sau, gã thôi khóc, đứng lên, lấy ống tay áo lau mặt.

    “Garrett”, Sachs thì thầm.

    Nhưng gã lắc đầu. “Tôi ra ngoài đây”, gã nói, rồi đứng lên đẩy cánh cửa.

    Sachs ngồi một lát, băn khoăn không biết phải làm gì. Cô hoàn toàn kiệt sức, tuy nhiên cô không nằm xuống tấm nệm mà Garrett để cho cô, không cố gắng ngủ. Cô thổi tắt ngọn đèn lồng và kéo mấy mảnh vải khỏi cửa sổ, rồi buông mình vào chiếc ghế bành mốc meo. Cô vươn người về phía trước, ngửi mùi hăng hăng của cây sả, và quan sát cái bóng ngồi lom khom của gã trai bên ngoài trời, bên một gốc sồi, chăm chú nhìn những bầy đom đóm bay lập lòe khắp khu rừng vây xung quanh gã.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI HAI





    Linconln Rhyme lẩm bẩm: “Tôi không tin”.

    Anh vừa nói chuyện với Lucy Kerr đang đầy giận dữ và biết rằng Sachs đã bắn mấy phát vào một cảnh sát dưới gầm cầu Hobeth.

    “Tôi không tin”, Rhyme thì thầm nhắc lại với Thom.

    Anh chàng phụ tá là bậc thầy trong việc đương đầu với những cơ thể không còn lành lặn và những tâm hồn không còn lành lặn xuất phát từ những cơ thể bệnh tật. Nhưng đây là một vấn đề khác, khó khăn hơn, và anh ta chẳng thể làm được gì hơn ngoài việc đưa ra ý kiến: “Đây là một sự nhầm lẫn. Đây ắt phải là một sự nhầm lẫn. Amelia không bao giờ hành động như thế”.

    “Cô ấy không bao giờ”, Rhyme lẩm bẩm. Lần này, sự phủ nhận được đưa ra với Ben. “Không đời nào. Ngay cả là để dọa họ.” Anh tự nhủ rằng Sachs không bao giờ đi bắn vào một đồng nghiệp, ngay cả chỉ để dọa họ. Tuy nhiên, anh cũng nghĩ tới những gì mà người ta khi tuyệt vọng có thể làm. Những sự liều lĩnh điên rồ mà người ta sẵn sàng chấp nhận. (Ôi, Sachs, tại sao em lại hấp tấp và bướng bỉnh đến thế? Tại sao em lại phải giống anh đến thế?)

    Bell đang ở trong văn phòng phía bên kia hành lang. Anh có thể nghe thấy những lời âu yếm anh ta nói vào điện thoại. Anh đồ là vợ và gia đình viên cảnh sát trưởng vốn không quen với chuyện anh ta về muộn buổi tối, việc thực thi pháp luật tại một thị trấn như Tanner’s Corner có lẽ chẳng đòi hỏi nhiều thời gian như vụ Garrett Hanlon này.

    Ben Kerr ngồi bên cạnh một chiếc kính hiển vi, hai cánh tay hộ pháp khoanh trước ngực. Anh ta nhìn chằm chằm tấm bản đồ. Khác với viên cảnh sát trưởng, anh ta chẳng hề gọi điện về nhà, và Rhyme băn khoăn tự hỏi liệu anh ta có vợ hay bạn gái không, hay phải chăng toàn bộ cuộc đời của anh chàng bẽn lẽn này chỉ dành cho khoa học và các bí ẩn dưới đáy đại dương.

    Viên cảnh sát trưởng cúp máy. Anh ta quay vào la-bô. “Anh có thêm ý kiến gì không, Lincoln?”

    Rhyme hất đầu chỉ bảng chứng cứ.





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY


    Sơn nâu dây trên quần

    Cây gọng vó

    Đất sét

    Rêu nước

    Nước trái cây

    Sợi giấy

    Viên chua làm mồi câu

    Đường

    Camphene

    Chất cồn

    Dầu hỏa

    Men nở





    Rhyme lặp lại những gì họ đã biết về ngôi nhà nơi đang giam giữ Mary Beth. “Có một cái vũng Carolina trên đường đến chỗ đó hoặc gần chỗ đó. Phân nửa các đoạn đánh dấu ở mấy cuốn sách về côn trùng của hắn liên quan tới sự ngụy trang và màu sơn nâu dây trên quần hắn là màu vỏ cây, bởi vậy chỗ đó có lẽ là trong rừng hoặc bên cạnh rừng. Những cái đèn đốt bằng camphene xuất hiện từ thế kỉ XIX, nên chỗ đó phải được xây dựng lâu rồi, có lẽ là vào thời Victoria. Nhưng những dấu vết khác không hữu ích mấy. Men nở là từ cối xay. Sợi giấy thì từ bất cứ chỗ nào cũng được. Còn nước trái cây và đường? Từ đồ ăn và đồ uống Garrett sử dụng. Tôi hoàn toàn chẳng thể nào…”

    Điện thoại reo.

    Ngón đeo nhẫn bên trái của Rhyme động trên bộ phận điều khiển điện tử và anh nhận cuộc gọi.

    “A lô”, anh nói vào loa ngoài.

    “Lincoln à”.

    Anh nhận ra cái giọng nhẹ nhàng, mệt mỏi của Mel Cooper.

    “Anh có thông tin gì, Mel? Tôi cần chút tin tức tốt lành.”

    “Tôi hy vọng là tin tức tốt. Chiếc chìa khóa các anh tìm thấy ấy. Chúng tôi đã tra cứu các tài liệu gốc và cơ sở dữ liệu suốt đêm. Cuối cùng cũng lần ra được xuất xứ của nó.”

    “Là thế nào?”

    “Là chìa khóa một cái nhà lưu động do công ty nhà lưu động McPherson Deluxe đóng. Loại nhà này được đóng từ năm 1946 đến đầu thập niên 1970. Công ty đó đã ngừng hoạt động, nhưng theo tài liệu hướng dẫn thì số seri trên chiếc chìa khóa các anh tìm thấy phù hợp với một cái nhà được đóng năm 1969.”

    “Có mô tả gì không?”

    “Tài liệu hướng dẫn không thấy in ảnh”.

    “Khỉ gió. Hãy nói tôi nghe xem, liệu người ta có sống trong một cái nhà lưu động đỗ tại bãi đỗ không? Hay người ta lái nó đi lung tung, giống như lái những chiếc Winnebago?”.

    “Tôi cho rằng người ta sống trong đó. Chúng có kích thước tám nhân hai mươi. Không phải loại lái đi chỗ này chỗ khác được. Dù sao thì chúng cũng không có động cơ. Khi di chuyển, người ta phải kéo chúng.”

    “Cảm ơn, Mel. Ngủ một chút đi.”

    Rhyme cúp máy. “Anh nghĩ thế nào, Jim? Có bãi đỗ nhà lưu động nào xung quanh đây không?”

    Viên cảnh sát trưởng xem chừng ngờ vực. “Có mấy bãi đỗ dọc theo đường 17 và đường 158. Nhưng chúng thậm chí không ở gần địa điểm mà Garrett và Amelia đang nhắm đến. Lại đông đúc nữa. Khó lòng ẩn trốn được ở một chỗ như thế. Tôi nên cử ai đó đi kiểm tra chăng?”.

    “Cách đây bao xa?”

    “Bảy, tám mươi dặm”.

    “Không, Garrett có lẽ đã phát hiện được một cái nhà lưu động bị bỏ hoang ở chỗ nào đấy trong rừng và chiếm lấy nó”. Rhyme liếc nhìn tấm bản đồ. Anh nghĩ: Và nó đỗ ở chỗ nào đấy giữa một trăm dặm vuông hoang vu.

    Anh cũng băn khoăn tự hỏi: Gã trai đã tháo tay khỏi còng chưa? Hắn có lấy được khẩu súng của Sachs chưa? Ngay lúc này đây liệu cô có đang ngủ, không cảnh giác đề phòng, liệu Garrett có đang đợi tới lúc cô thiếp đi chẳng còn biết gì. Gã ngồi dậy, bò đến gần cô với một tảng đá hoặc một tổ ong bắp cày…

    Nỗi sốt ruột chạy dọc cơ thể Rhyme. Anh ngả đầu ra phía sau, nghe thấy một khớp xương kêu đánh cắc. Anh cứng người, lo sợ tình trạng co rút nhức nhối thi thoảng cứ tra tấn các bắp thịt vẫn còn liên hệ với những tế bào thần kinh chưa chết. Có vẻ hoàn toàn bất công khi chính cái chấn thương khiến cho phần lớn cơ thể người ta tê liệt đồng thời lại khiến các vùng vẫn còn cảm giác phải chịu đau đớn kinh khủng.

    Lần này sự đau đớn không xuất hiện, nhưng Thom để ý thấy vẻ hốt hoảng trên gương mặt sếp mình.

    Anh chàng phụ tá nói: “Lincoln, cẩn thận đấy … Tôi sẽ đo huyết áp cho anh và anh sẽ đi nằm. Không tranh luận gì cả”.

    “Được rồi, Thom, được rồi. Chỉ có điều chúng ta phải gọi một cú điện thoại trước đã.”

    “Hãy nhìn xem mấy giờ rồi… Bây giờ thì ai còn thức nữa?”

    “Vấn đề không phải là ai còn thức”, Rhyme mệt mỏi nói. “Vấn đề là ai sẽ thức dậy.”





    Nửa đêm. Trong đầm lầy.

    Tiếng côn trùng. Những bóng dơi chao liệng. Một, hai con cú. Ánh trăng bàng bạc như băng.

    Lucy và mấy đồng nghiệp đi bộ bốn dặm đến đường 30, nơi chiếc xe cắm trại đợi họ. Bell đã tác động và “trưng dụng” được chiếc xe từ Công ty Fred Fisher Winnebagos. Steve Farr lái nó tới đây đợi đội tìm kiếm, để họ có chỗ nghĩ qua đêm.

    Họ bước vào lòng xe chật chội. Jesse, Trey và Ned ăn ngấu nghiến bánh sandwich kẹp thịt bò nướng do Farr mang tới. Lucy uống một chai nước, không ăn. Farr và Bell – quý hóa làm sao – cũng đã chuẩn bị những bộ đồng phục sạch sẽ cho mấy người.

    Cô gọi và bảo Bell rằng đội tìm kếm đã lần theo dấu vết hai kẻ kia tới một ngôi nhà nghỉ kiến trúc theo kiểu chữA trước đó đã bị đột nhập. “Xem chừng bọn họ đã ngồi xem tivi, anh có thể tin như thế.

    Nhưng trời tối quá rồi không lần theo dấu vết được nữa và đội tìm kiếm quyết định đợi đến bình minh sẽ tiếp tục.

    Lucy cầm lên bộ quần áo sạch, bước vào buồng tắm. Trong cái buồng tắm đứng bé tí, cô vặn nhỏ dòng nước cho chảy dọc xuống thân mình. Hai bàn tay cô vò tóc, rồi xoa mặt, cổ, và lần nào cũng vậy, xoa bộ ngực phẳng một cách ngập ngừng, cảm nhận những đường gờ lên của cái sẹo, rồi hai bàn tay trở nên dứt khoát hơn khi di chuyển xuống bụng và đùi.

    Lucy băn khoăn không biết tại sao cô có sự ác cảm như thế đối với việc sử dụng silicon hay phẫu thuật tái tạo, mà theo lời bác sĩ giải thích thì là lấy mỡ ở đùi hoặc mông để làm lại ngực. Thậm chí có thể làm lại được cả núm vú – hay xăm hình.

    Vì, cô tự nhủ, đó là của giả. Vì đó chẳng phải của thật.

    Và, thế thì, tại sao lại phải mất công chứ?

    Nhưng rồi, Lucy nghĩ, hãy nhìn cái người tên là Lincoln Rhyme đó. Anh ta chỉ là một kẻ tàn tật. Chân tay anh ta là của giả - là một chiếc xe lăn và một anh chàng phụ tá. Tuy nhiên, nghĩ đến anh ta cô lại nghĩ đến Amelia Sachs và nỗi tức giận lại thiêu đốt cô. Cô gạt những ý nghĩ ấy sang bên, lau khô người và mặc chiếc áo phông vào, lơ đãng nghĩ tới ngăn kéo đựng áo lót ở cái tủ gương trang điểm trong phòng dành cho khách trong ngôi nhà của cô – nhớ ra rằng cô định vứt chúng đi suốt hai năm qua. Nhưng, vì lý do nào đấy, cô chưa làm. Tiếp theo, cô mặc bộ đồng phục. Cô bước ra khỏi buồng tắm. Jesse đang gác điện thoại.

    “Có thông tin gì không?”.

    “Không”, anh ta nói. “Họ vẫn đang nghiên cứu các chứng cứ, Jim và ông Rhyme.”

    Lucy lắc đầu từ chối suất ăn Jesse đưa cho cô, rồi ngồi xuống bên bàn, rút khẩu súng lục công vụ ra khỏi bao. “Steve?”, cô gọi.

    Anh chàng trẻ tuổi tóc cắt cua ngẩng lên khỏi tờ báo đang đọc, nhướn một bên lông mày.

    “Cậu có mang theo thứ tôi yêu cầu không?”

    “Ồ, có.” Farr lục khoang đựng đồ dưới bảng đồng hồ và đưa cho Lucy hộp đạn Remington sơn hai màu vàng – xanh. Cô tháo những viên đạn đầu tròn ra khỏi khẩu súng lục và ổ nạp nhanh, thay thế những viên đạn mới – loại đầu lõm, có sức sát thương mạnh hơn, gây tổn hại lớn hơn nhiều đối với các mô mềm khi xuyên vào cơ thể.

    Jesse Corn chăm chú quan sát cô, tuy nhiên một lát sau mới nói, và cô biết rằng anh ta sẽ nói “Amelia không nguy hiểm đâu”. Anh ta nói thấp giọng, chỉ để cho cô nghe.

    Lucy đặt khẩu súng xuống, nhìn vào mắt Jesse. “Jesse, tất cả mọi người đều bảo Mary Beth đang ở ngoài biển nhưng hóa ra cô ấy lại ở hướng ngược lại. Tất cả mọi người đều bảo Garrett chỉ là một thằng nhãi ngốc nghếch nhưng hắn lại khôn ngoan như cáo và gạt được chúng ta dăm bảy lần rồi. Chúng ta chẳng biết bất cứ điều gì khác nữa. Có thể Garrett đang có cả kho vũ khí ở chỗ nào đó và có kế hoạch này nọ để tiêu diệt chúng ta khi chúng ta sa vào bẫy của hắn.”

    “Nhưng Amelia đi cùng hắn. Cô ấy sẽ ngăn chặn việc như thế xảy ra.”

    “Amelia là kẻ phản bội đáng chết và chúng ta không thể tin tưởng cô ta một chút nào. Nghe này, Jesse, tôi đã trông thấy vẻ mặt anh khi anh nhận ra cô ta không ở phía chiếc thuyền. Anh đã nhẹ cả người. Tôi biết anh nghĩ rằng mình thích cô ta và hy vọng được cô ta đáp lại… Không, không, để tôi nói nốt. Nhưng cô ta đã cứu một tên giết người ra khỏi nhà giam. Và nếu anh đã ở ngoài sông chứ không phải Ned, Amelia cũng sẽ bắn anh ngay như thế thôi.”

    Jesse định phản đối, tuy nhiên ánh mắt lạnh lẽo của Lucy khiến anh ta im lặng.

    “Thật dễ dàng si mê một người như thế.” Lucy tiếp tục. “Cô ta xinh đẹp và từ một nơi khác đến, một nơi sôi động đầy sức hấp dẫn… Nhưng cô ta không hiểu cuộc sống ở đây. Và cô ta không hiểu Garrett. Anh biết hắn – đó là một thằng nhãi bệnh hoạn và nếu ngay lúc này hắn chưa chơi trò giết người thì chỉ là chuyện may rủi thôi.”

    “Tôi biết rằng Garrett nguy hiểm. Tôi không tranh luận việc ấy. Tôi đang nghĩ tới Amelia”.

    “Chà, tôi thì tôi nghĩ tới chúng ta và tất cả những người khác ở Bến tàu kênh Nước đen mà thằng nhãi có thể đang lên kế hoạch giết hại vào ngày mai hoặc tuần sau hoặc năm sau nếu hắn thoát khỏi tay chúng ta. Đó là việc hắn hoàn toàn có thể làm. Nhờ cô ta đấy. Bây giờ, tôi cần biết tôi có tin tưởng được anh không. Nếu không, anh có thể trở về nhà và chúng tôi sẽ bảo Jim cử người khác tới thay thế anh.”

    Jesse liếc nhìn hộp đạn, rồi lại nhìn Lucy. “Chị có thể, Lucy. Chị có thể tin tưởng tôi.”

    “Tốt. Anh nên nghiêm túc về điều này. Vì ngay khi trời sáng tôi sẽ tiếp tục lần theo dấu vết bọn họ và đưa cả hai quay về. Tôi hy vọng trong tình trạng còn sống nhưng, tôi nói để anh biết, cho tới lúc này thì cũng không nhất thiết phải vậy”.





    Mary Beth McConnell ngồi một mình trong ngôi nhà gỗ, kiệt sức nhưng chẳng dám ngủ.

    Cô nghe thấy tiếng động ở khắp nơi.

    Cô đã rời khỏi chiếc đi văng. Cô sợ nếu cô cứ ngồi đấy thì cô sẽ nằm dài ra mà ngủ thiếp đi mất, rồi thức dậy thấy nhà truyền giáo và gã Tom đang chằm chằm nhìn cô qua cửa sổ, chuẩn bị đột nhập vào. Vì thế cô ngồi trên một chiếc ghế trong phòng ăn, mặt ghế cứng như đá.

    Những tiếng động…

    Mary Beth không biết mấy giờ rồi. Cô thậm chí chẳng dám ấn cái nút bật sáng mặt đồng hồ đeo tay – vì nỗi sợ hãi điên rồ rằng ánh sáng lóe lên sẽ như ra hiệu cho hai kẻ tấn công cô.

    Kiệt sức. Quá mệt mỏi thậm chí không buồn băn khoăn tự hỏi thêm lần nữa tại sao chuyện này lại xảy ra với cô, liệu cô có thể đã làm được gì để ngăn chặn nó.

    Làm ơn mắc oán…

    Mary Beth đăm đăm nhìn ra bãi cỏ phía trước ngôi nhà gỗ, bây giờ hoàn toàn là một màu đen. Ô cửa sổ tựa như cái khung đóng lấy số phận cô: nó sẽ cho thấy ai đang tiến đến gần qua bãi cỏ? Những kẻ sát hại cô hay những người giải cứu cô?

    Cô lắng nghe.

    Âm thanh đó là gì: một cái cành cây nứt vỏ? Hay tiếng quẹt diêm?

    Cái đốm sáng trong rừng kia là gì: một con đom đóm, hay một ánh lửa trại?

    Cái bóng di động kia: một con hươu bỏ chạy vì ngửi thấy mùi linh miêu hay nhà truyền giáo và gã đồng đảng đang ngồi bên đống lửa uống bia, đánh chén, rồi mò mẫm xuyên rừng đến chỗ cô, tiếp tục thỏa mãn nhu cầu cơ thể chúng?

    Mary Beth McConnell không tài nào nói chắc được. Đêm hôm nay, mới nhiều làm sao, cô toàn cảm thấy các cái mơ hồ.

    Mày phát hiện được di tích của những người tới định cư đã chết từ ngày xửa ngày xưa nhưng mày lại băn khoăn không biết liệu giả thuyết mày đưa ra có hoàn toàn sai lầm không.

    Cha mày qua đời vì chứng ung thư – một cái chết kéo dài, uổng phí, mà bác sĩ nói là chẳng tránh khỏi, nhưng mày lại nghĩ: Biết đâu có thể tránh khỏi.

    Hai gã đàn ông đang ở ngoài kia, trong rừng, lên kế hoạch cưỡng đoạt và sát hại mày.

    Nhưng có thể chẳng phải vậy.

    Có thể bọn chúng đã từ bỏ ý định. Có thể bọn chúng đã bất tỉnh vì rượu lậu. Hay bọn chúng đã sợ hãi trước ý nghĩ về những hậu quả, đi đến kết luận rằng các mụ vợ mập mạp hoặc đôi bàn tay chai sạn thì an toàn hơn, hoặc dễ dàng hơn, việc bọn chúng định làm với Mary Beth.

    Dang tay dang chân ra ở chỗ này…

    Một tiếng nổ đanh vang khắp đêm tối. Mary Beth bật dậy. Một tiếng súng. Có vẻ như nó vang lên từ chỗ lúc trước cô đã trông thấy ánh lửa. Lát sau, tiếng súng thứ hai. Gần hơn.

    Sợ hãi hít thở nặng nhọc, nắm chặt cây chùy. Không thể nhìn qua ô cửa sổ đen ngòm, cũng không thể không nhìn ra. Khiếp sợ sẽ trông thấy bộ mặt xanh xao của gã Tom từ từ xuất hiện trong khung cửa, nhăn nhở cười.Bọn tao sẽ quay lại.

    Gió nổi lên, thổi rạp cây cối, bụi rậm, cỏ.

    Mary Beth cho rằng cô nghe thấy tiếng cười của một người đàn ông, tiếng cười nhanh chóng tan biến trong gió hun hút như tiếng gọi của một trong những linh hồn Manitou thuộc bộ lạc Weapeneoc.

    Cô cho rằng cô nghe thấy tiếng một gã đàn ông gào lên: “Mày hãy sẵn sàng đi, sẵn sàng đi…”

    Nhưng có thể chẳng phải.





    “Mày nghe thấy tiếng súng chứ?”, Rich Culbeau hỏi Harris Tomel.

    Ba gã ngồi xung quanh đống lửa đang lụi dần. Ba gã mang tâm trạng lo lắng và chưa say như trong một chuyến săn bình thường, chưa say như chính ba gã đang mong muốn. Đơn giản là món rượu lậu không có tác dụng.

    “Súng lục”, Tomel nhận xét. “Đạn cỡ lớn. Mười milimet hoặc súng cỡ .44, .45 tự động”.

    “Vớ vẩn”, Culbeau nói. “Mày không thể bảo đấy là súng tự động hay không tự động được”.

    “Có thể chứ”, Tomel giảng giải. “Súng ổ quay thì tiếng nổ to hơn – vì khoảng cách giữa ổ đạn và nòng súng. Tất nhiên.”

    “Vớ vẩn”, Culbeau nhắc lại. “Cách đây bao xa?”

    “Không khí nhiều hơi ẩm. Ban đêm… Tao cho rằng cách đây bốn, năm dặm”, Tomel thở dài. “Tao muốn chuyện này kết thúc. Tao chán ngấy rồi.”

    “Tao hiểu”, Culbeau nói. “Ở Tanner’s Corner thì dễ dàng hơn. Bây giờ tình hình đang trở nên phức tạp.”

    “Đám côn trùng chết tiệt”, Tomel đập một con muỗi.

    “Mày nghĩ ai bắn gì vào cái giờ khuya khoắt này? Phải gần một giờ rồi”.

    “Gấu trúc lục thùng rác, gấu đen mò vào lều, hay một thằng nào đấy mần vợ người.”

    Culbeau gật đầu. “Nhìn kìa – Sean đã ngủ. Thằng đó ngủ được mọi lúc, mọi nơi”. Gã đá những cục than hồng cho nguội bớt.

    “Nó đang dùng thứ thuốc chết tiệt.”

    “Thế à? Tao không biết.”

    “Đó là lý do tại sao nó ngủ mọi lúc, mọi nơi. Nó đang cư xử một cách kỳ cục, mày có nghĩ vậy không?”, Tomel hỏi, liếc nhìn gã thanh niên gầy nhẳng y như gã là một con rắn biết “kéo gỗ”.

    “Khi chẳng hiểu nổi nó thì thấy nó dễ ưa hơn. Bây giờ nó đứng đắn quá, nó làm tao sợ phát khiếp. Cứ giương khẩu súng đó lên như giương cái con b. nó không bằng.”

    “Về việc ấy mày nói đúng”, Tomel lẩm bẩm, rồi nhìn chằm chằm vào cánh rừng âm u mất mấy phút. Gã thở dài, bảo: “Tao sẽ bị ăn tươi nuốt sống ở đây mất. Và đưa tao chai rượu bên cạnh mày kia”.





    Amelia Sachs mở mắt khi nghe thấy tiếng súng nổ.

    Cô nhìn vào phòng ngủ của ngôi nhà lưu động, nơi Garrett đang nằm ngủ trên tấm nệm. Gã không nghe thấy gì.

    Một tiếng súng nổ nữa.

    Tại sao lại có ai bắn gì vào cái giờ khuya khoắt này? Sachs băn khoăn tự hỏi.

    Tiếng súng nổ khiến Sachs nhớ tới sự việc xảy ra trên sông – Lucy và mấy người cảnh sát kia nã đạn vào chiếc thuyền mà họ nghĩ có cô và Garrett phía dưới. Cô hình dung lại từng cột nước vọt lên không trung sau mỗi tiếng súng nổ kinh hoàng.

    Cô thận trọng lắng nghe nhưng không nghe thấy thêm tiếng súng nổ nào nữa. Không có gì ngoài tiếng gió thổi. Và tiếng ve sầu, tất nhiên.

    Cuộc đời của chúng hết sức kỳ lạ… Ấu trùng đào đất chui xuống và ở dưới ấy, nói chung, hai mưoi năm, trước khi nở…

    Tất cả ngần ấy năm trong lòng đất, ẩn trốn, trước khi bò ra làm con ve sầu trưởng thành.

    Nhưng chẳng mấy chốc tâm trí Sachs lại bị xâm chiếm bởi những ý nghĩ xuất hiện trước khi có tiếng súng nổ.

    Amelia Sachs trước đó đang nghĩ ngợi về chiếc ghế trống.

    Không phải kỹ thuật trị liệu của Tiến sĩ Penny. Hay những gì Garrett đã nói với cô về cha gã và cái buổi tối kinh khủng cách đây năm năm. Không, cô đang nghĩ ngợi về một chiếc ghế khác – chiếc xe lăn Storm Arrow màu đỏ của Lincoln Rhyme.

    Suy cho cùng thì đó là việc họ sẽ làm dưới Bắc California này. Rhyme đang đánh liều mọi thứ, tính mạng, phần sức khỏe còn lại, cuộc sống của anh với Sachs, cốt để anh có thể tiến gần hơn đến chỗ rời khỏi được chiếc ghế đó. Bỏ nó lại sau lưng anh, trống không.

    Và, nằm đây, trong ngôi nhà lưu động bẩn thỉu này, làm một kẻ đã phạm tội, đơn độc trong cuộc đấu tay đôi do chính cô tạo ra, rút cục Amelia Sachs cũng tự thừa nhận cái điều gây cho cô xiết bao lo lắng trước việc Rhyme kiên quyết bước lên bàn mổ. Tất nhiên, cô lo lắng rằng anh có thể chẳng qua nổi cuộc phẫu thuật. Hoặc nó sẽ khiến tình trạng anh tồi tệ hơn. Hoặc nó sẽ hoàn toàn vô ích và anh sẽ rơi vào nỗi tuyệt vọng.

    Nhưng những điều ấy không phải sự sợ hãi chủ yếu của Sachs. Chúng không phải lý do khiến cô đã làm mọi việc có thể để ngăn cản cuộc phẫu thuật . Không, không – điều khiến cô sợ hãi nhất chính là khả năng cuộc phẫu thuật sẽ thành công.

    Ôi, Rhyme, anh không hiểu sao? Em đâu muốn anh thay đổi. Em yêu anh như anh bây giờ. Nếu anh cũng giống bao người khác, chuyện gì sẽ xảy ra với chúng ta.

    Anh nói: “Sẽ luôn luôn là anh và em, Sachs ạ”. Nhưng cái anh và em đó dựa trên con người chúng ta bây giờ. Em với những móng tay dây máu và niềm ham thích được xê dịch, xê dịch, xê dịch… Anh với đầu óc mẫn tiệp bao giờ cũng phóng đi nhanh hơn và xa hơn em có thể trong chiếc Camaro đã được sơn đi sơn lại của em.

    Cái đầu óc ấy của anh giữ em chặt hơn bất cứ người tình nồng nhiệt nhất nào.

    Và nếu anh lại trở nên bình thường? Khi anh lại sử dụng được tay chân của chính mình, Rhyme, thì hà cớ gì anh còn mong muốn có em nữa? Hà cớ gì anh còn cần em? Em sẽ chỉ là một cảnh sát tuần tra, một cảnh sát khu vực với chút tài khám nghiệm hiện trường. Anh sẽ gặp một người khác trong số những người phụ nữ bội bạc từng làm cuộc đời anh trật bánh – một người vợ ích kỷ khác, một người tình có hôn thú khác – và anh sẽ dần rời xa em theo cái cách chồng Lucy Kerr đã rời xa cô ấy sau khi cô ấy tiến hành phẫu thuật.

    Em mong muốn anh hãy cứ như bây giờ…

    Thực tế, Sachs phải rùng mình trước sự ích kỉ khủng khiếp của suy nghĩ này. Tuy nhiên cô chẳng thể phủ nhận nó.

    Hãy cứ ở lại chiếc ghế của anh, Rhyme! Em không muốn nó bị bỏ trống… Em muốn có một cuộc sống với anh, một cuộc sống như nó vẫn luôn luôn thế từ trước tới giờ. Em muốn có những đứa con với anh, những đứa con sẽ lớn lên để biết về anh đúng như anh bây giờ.

    Amelia Sachs thấy mình đang đăm đăm nhìn lên cái trần nhà màu đen. Cô nhắm mắt lại. Nhưng mãi một tiếng đồng hồ sau, tiếng gió thổi cùng với tiếng ve sầu kêu – những cái màng ở ngực chúng phát ra âm thanh giống tiếng vĩ cầm đơn điệu – cuối cùng mới ru cô ngủ thiếp đi được.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI BA





    Sachs tỉnh giấc ngay sau khi mặt trời vừa mọc vì cái tiếng kêu ri ri – trong lúc mơ màng cô nghe như tiếng dế kêu yên bình, nhưng hóa ra đó là tiếng chuông báo thức của chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Casio. Cô nhấn nút tắt chuông đi.

    Người cô đau nhức nhối – phản ứng của chứng viêm khớp trước việc phải ngủ trên tấm nệm mỏng trảu trên sàn kim loại bắt đinh tán.

    Nhưng Sachs cảm thấy vui vẻ một cách lạ lùng. Ánh nắng mặt trời mới mọc chiếu qua các ô cửa sổ và cô coi đây là điềm lành. Hôm nay họ sẽ tìm thấy Mary Beth và đưa cô gái quay lại Tanner’s Corner. Cô sẽ khẳng định câu chuyện Garrett đã kể và Jim Bell cùng Lucy Kerr có thể bắt đầu cuộc tìm kiếm kẻ sát nhân thực sự - gã đàn ông mặc quần yếm.

    Sachs quan sát Garrett thức giấc trong phòng ngủ, lăn người ngồi dậy trên tấm nệm lún dúm dó. Gã lấy những ngón tay dài cào mớ tóc rối bù xù. Cô tự nhủ rằng gã trông giống hệt bất cứ cậu thiếu niên nào vào buổi sáng. Ngái ngủ, vụng về và dễ thương. Chuẩn bị mặc quần áo, chuẩn bị đón xe buýt đến trường, gặp gỡ bạn bè, vào lớp, tán tỉnh các cô bé, ném những quả bóng bầu dục. Quan sát gã chuếnh choáng nhìn xung quanh tìm sơ mi, cô để ý thấy cái thân hình gầy giơ xương của gã và lo lắng đến việc sửa soạn cho gã một ít thức ăn ngon lành – ngũ cốc, sữa, trái cây – và giặt quần áo cho gã, đảm bảo rằng gã có tắm. Như thế này, cô nghĩ, sẽ giống như có những đứa con của chính mình vậy. Không phải là mượn những đứa con của bạn bè được mấy tiếng đồng hồ - con gái đỡ đầu của cô (con gái của Amy) chẳng hạn. Mà là ở đó mỗi ngày, khi chúng thức dậy, với những căn phòng bừa bãi của chúng, với những thái độ khó bảo của tuổi mới lớn, sửa soạn các bữa ăn cho chúng, sắm quần áo cho chúng, tranh luận với chúng, trông nom chăm sóc chúng. Làm trung tâm cuộc sống của chúng.

    “Xin chào.” Sachs mỉm cười.

    Garrett cũng mỉm cười lại. “Chúng ta phải đi thôi”. Gã nói. “Phải tới chỗ Mary Beth. Tôi đã để cô ấy một mình lâu quá rồi. Cô ấy hẳn đang sợ hãi và khát nước lắm.”

    Sachs loạng choạng đứng dậy.

    Garrett liếc nhìn ngực mình, nhìn những mảng đỏ vì lá sồi độc và dường như ngượng ngùng. Gã vội vã mặc sơ mi vào. “Tôi đi ra ngoài. Cô biết đấy, tôi có việc phải làm. Tôi sẽ để vài cái tổ ong bắp cày rỗng ở xung quanh đây. Chúng chắc sẽ làm chậm bước bọn họ - nếu bọn họ đi đường này.” Garrett bước ra ngoài nhưng chỉ lát sau đã quay lại. Gã đặt một cốc nước lên chiếc bàn bên cạnh Sachs, bẽn lẽn nói: “Cho cô”. Gã lại bước ra.

    Sachs uống cạn cốc nước. Ước ao được đánh răng và có thời gian tắm. Có thể khi họ tới chỗ…

    Hắn kìa!” Một giọng đàn ông thì thào.

    Sachs sững người, nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Cô không trông thấy gì. Nhưng từ trong một bụi cây cao gần ngôi nhà lưu động, cái giọng thì thào cố nén kia lại tiếp tục: “Hắn lọt vào kính ngắm rồi. Phen này chắc trúng”.

    Cái giọng nghe quen quen và Sachs đi đến kết luận rằng nó nghe giống giọng Sean O’Sarian, chiến hữu của Culbeau. Gã gầy giơ xương. Ba gã nhà quê đã tìm thấy họ - ba gã sẽ khử gã trai hoặc tra tấn gã phải khai ra chỗ Mary Beth, hòng giành giải thưởng.

    Garrett không nghe thấy giọng nói. Sachs có thể trông thấy gã – gã ở cách đấy khoảng ba mươi feet, đặt một cái tổ ong bắp cày rỗng trên lối mòn. Cô nghe thấy tiếng bước chân trong bụi cây tiến về phía trước, về phía khoảng đất trống có gã trai.

    Cô chộp lấy khẩu Smith & Wesson, khẽ khàng bước ra ngoài. Cô khom mình, ra hiệu cho Garrett một cách tuyệt vọng. Gã không trông thấy cô.

    Tiếng bước chân trong bụi cây tiến đến gần hơn.

    “Garrett”, Sachs thì thào.

    Gã quay lại, trông thấy Sachs đang ra hiệu cho gã đến chỗ cô. Gã chau mày, nhận ra trong ánh mắt cô vẻ cấp bách. Rồi gã liếc nhìn sang bên trái, nhìn vào bụi cây và cô trông thấy nỗi kinh hoàng hiện trên bộ mặt gã. Gã kêu lên: “Đừng bắn tôi, đừng bắn tôi, đừng bắn tôi!”.

    Sachs khom mình, ngón tay móc vào cò súng, lên đạn và nhằm vào bụi cây.

    Sự việc xảy ra quá nhanh...

    Garrett hãi hùng nằm sấp xuống, gào: “Đừng, đừng!”.

    Amelia nâng khẩu súng lên, trong tư thế giữ bằng cả hai tay, kéo cò, chờ đợi một mục tiêu xuất hiện…

    Người đàn ông nhảy từ bụi cây ra khoảng đất trống, súng gương lên nhằm vào Garrett…

    Đúng lúc ấy Ned Spoto vòng qua góc ngôi nhà lưu động ngay bên cạnh Sachs, chớp mắt ngạc nhiên và nhảy bổ về phía cô, hai cánh tay vươn ra. Giật mình, Sachs loạng choạng lùi lại. Khẩu súng nhả đạn, giật mạnh trong bàn tay cô.

    Và cách đấy khoảng ba mươi feet, phía bên kia làn khói mỏng manh tỏa ra từ họng súng – cô trông thấy viên đạn găm trúng trán người đàn ông vừa nãy nấp trong bụi cây – hoàn toàn chẳng phải Sean O’Sarian mà là Jesse Corn. Một chấm đen xuất hiện phía bên trên mắt chàng cảnh sát trẻ và khi đầu anh ta ngật ra đằng sau thì một đám mây bụi màu hồng khủng khiếp cũng tung lên đằng sau anh ta. Không kêu tiếng nào, anh ta ngã vật xuống đất.

    Sachs há hốc miệng, nhìn chằm chằm cái thân thể chỉ giật lên một lần rồi nằm hoàn toàn bất động. Cô tắc thở, khuỵu gối, khẩu súng rơi khỏi tay.



    “Ôi, lạy Chúa”. Ned lẩm bẩm, cũng bàng hoàng nhìn chằm chằm cái thân thể kia. Trước khi viên cảnh sát kịp trấn tĩnh lại và rút súng, Garrett đã lao vào anh ta. Gã nhặt khẩu súng của Sachs rơi dưới đất, chĩa vào đầu Ned, rồi tước vũ khí của anh ta, quăng vào bụi rậm.

    “Nằm xuống!”, Garrett giận dữ quát. “Nằm sấp xuống!”

    “Cô đã giết cậu ấy, cô đã giết cậu ấy”, Ned lẩm bẩm.

    “Không!”

    Ned làm theo mệnh lệnh của Garrett, nước mắt chảy dài trên hai gò má rám nắng.

    “Jesse!” Giọng Lucy Kerr cất lên gần đó. “Anh ở chỗ nào vậy? Ai bắn đấy?”

    “Không, không, không…”, Sachs rên rỉ. Nhìn lượng máu nhiều kinh hoàng tuôn ra từ cái sọ vỡ toác của viên cảnh sát đã chết.

    Garrett Hanlon liếc nhìn xác Jesse. Rồi gã đi qua nó – về phía tiếng những bước chân đang đến gần. Gã vòng tay ôm lấy Sachs. ‘‘Chúng ta phải đi thôi.’’

    Khi cô không trả lời, khi cô, hoàn toàn tê liệt, chỉ nhìn chằm chằm vào cảnh tượng trước mắt – cái kết thúc của cuộc đời viên cảnh sát, cũng là cái kết thúc của chính cuộc đời cô – Garrett đã giúp cô đứng lên, rồi nắm bàn tay cô và kéo cô chạy theo mình. Hai người mất hút vào trong rừng.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI BA





    Sachs tỉnh giấc ngay sau khi mặt trời vừa mọc vì cái tiếng kêu ri ri – trong lúc mơ màng cô nghe như tiếng dế kêu yên bình, nhưng hóa ra đó là tiếng chuông báo thức của chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Casio. Cô nhấn nút tắt chuông đi.

    Người cô đau nhức nhối – phản ứng của chứng viêm khớp trước việc phải ngủ trên tấm nệm mỏng trảu trên sàn kim loại bắt đinh tán.

    Nhưng Sachs cảm thấy vui vẻ một cách lạ lùng. Ánh nắng mặt trời mới mọc chiếu qua các ô cửa sổ và cô coi đây là điềm lành. Hôm nay họ sẽ tìm thấy Mary Beth và đưa cô gái quay lại Tanner’s Corner. Cô sẽ khẳng định câu chuyện Garrett đã kể và Jim Bell cùng Lucy Kerr có thể bắt đầu cuộc tìm kiếm kẻ sát nhân thực sự - gã đàn ông mặc quần yếm.

    Sachs quan sát Garrett thức giấc trong phòng ngủ, lăn người ngồi dậy trên tấm nệm lún dúm dó. Gã lấy những ngón tay dài cào mớ tóc rối bù xù. Cô tự nhủ rằng gã trông giống hệt bất cứ cậu thiếu niên nào vào buổi sáng. Ngái ngủ, vụng về và dễ thương. Chuẩn bị mặc quần áo, chuẩn bị đón xe buýt đến trường, gặp gỡ bạn bè, vào lớp, tán tỉnh các cô bé, ném những quả bóng bầu dục. Quan sát gã chuếnh choáng nhìn xung quanh tìm sơ mi, cô để ý thấy cái thân hình gầy giơ xương của gã và lo lắng đến việc sửa soạn cho gã một ít thức ăn ngon lành – ngũ cốc, sữa, trái cây – và giặt quần áo cho gã, đảm bảo rằng gã có tắm. Như thế này, cô nghĩ, sẽ giống như có những đứa con của chính mình vậy. Không phải là mượn những đứa con của bạn bè được mấy tiếng đồng hồ - con gái đỡ đầu của cô (con gái của Amy) chẳng hạn. Mà là ở đó mỗi ngày, khi chúng thức dậy, với những căn phòng bừa bãi của chúng, với những thái độ khó bảo của tuổi mới lớn, sửa soạn các bữa ăn cho chúng, sắm quần áo cho chúng, tranh luận với chúng, trông nom chăm sóc chúng. Làm trung tâm cuộc sống của chúng.

    “Xin chào.” Sachs mỉm cười.

    Garrett cũng mỉm cười lại. “Chúng ta phải đi thôi”. Gã nói. “Phải tới chỗ Mary Beth. Tôi đã để cô ấy một mình lâu quá rồi. Cô ấy hẳn đang sợ hãi và khát nước lắm.”

    Sachs loạng choạng đứng dậy.

    Garrett liếc nhìn ngực mình, nhìn những mảng đỏ vì lá sồi độc và dường như ngượng ngùng. Gã vội vã mặc sơ mi vào. “Tôi đi ra ngoài. Cô biết đấy, tôi có việc phải làm. Tôi sẽ để vài cái tổ ong bắp cày rỗng ở xung quanh đây. Chúng chắc sẽ làm chậm bước bọn họ - nếu bọn họ đi đường này.” Garrett bước ra ngoài nhưng chỉ lát sau đã quay lại. Gã đặt một cốc nước lên chiếc bàn bên cạnh Sachs, bẽn lẽn nói: “Cho cô”. Gã lại bước ra.

    Sachs uống cạn cốc nước. Ước ao được đánh răng và có thời gian tắm. Có thể khi họ tới chỗ…

    Hắn kìa!” Một giọng đàn ông thì thào.

    Sachs sững người, nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Cô không trông thấy gì. Nhưng từ trong một bụi cây cao gần ngôi nhà lưu động, cái giọng thì thào cố nén kia lại tiếp tục: “Hắn lọt vào kính ngắm rồi. Phen này chắc trúng”.

    Cái giọng nghe quen quen và Sachs đi đến kết luận rằng nó nghe giống giọng Sean O’Sarian, chiến hữu của Culbeau. Gã gầy giơ xương. Ba gã nhà quê đã tìm thấy họ - ba gã sẽ khử gã trai hoặc tra tấn gã phải khai ra chỗ Mary Beth, hòng giành giải thưởng.

    Garrett không nghe thấy giọng nói. Sachs có thể trông thấy gã – gã ở cách đấy khoảng ba mươi feet, đặt một cái tổ ong bắp cày rỗng trên lối mòn. Cô nghe thấy tiếng bước chân trong bụi cây tiến về phía trước, về phía khoảng đất trống có gã trai.

    Cô chộp lấy khẩu Smith & Wesson, khẽ khàng bước ra ngoài. Cô khom mình, ra hiệu cho Garrett một cách tuyệt vọng. Gã không trông thấy cô.

    Tiếng bước chân trong bụi cây tiến đến gần hơn.

    “Garrett”, Sachs thì thào.

    Gã quay lại, trông thấy Sachs đang ra hiệu cho gã đến chỗ cô. Gã chau mày, nhận ra trong ánh mắt cô vẻ cấp bách. Rồi gã liếc nhìn sang bên trái, nhìn vào bụi cây và cô trông thấy nỗi kinh hoàng hiện trên bộ mặt gã. Gã kêu lên: “Đừng bắn tôi, đừng bắn tôi, đừng bắn tôi!”.

    Sachs khom mình, ngón tay móc vào cò súng, lên đạn và nhằm vào bụi cây.

    Sự việc xảy ra quá nhanh...

    Garrett hãi hùng nằm sấp xuống, gào: “Đừng, đừng!”.

    Amelia nâng khẩu súng lên, trong tư thế giữ bằng cả hai tay, kéo cò, chờ đợi một mục tiêu xuất hiện…

    Người đàn ông nhảy từ bụi cây ra khoảng đất trống, súng gương lên nhằm vào Garrett…

    Đúng lúc ấy Ned Spoto vòng qua góc ngôi nhà lưu động ngay bên cạnh Sachs, chớp mắt ngạc nhiên và nhảy bổ về phía cô, hai cánh tay vươn ra. Giật mình, Sachs loạng choạng lùi lại. Khẩu súng nhả đạn, giật mạnh trong bàn tay cô.

    Và cách đấy khoảng ba mươi feet, phía bên kia làn khói mỏng manh tỏa ra từ họng súng – cô trông thấy viên đạn găm trúng trán người đàn ông vừa nãy nấp trong bụi cây – hoàn toàn chẳng phải Sean O’Sarian mà là Jesse Corn. Một chấm đen xuất hiện phía bên trên mắt chàng cảnh sát trẻ và khi đầu anh ta ngật ra đằng sau thì một đám mây bụi màu hồng khủng khiếp cũng tung lên đằng sau anh ta. Không kêu tiếng nào, anh ta ngã vật xuống đất.

    Sachs há hốc miệng, nhìn chằm chằm cái thân thể chỉ giật lên một lần rồi nằm hoàn toàn bất động. Cô tắc thở, khuỵu gối, khẩu súng rơi khỏi tay.



    “Ôi, lạy Chúa”. Ned lẩm bẩm, cũng bàng hoàng nhìn chằm chằm cái thân thể kia. Trước khi viên cảnh sát kịp trấn tĩnh lại và rút súng, Garrett đã lao vào anh ta. Gã nhặt khẩu súng của Sachs rơi dưới đất, chĩa vào đầu Ned, rồi tước vũ khí của anh ta, quăng vào bụi rậm.

    “Nằm xuống!”, Garrett giận dữ quát. “Nằm sấp xuống!”

    “Cô đã giết cậu ấy, cô đã giết cậu ấy”, Ned lẩm bẩm.

    “Không!”

    Ned làm theo mệnh lệnh của Garrett, nước mắt chảy dài trên hai gò má rám nắng.

    “Jesse!” Giọng Lucy Kerr cất lên gần đó. “Anh ở chỗ nào vậy? Ai bắn đấy?”

    “Không, không, không…”, Sachs rên rỉ. Nhìn lượng máu nhiều kinh hoàng tuôn ra từ cái sọ vỡ toác của viên cảnh sát đã chết.

    Garrett Hanlon liếc nhìn xác Jesse. Rồi gã đi qua nó – về phía tiếng những bước chân đang đến gần. Gã vòng tay ôm lấy Sachs. ‘‘Chúng ta phải đi thôi.’’

    Khi cô không trả lời, khi cô, hoàn toàn tê liệt, chỉ nhìn chằm chằm vào cảnh tượng trước mắt – cái kết thúc của cuộc đời viên cảnh sát, cũng là cái kết thúc của chính cuộc đời cô – Garrett đã giúp cô đứng lên, rồi nắm bàn tay cô và kéo cô chạy theo mình. Hai người mất hút vào trong rừng.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này