Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU





    Lucy Kerr tăng tốc cho chiếc Crown Victoria lên tám mươi dặm.

    Cô chạy nhanh hả, Amelia?

    Ờ, tôi cũng vậy.

    Họ đang phóng dọc theo đường 112, chiếc đèn trên nóc xe xoay điên cuồng lấp loé ánh sáng màu đỏ, trắng và xanh lơ. Còi hụ không bật, Jesse Corn ngồi bên cạnh Lucy, nói chuyện điện thoại với Pete Gregg ở văn phòng cảnh sát bang đặt tại Elizabeth City. Trong chiếc xe ngay đằng sau họ là Trey Williams và Ned Spoto. Mason Germain và Frank Sturgis – một người tính tình kín đáo, mới lên chức ông – trong chiếc xe thứ ba.

    “Bọn họ đang ở chỗ nào?”, Lucy hỏi.

    Jesse hỏi văn phòng cảnh sát bang câu này và gật đầu nhận câu trả lời. Anh ta nói: “Chỉ trước năm dặm. Bọn họ đã rẽ khỏi quốc lộ, chạy về phía nam”.

    Làm ơn, Lucy nhẩm một lời cầu nguyện khác, làm ơn, hãy giữ máy chỉ một phút nữa thôi.

    Cô đạp chân ga gần chạm sàn xe.

    Cô chạy nhanh, Amelia. Tôi chạy nhanh.

    Cô bắn cừ.

    Nhưng tôi cũng bắn cừ. Tôi không khoe mẽ như cô, với tất cả những trò rút súng biểu diễn vớ vẩn, nhưng suốt cuộc đời tôi đã sống cùng súng đạn.

    Lucy nhớ lại khi Buddy rời bỏ cô, cô đã thu lấy mọi viên đạn có trong nhà và găm chúng xuống dòng nước đục ngầu của con kênh đào Nước đen. Sợ rằng một đêm nào đó cô có thể thức giấc, liếc nhìn sang nửa giường bên kia trống trải và sẽ cho chiếc nòng loáng dầu của khẩu súng ngắn công vụ vào miệng, tự đưa mình đến cái chốn mà chồng cô, cũng như tự nhiên, xem chừng muốn cô hãy đến.

    Trong vòng ba tháng rưỡi, Lucy đi xung quanh vùng với khẩu súng ngắn công vụ không nạp đạn, túm cổ những tay rượu lậu, những tay dân phòng, đám thiếu niên to xác còn thò lò mũi xanh hổn hển hít khí butane đầm lầy. Và cô xử lý tất cả bọn họ chỉ bằng những câu dọa dẫm.

    Rồi một buổi sáng cô thức giấc, như thể vừa trải qua cơn sốt, cô đi tới cửa hiệu bán đồ quân dụng Shakey trên phố Cây Thích, mua một hộp đạn Winchester cỡ 357. (“Ái chà, Lucy, cái quận này ở trong tình trạng tồi tệ hơn ta nghĩ, khiến mi phải tự sắm đạn.”) Cô trở về nhà, nạp đạn vào súng và kể từ đó súng của cô không lúc nào không có đạn.

    Đó là một sự kiện đầy ý nghĩa đối với cô. Khẩu súng được nạp lại đạn là biểu tượng cho sự sống sót.

    Amelia, tôi đã chia sẻ cùng cô những thời khắc ảm đạm nhất trong đời tôi, tôi đã nói với cô về cuộc phẫu thuật – nó là cái lỗ đen trong đời tôi. Tôi đã nói với cô về nỗi ngại ngùng của tôi trước những người đàn ông. Về tình yêu của tôi đối với con trẻ. Tôi đã ủng hộ cô khi Sean O’Sarian lấy mất súng của cô. Tôi đã xin lỗi cô khi cô đúng và tôi sai lầm.

    Tôi đã tin tưởng cô. Tôi…

    Một bàn tay chạm vào vai Lucy. Cô liếc nhìn sang Jesse Corn. Anh ta đang dành cho cô một trong những nụ cười dịu dàng của anh ta. “Quốc lộ cua ở đoạn trước mặt”, anh ta nói.

    Lucy chậm rãi thở ra và ngồi dựa vào lưng ghế, buông xuôi đôi vai. Cô từ từ giảm tốc độ.

    Tuy nhiên , khi họ thực hiện cú cua mà Jesse vừa nhắc tới, mặc dù có biển quy định tốc độ là bốn mươi dặm, cô vẫn cho xe chạy sáu mươi lăm dặm.





    “Cách một trăm feet về phía trước”, Jesse Corn thì thào.

    Họ rời khỏi xe, tập trung xung quanh Mason Germain và Lucy Kerr.

    Cảnh sat1 bang cuối cùng đã mất tín hiệu từ máy di động của Amelia, nhưng chỉ sau khi nó ở nguyên chừng năm phút tại địa điểm mà bây giờ họ đang phóng ánh mắt tới: một kho chứa nằm cách một ngôi nhà chừng năm mươi feet, trong rừng – cách đường 112 một dặm. Lucy nhận ra nó nằm về phía tây Tanner’s Corner. Đúng như Lincoln Rhyme dự đoán.

    “Mọi người không nghĩ Mary Beth đang ở trong đó chứ hả?”, Frank Sturgis, quệt qua bộ ria mép hoe hoe vàng. “Ý tôi là, nó cách trung tâm thị trấn có bảy dặm. Tôi cảm thấy nếu hắn giữ cô gái ở gần thị trấn như thế thì ngớ ngẩn quá.”

    “Không, bọn chúng chỉ đang chờ cho chúng ta đi qua”, Masson nói. “Rồi bọn chúng sẽ tiếp tục tới Hobeth Falls và thuê một chiếc xe.”

    “Dù sao thì…”, Jesse nói, “cũng có người sống ở đây”. Anh ta đã đề nghị được cung cấp địa chỉ của ngôi nhà. “Pete Hallburton. Ai biết người này không?”

    “Tôi nghĩ là biết”, Trey Williams trả lời, “Có vợ. Không có quan hệ gì với Garrett, theo như tôi biết”.

    “Họ có con cái gì không?”

    Trey nhún vai. “Tôi nghĩ có lẽ là có. Nhớ mang máng một trận bóng đá năm ngoái…”

    “Đang mùa hè. Bọn trẻ có thể ở nhà”, Frank lẩm bẩm. “Garrett có thể đã giữ chúng làm con tin bên trong.”

    “Có thể”, Lucy nói. “Nhưng phép đạc tam giác đối với tín hiệu điện thoại của Amelia chỉ ra rằng bọn họ đang ở trong kho chứa, không ở trong ngôi nhà. Bọn họ có thể đã vào nhà nhưng tôi không biết… Tôi không cách nào trông thấy bọn họ chỉ đang ẩn nấp đâu đây bên ngoài cho tới lúc bọn họ nghĩ đã an toàn để lên đường tới Hobeth thuê xe.”

    “Chúng ta làm gì đây?”, Frank hỏi. “Chặn lối dẫn vào nhà bằng xe của chúng ta à?”

    “Chúng ta đỗ ở đây thôi, làm thế kia bọn họ sẽ nghe thấy chúng ta mất”, Jesse nói.

    Lucy gật đầu. “Tôi nghĩ chúng ta chỉ nên đi bộ tới chỗ kho chứa – khẩn trương lên - theo hai hướng.”

    “Tôi có bình xịt CS”, Mason nói. CS-38 - một loại hơi cay quân sự tác dụng mạnh được cất khoá tại văn phòng cảnh sát trưởng, Bell chưa phân phát cho ai bình nào và Lucy băn khoăn tự hỏi làm sao Mason lại có trong tay được.

    “Đừng, đừng”, Jesse phản đối. “Có thể khiến bọn họ hoảng hốt đấy.”

    Lucy chắc chắn rằng đó hoàn toàn chẳng phải điều anh ta quan tâm. Cô cuộc là anh ta không muốn xịt thứ khí kinh khủng ấy vào cô bạn gái mới. Tuy nhiên, cô cũng đồng ý, cảm thấy là, vì các cảnh sát không mang mặt nạ, khí ga có thể tác dụng ngược lại họ. “Đừng xịt”, cô nói. “Tôi sẽ vào qua cửa trước. Trey, anh đưa…”

    “Không”, Mason giọng bình thản. “Tôi vào qua cửa trước”.

    Lucy do dự rồi nói: “Được. Tôi sẽ vào qua cửa ngách. Trey và Frank, các anh vào qua cửa sau và cửa ngách đằng kia”. Cô nhìn Jesse. “Tôi muốn anh và Ned canh chừng cửa trước và cửa sau ngôi nhà. Đằng kia”.

    “Rõ”, Jesse đáp.

    “Và các cửa sổ”, Mason lạnh lùng bảo Ned. “Tôi không muốn bất cứ kẻ nào từ bên trong nhà nhắm súng xuống lưng chúng ta.”

    Lucy nói: “Nếu bọn họ nhào ra xe, hãy chỉ bắn thủng các lốp hoặc nếu các anh có khẩu Magnum như của Frank kia thì hãy bắn vỡ động cơ. Đừng bắn Garrett hay Amelia trừ phi bắt buộc. Tất cả các anh đều biết quy tắc giao tranh”. Cô nhìn Mason khi đề cập điều này, nghĩ tới vụ bắn tỉa của anh ta tại cối xay. Nhưng viên cảnh sát xem chừng chẳng nghe thấy lời cô. Cô gọi vào bộ đàm và thông báo với Jim Bell rằng họ chuẩn bị tập kích kho chứa.

    “Tôi đã cho xe cấp cứu sẵn sàng”, anh ta nói.

    “Đây đâu phải một cuộc ra quân của lực lượng đặc nhiệm,” Jesse nghe lỏm được câu trao đổi, phát biểu. “Chúng tôi phải cực kỳ thận trọng trong việc nổ súng.”

    Lucy tắt bộ đàm. Cô hất đầu chỉ kho chứa. “Di chuyển tới đó.”

    Họ lom khom chạy, sử dụng những cây thông và sồi làm vật che chắn. Ánh mắt Lucy dán chặt vào các ô cửa sổ tối mò của kho chứa. Hai lần cô chắc chắn trông thấy cái gì đó chuyển động bên trong. Đó có thể là bóng phản chiếu của mây và của cây cối trong lúc cô chạy, nhưng cô chẳng thể nào chắc chắn được. Khi họ đã đến gần, cô dừng lại và đổi khẩu súng sang tay trái, lau lòng bàn tay. Rồi cô lại đổi khẩu súng sang tay thuận.

    Nhóm cảnh sát tập trung lại ở mặt sau không có cửa sổ của kho chứa. Lucy nghĩ cô chưa từng làm việc gì giống như thế này.

    Đây đâu phải một cuộc ra quân của lực lượng đặc nhiệm…

    Nhưng anh nhầm đấy, Jesse – đấy chính xác là sự việc đang diễn ra.

    Lạy Chúa lòng lành, hãy cho con bắn một phát thật trúng đứa phản bội.

    Một con chuồn chuồn béo múp đâm bổ vào Lucy. Cô lấy bàn tay trái gạt nó đi. Nó quay lại và lượn gần đó vẻ đe doạ, y như thể Garrett đã cử sinh vật này ra để làm cô sao lãng.

    Suy nghĩ dớ dẩn, Lucy tự bảo mình. Rồi cô tức giận đập con côn trùng lần nữa.

    Thằng Bọ…

    Bay sẽ thua thôi, Lucy tự nhủ thầm – ý nghĩ này ám chỉ cả hai kẻ chạy trốn.

    “Tôi sẽ không nói gì cả”, Mason nói. “Tôi cứ vào thôi. Lucy, khi cô nghe thấy tôi đá cánh cửa, cô sẽ vào qua cửa ngách nhé.”

    Cô gật đầu. Và mặc dù băn khoăn vì thấy Mason quá háo hức, mặc dù tha thiết muốn tóm được Amelia Sachs, cô vẫn sẵn lòng chia sẻ một phần gánh nặng của cái nhiệm vụ khó khăn này.

    “Để tôi kiểm tra cho chắc chắn, xem cửa ngách mở hay đóng”, Lucy thì thầm.

    Họ tản ra, về vị trí. Lucy chúi xuống phía dưới một ô cửa sổ và vội vã tới chỗ cửa ngách. Nó không khoá và hé mở. Cô gật đầu lại và giơ mười ngón tay lên, ý là, cô đồ rằng, để đếm lùi mười giây cho tới lúc anh ta bước qua khung cửa, biến mất.

    Mười, chín, tám…

    Lucy quay về phía cửa, ngửi thấy mùi gỗ mốc meo pha lẫn hương thơm ngọt của xăng và dầu bay ra từ bên trong kho. Cô thận trọng lắng nghe. Cô nghe được tiếng rung ì ì – tiếng động cơ của chiếc xe Amelia đã đánh cắp.

    Năm, bốn, ba…

    Lucy thở sâu một hơi để trấn tĩnh. Một hơi nữa.

    Sẵn sàng, cô tự nhủ.

    Rồi một tiếng kêu đánh rầm hát ra từ phía trước kho chứa khi Mason đá cánh cửa nhảy vào bên trong. “Cảnh sát đây!”, anh ta hô to. “Không ai được động đậy!”

    Nào! Lucy tự nhủ.

    Cô đá cánh của ngách. Nhưng nó chỉ mở ra chừng nửa gang tay rồi dừng sựng lại – đập phải cái máy cắt cỏ lớn đỗ ngay đằng sau. Nó không mở thêm tí nào. Cô dùng vai huých hai lần mà nó chẳng nhúc nhích. “Mẹ kiếp”, Lucy thì thầm và chạy vòng sang phía trước kho chứa.

    Cô chưa kịp chạy được nửa đường thì nghe thấy Mason kêu to: “Ôi, lạy Chúa”.

    Và rồi Lucy nghe thấy một tiếng súng nổ.

    Lát sau, lại một tiếng súng nữa.





    “Chuyện gì đang diễn ra vậy?”, Rhyme hỏi.

    “Được rồi”, Bell nói ngập ngừng, cầm trong tay chiếc điện thoại. Tư thế của anh ta có cái vẻ khiến Rhyme lo lắng: viên cảnh sát trưởng đứng áp chặt chiếc điện thoại vào tai, bàn tay kia vung ra nắm chặt. Anh ta nghe và gật đầu, rồi nhìn Rhyme. “Đã có súng nổ.”

    “Súng nổ?”

    “Mason và Lucy vào bên trong kho chứa. Jesse nói có hai tiếng súng nổ.” Bell ngẩng nhìn, hét sang căn phòng bên cạnh: “Điều xe cấp cứu tới khu vực nhà Hallburton, đường Badger Hollow, gần đường 112.”

    Steve Farr đáp to: “Xe đang đi rồi”.

    Rhyme lại đặt đầu vào cái tựa đầu của xe lăn. Liếc nhìn Thom, anh chàng không nói gì cả.

    Ai bắn? Ai bị bắn?

    Ôi, Sachs…

    Bell nói giọng giận dữ: “Này, tìm hiểu xem, Jesse! Có ai làm sao không? Cái quái quỷ gì đang diễn ra vậy?”.

    “Amelia có làm sao không?”, Rhyme quát lên.

    “Một phút nữa chúng ta sẽ biết”, Bell đáp.

    Nhưng có cảm giác như hàng ngày trời.

    Cuối cùng Bell lại cứng cả người khi Jesse Corn hay ai đó nói trên điện thoại. Anh ta gật đầu. “Lạy Chúa, anh ta đã làm gì?” Lắng nghe một lúc lâu hơn. Rồi nhìn gương mặt lo lắng của Rhyme. “Không sao cả. Không ai bị thương. Mason đá cánh cửa nhảy vào kho chứa và trông thấy bộ áo liền quần treo trên tường. Anh ta tưởng đấy là Garrett đang cầm súng. Anh ta bắn hai phát. Vậy thôi.”

    “Amelia không sao chứ?”

    “Bọn họ thậm chí không có đó. Bên trong chỉ có chiếc xe tải mà bọn họ đánh cắp. Garrett và Amelia ắt hẳn ở bên trong ngôi nhà, nhưng bọn họ có lẽ đã nghe thấy tiếng súng nổ và chuồn ra rừng. Bọn họ chưa thể đi quá xa được. Tôi biết cái cơ ngơi ấy – xung quanh toàn là các bãi lầy.”

    Rhyme tức tối nói: “Tôi muốn Mason đứng bên ngoài vụ này. Đấy không phải là sự nhầm lẫn – anh ta đã cố ý bắn. Tôi đã bảo anh rằng anh ta quá bốc đồng.”

    Bell hiển nhiên đồng ý với Rhyme. Anh ta nói vào điện thoại: “Jesse, đưa máy cho Mason…”. Anh ta im lặng một lát. “Mason, toàn bộ chuyện này là cái quái quỷ gì vậy?... Tại sao anh cứ nổ súng?... Ờ, nếu là Pete Hallburton đang đứng đó thì sao? Hoặc là vợ anh ta hoặc một đứa trong số lũ trẻ?... Tôi không quan tâm. Anh hãy quay lại đây ngay bây giờ. Đấy là mệnh lệnh… Chà, để họ khám xét ngôi nhà. Hãy vào xe của anh và quay lại… Tôi không nói với anh lần nữa đâu. Tôi…”

    “Mẹ kiếp”, Bell cúp máy. Một lát sau, chuông điện thoại lại vang lên. “Lucy, chuyện gì vậy?...” Viên cảnh sát trưởng lắng nghe, cau mày, mắt cắm xuống sàn. Anh ta đi tới đi lui. “Ôi, lạy Chúa… Cô chắc chắn không?” Anh ta gật đầu rồi bảo: “Được, ở đó nhé. Tôi sẽ gọi lại cho cô”. Anh ta cúp máy.

    “Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

    Bell lắc đầu. “Tôi không tin. Chúng tôi đã bị bịp. Cô ta đã gạt chúng tôi một cách quá thể, cô bạn anh ấy.”

    “Cái gì?”

    Bell nói: Pete Hallburton ở đó. Anh ta có nhà – có mặt tại ngôi nhà của anh ta. Lucy và Jesse vừa nói chuyện với anh ta. Vợ anh ta làm ca từ ba giờ chiều tới mười một giờ đêm trong công ty Davett và cô ta để quên suất ăn tối ở nhà, thế nên cách đây nửa tiếng đồng hồ anh ta đã mang suất ăn đến cho vợ rồi lái xe trở về”.

    Anh ta lái xe trở về? Amelia và Garrett nấp trong cốp xe à?”

    Bell thở dài chán chường. “Anh ta đi chiếc xe tải cỡ nhỏ. Không có chỗ nào mà nấp cả. Dù sao thì cũng không có chỗ nào cho bọn họ. Nhưng có vô khối chỗ cho điện thoại di động của cô ta. Đằng sau cái thùng làm lạnh được đặt ở đuôi xe ấy.”

    Rhyme lúc này cũng phải bật tiếng cười hoài nghi. “Cô ấy đã gọi tới công ty cho thuê xe, vẫn để kết nối và giấu điện thoại trên chiếc xe tải.”

    “Anh suy luận đúng đấy”, Bell lầm bầm.

    Thom nói: “Anh nhớ lại đi, sáng nay cô ấy đã gọi tới cái chỗ cho thuê xe ấy. Cô ấy điên tiết vì phải chớ máy lâu quá.”

    “Cô ta biết là chúng tôi sẽ sử dụng thiết bị định vị đối với chiếc điện thoại. Bọn họ đã chờ cho Lucy và các xe tuần tra rời khỏi Kênh Đào, rồi tiếp tục cái hành trình chết tiệt đầy hoan hỉ của bọn họ.” Bell nhìn tấm bản đồ. “Bọn họ khiến chúng tôi tiêu tốn bốn mươi lăm phút. Bây giờ thì bọn họ đã có thể tới bất cứ chỗ nào rồi.”
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY





    Sau khi các anh cảnh sát rời khỏi khu vực rào chắn và mất hút về phía tây xuôi theo đường 112, Garrett và Sachs chạy đến cuối đường Kênh Đào, băng ngang qua quốc lộ.

    Họ đi men xung quanh hai hiện trường vụ án ở Bến tàu kênh Nước đen, sau đó rẽ trái, vội vã đi xuyên các bụi rậm và một cánh rừng sồi, bám theo sông Paquenoke.

    Đi sâu vào rừng nửa dặm, họ gặp phụ lưu sông Paquo. Không thể đi vòng qua được, mà Sachs thì không thích thú gì việc bơi dưới dòng nước tối thẫm, điểm những con côn trùng và rác rến.

    Nhưng Garrett đã có sự thu xếp khác. Gã giơ đôi bàn tay bị còng chỉ một chỗ trên bờ. “Con thuyền.”

    “Thuyền à? Đâu?”

    “Kia, kia.” Garrett lại chỉ.

    Sachs nheo mắt nhìn, cố gắng lắm mới thấy hình dáng một con thuyền nhỏ. Nó được ngụy trang bằng các bụi rậm và lá cây. Gã bước tới, xoay sở hết mức với đôi bàn tay bị còng, bắt đầu gỡ các thứ che giấu con thuyền ra. Sachs giúp đỡ gã.

    “Lớp ngụy trang”, Garrett tự hào nói. “Tôi học từ lũ sâu bọ. Có một giống châu chấu nhỏ ở Pháp – gọi là truxalis. Giống này cực kỳ hay – mỗi mùa hè chúng thay đổi màu ba lần cho phù hợp với các màu xanh của cỏ. Bọn săn mồi hầu như không trông thấy chúng được.”

    Chà, Sachs cũng sử dụng đến thứ kiến thức bí truyền về côn trùng của gã trai. Khi Garrett nhận xét về những con bướm đêm – về khả năng cảm nhận các tín hiệu điện tử và radio của chúng – cô nhận ra rằng Rhyme tất nhiên đã sử dụng thiết bị định vị đối với chiếc điện thoại di động của cô. Cô nhớ lại lúc sáng gọi tới công ty cho thuê xe Piedmont – Carolia cô phải chờ máy rất lâu. Thế nên cô liền lẻn vào bãi đỗ xe của Công ty Davett, gọi tới cái công ty cho thuê xe kia và luồn chiếc điện thoại, đang đổ đoạn nhạc lê thê của Muzak, vào phía sau chiếc xe tải cỡ nhỏ không người lái, vẫn để nổ máy, đỗ đằng trước lối vào dành cho nhân viên.

    Mánh khoé đó rõ ràng đã có tác dụng. Tốp cảnh sát xuất phát đuổi theo chiếc xe tải khi nó rời khỏi khu vực nhà máy.

    Trong lúc gỡ lớp ngụy trang, Sachs hỏi: “Chất amomnia? Và cái hố bỏ tổ ong bắp cày? Cậu cũng học từ lũ côn trùng hả?”.

    “Vâng”, Garrett nói.

    “Cậu không định làm hại ai cả, phải không?”

    “Không, không, cái hố bắt chước loài kiến sư tử chỉ để doạ các người thôi, để các người đi chậm lại. Vì thế tôi đã bỏ một chiếc tổ không vào. Chai ammonia là để cảnh báo sớm đối với chúng.” Cặp mắt đỏ quạch, ướt nhoèn của Garrett lấp lánh ánh ngưỡng mộ lạ lùng. “Thật thú vị, việc cô đã làm ấy, tìm thấy tôi tại cối xay. Tôi, nói chung, không bao giờ nghĩ cô lại đến đó nhanh vậy.”

    “Và cậu bố trí những chứng cứ giả trong cối xay – tấm bản đồ và chỗ cát – để chúng tôi bị lạc hướng.”

    “Vâng, tôi đã bảo cô – côn trùng khôn khéo lắm. Chúng bắt buộc phải khôn khéo.”

    Họ gỡ xong lớp ngụy trang của con thuyền trông xạc xài. Nó được sơn màu xám sẫm, dài chừng mười feet và có một động cơ nhỏ gắn bên ngoài thân. Trong lòng thuyền là chục chai nhựa dung tích một ga lông đựng nước suối và một hộp giữ lạnh. Sachs mở một chai nước, uống luôn mươi ngụm đầy. Cô đưa cái chai cho Garrett và gã cũng uống. Rồi gã mở hộp giữ lạnh. Bên trong là các gói bích quy và khoai tây chiên. Gã xem xét chúng kỹ lưỡng để chắc chắn rằng chúng vẫn còn đầy đủ và không bị hư hỏng. Gã gật đầu, rồi trèo vào trong thuyền.

    Sachs trèo vào theo, ngồi quay lưng về phía mũi thuyền, đối diện Garrett. Gã nhoẻn nụ cười hiểu biết, y như thể nhận ra là cô chưa đủ tin tưởng để ngồi quay lưng lại với gã. Gã giật sợi dây khởi động máy. Máy thuyền khục khặc chạy. Gả đẩy con thuyền rời khỏi bờ và, giống như những cậu Huck Finn[35] hiện đại, họ bắt đầu xuôi theo sông.

    Sachs ngẫm nghĩ: Đây là cuộc đấu tay đôi.

    Một câu mà cha cô trước đây hay dùng. Người đàn ông gọn ghẽ, tóc bắt đầu thưa, phần lớn đời mình làm một cảnh sát tuần tra khu vực ở Brooklyn và Mahattan, từng có buổi trò chuyện nghiêm túc với cô con gái khi cô bảo ông là cô muốn bỏ nghề người mẫu để tham gia vào lực lượng cảnh sát. Ông hết sức ủng hộ quyết định đó nhưng đã nói về nghề cảnh sát như thế này: “Amie, con phải hiểu rằng: đôi khi con cần xông lên, đôi khi con cần tạo ra ảnh hưởng, đôi khi con sẽ có cảm giác tẻ nhạt. Và đôi khi, không quá thường xuyên đâu, ơn Chúa, nó là cuộc đấu tay đôi. Nắm đấm đọ nắm đấm. Con hoàn toàn đơn độc, chẳng có ai giúp đỡ con. Và ý cha là không chỉ chiến đấu với các đối tượng. Đôi khi con sẽ phải chiến đấu với các sếp của con. Đôi khi lại với sếp của họ. Con có thể chiến đấu với cả bạn bè nữa. Con định trở thành một cảnh sát, con hãy sẵn sàng đơn thương độc mã. Không được né tránh.”

    “Con có thể đương đầu mà cha”.

    “Đúng là con gái tôi. Cha con mình lái xe đi đâu nhé, con gái.”

    Ngồi trên thuyền ọp ẹp này, được điều khiển bởi một thằng bé mới lớn nguy hiểm, Sachs chưa bao giờ cảm thấy cô đơn đến thế trong cuộc đời.

    Cuộc đấu tay đôi… nắm đấm đọ nắm đấm.

    “Nhìn đằng kia”, Garrett nói nhanh. Gã chỉ một con côn trùng gì đó. “Nó là loài tôi ưa thích nhất đấy. Bọ gạo. Nó bay trong nước.” Khuôn mặt gã sáng lên ánh nhiệt tình không kiềm chế được. “Nó thực sự bay trong nước! Này, khá thú vị, phải không? Bay trong nước ấy. Tôi thích nước. Nước làm da tôi thấy dễ chịu.” Nụ cười tắt dần và gã chà xát cánh tay. “Cái giống sồi độc chết tiệt này… Tôi lúc nào cũng bị nó quệt vào. Đôi lúc ngứa kinh khủng.”

    Họ bắt đầu luồn lách qua các vịnh nhỏ, vòng xung quanh các hòn đảo, các chùm rễ cây, các thân cây xám xịt ngập phân nửa, rồi luôn luôn quay lại với hành trình về phía tây, về phía mặt trời đang lặn.

    Một ý nghĩ xuất hiện trong đầu óc Sachs, tiếng vọng của một ý nghĩ đã xuất hiện trong cô từ lúc trước, trong phòng giam gã trai ngay trước khi cô giải cứu gã: với việc giấu một chiếc thuyền chất đầy thực phẩm dự trữ, nạp nhiên liệu sẵn sàng, Garrett đã dự tính rằng bằng cách này hay cách khác gã sẽ vượt ngục. Và vai trò của cô trong chuyến đi này là một phần của kế hoạch tinh vi đã dự tính đó.

    “Dù em nghĩ về Garrett như thế nào, cũng đừng tin tưởng hắn. Em nghĩ hắn vô tội. Nhưng cũng hãy chấp nhận là hắn có thể có tội. Em biết chúng ta vẫn tiếp cận các hiện trường vụ án như thế nào, Sachs.”

    “Với một tư duy mở. Không định kiến. Tin tưởng rằng mọi cái đều có thể.”

    Nhưng rồi Sachs lại nhìn gã trai. Cặp mắt gã sáng rỡ, hạnh phút lướt qua hết cảnh vật này tới cảnh vật khác trong lúc điều khiển thuyền đi xuyên các con kênh, trông không giống chút nào một kẻ phạm tội vượt ngục mà y như thể một thiếu niên phấn chấn tham gia chuyến cắm trại, sung sướng và hào hứng trước những gì mình sẽ có thể khám phá sau mỗi khúc quanh của sông.





    “Chị ta giỏi đấy, Lincoln”, Ben nói, ám chỉ mánh khoé sử dụng chiếc điện thoại di động.

    Cô ấy đúng là giỏi, lincoln nghĩ thầm. Rồi anh tự nói thêm với bản thân mình: cô ấy giỏi chẳng kém tôi. Tuy nhiên anh phải nghiêm khắc thừa nhận - cũng riêng với bản thân mình thôi - rằng lần này thì cô đã giỏi hơn anh.

    Rhyme điên tiết với chính mình vì đã không dự tính trước điều ấy. Đây đâu phải một cuộc chơi, anh tự nhủ, đâu phải một bài tập - như cái cách anh đôi lúc vẫn thử thách Sachs khi cô đang tiến hành khám nghiệm hiện trường hay khi họ đang phân tích các chứng cứ trong la-bô của anh ở New York. Tính mạng cô đang gặp nguy hiểm. Thời gian trước khi Garrett cưỡng hiếp hoặc sát hại cô chỉ còn tính bằng tiếng đồng hồ. Anh không thể lại phạm sai lầm lần nữa.

    Một cảnh sát xuất hiện trên ngưỡng cửa, xách chiếc túi giấy đựng hàng của chuỗi cửa hiệu Food Lion. Nó đựng quần áo của Garrett để ở khu tạm giam.

    “Tốt”, Rhyme nói. “Lập bảng đi, một người nào đấy. Thom, Ben… lập bảng đi. “Tìm thấy tại hiện trường gián tiếp – cối xay.” Ben viết đi, viết đi!”

    “Nhưng chúng ta lập rồi mà.” Ben chỉ tấm bảng.

    “Không, không, không”, Rhyme quát. “Xoá hết đi. Các chứng cứ đó là giả. Garrett đã bố trí để đánh lạc hướng chúng ta. Giống hệt chỗ đá vôi trong chiếc giày hắn bỏ lại khi bắt cóc Lydia. Nếu chúng ta có thể tìm thấy chứng cứ trong quần áo của hắn - anh hất đầu chỉ cái túi – chúng ta sẽ biết Mary Beth thực sự đang ở đâu”.

    “Nếu chúng ta may mắn”, Bell nói.

    Không phải may mắn, Rhyme nghĩ thầm, mà là nếu chúng ta giỏi. Anh bảo Ben: “Cắt một đoạn của chiếc quần – đoạn gần gấu – và chạy qua máy tách hợp chất”.

    Bell bước ra khỏi văn phòng, để nói với Steve Farr về việc xin tần số ưu tiên cho các máy bộ đàm mà không phải tiết lộ với cảnh sát bang những gì đang diễn ra, Rhyme đã khăng khăng đề nghị điều này.

    Bây giờ thì nhà hình sự học và Ben cùng chờ đợi kết quả từ máy tách hợp chất. Trong lúc chờ đợi, Rhyme hỏi: “Chúng ta có gì nữa?”. Anh hất đầu chỉ đống quần áo.

    “Các vết sơn màu nâu dây trên quần của Garrett.” Ben vừa xem xét vừa báo cáo. “Màu nâu sẫm. Trông còn mới.”

    “Màu mâu”, Rhyme nhắc lại và kiểm tra chúng. “Nhà của cha mẹ Garrett sơn màu gì?”

    “Tôi không biết”, Ben đáp.

    “Tôi đâu có nghĩ cậu là cái kho chứa thông tin vớ vẩn của Tanner’s Corner”, Rhyme lẩm bẩm. “Tôi muốn nói: Hãy gọi điện hỏi họ.”

    “Ồ”. Ben tìm thấy số máy trong hồ sơ vụ án. Anh ta nói chuyện với người nào đó một lát. “Đấy là cái đồ con hoang chẳng muốn hợp tác gì hết… Cha nuôi của Garrett. Dù sao thì nhà họ cũng sơn màu trắng và không có chi tiết nào sơn màu nâu sẫm.”

    “Vậy, có thể nơi đang giam giữ cô gái sơn màu này.”

    Anh chàng to béo hỏi: “Liệu có cơ sở dữ liệu nào về sơn mà chúng ta có thể đối chiếu không?”.

    “Ý kiến hay đấy”, Rhyme đáp. “Nhưng câu trả lời là không. Ở New York thì tôi có, tuy nhiên nó chẳng giúp gì cho chúng ta ở đây. Còn cơ sở dữ liệu của FBI lại về xe hơi. Nhưng hãy cứ tiếp tục. Có gì trong túi quần, có gì không? Đi…”

    Nhưng Ben đã đang đi găng tay cao su vào rồi. “Ông định bảo việc này phải không?”

    “Phải”, Rhyme lẩm bẩm.

    Thom nói: “Anh ấy vốn vẫn ghét bị đoán trước ý”.

    “Thế thì tôi sẽ cố gắng đoán trước ý thường xuyên hơn”, Ben nói. “A, có cái gì này.”

    “Cái gì?”

    Ben hít hít. “Phó mát và bánh mì.”

    “Lại thức ăn. Giống như chỗ bích quy và…”

    Ben cười to.

    Rhyme cau mày. “Cái gì mà buồn cười?”

    “Đó là thức ăn - nhưng không phải cho Garrett.”

    “Ý cậu là thế nào?”

    “Chưa, tôi chưa đi câu bao giờ”, Rhyme lẩm bẩm. “Nếu muốn có cá, người ta mua, người ta nấu, người ta ăn. Câu cá thì có liên quan quái gì đến bánh sandwich nhân phó mát hả?”

    Đây không phải từ bánh sandwich”, Ben giải thích. “Đây là những viên chua. Mồi để đi câu. Người ta trộn bánh mì và phó mát rồi cho chúng lên men. Bọn cá ăn sát đáy rất mê món này. Bọn cá da trơn chẳng hạn. Mùi càng chua càng tốt.”

    Rhyme nhướn lông mày. “À, bây giờ thì chi tiết ấy hữu ích đấy.”

    Ben kiểm tra phần gấu lơ-vê. Anh ta phủi một chút gì đó xuống tờ phiếu đặt mua dài hạn tạp chí People, rồi soi dưới kính hiển vi. “Không có gì đặc biệt lắm”, anh ta nói. “Ngoại trừ những đốm nhỏ. Màu trắng.”

    “Để tôi xem.”

    Nhà động vật học bê chiếc kính hiển vi lớn hiệu Bausch & Lomb đến cho Rhyme. Anh nhìn vào các thị kính. “Được rồi, tốt. Chúng là các sợi giấy.”

    “Thế à?”, Ben hỏi.

    “Đấy hiển nhiên là giấy. Còn có thể là gì nữa chứ? Cũng là loại hút nước. Tuy nhiên, chẳng có manh mối nào cho thấy nguồn gốc. Bây giờ thì chỗ đất cát đó rất đáng quan tâm. Cậu lấy thêm một ít được không? Từ phần gấu lơ-vê ấy?”

    “Tơi sẽ cố gắng.”

    Ben cắt đường khâu và mở gấu ra. Anh ta phủi thêm được một ít đất cát xuống tờ phiếu.

    “Soi đi”, Rhyme yêu cầu.

    Nhà hình sự học chuẩn bị một phiến kính và đặt nó lên bệ chiếc kính hiển vi kép mà anh ta lại bê rất chắc hắn cho Rhyme nhìn. “Có nhiều đất sét. Tôi muốn nói là nhiều. Đá feldspathic, có lẽ là granite. Và… cái gì thế kia? Ồ, rêu nước.”

    Ben cảm thấy rất ấn tượng. “Làm sao ông biết được tất cả những cái này?”

    “Đơn giản là tôi biết.” Rhyme không có thời gian để đi vào bàn luận việc một nhà hình sự học phải thông thạo về thế giới vật chất như anh thông thạo ra sao. Anh hỏi: “Trong gấu quần còn gì nữa? Cái gì kia?”. Anh hất đầu chỉ cái gì đó nằm trên tờ phiếu đặt mua tạp chí. “Cái gì bé tí màu xanh trăng trắng đấy?”

    “Nó từ một loài thực vật”, Ben nói. “Nhưng không phải chuyên môn của tôi. Tôi đã học về thực vật dưới nước, nhưng tôi chẳng yêu thích môn này. Tôi yêu thích những dạng sống có cơ hội chuồn đi khi người ta định sưu tầm chúng. Như thể xem chừng thượng võ hơn.”

    Rhyme ra lệnh: “Mô tả đi”.

    Ben quan sát kỹ lưỡng bằng chiếc kính lúp. “Một cái cuống hơi đỏ có một giọt chất lỏng ở đầu dưới. Trông nhơn nhớt. Đầu trên có một bông hoa trắng hình chuông… Nếu tôi phải phỏng đoán thì…”

    “Cậu phải làm việc đó”, Rhyme quát. “Và khẩn trương lên.”

    “Tôi khá chắc chắn rằng nó là một nhánh gọng vó.”

    “Là cái quái quỷ gì vậy? Nghe cứ như đi bắt tôm bắt cá ấy.”

    Ben nói: “Gọng vó cũng giống cây bắt ruồi. Loài này ăn thịt côn trùng. Chúng rất tuyệt. Thuở nhỏ, tôi từng ngồi quan sát chúng hàng tiếng đồng hồ. Cái cách chúng bắt…”

    “Rất tuyệt”, Rhyme châm biếm nhắc lại. “Tôi không quan tâm đến thói quen dùng bữa của chúng. Chúng hay được tìm thấy ở đâu? Điều đó sẽ rất tuyệt đối với tôi đấy.”

    “Ồ, khắp vùng này.”

    Rhyme cau có. “Vô tích sự. Mẹ kiếp. Được rồi, sau khi chạy xong mẫu vải quần hãy chạy chỗ đất cát kia qua máy tách hợp chất.” Rồi anh nhìn chiếc áo phông của Garrett đang trải rộng trên một cái bàn. “Những vết bẩn kia là gì?”

    Có vài vết đo đỏ bám ở chiếc áo. Ben xem xét chúng kỹ lưỡng rồi nhún vai, lắc đầu.

    Đôi môi mỏng của nhà hình sự học nở nụ cười giễu cợt. “Cậu thử nếm xem?”

    Không do dự, Ben cầm áo lên, liếm lấy một chút vết bẩn.

    Rhyme kêu to: “Cậu chàng khá”.

    Ben nhướn một bên lông mày. “Tôi cho rằng đó là một bước đúng chuẩn.”

    “Chẳng đời nào tôi thèm làm như vậy đâu”, Rhyme đáp lời.

    “Tôi không tin ông lấy một phút”, Ben nói. Anh ta liếm lại. “Theo tôi phỏng đoán thì nước trái cây. Tuy nhiên không nói được là vị gì.”

    “Rồi, bổ sung vào danh sách chứng cứ đi, Thom.” Rhyme hất đầu chỉ chiếc máy tách hợp chất. “Chúng ta hãy xem kết quả phân tích mảnh vải quần, tiếp theo chạy chỗ đất cát lấy từ phần gấu.”

    Chiếc máy nhanh chóng cho họ biết các chất bám trên quần áo của Garrett là gì và những thứ có trong gấu quần gã: đường, lại camhene, chất cồn, dầu hoả, men nở. Lượng dầu hoả rất đáng kể. Thom bổ sung chúng vào danh sách chứng cứ và mấy người đàn ông cũng xem xét kỹ lưỡng.





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY


    Sơn nâu dây trên quần

    Cây gọng vó

    Đất sét

    Rêu nước

    Nước trái cây

    Sợi giấy

    Viên chua làm mồi câu

    Camphene

    Chất cồn

    Dầu hoả

    Men nở



    Tất cả những cái này có ý nghĩa như thế nào? Rhyme băn khoăn tự hỏi. Quá nhiều manh mối. Anh không thể nhận ra các mối quan hệ giữa chúng. Liệu đường là từ nước trái cây hay từ một địa điểm riêng biệt mà gã trai từng đến? Liệu gã đã mua dầu hoả hay gã chỉ tình cờ trốn trong một trạm xăng hay trong một kho chứa nơi người chủ cất dầu hoả? Chất cồn thì được tìm thấy trong ba nghìn sản phẩm gia dụng và công nghiệp phổ biến - từ các loại dung môi tới nước thơm xoa mặt sau khi cạo râu. Men nở chắc chắn bị dây vào tại cối xay, đó là nơi ngũ cốc được xay thành bột.

    Sau vài phút, ánh mắt Lincoln Rhyme lướt sang bảng chứng cứ khác.





    * * *





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT


    Xạ chồn hôi

    Lá thông bị cắt rời khỏi cành

    Các bức vẽ côn trùng

    Ảnh chụp gia đình

    Ảnh chụp mary Beth

    Các sách về côn trùng

    Dây câu

    Tiền

    Chìa khoá chưa xác định

    Dầu hoả

    Ammonia

    Nitrate

    Camphene



    Một chi tiết nào đấy Sachs đã đề cập tới khi cô đang khám xét phòng riêng của gã trai quay lại với Rhyme.

    “Ben, cậu có thể mở cuốn vở kia được không, cuốn vở của Garrett ấy? Tôi muốn xem nó lần nữa.”

    “Ông có muốn tôi đặt vào thiết bị lật trang không?”

    “Không, cứ lật bằng tay thôi”, Rhyme bảo.

    Các bức vẽ côn trùng cứng nhắc của gã trai được lật nhanh qua: bọ gạo, nhện nước, gọng vó.

    Rhyme nhớ Sachs đã bảo anh rằng, ngoại trừ chiếc lọ đựng ong bắp cày – cái két an toàn của Garrett – tất cả các loài côn trùng trong bộ sưu tập của gã đều được nuôi trong những chiếc lọ đựng nước. “Tất cả bọn chúng đều là các loài thuỷ sinh.”

    Ben gật đầu. “Có vẻ thế”.

    “Hắn bị nước thu hút”, Rhyme trầm ngăm. Anh nhìn Ben. “Và loại đầu mối câu đó? Cậu nói nó dùng để câu bọn cá ăn sát đáy à?”

    “Viên chua ạ? Phải rồi.”

    “Nước mặn hay nước ngọt?”

    “Chà, nước ngọt. Tất nhiên rồi.”

    “Và dầu hỏa – thuyền cũng chạy bằng dầu hoả, đúng không nhỉ?”

    “Nhiên liệu đốt đèn”, Ben trả lời. “Loại thuyền nhỏ gắn động cơ bên ngoài thân vốn vẫn sử dụng nó.”

    Rhyme nói: “Nếu suy nghĩ tới điều này thì thế nào nhỉ? Phải chăng hắn đang đi về phía tây bằng thuyền trên sông Paquenoke?”.

    Ben nói: “Có lý đấy, ông Lincoln. Và tôi cuộc rằng lượng dầu hoả nhiều vậy vì hắn đã nạp lại nhiên liệu nhiều lần – phải chạy qua chạy lại giữa Tanner’s Corner và nơi hắn giữ Mary beth. Chuẩn bị sẵn sàng các thứ cho cô ấy”.

    “Tư duy tốt đấy. Gọi Jim Bell vào đây, được không?”

    Vài phút sau, Bell quay lại và Rhyme trình bày giả thuyết cảu anh.

    Bell nói: “Những con bọ dưới nước đem đến cho anh cái ý tưởng ấy đấy hả?”.

    Rhyme gật đầu. “Nếu chúng ta biết về côn trùng, chúng ta sẽ biết về Garrett.”

    “Nó chẳng điên rồ hơn những điều khác tôi đã nghe ngày hôm nay”, Jim Bell nói.

    Rhyme hỏi: “Các anh có thuyền cảnh sát không?”

    “Không. Nhưng dù sao thì nó cũng không hữu ích gì cho chúng ta đâu. Anh không biết sông Paquo. Trên bản đồ nó trông giống như bất cứ con sông nào – cũng có hai bờ, cũng có cái nọ cái kia, đủ cả. tuy nhiên nó còn có đến nghìn cái vịnh nhỏ và sông nhánh nối các đầm lầy. Nếu Garrett đi theo sông Paquo hắn sẽ không đi theo dòng chảy chính, tôi đảm bảo với anh điều này. Sẽ chẳng tài nào tìm thấy hắn được.”

    Ánh mắt Rhyme đưa theo sông Paquenoke về phía tây. “Nếu hắn đã vận chuyển các đồ dự trữ tới địa điểm giữ Mary Beth thì nghĩa là chỗ đó có lẽ không quá xa con sông. Hắn sẽ phải đi về phía tây bao xa để tới khu vực ở được?”

    “Phải xa đấy. Thấy khu vực trên kia không?” Bell đặt tay vào khu vực xung quanh ô G-7. “Đó là phía bắc sông Paquo, không ai sinh sống ở đó cả. Phía nam con sông thì khá đông dân cư. Hắn chắc chắn sẽ bị phát hiện.”

    “Vậy ít nhất phải chừng mười dặm về phía tây?”

    “Anh đúng đấy”, Bell nói.

    “Cái cầu kia?” Rhyme hất đầu chỉ tấm bản đồ. Anh đang nhìn ô E-8.

    “Cầu Hobeth ấy à?”

    “Dốc lên cầu như thế nào? Chính là một đoạn quốc lộ?”

    “Xung quanh toàn bãi rác. Nhưng cầu cao chừng bốn mươi feet nên dốc lên cầu dài. Ồ, hẵng khoan… Anh đang cho rằng Garrett sẽ phải quay lại dòng chảy chính để đi qua phía dưới cầu?”

    “Đúng. Vì các kỹ sư hẳn đã lấp những nhánh sông nhỏ toả ra hai bên khi họ xây dựng dốc lên cầu.”

    Bell gật đầu. “Ờ. Tôi hiểu rồi.”

    “Cử Lucy và những người khác tới đó bây giờ đi. Tới chỗ cái cầu. Và, Ben này, hãy gọi cho nhân vật kia – Henry Davett. Bảo rằng chúng ta lấy làm tiếc lại cần đến sự giúp đỡ của ông ta”.

    Chúa sẽ làm gì…

    Một lần nữa nghĩ tới Davett, Rhyme thầm nhẩm một lời cầu nguyện – tuy nó không nhắm đến bất cứ vị thần nào. Nó nhắm đến Amelia Sachs: Ôi, Sachs, hãy cẩn thận. Chỉ còn là vấn đề thời gian, sớm muộn gì Garrett cũng sẽ có cớ xin em tháo còng cho hắn. Rồi dẫn em tới nơi nào đó hoang vắng. Rồi tìm cách cướp súng của em… Đừng để những tiếng đồng hồ đang trôi qua ru em vào sự tin tưởng hắn, Sachs ạ. Đừng mất cảnh giác. Hắn có độ kiên nhẫn của loài bọ ngựa đấy.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM





    Garrett thông thạo các luồng nước ở đây y như một tay hoa tiêu đường sông lão luyện, gã lái cho con thuyền đi vào những chỗ có vẻ là những nhánh sông cụt nhưng rốt cuộc luôn luôn tìm thấy những lạch nước, mảnh tựa tơ nhện, dẫn họ vững vàng tiến về phía tây xuyên qua cái mê cung này.

    Gã lưu ý Sachs những con rái cá sông, những con chuột xạ và hải ly – những cảnh tượng hẳn khiến các nhà tự nhiên học nghiệp dư phấn khích, nhưng không gây ấn tượng gì đối với cô. Đối với cô, đời sống hoang dã là những con chuột cống, những con bồ câu và sóc sống trong thành phố - và cũng chỉ ở khía cạnh là chúng hữu ích cho công việc giám định của cô và Rhyme.

    “Nhìn kìa!”, Garrett kêu to.

    “Cái gì?”

    Gã chỉ một cái gì đó mà Sachs không trông thấy được. Gã nhìn chằm chằm vào một điểm gần bờ, lẫn giữa biết bao nhiêu vở kịch hết sức ngắn ngủi đang diễn ra dưới nước. Tất cả những gì Sachs có thể trông thấy là một con bọ gì đó nhảy trên mặt sông.

    “Gọng vó”, Garrett bảo Sachs rồi ngồi ngả người lại khi họ bơi lướt qua. Bộ mặt gã trở nên nghiêm trang. “Côn trùng, nói chung, quan trọng hơn chúng ta nhiều. Ý tôi là đối với việc giữ cho hành tinh này tiếp tục tồn tại. hãy tưởng tượng – tôi đã đọc được điều này ở đâu đó – rằng nếu ngày mai tất cả mọi người trên trái đất biến mất, thế giới vẫn tiếp tục tồn tại bình thường. Nhưng nếu côn trùng biến mất thì đời sống sẽ kết thúc nhanh chóng – nói chung, trong vòng một thế hệ. Cây cối sẽ chết hết, rồi tới các con vật, và trái đất sẽ một lần nữa biến thành khối đá tảng khổng lồ.”

    Mặc dù chất giọng còn của tuổi mới lớn, Garrett nói với vẻ uy quyền của một vị giáo sư và sự nhiệt tình của một người điều hành các cuộc họp tôn giáo làm thức tỉnh lại đức tin. Gã tiếp tục: “Phải, một số loài côn trùng gây hại. nhưng chỉ một số thôi, một hay hai phần trăm gì đó”. Bộ mặt gã trở nên sinh động và gã tự hào nói: “Và những loài phá hoại mùa màng, chà, tôi có cái ý tưởng này. Nó khá thú vị đấy. Tôi muốn nuôi loài rệp mắt vàng đặc biệt ấy, để kiềm chế các loại gây hại, thay thế cho các hoá chất độc - như vậy các loài côn trùng hữu ích và các loài động vật khác không bị tiêu diệt. Rệp mắt vàng là lựa chọn tốt nhất. Chưa ai từng làm việc này.”

    “Cậu nghĩ là cậu có thể làm à, Garrett?”

    “Tôi chưa biết chính xác phải làm thế nào. Nhưng tôi sẽ học cách.”

    Sachs nhớ lại một chi tiết cô đã đọc được trong cuốn sách của Garrett, thuật ngữ do E. O. Wilson đưa ra, biofilia – cái tình cảm gắn bó mà con người cảm thấy đối với các loài sinh vật khác trên trái đất. Và trong lúc lắng nghe gã nói những chuyện vặt vãnh này - tất cả đều là bằng chứng cho niềm say mê trước thiên nhiên và sự hiểu biết – cô có một ý nghĩ lấn át mọi ý nghĩ khác: bất cứ ai có thể bị các loài sinh vật cuốn hút và có thể yêu thương chúng, theo cái cách kỳ quặc như gã, thì không thể là một kẻ cưỡng dâm và sát nhân được.

    Amelia Sachs bám chặt lấy ý nghĩ này và nó giúp cô không lung lay tinh thần trong lúc họ điều khiển con thuyền đi theo sông Paquenoke, chạy trốn khỏi Lucy Kerr và gã đàn ông bí ẩn mặc quần yếm màu nâu vàng, chạy trốn khỏi thị trấn Tanner’s Corner bình dị đang đầy nỗi lo sợ.

    Chạy trốn khỏi Lincoln Rhyme nữa. Chạy trốn khỏi cuộc phẫu thuật sắp tới và những hệ quả kinh khủng nó có thể đem đến cho cả hai người.

    Con thuyền hẹp êm ả lướt qua các phụ lưu, dòng nước chẳng còn màu đen thẫm mà bây giờ là màu vàng kim, như một kiểu đổi màu ngụy trang - phản chiếu ánh tà dương – y hệt cái giống châu chấu Pháp Garrett đã kể cho Sachs nghe. Cuối cùng, gã trai lái thuyền ra khỏi các sông nhánh và vào sông chính, men sát bờ, Sachs ngoái nhìn đằng sau, về phía đông, xem có thuyền cảnh sát nào truy đuổi không. Cô chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ chiếc xà lan to tướng của Công ty Davett đang ngược dòng - chạy trái đi hướng vào một cái vịnh nhỏ. Qua cành lá một cây liễu buông loà xoà trên mặt sông, gã dõi ánh mắt về phía tây tới chiếc cầu bắc ngang sông Paquenoke.

    “Chúng ta phải đi phía dưới cầu”, Garrett nói. “Chúng ta không thể đi vòng xung quanh được.” Gã cẩn thận quan sát gầm cầu. “Cô có trông thấy ai không?”

    Sachs nhìn. Cô trông thấy vài chớp sáng. “Có lẽ. Tôi không thể nói chắc chắn. Chói quá.”

    “Đó là nơi lũ khốn kiếp đang đợi chúng ta”, Garrett lo lắng nói. “Tôi luôn luôn e ngại chiếc cầu. Người ta tìm kiếm cô.”

    Luôn luôn?

    Garrett cho thuyền cập bờ và tắt máy. Gã trèo ra, tháo bù–loong gắn động cơ vào thuyền, rồi tháo động cơ giấu giữa những búi cỏ, cùng với bình xăng.

    “Cậu đang làm gì vậy?”, Sachs hỏi.

    “Không thể để xảy ra nguy cơ bị phát hiện được.”

    Garrett đưa chiếc hộp giữ lạnh và các bình nước ra khỏi thuyền, rồi buộc hai mái chèo vào ghế ngồi bằng hai đoạn dây thừng đầy dầu mỡ. Gã dốc hết nước ra khỏi sáu bình, đậy nắp lại, bỏ chúng sang bên. Gã hất đầu chỉ các chai nước. “Tệ quá. Mary Beth thì không có một giọt nào. Cô ấy sẽ cần có ít nước. Nhưng tôi có thể lấy cho cô ấy từ cái ao gần ngôi nhà đó.” Rồi gã lội xuống sông, tay túm mạn thuyền. “Hãy giúp tôi nào”, gã nói. “Chúng ta phải lập úp nó.”

    “Chúng ta sẽ đánh chìm nó à?”

    “Không. Chỉ lật úp nó thôi. Chúng ta sẽ cho các cái bình rỗng xuống bên dưới. Nó sẽ nổi.”

    Lật úp à?”

    “Tất nhiên.”

    Sachs nhận ra ý đồ của Garrett. Họ sẽ chui xuống bên dưới chiếc thuyền và trôi qua gầm cầu. Từ trên cầu, khó có thể phát hiện thân thuyền màu sẫm ngập sâu trong nước. Vượt được vị trí đó rồi, họ có thể lật lại thuyền và chèo nốt quãng đường đến chỗ Mary Beth.

    Garrett mở chiếc hộp giữ lạnh, tìm thấy một cái túi nhựa. “Chúng ta có thể bỏ các thứ không muốn bị ướt vào đây.” Gã bỏ vào cuốn sách của gã, Thế giới thu nhỏ. Sachs bỏ ví và súng. Cô giắt áo phông vào trong quần bò, rồi thả cái túi vào phía trước áo.

    Garrett nói: “Cô có thể tháo còng cho tôi được không?”. Gã giơ đôi bàn tay ra. Sachs lưỡng lự.

    “Tôi không muốn chết chìm”, Garrett nói, ánh mắt cầu khẩn.

    Tôi sợ. Bắt hắn ngừng bắn đi!

    “Tôi sẽ không làm gì xấu đâu. “Tôi hứa.”

    Sachs miễn cưỡng rút chìa khoá từ túi quần ra, mở còng.





    Những người Anh điêng Weapemeoc, tức những người bản xứ của khu vực bây giờ là Bắc Carolina, xét về mặt ngôn ngữ, đã cấu thành nên dân tộc Algonquin và có họ hàng với các bộ tộc Powhatans, Chowans và Pamlico ở vùng Trung – Đại Tây Dương của nước Mỹ.

    Họ là những người chủ trang trại xuất sắc và khiến các bộ tộc Anh điêng khác phải ghen tỵ vì tài câu cá. Họ yêu chuộng hoà bình một cách thái quá và hầu như không quan tâm đến chuyện trang bị vũ khí. Ba trăm năm trước, khoa học gia người Anh đã viết: “Vũ khí mà họ có chỉ là những chiếc cung làm bằng gỗ phỉ, những mũi tên làm bằng thân sậy. Họ cũng không có bất cứ thứ gì để bảo vệ mình, ngoại trừ tấm mộc làm bằng vỏ cây cùng với áo giáp được đan bởi que giẽ và các loại sợi.”

    Phải nhờ tới những người thực dân Anh họ mới được biến thành chiến binh, và những người thực dân Anh đã thực hiện điều này khá hiệu quả bằng cách, cùng một lúc, vừa đe doạ họ rằng Chúa Trời sẽ phẫn nộ nếu họ không cải sang Cơ Đốc giáo, vừa tàn sát dân số của họ với việc đem đến bệnh cúm và đậu mùa, vừa đòi hỏi họ cung cấp lương thực, thực phẩm, nhà cửa – những thứ mà bản thân mình quá lười biếng không tự tạo ra, vừa giết chết một trong số các thủ lĩnh được yêu quý của bộ tộc, Wingina, người mà những người thực dân đã tin tưởng một cách sai lầm, như thực tế xảy ra cho thấy, đang âm mưu tấn công vào khu vực người Anh định cư.

    Trước sự ngạc nhiên đầy tức tối của những người thực dân, thay cho việc đức Chúa Jesus bước vào trái tim mình, những người Anh điêng đã tuyên bố lòng trung thành đối với các vị thần của chính họ - các Maniou – và rồi tuyên bố cuộc chiến chống lại người Anh, mà hành động mở màn (theo lịch sử do cô gái trẻ Mary Beth McConnell viết) là cuộc tấn công vào Những Người Thực Dân Biến Mất trên đảo Roanoke.

    Sau khi những người định cư tháo chạy, bộ tộc Weapemeoc – dự đoán rằng người Anh sẽ củng cố lực lượng – đã có cái nhìn mới mẻ về vũ khí và bắt đầu sử dụng đồng, vốn dĩ chỉ được sử dụng cho mục đích trang trí, vào việc sản xuất vũ khí. Đầu mũi tên làm bằng kim loại sắc hơn đầu mũi tên làm bằng đá lửa, và dễ dàng chế tạo hơn. Tuy nhiên, khác với trong phim ảnh, một mũi tên bắn đi từ cây cung không có rãnh kéo dây thông thường không cắm sâu vào da thịt được và hầu như chẳng bao giờ gây tử thương. Để kết liễu kẻ thù bị thương rồi, những chiến binh Weapemeoc sẽ hạ cú đòn cuối cùng – một cú giáng vào đầu chiếc gậy được gọi chính xác là “cây chuỳ phi thường”, mà người bộ tộc này đã rất tài tình làm ra.

    Một cây chuỳ phi thường chỉ là một hòn đá tròn lớn, được nhét vào đầu chẻ ra của một chiếc gậy, rồi được buộc cố định bằng dây da. Nó là một thứ vũ khí hết sức hiệu quả, và cây chùy Mary Beth McConnell đang làm lúc này, dựa trên kiến thức khảo cổ về người Anh điêng, chắc chắn cũng gây chết người chẳng kém những cây chùy - theo giả thuyết do cô xây dựng - từng đập vỡ sọ và đánh gãy răng rắc xương sống những người Anh đến định cư ở Roanoke khi họ quyết chiến trong trận cuối cùng trên hai bờ sông Paquenoke tại đại điểm bây giờ được gọi là Bến tàu kênh Nước đen.

    Cô làm cây chùy của mình từ hai thanh đỡ uốn cong của chiếc bàn ăn cũ kỹ. Còn hòn đá thì chính là hòn đá mà Tom, gã đồng đảng của nhà truyền giá, đã ném vào cô. Cô đặt nó giữa hai thanh đỡ và buộc bằng những dải vải xé ra từ thân áo sơ mi bò. Món vũ khí khá nặng – khoảng sáu, bảy pound – tuy nhiên nó không quá nặng đối với Mary Beth, người thường xuyên nhấc các tảng đá nặng ba mươi, bốn mươi pound trong lúc đào bới khảo cổ.

    Cô đứng lên khỏi đi văng và vung cây chùy vài lần, hài lòng với sức mạnh mà món vũ khí đem đến cho cô. Cô nghe thấy một âm thanh khó chịu - lũ bọ trong chiếc lọ. Nó khiến cô nghĩ tới thói quen búng móng tay đáng kinh tởm của Garrett. Cô rùng mình tức tối và giơ cây chùy lên để giáng xuống chiếc lọ ở gần nhất.

    Nhưng rồi Mary Beth dừng tay. Phải , cô căm ghét lũ bọ, nhưng nỗi tức giận của cô không hẳn nhằm vào chúng, mà là nhằm vào Garrett cơ. Cô bỏ mặc những chiếc lọ, bước tới trước cánh cửa, giáng mấy phát. Chà, cô cũng không chờ đợi điều đó. Nhưng quan trọng là cô đã buộc hòn đá vào đầu chuỳ rất chắc chắn. Nó không bị tuột ra.

    Tất nhiên, nếu nhà truyền giáo và gã Tom kia quay lại với một khẩu súng, cây chùy sẽ không có tác dụng chống đỡ mấy. Nhưng Mary Beth quyết định rằng trong trường hợp bọn chúng vào được cô sẽ giấu cây chùy đằng sau lưng và đứa đầu tiên động đến cô sẽ vỡ sọ. Đứa kia có thể sẽ giết chết cô, dù sao thì cô cũng đưa được một đứa đi theo mình. (Cô hình dung đây chính là cách Virginia Dare đã hy sinh.)

    Mary Beth ngồi xuống, nhìn ra bên ngoài cửa sổ, nhìn vầng tà dương đang xuống đến hàng cây nơi cô phát hiện thấy nhà truyền giáo lần thứ nhất.

    Cái cảm giác đang lan khắp người cô là gì? Cô nghĩ nó là sự sợ hãi.

    Nhưng rồi cô đi tới kết luận rằng nó hoàn toàn chẳng phải sự sợ hãi. Mà nó là nỗi sốt ruột. Cô mong muốn kẻ thù của mình quay lại.

    Mary Beth nhấc cây chùy đặt lên đùi.

    Hãy sẵn sàng đi, gã Tom kia đã bảo cô thế.

    Chà, cô sẵn sàng rồi đây.





    “Một chiếc thuyền kìa.”

    Lucy vươn người về phía trước qua đám lá có mùi cay cay của một cây nguyệt quế mọc bên bờ sông, gần cầu Hobeth. Bàn tay cô đặt trên khẩu súng.

    “Đâu?”, Lucy hỏi Jesse Corn.

    “Kia kìa.” Anh ta chỉ về phía mạn trên sông.

    Lucy mơ hồ trông thấy được một mảng hơi thẫm màu nổi trên mặt nước, cách đấy nửa dặm. Nó đang trôi theo dòng.

    “Ý anh là gì, thuyền ấy à?”, Lucy hỏi. “Tôi không trông thấy…

    “Không, nhìn kìa. Nó bị lật úp.”

    “Tôi không thấy rõ”, Lucy nói. “Mắt anh tinh thật.”

    “Bọn họ chăng?”, Trey hỏi.

    “Có chuyện gì vậy? Nó bị lật úp à?”

    Nhưng Jesse Corn nói: “Không, bọn họ ở phía dưới”.

    Lucy nheo mắt nhìn. “Làm sao anh biết.”

    “Chỉ là cảm giác thế thôi”, Jesse trả lời.

    “Phía dưới ấy có đủ không khí à”, Trey hỏi.

    Jesse nói: “Chắc chắn. Lòng thuyền đủ cao. Hồi nhỏ chúng tôi từng làm như vậy với những chiếc xuồng ở hồ Bambert. Chúng tôi chơi trò tàu ngầm”.

    Lucy nói: “Chúng ta làm gì đây? Chúng ta cần có một chiếc thuyền hoặc một phương tiện nào đấy để ra chỗ bọn họ”. Cô nhìn xung quanh.

    Ned tháo chiếc thắt lưng quân dụng, đưa cho Jesse. “Rõ khỉ, tôi chỉ việc bơi ra và đẩy chiếc thuyền vào bờ.”

    “Anh có thể bơi như thế à?”, Lucy nói.

    “Bọn họ đang lặn dưới nước”, Jesse nói. “Tôi không lo lắng lắm chuyện bọn họ có thể nổ súng bắn ai.”

    Trey lưu ý: “Bôi một chút dầu lên đạn là ngâm nước được hàng tuần”.

    “Amelia sẽ không bắn đâu”, Jesse Corn, người bảo vệ kẻ phản bội, nói.

    “Nhưng chúng ta sẽ không liều lĩnh”, Lucy đáp lời. Rồi cô quay sang Ned. “Đừng lật nó lại. Hãy chỉ bơi ra và lái cho nó trôi theo hướng này. Trey, anh đến đằng kia, bên cạnh cây liễu ấy, mang theo khẩu súng săn. Jesse và tôi sẽ ở chỗ bờ sông kia. Bọn họ sẽ nằm trong tầm ngắm của chúng ta nếu có xảy ra chuyện gì.”

    Ned, chân trần và không mặc áo, rón rén bước từ cái gờ cao đẩy đá tảng xuống bãi bùn. Anh ta thận trọng nhìn xung quanh – đề phòng rắn, Lucy đồ là vậy - rồi nhoài người vào làn nước. Anh ta bơi sải về phía chiếc thuyền, rất nhanh, giữ đầu cao hơn mặt nước. Lucy rút khẩu Smith & Wesson khỏi bao, hơi kéo cò. Cô liếc nhìn Jesse Corn, anh chàng đang lo lắng nhìn món vũ khí trong tay cô. Trey đứng bên cạnh một cái cây, cầm khẩu súng săn, họng súng hất lên. Anh ta để ý thấy cô đã kéo cò, liền nhét một viên đạn vào ổ khẩu Remington.

    Chiếc thuyền còn cách họ chừng ba mươi feet, gần như giữa dòng.

    Ned là tay bơi cừ và anh ta đang thu hẹp khoảng cách nhanh chóng. Anh ta sẽ đến nơi sau…

    Tiếng súng nổ to và gần. Lucy giật nảy người khi đám bọt nước bắn lên không trung, cách Ned chừng vài feet.

    “Ôi, không!”, Lucy kêu to, giơ vũ khí ra, tìm kiếm kẻ nổ súng.

    “Đâu, đâu?” Trey gọi, khom mình và nắm lại khẩu súng săn.

    Ned lặn xuống dưới nước.

    Một tiếng nổ nữa. nước vọt lên không trung. Trey hạ thấp khẩu súng săn và bắt đầu bắn về phía chiếc thuyền. Những phát đạn hốt hoảng. Khẩu súng cỡ nòng 12 nạp được bảy viên đạn. Người cảnh sát bắn hết chỉ trong vòng vài giây, mỗi viên đều găm thẳng vào chiếc thuyền, làm những mảnh gỗ và nước văng tung toé.

    “Đừng!”, Jesse kêu lên. “Có người ở phía dưới đấy!”

    “Đạn bắn từ đâu vậy?”, Lucy hỏi to. “Từ phía dưới thuyền à? Hay từ phía bên kia thuyền? Tôi không biết được. Bọn họ đâu hả?”

    “Ned đâu?”, Trey hỏi. “Anh ấy trúng đạn à? Ned đâu?”

    “Tôi không biết”, Lucy hét lên, giọng khàn đi vì hoảng sợ. “Tôi chẳng tài nào trông thấy anh ấy.”

    Trey nạp lại đạn và một lần nữa nhắm vào chiếc thuyền.

    “Đừng!”, Lucy ra lệnh. “Đừng bắn. Yểm trợ cho tôi!”

    Lucy chạy xuống theo bờ sông, lội xuống nước. Bỗng nhiên, khi gần đến mép nước, cô nghe thấy tiếng hổn hển tắc nghẹn và Ned bập bềnh nổi lên. “Giúp tôi!” Anh ta khiếp sợ, vừa ngoảnh nhìn đằng sau vừa quờ quạng mò vào bờ.

    Jesse và Trey nhắm súng sang phía bờ bên kia và từ từ bước xuống sát mép nước. Cặp mắt thất thần của Jesse không rời khỏi chiếc thuyền thủng lỗ chỗ - những cái lỗ kinh khủng, vỡ toác trên thân thuyền.

    Lội xuống nước, Lucy cất súng vào bao và túm cánh tay Ned, lôi anh ta lên bờ. Anh ta đã lặn cho tới lúc không dám ở dưới nước nữa, nhợt nhạt và yếu ớt thiếu oxy.

    “Bọn họ đâu?”, Ned cố hết sức hỏi, gần như tắc thở.

    “Không biết nữa”, Lucy nói, lôi anh ta vào một bụi cây. Anh ta ngã nghiêng người xuống, vừa khạc nhổ vừa ho. Cô quan sát anh ta kỹ lưỡng. Anh ta không bị trúng đạn.

    Trey và Jesse đến chỗ họ, cả hai đều khom mình, mắt nhìn chằm chằm sang bên kia sông, tìm kiếm kẻ tấn công.

    Ned vẫn đang tắc thở. “Cái nước này tởm thật. Như nước cứt.”

    Chiếc thuyền từ từ trôi về phía họ, bây giờ ngập phân nửa.

    “Bọn họ chết rồi”, Jesse Corn thì thào, đăm đăm nhìn chiếc thuyền. “Bọn họ chắc đã chết rồi.”

    Chiếc thuyền trôi lại gần hơn. Jesse tháo thắt lưng quân dụng ra và bắt đầu bước về phía trước.

    “Đừng”, Lucy nói, ánh mắt dõi sang bờ bên kia. “Để nó vào tới chỗ chúng ta.”
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN





    Chiếc thuyền bị lật úp trôi vào một cây tuyết tùng bật gốc đổ xuống mặt sông, rồi mắc lại ở đó.

    Mấy người cảnh sát đợi ít phút. Không có chuyển động nào ngoài sự dập dềnh của chiếc thuyền đã vỡ toác. Mặt nước hoe đỏ, nhưng Lucy không thể nói đấy là do máu loang ra hay đấy là do ánh tà dương rực rỡ như lửa.

    Jesse Corn, lo lắng và nhợt nhạt, liếc nhìn Lucy. Cô gật đầu. Cả ba người còn lại đều lăm lăm chĩa súng vào chiếc thuyền trong lúc Jesse lội ra bật ngửa nó.

    Vài mảnh bình nước bị xé rách tướp nổi bập bềnh và lờ lững trôi theo dòng. Không có ai ở phía dưới cả.

    “ Chuyện gì đã xảy ra vậy?”. Jesse hỏi. “Tôi không hiểu”.

    “Rõ khỉ”, Ned bực bội lầm bầm. “Bọn họ đã bài binh bố trận gạt chúng ta. Một trò mai phục chết tiệt.”

    Trước đó Lucy không tin rằng nỗi tức giận còn có thể chi phối cô được hơn nữa. Nhưng bây giờ thì nó đang chiếm lĩnh cô tựa dòng điện bỏng rát. Ned nói đúng. Amelia đã sử dụng chiếc thuyền giống như những con chim mồi của Nathan Groomer và mai phục họ từ bờ bên kia.

    “Không”, Jesse phản đối, “Cô ta không làm việc ấy đâu. Nếu cô ta có bắn cũng chỉ để dọa chúng ta thôi. Amelia là tay thiện xạ. Cô ta đã có thể bắn trúng Ned nếu muốn”.

    “Chết tiệt, Jesse, hãy mở mắt ra, được không?” , Lucy quát. “Bắn từ chỗ ẩn nấp um tùm như thế kia ư? Dù giỏi mấy cô ta vẫ có thể bắn trượt. Còn chuyện bắn xuống nước? Biết đâu đạn chẳng nẩy lên. Hoặc Ned có thể hoảng hốt mà bơi vào đúng chỗ một viên đạn.”

    Jesse Corn không đáp lời. Anh ta lấy hai lòng bàn tay chà mặt và đăm đăm nhìn sang bờ bên kia.

    “Được, bây giờ chúng ta sẽ làm như thế này”, Lucy hạ giọng nói. “Trời đang tối rồi. Chúng ta sẽ đi cho tới lúc nào tắt hẳn ánh sáng. Sau đó chúng ta sẽ đề nghị Jim đem đến các vật dụng cần thiết để nghỉ qua đêm. Chúng ta sẽ dựng lều ngoài trời. Chúng ta sẽ giả định rằng bọn họ đang nhắm bắn vào chúng ta và chúng ta sẽ theo đó mà hành động. Bây giờ, hãy vượt qua cầu, tìm kiếm dấu vết bọn họ. Tất cả đã nạp đạn và khóa chốt an toàn chưa?”.

    Ned và Trey trả lời rồi. Jesse Corn đăm đăm nhìn chiếc thuyền vỡ toác một lát, xong rồi mới chậm chạp gật đầu.

    “Thế thì đi thôi”.

    Bốn người cảnh sát bắt đầu vượt qua cây cầu dài chừng năm mươi thước không có gì che chắn – nhưng họ không đi cụm lại với nhau. Họ đi thành hàng dài để nếu Amelia Sachs tiếp tục bắn cô ta cùng lắm sẽ chỉ bắn trúng một người, và những người kia có thể chạy tới ẩn nấp đâu đó, bắn trả. Đây là ý tưởng của Trey, anh ta học được từ một bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai, và vì đây là ý tưởng của anh ta, anh ta cho rằng mình sẽ giữ vị trí đi đầu. Nhưng Lucy Kerr khăng khăng giành vị trí này.



    ***



    “Mày suýt nữa thì bắn trúng nó.”

    Harris Tomel nói : “Đời nào.”

    Nhưng Culbeau vẫn một mực: “Tao đã bảo, chỉ dọa chúng nó thôi. Mày mà bắn trúng thằng Ned, mày biết bọn ta sẽ gặp rắc rối ra sao không?”.

    “Tao biết tao đang làm gì, Rich. Tin tưởng tao một chút đi, được không?”

    Đồ học trò chết giẫm, Culbeau tự nhủ thầm.

    Ba gã đàn ông đang ở bờ bắc sông Paquo, lê bước dọc một lối mòn chạy song song con sông.

    Thực ra, Culbeau mặc dù bực bội vì Tomel suýt bắn trúng tay cảnh sát bơi ra chỗ chiếc thuyền, gã cũng chắc chắn rằng những phát bắn tỉa đó đã có tác dụng. Lucy và lũ kia bây giờ gọi là run như dẽ và sẽ biết điều di chuyển chậm chạp.

    Vụ nổ súng cũng còn đem đến một lợi ích khác nữa – nó khiến Sean O’Sarian kinh hoàng và thôi mở miệng.

    Ba gã đi được hai mươi phút thì Tomel hỏi Culbeau: “Mày biết cái thằng nhãi đang đi theo hướng này chứ?”

    “Biết.”

    “Nhưng mày hoàn toàn không biết hắn sẽ đi đến đâu.”

    “Tất nhiên không”, Culbeau nói. “Nếu tao biết thì bọn ta đã có thể đi thẳng đến đó rồi, đúng không?”

    Nào, đồ học trò. Hãy sử dụng cái đầu chết giẫm của mày đi.

    “Nhưng…”

    “Yên tâm. Bọn ta sẽ tìm thấy hắn”.

    “Tao xin ít nước được không?”, O’Sarian rốt cuộc hỏi.

    “Nước à? Mày muốn nước à?”.

    O’Sarian nói vẻ tự mãn: “Phải, đó là thứ tao đang muốn.”

    Culbeau ngờ vực liếc nhìn gã và đưa cho gã một cái chai. Culbeau chưa từng biết gã thanh niên gầy nhẳng này thực tế đã uống những gì khác ngoài bia, whisky và rượu lậu. Gã uống cạn, chùi cái mồm xung quanh đầy tàn nhang và lẳng cái cái chai sang bên đường.

    Culbeau thở dài. Gã nói với vẻ châm biếm: “Này, Sean, mày chắc chắn muốn để lại dấu vân tay trên vật gì đó dọc đường đi à?”.

    “Ồ, phải rồi.” Gã thanh niên gầy giơ xương vội vã chạy vào bụi rậm nhặt cái chai. “Xin lỗi”.

    Xin lỗi? Sean O’Sarian xin lỗi à? Culbeau hoài nghi nhìn chằm chằm hồi lâu, rồi hất đầu ra hiệu bảo cả lũ tiếp tục tiến bước.

    Ba gã đến một khúc quanh của con sông và đứng trên nền đất cao, ba gã có thể quan sát được hàng dặm mạn dưới dòng.

    Tomel nói: “Này, nhìn đằng kia kìa. Có một ngôi nhà. Tao cuộc rằng thằng nhãi và cô ả tóc đỏ đã đi theo lối đó”.

    Culbeau quan sát qua kính ngắm của khẩu súng trường săn hươu. Cách đấy chừng hai dặm, dưới thung lũng, là một ngôi nhà nghỉ kiến trúc theo kiểu chữ A, gần như ở ngay bên bờ sông. Một nơi ẩn náu hợp lý cho thằng nhãi và cô ả cớm. Gã gật đầu. “Chắc chắn chúng nó ở đấy. Đi thôi.”





    Từ cầu Hobeth xuôi theo dòng, sông Paquenoke đột ngột ngoặt về phía Bắc.

    Đến đây nước nông, đã gần bờ, và bãi cát ngầm lầy lội đầy củi rều, cây cối, rác rưởi… chất thành đống cao.

    Giống như hai chiếc xuồng trôi dạt, hai hình người bồng bềnh trong nước bỏ lỡ mất khúc quanh và được dòng nước đánh vào cái đống rác rưởi ấy.

    Amelia Sachs vứt bỏ bình nước bằng nhựa – chiếc phao tự chế của cô – và vươn bàn tay nhăn nheo ra túm lấy một cành cây. Rồi cô nhận ra đây là hành động không khôn ngoan, vì các túi quần của cô nhét đầy đá làm đồ dằn và cô cảm thấy như bị giật mạnh xuống làn nước tối thẫm. Nhưng cô duỗi thẳng chân và tìm thấy đáy sông chỉ ở độ sâu chừng bốn feet. Cô đứng chới với rồi ì ạch lội về phía trước. Lát sau, Garrett xuất hiện bên cạnh cô, giúp đỡ cô leo lên cái bãi lầy lội.

    Họ bò lên theo bờ dốc thoai thoải, qua đám cây bụi nhằng nhịt, và đổ vật xuống một bãi cỏ, nằm yên đó mấy phút, thở hổn hển. Sachs rút chiếc túi nhựa ra khỏi áo. Nước hơi rò vào nhưng không gây hậu quả gì nghiêm trọng. Cô trả cho Garrett cuốn sách về côn trùng và mở ổ đạn khẩu súng của mình, phơi bên trên khóm cỏ khô giòn, vàng úa.

    Sachs đã đoán sai về kế hoạch của Garrett. Họ quả có nhét các vỏ bình nước vào phía dưới chiếc thuyền được lật úp để giữ nó nổi, nhưng rồi gã đã đẩy nó ra giữa dòng mà không chui vào phía dưới. Gã bảo cô bỏ đá đầy túi quần. Gã cũng làm giống như vậy. Sau đấy, họ vội vã chạy xuôi theo dòng, vượt qua chiếc thuyền chừng năm mươi feet, rồi nhoài xuống nước, mỗi người ôm một bình nước còn phân nửa làm phao. Garrett bảo cô cách ngả đầu về phía sau. Với các hòn đá làm đồ dằn, chỉ có mặt họ nổi bên trên mặt nước. Họ trôi xuôi theo dòng trước chiếc thuyền.

    “Loài nhện nước vốn vẫn làm như thế này”, Garrett bảo Sachs. “Tương tự thợ lặn sử dụng bình khí nén. Mang không khí theo mình.” Gã đã làm như thế này vài lần để “chạy trốn”, tuy – y hệt lúc trước – gã không nói tỉ mỉ lý do tại sao gã phải chạy trốn và chạy trốn ai. Gã giải thích rằng nếu cảnh sát không có mặt tại cầu, họ sẽ bơi tới chỗ chiếc thuyền, đưa nó vào bờ, dốc hết nước ra, và tiếp tục chèo đi. Còn nếu cảnh sát có mặt tại cầu, cảnh sát sẽ tập trung sự chú ý vào chiếc thuyền chứ không chú ý đến Garrett và Amelia trôi ở phía trước nó. Vượt qua cầu rồi, họ sẽ lội vào bờ và tiếp tục cuộc hành trình bằng cách đi bộ.

    Chà, Garrett đã tính toán đúng, họ vượt qua cầu mà không bị phát hiện. Nhưng Sachs vẫn bàng hoàng vì chuyện xảy ra tiếp theo – các cảnh sát đã vô cớ bắn chíu chít vào chiếc thuyền lật úp.

    Những phát súng cũng khiến Garrett run bần bật. “Bọn nó nghĩ chúng ta ở phía dưới đó”, gã thì thào. “Lũ khốn kiếp cố giết chết chúng ta.”

    Sachs im lặng.

    Garrett nói thêm: “Tôi từng làm những việc tồi tệ… nhưng tôi không phải loài phymata”.

    “Là cái gì?”.

    “Một loài bọ chuyên phục kích. Nằm yên chờ đợi và giết chết con mồi. Đó là điều bọn nó sẽ làm đối với chúng ta. Đơn giản như bắn chúng ta chẳng hạn. Chẳng cho chúng ta bất cứ cơ hội nào.”

    Ôi, Lincoln, Sachs tự nhủ thầm, chuyện này mới rối ren làm sao chứ. Tại sao em lại hành động như thế? Bây giờ em nên đầu hàng ngay thôi. Ở đây chờ đợi cảnh sát tới, từ bỏ mọi nỗ lực. Quay lại Tanner’s Corner và cố gắng đền bù cho hành động của mình.

    Nhưng Sachs nhìn sang Garrett đang vòng hai tay ôm lấy người, run rẩy vì sợ hãi. Và cô biết rằng cô không thể quay lại. Cô phải tiếp tục, chơi cái trò điên rồ này đến cùng.

    Cuộc đấu tay đôi…

    “Chúng ta đi đâu bây giờ?”

    “Cô trông thấy ngôi nhà đằng kia không?”

    Một ngôi nhà kiến trúc theo kiểu chữ A màu nâu.

    “Mary Beth ở đó à?”.

    “Không, nhưng họ có chiếc thuyền câu nhỏ, chúng ta có thể mượn tạm. Và chúng ta có thể hong khô quần áo, kiếm ít thức ăn.”

    Ờ, tội đột nhập thì có đáng kể gì so với các tội hình sự mà cô đã phạm phải ngày hôm nay?

    Garrett bất thình lình cầm khẩu súng ngắn của Sachs lên. Cô sững người, nhìn khẩu súng màu đen ánh xanh trong đôi bàn tay gã. Vẻ hiểu biết, gã nhìn vào ổ đạn và thấy nó đã được nạp đầy sáu viên. Gã xoay ổ đạn và cầm khẩu súng trong tay với sự thành thạo khiến cô mất hết nhuệ khí.

    Dù em nghĩ về Garrett như thế nào, cũng đừng tin tưởng hắn…

    Gã liếc nhìn Sachs và nhe răng cười. Rồi gã chĩa báng súng ra cho cô. “Chúng ta hãy đi lối này”. Gã hất đầu chỉ một lối mòn.

    Sachs cất lại khẩu súng vào bao, cảm thấy trái tim loạn nhịp vì sợ.

    “Bây giờ không có ai ở đó.” Garrett dừng bước và ngoảnh nhìn đằng sau. Một lát, gã lẩm bẩm: “Bọn nó đang tức tối đấy, đám cảnh sát ấy mà. Và bọn nó sẽ đuổi theo chúng ta. Với tất cả súng ống và các phương tiện bọn nó có. Mẹ kiếp.” Gã quay lại và dẫn Sachs đi dọc theo lối mòn về phía ngôi nhà kia. Gã im lặng vài phút. “Cô muốn biết điều này không, Amelia?”.

    “Điều gì?”.

    “Tôi đang nghĩ về một loài bướm đêm – loài bướm ma lớn ấy”.

    “Thì sao?”, Sachs lơ đãng hỏi, trong tâm thức vẫn còn nghe thấy những tiếng súng nổ, nhằm vào cô và gã trai này. Lucy Kerr đã cố giết chết cô, Trong đầu óc cô, âm thanh vang vọng của những tiếng súng lấn át mọi cái khác.

    “Màu sắc trên cánh nó ấy”, Garrett bảo Sachs. “Nói chung, khi chúng mở ra, chúng trông giống hệt cặp mắt một con vật. Ý tôi là, nó khá thú vị - thậm chí có cả một chấm trắng ở khóe y như điểm phản chiếu ánh sáng trong đồng tử. Chim chóc trông thấy, cho rằng đó là một con cáo hay một con mèo và sợ hãi bay mất”.

    “Thế chim chóc không đánh hơi được đó là một con bướm đêm chứ chẳng phải một con vật nào khác à?”.

    Garrett nhìn Sachs một lát xem liệu có phải cô đang đùa không. Gã nói: “Chim chóc không biết ngửi”. Y như thể cô vừa hỏi có đúng trái đất bẹt không. Gã ngoảnh nhìn đằng sau, ngược lên bên trên sông lần nữa. “Chúng ta sẽ phải làm chậm bước bọn nó. Cô nghĩ bọn nó tới gần chừng nào rồi?”.

    “Rất gần rồi”, Sachs nói.

    Với tất cả súng ống và phương tiện bọn họ có.





    “Chúng nó đấy.”

    Rich Culbeau nhìn những dấu chân in trong bùn trên bờ sông. “Những dấu chân này mới mươi, mười lăm phút trước thôi”.

    “Và chúng nó đang nhằm hướng ngôi nhà”, Tomel nói.

    Ba gã thận trọng di chuyển theo một lối mòn.

    O’Sarian vẫn không có hành động gì khác thường. Thực tế, đối với gã, chính điều này lại là khác thường. Và đáng sợ. Gã chưa uống lén ngụm rượu lậu nào, chưa bày trò gì nghịch ngợm, thậm chí chưa mở mồm – mà Sean vốn vẫn có cái mồm nói như máy khâu xếp hàng thứ nhất ở Tanner’s Corner. Vụ nổ súng bên sông khiến gã thực sự bàng hoàng. Bây giờ, khi ba gã đi bộ qua khu rừng, gã vung ngay họng khẩu súng trường màu đen lên trước mỗi tiếng động phát ra từ các bụi rậm. “Chúng mày trông thấy thằng nhọ đó bắn rồi chứ?”, gã rốt cuộc bảo. “Trong chưa đầy một phút, nó nã phải tới mười viên to tổ chảng vào chiếc thuyền”.

    “Đạn chì thôi”, Harris Tomel đính chính.

    Thay cho việc nghi ngờ sự khẳng định của Tomel và cố gắng gây ấn tượng với đồng bọn bằng những kiến thức gã có được về súng ống (và hành động kiểu một tay biết tuốt đáng khó chịu như gã vốn vẫn thế) O’Serian chỉ nói: “Ồ, đạn chì cỡ lớn. Phải. Tao đáng lẽ đã nên nghĩ tới cái loại đạn ấy”. Và gã gật đầu y như đứa học trò nhỏ vừa tiếp thu được điều gì đó mới mẻ, thú vị.

    Ba gã đã đến gần ngôi nhà. Trong có vẻ là một chốn ấm cúng, Culbeau tự nhủ thầm. Một ngôi nhà nghỉ, có lẽ - của một tay luật sư hay bác sĩ nào đấy ở Raleigh hoặc Winston – Salem. Một ngôi nhà nghỉ để đi săn, có quầy bar đầy ắp rượu, các phòng ngủ tươm tất, một tủ đá trữ thịt hươu.

    “Này, Harris”, O’Serian gọi.

    Culbeau chưa từng biết gã dùng đến tên riêng của ai bao giờ.

    “Cái gì?”.

    “Thứ này bắn cao hay thấp?”, O’Sarian giơ khẩu Colt.

    Tomel liếc nhìn Culbeau, có lẽ cũng đang cố gắng xác định xem cái con người khác thường trong O’Sarian đã biến đằng nào rồi.

    “Phát đầu tiên thì chính xác vào mục tiêu nhưng những phát sau hay bị giật lên cao hơn. Vì thế khi bắn những phát sau hãy hạ họng súng xuống.”

    “Vì báng súng bằng nhựa nên nó nhẹ hơn loại bằng gỗ à?”, O’Sarian hỏi.

    “Phải rồi”.

    Gã lại gật đầu, bộ mặt thậm chí có vẻ nghiêm trọng hơn cả lúc nãy. “Cảm ơn”.

    Cảm ơn?

    Đã đi qua khu rừng và ba gã có thể trông thấy một bãi đất lớn quang quẻ xung quanh ngôi nhà – thừa sức tới gần năm mươi thước mỗi chiều mà thậm chí không có lấy cái cây con nào. Thật khó khăn để đến gần ngôi nhà.

    “Mày nghĩ chúng nó ở bên trong à?”, Tomel hỏi, vuốt ve khẩu súng săn đẹp đẽ.

    “Tao không… Khoan, cúi xuống!”

    Ba gã vội vàng khom mình.

    “Tao trông thấy cái gì đó dưới gác. Qua ô cửa sổ bên trái kia”, Culbeau quan sát qua kính ngắm của khẩu súng trường săn hươu. “Ai đó đang đi lại. Dưới tầng trệt. Tao trông không rõ lắm, vướng tấm mành. Nhưng dứt khoát có người”. Gã quan sát kỹ lưỡng các ô cửa sổ khác. “Mẹ kiếp!”. Gã thốt tiếng thì thào kinh hoàng, ngồi phịch xuống đất.

    “Gì thế?”, O’Sarian hỏi, hoảng hốt, nắm chặt khẩu súng và xoay người một vòng.

    “Chúi xuống! Một đứa trong chúng nó có sứng trường lắp kính ngắm. Chúng nó đang nhắm thẳng vào ta. Cửa sổ trên gác ấy. Chết tiệt.”

    “Hẳn là cái cô ả kia”, Tomel nói. “Chứ thằng nhãi õng ẹo quá, làm sao biết đạn ra theo đầu nào.”

    “Đ.mẹ đồ chó cái”, Culbeau lầm bầm. O’Sarian nép đằng sau một cái cây, áp khẩu súng gợi nhớ tới cuộc chiến tranh Việt Nam sát má.

    “Con ranh kia bao quát được toàn bộ bãi đất từ vị trí của nó”, Culbeau nói.

    “Chúng ta đợi trời tối à?”, Tomel hỏi.

    “Ồ, với cái cô em bé nhỏ bị cắt mất vú tiến đến đằng sau chúng ta? Tao không nghĩ như thế thì có tác dụng gì đâu, công nhận chứ hả, Harris?”

    “Thế, mày có bắn trúng được cô ả kia từ đây không?” Tomel hất đầu về phía ô cửa sổ.

    “Có lẽ”, Culbeau vừa nói vừa thở dài. Gã đang định chọc ngoáy Tomel mấy câu thì O’Sarian đã nói với giọng bình thường một cách đáng sợ: “Nhưng nếu Rich bắn, cô em Lucy và đám cảnh sát sẽ nghe thấy. Tao cho rằng chúng ta phải kẹp lấy hai đứa. Đi vòng qua hông ngôi nhà và cố gắng lọt vào bên trong. Tiếng súng nổ ở bên trong nghe sẽ bé hơn”.

    Chính là Culbeau đang định nói điều ấy.

    “Như thế sẽ mất nửa tiếng đồng hồ”, Tomel quát, có lẽ bực bội vì không suy nghĩ được bằng O’Sarian.

    Gã này vẫn giữ trạng thái tỉnh táo cao độ. Gã tháo chốt an toàn khẩu súng của gã và nheo mắt nhìn về phía ngôi nhà. “Chà, theo tao thì chúng ta sẽ mất không đến nửa tiếng đồng hồ đâu. Mày nghĩ thế nào, hả Rich?”.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN





    Chiếc thuyền bị lật úp trôi vào một cây tuyết tùng bật gốc đổ xuống mặt sông, rồi mắc lại ở đó.

    Mấy người cảnh sát đợi ít phút. Không có chuyển động nào ngoài sự dập dềnh của chiếc thuyền đã vỡ toác. Mặt nước hoe đỏ, nhưng Lucy không thể nói đấy là do máu loang ra hay đấy là do ánh tà dương rực rỡ như lửa.

    Jesse Corn, lo lắng và nhợt nhạt, liếc nhìn Lucy. Cô gật đầu. Cả ba người còn lại đều lăm lăm chĩa súng vào chiếc thuyền trong lúc Jesse lội ra bật ngửa nó.

    Vài mảnh bình nước bị xé rách tướp nổi bập bềnh và lờ lững trôi theo dòng. Không có ai ở phía dưới cả.

    “ Chuyện gì đã xảy ra vậy?”. Jesse hỏi. “Tôi không hiểu”.

    “Rõ khỉ”, Ned bực bội lầm bầm. “Bọn họ đã bài binh bố trận gạt chúng ta. Một trò mai phục chết tiệt.”

    Trước đó Lucy không tin rằng nỗi tức giận còn có thể chi phối cô được hơn nữa. Nhưng bây giờ thì nó đang chiếm lĩnh cô tựa dòng điện bỏng rát. Ned nói đúng. Amelia đã sử dụng chiếc thuyền giống như những con chim mồi của Nathan Groomer và mai phục họ từ bờ bên kia.

    “Không”, Jesse phản đối, “Cô ta không làm việc ấy đâu. Nếu cô ta có bắn cũng chỉ để dọa chúng ta thôi. Amelia là tay thiện xạ. Cô ta đã có thể bắn trúng Ned nếu muốn”.

    “Chết tiệt, Jesse, hãy mở mắt ra, được không?” , Lucy quát. “Bắn từ chỗ ẩn nấp um tùm như thế kia ư? Dù giỏi mấy cô ta vẫ có thể bắn trượt. Còn chuyện bắn xuống nước? Biết đâu đạn chẳng nẩy lên. Hoặc Ned có thể hoảng hốt mà bơi vào đúng chỗ một viên đạn.”

    Jesse Corn không đáp lời. Anh ta lấy hai lòng bàn tay chà mặt và đăm đăm nhìn sang bờ bên kia.

    “Được, bây giờ chúng ta sẽ làm như thế này”, Lucy hạ giọng nói. “Trời đang tối rồi. Chúng ta sẽ đi cho tới lúc nào tắt hẳn ánh sáng. Sau đó chúng ta sẽ đề nghị Jim đem đến các vật dụng cần thiết để nghỉ qua đêm. Chúng ta sẽ dựng lều ngoài trời. Chúng ta sẽ giả định rằng bọn họ đang nhắm bắn vào chúng ta và chúng ta sẽ theo đó mà hành động. Bây giờ, hãy vượt qua cầu, tìm kiếm dấu vết bọn họ. Tất cả đã nạp đạn và khóa chốt an toàn chưa?”.

    Ned và Trey trả lời rồi. Jesse Corn đăm đăm nhìn chiếc thuyền vỡ toác một lát, xong rồi mới chậm chạp gật đầu.

    “Thế thì đi thôi”.

    Bốn người cảnh sát bắt đầu vượt qua cây cầu dài chừng năm mươi thước không có gì che chắn – nhưng họ không đi cụm lại với nhau. Họ đi thành hàng dài để nếu Amelia Sachs tiếp tục bắn cô ta cùng lắm sẽ chỉ bắn trúng một người, và những người kia có thể chạy tới ẩn nấp đâu đó, bắn trả. Đây là ý tưởng của Trey, anh ta học được từ một bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai, và vì đây là ý tưởng của anh ta, anh ta cho rằng mình sẽ giữ vị trí đi đầu. Nhưng Lucy Kerr khăng khăng giành vị trí này.



    ***



    “Mày suýt nữa thì bắn trúng nó.”

    Harris Tomel nói : “Đời nào.”

    Nhưng Culbeau vẫn một mực: “Tao đã bảo, chỉ dọa chúng nó thôi. Mày mà bắn trúng thằng Ned, mày biết bọn ta sẽ gặp rắc rối ra sao không?”.

    “Tao biết tao đang làm gì, Rich. Tin tưởng tao một chút đi, được không?”

    Đồ học trò chết giẫm, Culbeau tự nhủ thầm.

    Ba gã đàn ông đang ở bờ bắc sông Paquo, lê bước dọc một lối mòn chạy song song con sông.

    Thực ra, Culbeau mặc dù bực bội vì Tomel suýt bắn trúng tay cảnh sát bơi ra chỗ chiếc thuyền, gã cũng chắc chắn rằng những phát bắn tỉa đó đã có tác dụng. Lucy và lũ kia bây giờ gọi là run như dẽ và sẽ biết điều di chuyển chậm chạp.

    Vụ nổ súng cũng còn đem đến một lợi ích khác nữa – nó khiến Sean O’Sarian kinh hoàng và thôi mở miệng.

    Ba gã đi được hai mươi phút thì Tomel hỏi Culbeau: “Mày biết cái thằng nhãi đang đi theo hướng này chứ?”

    “Biết.”

    “Nhưng mày hoàn toàn không biết hắn sẽ đi đến đâu.”

    “Tất nhiên không”, Culbeau nói. “Nếu tao biết thì bọn ta đã có thể đi thẳng đến đó rồi, đúng không?”

    Nào, đồ học trò. Hãy sử dụng cái đầu chết giẫm của mày đi.

    “Nhưng…”

    “Yên tâm. Bọn ta sẽ tìm thấy hắn”.

    “Tao xin ít nước được không?”, O’Sarian rốt cuộc hỏi.

    “Nước à? Mày muốn nước à?”.

    O’Sarian nói vẻ tự mãn: “Phải, đó là thứ tao đang muốn.”

    Culbeau ngờ vực liếc nhìn gã và đưa cho gã một cái chai. Culbeau chưa từng biết gã thanh niên gầy nhẳng này thực tế đã uống những gì khác ngoài bia, whisky và rượu lậu. Gã uống cạn, chùi cái mồm xung quanh đầy tàn nhang và lẳng cái cái chai sang bên đường.

    Culbeau thở dài. Gã nói với vẻ châm biếm: “Này, Sean, mày chắc chắn muốn để lại dấu vân tay trên vật gì đó dọc đường đi à?”.

    “Ồ, phải rồi.” Gã thanh niên gầy giơ xương vội vã chạy vào bụi rậm nhặt cái chai. “Xin lỗi”.

    Xin lỗi? Sean O’Sarian xin lỗi à? Culbeau hoài nghi nhìn chằm chằm hồi lâu, rồi hất đầu ra hiệu bảo cả lũ tiếp tục tiến bước.

    Ba gã đến một khúc quanh của con sông và đứng trên nền đất cao, ba gã có thể quan sát được hàng dặm mạn dưới dòng.

    Tomel nói: “Này, nhìn đằng kia kìa. Có một ngôi nhà. Tao cuộc rằng thằng nhãi và cô ả tóc đỏ đã đi theo lối đó”.

    Culbeau quan sát qua kính ngắm của khẩu súng trường săn hươu. Cách đấy chừng hai dặm, dưới thung lũng, là một ngôi nhà nghỉ kiến trúc theo kiểu chữ A, gần như ở ngay bên bờ sông. Một nơi ẩn náu hợp lý cho thằng nhãi và cô ả cớm. Gã gật đầu. “Chắc chắn chúng nó ở đấy. Đi thôi.”





    Từ cầu Hobeth xuôi theo dòng, sông Paquenoke đột ngột ngoặt về phía Bắc.

    Đến đây nước nông, đã gần bờ, và bãi cát ngầm lầy lội đầy củi rều, cây cối, rác rưởi… chất thành đống cao.

    Giống như hai chiếc xuồng trôi dạt, hai hình người bồng bềnh trong nước bỏ lỡ mất khúc quanh và được dòng nước đánh vào cái đống rác rưởi ấy.

    Amelia Sachs vứt bỏ bình nước bằng nhựa – chiếc phao tự chế của cô – và vươn bàn tay nhăn nheo ra túm lấy một cành cây. Rồi cô nhận ra đây là hành động không khôn ngoan, vì các túi quần của cô nhét đầy đá làm đồ dằn và cô cảm thấy như bị giật mạnh xuống làn nước tối thẫm. Nhưng cô duỗi thẳng chân và tìm thấy đáy sông chỉ ở độ sâu chừng bốn feet. Cô đứng chới với rồi ì ạch lội về phía trước. Lát sau, Garrett xuất hiện bên cạnh cô, giúp đỡ cô leo lên cái bãi lầy lội.

    Họ bò lên theo bờ dốc thoai thoải, qua đám cây bụi nhằng nhịt, và đổ vật xuống một bãi cỏ, nằm yên đó mấy phút, thở hổn hển. Sachs rút chiếc túi nhựa ra khỏi áo. Nước hơi rò vào nhưng không gây hậu quả gì nghiêm trọng. Cô trả cho Garrett cuốn sách về côn trùng và mở ổ đạn khẩu súng của mình, phơi bên trên khóm cỏ khô giòn, vàng úa.

    Sachs đã đoán sai về kế hoạch của Garrett. Họ quả có nhét các vỏ bình nước vào phía dưới chiếc thuyền được lật úp để giữ nó nổi, nhưng rồi gã đã đẩy nó ra giữa dòng mà không chui vào phía dưới. Gã bảo cô bỏ đá đầy túi quần. Gã cũng làm giống như vậy. Sau đấy, họ vội vã chạy xuôi theo dòng, vượt qua chiếc thuyền chừng năm mươi feet, rồi nhoài xuống nước, mỗi người ôm một bình nước còn phân nửa làm phao. Garrett bảo cô cách ngả đầu về phía sau. Với các hòn đá làm đồ dằn, chỉ có mặt họ nổi bên trên mặt nước. Họ trôi xuôi theo dòng trước chiếc thuyền.

    “Loài nhện nước vốn vẫn làm như thế này”, Garrett bảo Sachs. “Tương tự thợ lặn sử dụng bình khí nén. Mang không khí theo mình.” Gã đã làm như thế này vài lần để “chạy trốn”, tuy – y hệt lúc trước – gã không nói tỉ mỉ lý do tại sao gã phải chạy trốn và chạy trốn ai. Gã giải thích rằng nếu cảnh sát không có mặt tại cầu, họ sẽ bơi tới chỗ chiếc thuyền, đưa nó vào bờ, dốc hết nước ra, và tiếp tục chèo đi. Còn nếu cảnh sát có mặt tại cầu, cảnh sát sẽ tập trung sự chú ý vào chiếc thuyền chứ không chú ý đến Garrett và Amelia trôi ở phía trước nó. Vượt qua cầu rồi, họ sẽ lội vào bờ và tiếp tục cuộc hành trình bằng cách đi bộ.

    Chà, Garrett đã tính toán đúng, họ vượt qua cầu mà không bị phát hiện. Nhưng Sachs vẫn bàng hoàng vì chuyện xảy ra tiếp theo – các cảnh sát đã vô cớ bắn chíu chít vào chiếc thuyền lật úp.

    Những phát súng cũng khiến Garrett run bần bật. “Bọn nó nghĩ chúng ta ở phía dưới đó”, gã thì thào. “Lũ khốn kiếp cố giết chết chúng ta.”

    Sachs im lặng.

    Garrett nói thêm: “Tôi từng làm những việc tồi tệ… nhưng tôi không phải loài phymata”.

    “Là cái gì?”.

    “Một loài bọ chuyên phục kích. Nằm yên chờ đợi và giết chết con mồi. Đó là điều bọn nó sẽ làm đối với chúng ta. Đơn giản như bắn chúng ta chẳng hạn. Chẳng cho chúng ta bất cứ cơ hội nào.”

    Ôi, Lincoln, Sachs tự nhủ thầm, chuyện này mới rối ren làm sao chứ. Tại sao em lại hành động như thế? Bây giờ em nên đầu hàng ngay thôi. Ở đây chờ đợi cảnh sát tới, từ bỏ mọi nỗ lực. Quay lại Tanner’s Corner và cố gắng đền bù cho hành động của mình.

    Nhưng Sachs nhìn sang Garrett đang vòng hai tay ôm lấy người, run rẩy vì sợ hãi. Và cô biết rằng cô không thể quay lại. Cô phải tiếp tục, chơi cái trò điên rồ này đến cùng.

    Cuộc đấu tay đôi…

    “Chúng ta đi đâu bây giờ?”

    “Cô trông thấy ngôi nhà đằng kia không?”

    Một ngôi nhà kiến trúc theo kiểu chữ A màu nâu.

    “Mary Beth ở đó à?”.

    “Không, nhưng họ có chiếc thuyền câu nhỏ, chúng ta có thể mượn tạm. Và chúng ta có thể hong khô quần áo, kiếm ít thức ăn.”

    Ờ, tội đột nhập thì có đáng kể gì so với các tội hình sự mà cô đã phạm phải ngày hôm nay?

    Garrett bất thình lình cầm khẩu súng ngắn của Sachs lên. Cô sững người, nhìn khẩu súng màu đen ánh xanh trong đôi bàn tay gã. Vẻ hiểu biết, gã nhìn vào ổ đạn và thấy nó đã được nạp đầy sáu viên. Gã xoay ổ đạn và cầm khẩu súng trong tay với sự thành thạo khiến cô mất hết nhuệ khí.

    Dù em nghĩ về Garrett như thế nào, cũng đừng tin tưởng hắn…

    Gã liếc nhìn Sachs và nhe răng cười. Rồi gã chĩa báng súng ra cho cô. “Chúng ta hãy đi lối này”. Gã hất đầu chỉ một lối mòn.

    Sachs cất lại khẩu súng vào bao, cảm thấy trái tim loạn nhịp vì sợ.

    “Bây giờ không có ai ở đó.” Garrett dừng bước và ngoảnh nhìn đằng sau. Một lát, gã lẩm bẩm: “Bọn nó đang tức tối đấy, đám cảnh sát ấy mà. Và bọn nó sẽ đuổi theo chúng ta. Với tất cả súng ống và các phương tiện bọn nó có. Mẹ kiếp.” Gã quay lại và dẫn Sachs đi dọc theo lối mòn về phía ngôi nhà kia. Gã im lặng vài phút. “Cô muốn biết điều này không, Amelia?”.

    “Điều gì?”.

    “Tôi đang nghĩ về một loài bướm đêm – loài bướm ma lớn ấy”.

    “Thì sao?”, Sachs lơ đãng hỏi, trong tâm thức vẫn còn nghe thấy những tiếng súng nổ, nhằm vào cô và gã trai này. Lucy Kerr đã cố giết chết cô, Trong đầu óc cô, âm thanh vang vọng của những tiếng súng lấn át mọi cái khác.

    “Màu sắc trên cánh nó ấy”, Garrett bảo Sachs. “Nói chung, khi chúng mở ra, chúng trông giống hệt cặp mắt một con vật. Ý tôi là, nó khá thú vị - thậm chí có cả một chấm trắng ở khóe y như điểm phản chiếu ánh sáng trong đồng tử. Chim chóc trông thấy, cho rằng đó là một con cáo hay một con mèo và sợ hãi bay mất”.

    “Thế chim chóc không đánh hơi được đó là một con bướm đêm chứ chẳng phải một con vật nào khác à?”.

    Garrett nhìn Sachs một lát xem liệu có phải cô đang đùa không. Gã nói: “Chim chóc không biết ngửi”. Y như thể cô vừa hỏi có đúng trái đất bẹt không. Gã ngoảnh nhìn đằng sau, ngược lên bên trên sông lần nữa. “Chúng ta sẽ phải làm chậm bước bọn nó. Cô nghĩ bọn nó tới gần chừng nào rồi?”.

    “Rất gần rồi”, Sachs nói.

    Với tất cả súng ống và phương tiện bọn họ có.





    “Chúng nó đấy.”

    Rich Culbeau nhìn những dấu chân in trong bùn trên bờ sông. “Những dấu chân này mới mươi, mười lăm phút trước thôi”.

    “Và chúng nó đang nhằm hướng ngôi nhà”, Tomel nói.

    Ba gã thận trọng di chuyển theo một lối mòn.

    O’Sarian vẫn không có hành động gì khác thường. Thực tế, đối với gã, chính điều này lại là khác thường. Và đáng sợ. Gã chưa uống lén ngụm rượu lậu nào, chưa bày trò gì nghịch ngợm, thậm chí chưa mở mồm – mà Sean vốn vẫn có cái mồm nói như máy khâu xếp hàng thứ nhất ở Tanner’s Corner. Vụ nổ súng bên sông khiến gã thực sự bàng hoàng. Bây giờ, khi ba gã đi bộ qua khu rừng, gã vung ngay họng khẩu súng trường màu đen lên trước mỗi tiếng động phát ra từ các bụi rậm. “Chúng mày trông thấy thằng nhọ đó bắn rồi chứ?”, gã rốt cuộc bảo. “Trong chưa đầy một phút, nó nã phải tới mười viên to tổ chảng vào chiếc thuyền”.

    “Đạn chì thôi”, Harris Tomel đính chính.

    Thay cho việc nghi ngờ sự khẳng định của Tomel và cố gắng gây ấn tượng với đồng bọn bằng những kiến thức gã có được về súng ống (và hành động kiểu một tay biết tuốt đáng khó chịu như gã vốn vẫn thế) O’Serian chỉ nói: “Ồ, đạn chì cỡ lớn. Phải. Tao đáng lẽ đã nên nghĩ tới cái loại đạn ấy”. Và gã gật đầu y như đứa học trò nhỏ vừa tiếp thu được điều gì đó mới mẻ, thú vị.

    Ba gã đã đến gần ngôi nhà. Trong có vẻ là một chốn ấm cúng, Culbeau tự nhủ thầm. Một ngôi nhà nghỉ, có lẽ - của một tay luật sư hay bác sĩ nào đấy ở Raleigh hoặc Winston – Salem. Một ngôi nhà nghỉ để đi săn, có quầy bar đầy ắp rượu, các phòng ngủ tươm tất, một tủ đá trữ thịt hươu.

    “Này, Harris”, O’Serian gọi.

    Culbeau chưa từng biết gã dùng đến tên riêng của ai bao giờ.

    “Cái gì?”.

    “Thứ này bắn cao hay thấp?”, O’Sarian giơ khẩu Colt.

    Tomel liếc nhìn Culbeau, có lẽ cũng đang cố gắng xác định xem cái con người khác thường trong O’Sarian đã biến đằng nào rồi.

    “Phát đầu tiên thì chính xác vào mục tiêu nhưng những phát sau hay bị giật lên cao hơn. Vì thế khi bắn những phát sau hãy hạ họng súng xuống.”

    “Vì báng súng bằng nhựa nên nó nhẹ hơn loại bằng gỗ à?”, O’Sarian hỏi.

    “Phải rồi”.

    Gã lại gật đầu, bộ mặt thậm chí có vẻ nghiêm trọng hơn cả lúc nãy. “Cảm ơn”.

    Cảm ơn?

    Đã đi qua khu rừng và ba gã có thể trông thấy một bãi đất lớn quang quẻ xung quanh ngôi nhà – thừa sức tới gần năm mươi thước mỗi chiều mà thậm chí không có lấy cái cây con nào. Thật khó khăn để đến gần ngôi nhà.

    “Mày nghĩ chúng nó ở bên trong à?”, Tomel hỏi, vuốt ve khẩu súng săn đẹp đẽ.

    “Tao không… Khoan, cúi xuống!”

    Ba gã vội vàng khom mình.

    “Tao trông thấy cái gì đó dưới gác. Qua ô cửa sổ bên trái kia”, Culbeau quan sát qua kính ngắm của khẩu súng trường săn hươu. “Ai đó đang đi lại. Dưới tầng trệt. Tao trông không rõ lắm, vướng tấm mành. Nhưng dứt khoát có người”. Gã quan sát kỹ lưỡng các ô cửa sổ khác. “Mẹ kiếp!”. Gã thốt tiếng thì thào kinh hoàng, ngồi phịch xuống đất.

    “Gì thế?”, O’Sarian hỏi, hoảng hốt, nắm chặt khẩu súng và xoay người một vòng.

    “Chúi xuống! Một đứa trong chúng nó có sứng trường lắp kính ngắm. Chúng nó đang nhắm thẳng vào ta. Cửa sổ trên gác ấy. Chết tiệt.”

    “Hẳn là cái cô ả kia”, Tomel nói. “Chứ thằng nhãi õng ẹo quá, làm sao biết đạn ra theo đầu nào.”

    “Đ.mẹ đồ chó cái”, Culbeau lầm bầm. O’Sarian nép đằng sau một cái cây, áp khẩu súng gợi nhớ tới cuộc chiến tranh Việt Nam sát má.

    “Con ranh kia bao quát được toàn bộ bãi đất từ vị trí của nó”, Culbeau nói.

    “Chúng ta đợi trời tối à?”, Tomel hỏi.

    “Ồ, với cái cô em bé nhỏ bị cắt mất vú tiến đến đằng sau chúng ta? Tao không nghĩ như thế thì có tác dụng gì đâu, công nhận chứ hả, Harris?”

    “Thế, mày có bắn trúng được cô ả kia từ đây không?” Tomel hất đầu về phía ô cửa sổ.

    “Có lẽ”, Culbeau vừa nói vừa thở dài. Gã đang định chọc ngoáy Tomel mấy câu thì O’Sarian đã nói với giọng bình thường một cách đáng sợ: “Nhưng nếu Rich bắn, cô em Lucy và đám cảnh sát sẽ nghe thấy. Tao cho rằng chúng ta phải kẹp lấy hai đứa. Đi vòng qua hông ngôi nhà và cố gắng lọt vào bên trong. Tiếng súng nổ ở bên trong nghe sẽ bé hơn”.

    Chính là Culbeau đang định nói điều ấy.

    “Như thế sẽ mất nửa tiếng đồng hồ”, Tomel quát, có lẽ bực bội vì không suy nghĩ được bằng O’Sarian.

    Gã này vẫn giữ trạng thái tỉnh táo cao độ. Gã tháo chốt an toàn khẩu súng của gã và nheo mắt nhìn về phía ngôi nhà. “Chà, theo tao thì chúng ta sẽ mất không đến nửa tiếng đồng hồ đâu. Mày nghĩ thế nào, hả Rich?”.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này