Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT





    Tại quán Eddie, quán bar cách khu tạm giam một khối phố, Rich Culbeau lạnh lùng nói: “Đây không phải là trò chơi.”

    “Tao không nghĩ đây là trò chơi”, Sean O’Sarian đáp. “Tao chỉ cười to thôi. Ý tao là, mẹ kiếp, đơn giản là cười to thôi. Tao đang xem đoạn phim quảng cáo kia.” Gã hất đầu chỉ chiếc màn hình ti vi bám đầy dầu mỡ đặt bên trên cái giá đựng đậu phộng chiên nhãn hiệu Beer Nuts. “Đoạn thằng cha này đang cố gắng đến sân bay và xe hắn…”

    “Mày hay như thế quá. Mày cợt nhả. Mày chẳng chú ý gì.”

    “Được rồi. Tao đang lắng nghe đây. Bọn ta sẽ vào từ phía sau. Cái cửa sẽ được để mở.”

    “Đây là việc tao định hỏi”, Harris Tomel nói. “Cửa sau khu tạm giam chẳng bao giờ mở. Nó lúc nào cũng khóa và nó có, bọn mày biết đây, then ngang bên trong.”

    “Then ngang sẽ được tháo ra và cửa sẽ mở. Ok chưa?”

    “Đây là mày nói thế”, Tomel hoài nghi.

    “Nó sẽ mở”, Culbeau tiếp tục. “Bọn ta đi vào. Sẽ có chìa khóa mở phòng giam thằng nhãi trên bàn, cái bàn sắt bé tí. Bọn mày biết không hả?”

    Tất nhiên hai gã kia biết cái bàn. Bất cứ kẻ nào từng qua đêm trong khu tạm giam của Tanner’s Corner đều bị sây sát ống đồng do va vào cái bàn chết tiệt được vít chặt xuống sàn gần cửa, đặc biệt nếu lại đang say xỉn nữa.

    “Rồi, tiếp tục đi”, O’Sarian nói, bây giờ đã chú ý.

    “Bọn ta mở khóa phòng giam thằng nhãi và đi vào. Tao sẽ dùng bình xịt hơi cay xịt cho nó một phát. Trùm một cái bao qua đầu nó - tao có cái bao bố vẫn để dìm mèo con trong ao, chỉ trùm qua đầu nó thôi và đưa nó ra ngoài qua cửa sau. Nếu muốn nó cứ việc la hét nhưng chẳng ma nào nghe thấy đâu. Harris, mày sẽ ngồi trên xe tải đợi. Hãy lùi xe vào sát cửa ấy. Đừng tắt máy.”

    “Bọn ta sẽ đưa nó đi đâu?”, O’Sarian hỏi.

    “Không đến chỗ đứa nào hết.” Culbeau nói, tự hỏi liệu O’Sarian có đang nghĩ là bọn gã sẽ đưa tên tù bị bắt cóc về nhà một đứa trong bọn không. Nếu thế thì thằng ôn gầy giơ xương này thậm chí còn ngu ngốc hơn Culbeau vẫn tưởng. “Đến cái ga ra cũ, gần đường tàu hỏa.”

    “Tốt”, O’Sarian nhận xét.

    “Bọn ta đưa nó đến đó. Tao đã có cái bình hàn xì. Và bọn ta sẽ cho nó thử tí. Theo tao thì chỉ năm phút là cùng, thằng nhãi sẽ cung khai nơi đang giữ Mary Beth.”

    “Và rồi bọn ta…” Giọng O’Sarian nhỏ đi.

    “Cái gì?”, Culbeau quát. Sau đó gã thì thào: “Mày sắp sửa nói cái điều mà có lẽ mày không muốn nói oang oang ra trước bàn dân thiên hạ đấy hả?”

    O’Sarian thì thào đáp trả: “Mày vừa nói tới việc cho thằng nhãi thử mùi cái bình hàn xì. Tao thấy nó xem chừng chẳng hay hớm gì hơn việc tao đang định hỏi - việc sẽ thực hiện tiếp theo đấy.”

    Điều này thì Culbeau phải công nhận, tuy tất nhiên gã không nói với O’Sarian rằng gã này có lẽ đã ghi được một điểm. Thay vào đó, gã chỉ bảo: “Việc gì đến sẽ phải đến.”

    “Đúng”, Tomel đồng tình.

    O’Sarian nghịch cái nắp chai bia, dùng nó cậy ghét bẩn trong móng tay ra. Gã đã trở nên cáu kỉnh.

    “Sao?”, Culbeau hỏi.

    “Như thế này mạo hiểm lắm. Tóm thằng nhãi ở trong rừng thì dễ dàng hơn. Ở chỗ cái cối xay ấy.”

    “Nhưng hắn không còn ở chỗ cái cối xay trong rừng nữa”, Tomel nói.

    O’Sarian nhún vai: “Tao chỉ đang băn khoăn không biết số tiền ấy có đáng không.”

    “Mày muốn bàn lùi à?” Culbeau gãi gãi bộ râu quai nón, nghĩ nóng thế này gã phải cạo nó đi mới được, nhưng như thế thì cái cằm xệ ba ngấn của gã lại có thể bị người ta chú ý hơn. “Tao vẫn muốn tiền chia đôi hơn là chia ba đấy.”

    “Không, mày biết tao đâu muốn bàn lùi. Thế nào cũng được.” O’Sarian lại đánh mắt sang ti vi. Gã chú mục vào một bộ phim và lắc đầu, giương to mắt lên nhìn một nữ diễn viên.

    “Hẵng khoan”, Tomel nói, ánh mắt hướng ra bên ngoài cửa sổ. “Xem kìa.” Gã hất đầu chỉ ra bên ngoài.

    Nữ cảnh sát tóc đỏ người New York, cái cô ả rút dao nhanh phát khiếp, đang đi bộ ngược lên bên trên con phố, tay cầm một cuốn sách.

    Tomel nhận xét “Cô em đẹp gái đấy. Tao có thể xài một chút được.”

    Nhưng Culbeau nhớ ánh mắt lạnh lẽo của cô ả và mũi dao im phăng phắc dưới cằm O’Sarian. Gã nói: “Không đáng để mày nhọc công.”

    Tóc đỏ bước vào khu tạm giam.

    O’Sarian cũng đang nhìn. “Chà, cô em đó khiến tình hình hơi xấu đi.”

    Culbeau chậm rãi nói: “Không, không đâu. Harris, đỗ cái xe tải ở đằng kia. Và vẫn để nổ máy.”

    “Còn cô ta thì sao?”, Tomel hỏi.

    Culbeau nói: “Tao có vô khối bình xịt hơi cay.”





    Bên trong khu tạm giam, cảnh sát Nathan Groomer ngồi ngả người trên chiếc ghế dựa ọp ẹp và gật đầu với Sachs.

    Sự si mê của Jesse Corn đã khiến cô phát ngấy, nụ cười xã giao của Nathan khiến cô cảm thấy thoải mái hơn. “Xin chào cô.”

    “Anh là Nathan, đúng không?”

    “Vâng.”

    “Con chim mồi kia”, Sachs nhìn xuống bàn anh ta.

    “Cái vật cũ kỹ này ấy à?”, Nathan nhún nhường hỏi.

    “Nó là chim gì thế?”

    “Vịt trời cái. Chừng một năm tuổi. Vịt. Không phải chim mồi.”

    “Anh tự làm à?”

    “Thú vui của tôi. Cũng còn mấy con nữa trên bàn làm việc của tôi ở trụ sở chính. Nếu muốn cô cứ việc xem. Tôi tưởng cô đi rồi?”

    “Tôi sắp đi. Tình hình thế nào?”

    “Ai cơ? Cảnh sát trưởng Bell ấy à?”

    “Không, ý tôi là Garrett.”

    “Ồ, tôi không biết Mason quay lại gặp hắn, nói chuyện, cố gắng bắt hắn khai cô gái đang ở đâu. Nhưng hắn không khai gì cả.”

    “Mason đang ở đây à?”

    “Không, anh ta đi rồi.”

    “Còn Cảnh sát trưởng Bell và Lucy?”

    “Không ở đây, họ đi tất cả rồi. Quay lại trụ sở chính quyền quận. Tôi có thể giúp đỡ cô được gì?”

    “Garrett muốn cuốn sách này”, Sachs giơ nó lên. “Tôi đưa cho hắn được chứ?”

    “Sách gì thế, Kinh Thánh à?”

    “Không, sách về côn trùng.”

    Nathan cầm lấy nó, kiểm tra kỹ lưỡng - Sachs đồ là xem có vũ khí không. Rồi anh ta trả lại. “Thằng nhãi kỳ quái. Cứ như trong phim kinh dị. Cô nên đưa cho hắn một cuốn Kinh Thánh mới phải.”

    “Tôi nghĩ hắn chỉ quan tâm đến loại sách này.”

    “Theo tôi thì cô đúng đấy. Bỏ vũ khí của cô vào cái két sắt kia và tôi sẽ cho cô vào.”

    Sachs bỏ khẩu Smith & Wesson vào và bước về phía cửa, nhưng Nathan nhìn cô vẻ chờ đợi. Cô nhướn một bên mày.

    “Chà, thưa cô, tôi hiểu là cô còn con dao nữa.”

    “Ồ, vâng. Tôi quên.”

    “Nguyên tắc là nguyên tắc, cô biết đấy.”

    Sachs đưa con dao gấp ra. Nathan bỏ nó xuống bên cạnh khẩu súng.

    “Anh có muốn giữ cả bộ còng không?” Sachs đập nhẹ vào chiếc bao đựng còng của mình.

    “Không. Người ta không thể gặp rắc rối lớn với cái đó. Tất nhiên, ở chỗ chúng tôi từng có một đức cha đã gặp rắc rối lớn với nó. Nhưng chẳng qua là vì bà vợ của đức cha về nhà sớm và phát hiện ra ông ấy đang bị trói cổ tay vào cọc giường, còn Sally Anne Carlson thì đang cưỡi lên ông ấy. Nào, cô được phép vào rồi đấy.”





    Rich Culbeau, bị gã Sean O’Sarian nhút nhát bám rịt, đứng bên cạnh một bụi tử đinh hương đã lụi phía sau khu tạm giam.

    Cửa sau khu tạm giam mở ra một cánh đồng lớn, đầy cỏ, rác, các bộ phận ô tô cũ, máy móc hỏng. Cũng có không ít vỏ bao cao su èo uột.

    Harris Tomel lái chiếc Ford F-250 long lanh của gã tấp vào lề đường và quay đầu xe lại. Culbeau nghĩ Tomel đáng lẽ nên đến từ hướng kia vì hướng này hơi lộ liễu, nhưng con phố vắng tanh vắng ngắt, hơn nữa, sau khi quầy kem sữa bột ngô đóng cửa, chẳng có lý do cho bất cứ ai đi tới khu vực này. Ít nhất thì chiếc xe tải cũng còn mới và giảm thanh tốt, nó không gây tiếng ồn.

    “Đứa nào ở văn phòng đằng trước vậy?”, O’Sarian hỏi.

    “Nathan Groomer.”

    “Với cô ả cớm đó à?”

    “Tao không biết. Làm thế quái nào mà tao biết được? Nhưng nếu cô ả ở đây thì cô ả sẽ phải bỏ súng và con dao đã gí vào cổ mày vào két sắt.”

    “Liệu Nathan có nghe thấy nếu cô ả hét lên không?”

    Nhớ lại ánh mắt lạnh lẽo của tóc đỏ và lưỡi dao loáng lên, Culbeau nói: “Nhiều khả năng là thằng nhãi sẽ hét chứ chẳng phải cô ả.”

    “Ờ, thế, nếu nó hét lên thì sao?”

    “Chúng ta sẽ trùm nhanh cái bao lên đầu nó. Này.” Culbeau đưa cho O’Sarian bình xịt hơi cay sơn hai màu trắng - đỏ. “Xịt thấp thôi vì người ta hay chúi xuống.”

    “Liệu nó?... Ý tao là, liệu nó có ảnh hưởng đối bọn ta không? Hơi cay ấy?”

    “Không, nếu mày không tự xịt thẳng vào cái bản mặt mày. Hơi xịt ra thành luồng chứ không phải thành đám.”

    “Tao nên nhằm vào ai?”

    “Thằng nhãi.”

    “Nếu cô ả ở gần tao hơn thì sao?”

    Culbeau lẩm bẩm: “Cô ả là phần tao.”

    “Nhưng...”

    “Phần tao.”

    “Được rồi”, O’Sarian nhất trí.

    Hai gã chúi đầu khi đi qua một ô cửa sổ bẩn thỉu phía sau khu tạm giam và dừng lại trước cánh cửa kim loại. Clubeau nhận ra nó hé mở chừng nửa đốt ngón tay. “Thấy chưa, không khóa”, gã thì thào. Cảm thấy đã ghi điểm trong một cuộc đấu nào đấy với O’Sarian. Rồi băn khoăn tự hỏi tại sao gã lại cảm thấy cần thiết phải đạt được điều ấy. “Bây giờ, tao sẽ gật đầu. Rồi bọn ta ập vào, xịt hơi cay cả hai đứa - cứ xịt cái của nợ đó thật nhiều vào.” Gã đưa cho O’Sarian một cái bao tải dày. “Tiếp theo trùm cái này lên đầu nó.”

    O’Sarian nắm chặt chiếc bình xịt, hất đầu chỉ cái bao tải thứ hai xuất hiện trong tay Culbeau. “Vậy chúng ta sẽ tóm cả cô ả nữa?”

    Culbeau thở dài, bực bội nói: “Phải, Sean ạ. Chúng ta sẽ tóm.”

    “Ồ. Được rồi. Chỉ thắc mắc thế thôi.”

    “Khi chúng nó chẳng còn kháng cự được nữa, lôi nhanh chúng nó ra ngoài. Đừng dừng lại vì bất cứ lý do gì.”

    “Ok... Ồ, tao đã định nói. Tao có mang theo khẩu Colt của tao.”

    “Cái gì?”

    “Tao có khẩu .38 ly. Tao mang theo nó.” O’Sarian hất đầu chỉ xuống túi quần.

    Culbeau im lặng một lát. Rồi gã nói: “Tốt”. Gã nắm bàn tay to tướng của gã vào tay nắm cửa.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI





    Liệu đây có phải khung cảnh cuối cùng mà anh ngắm nhìn không? Anh băn khoăn tự hỏi.

    Từ chiếc giường bệnh, Lincoln Rhyme trông thấy được một công viên trong Trung tâm Y khoa của Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Avery. Những cái cây sum suê, lối đi bộ lượn ngoằn ngoèo qua bãi cỏ xanh rì, vòi phun nước bằng đá mà một cô y tá đã nói với anh là phỏng theo một giếng nước nổi tiếng nào đấy trong khuôn viên Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Chapel Hill.

    Từ chiếc giường ngủ tại ngôi nhà của anh trên đường Tây Công viên Trung tâm ở Manhattan, Rhyme có thể trông thấy bầu trời và vài tòa nhà dọc theo đại lộ Năm. Nhưng những khung cửa sổ ở đó cách sàn và khá cao nên anh không trông thấy được Công viên Trung tâm trừ phi chiếc giường được đẩy sát vào khung kính, cho phép anh nhìn xuống đám cây cỏ.

    Còn ở đây, có lẽ vì trong khi xây dựng người ta đã lưu ý tới các bệnh nhân bị chấn thương tủy sống và thần kinh, những khung cửa sổ được đặt thấp hơn. Thậm chí có thể chạm tới quang cảnh, Rhyme tự nhủ một cách châm biếm.

    Rồi anh lại băn khoăn không biết liệu cuộc phẫu thuật có đem đến chút thành công nào không. Liệu anh thậm chí có sống sót không.

    Lincoln Rhyme biết rằng không có khả năng làm những việc đơn giản là điều đáng nản nhất.

    Ví dụ, đi từ New York đến Bắc Caroiina là cả một dự án, phải tính toán trước bao nhiêu lâu, phải lên kế hoạch thật cẩn thận, sao cho những khó khăn trong chuyến đi hoàn toàn không ảnh hưởng xấu tới Rhyme. Nhưng cái gánh nặng ghê gớm anh phải chịu đựng do chấn thương trở nên nặng nề nhất mỗi khi nó tác động đến những việc nhỏ nhặt mà một người khỏe mạnh vốn vẫn làm chẳng cần suy nghĩ gì hết. Gãi chỗ ngứa trên thái dương, đánh răng, lau miệng, mở lon sô đa, ngồi thẳng dậy trên chiếc ghế dựa để nhìn ra bên ngoài cửa sổ và quan sát lũ chim sẻ lăn lộn trong đám đất cát của khu vườn...

    Anh lại băn khoăn tự hỏi anh đang ngu ngốc tới mức nào.

    Anh đã gặp được nhà thần kinh học giỏi nhất nước và bản thân anh là một khoa học gia. Anh đã đọc và đã hiểu các tài liệu viết về khả năng gần như không thể cải thiện tình hình ở những bệnh nhân chấn thương tủy sống cấp độ C4. Nhưng anh vẫn quyết tâm tiến tới cuộc phẫu thuật với Cheryl Weaver - bất chấp nguy cơ là cái khung cảnh thôn dã bên ngoài ô cửa sổ này, tại một bệnh viện xa lạ ở một thị trấn xa lạ, có lẽ sẽ trở thành hình ảnh thiên nhiên cuối cùng anh còn được trông thấy trong cuộc đời.

    Tất nhiên là có các nguy cơ.

    Vậy tại sao anh vẫn sẽ làm phẫu thuật?

    Ồ, có một lý do rất xác đáng.

    Nhưng đó là một lý do mà nhà hình sự học lạnh lùng trong anh không muốn thừa nhận và là một lý do mà anh sẽ chẳng bao giờ dám nói to ra thành lời. Vì nó chẳng liên quan gì đến việc có thể đi đi lại lại xung quanh một hiện trường vụ án tìm kiếm chứng cứ, chẳng liên quan gì đến việc đánh răng hay ngồi dậy trên giường. Không, không, nó hoàn toàn chỉ vì Amelia Sachs.

    Rốt cuộc thì anh đã thừa nhận sự thật: rằng anh càng ngày càng sợ bị mất cô. Anh ủ ê nghĩ ngợi rằng sớm muộn gì cô cũng sẽ gặp một anh chàng Nick khác - anh chàng đa tình đẹp trai từng là người yêu của cô mấy năm trước. Anh xác định điều này là tất yếu, chừng nào mà anh vẫn còn phải bất động như hiện nay. Cô muốn có con. Cô muốn một cuộc đời bình thường. Và vì vậy mà Rhyme sẵn sàng mạo hiểm với cái chết, mạo hiểm với tình trạng sẽ còn tồi tệ hơn, hy vọng rằng tình hình của anh có thể được cải thiện.

    Tất nhiên anh biết cuộc phẫu thuật sẽ không cho phép anh khoác tay Sachs đi dạo dọc theo đại lộ Năm. Anh chỉ hy vọng một sự cải thiện hết sức nhỏ - dịch đến gần cuộc đời bình thường hơn chút ít. Đến gần cô hơn chút ít. Nhưng trong trí tưởng tượng đáng kinh ngạc của mình, Rhyme có thể hình dung ra được bàn tay anh nắm lấy bàn tay cô, siết chặt lấy nó và cảm thấy cái áp lực mơ hồ từ làn da cô.

    Một điều nhỏ nhặt đối với tất cả những người khác trên thế giới này, nhưng đối với Rhyme, lại là một điều kỳ diệu.

    Thom bước vào phòng. Sau chút im lặng, anh chàng nói: “Một nhận xét này.”

    “Tôi không muốn nghe nhận xét nào hết. Amelia đâu?”

    “Dù sao tôi cũng cứ nói với anh. Đã năm ngày anh chưa uống.”

    “Tôi biết. Thật đến là bực bội.”

    “Anh đang giữ sức khỏe cho cuộc phẫu thuật.”

    “Mệnh lệnh của bác sĩ”, Rhyme sốt ruột nói.

    Chúng có ý nghĩa đối với anh từ khi nào vậy?”

    Một cái nhún vai. “Họ chuẩn bị dò hỏi tôi đủ thứ đấy. Chẳng qua là tôi nghĩ sẽ không khôn ngoan nếu làm tăng thêm lượng cocktail trong máu.”

    “Sẽ không khôn ngoan. Anh đúng đấy. Nhưng anh đã chú ý nghe lời bác sĩ của anh. Tôi rất tự hào về anh.”

    “Ôi, sự tự hào - bây giờ thì đó cũng có một thứ tình cảm hữu ích đấy.”

    Thom tiếp tục: “Nhưng tôi muốn nói điều này.”

    “Đằng nào thì cậu cũng sẽ nói, cho dù tôi có muốn cậu nói hay không.”

    “Tôi đã đọc nhiều về vấn đề này, Lincoln. Các bước tiến hành phẫu thuật ấy.”

    “Ồ, thế à? Tôi hy vọng cậu đã sử dụng thời gian của cậu.”

    “Tôi chỉ muốn nói là nếu lần này không được, chúng ta sẽ quay lại. Sang năm. Sang năm nữa. Năm năm nữa. Rồi sẽ được.”

    Thói đa cảm trong Lincoln Rhyme cũng đã chết y như tủy sống của anh, tuy nhiên anh vẫn cố gắng nói: “Cảm ơn, Thom. Bây giờ thì cái bà bác sĩ ấy đang ở chỗ quái quỷ nào vậy? Tôi đã lao động vất vả để tóm được những kẻ bắt cóc tâm thần cho những con người này. Tôi nghĩ là họ sẽ đối xử với tôi tử tế hơn một chút chứ.”

    “Chị ấy mới muộn mười phút thôi, Lincoln. Còn chúng ta hôm nay đã thay đổi cuộc hẹn hai lần.”

    “Gần hai mươi phút rồi. A, đây rồi.”

    Cánh cửa phòng bệnh mở ra. Và Rhyme ngẩng nhìn, chờ đợi được trông thấy Tiến sĩ Weaver. Nhưng đó không phải ngưòi bác sĩ phẫu thuật.

    Cảnh sát trưởng Jim Bell, mặt lấm tấm mồ hôi, bước vào. Ngoài hành lang đằng sau lưng anh ta là cậu em rể, Steve Farr. Cả hai người đàn ông đều đang rất căng thẳng.

    Ngay lập tức nhà hình sự học nghĩ rằng họ đã tìm thấy xác Mary Beth, rằng gã trai trên thực tế đã giết chết cô gái. Và tiếp theo anh nghĩ Sachs sẽ thất vọng nhường nào trước tin tức ấy, khi niềm tin cô đặt vào gã trai vỡ tan tành.

    Nhưng Bell đem đến tin tức khác. “Tôi xin lỗi phải thông báo với anh chuyện này, Lincoln.” Và Rhyme biết rằng đã có chuyện gì đó liên quan mật thiết đến cá nhân anh hơn, chứ không chỉ đơn thuần vì Garrett Hanlon và Mary Beth McConnell. “Lúc đầu tôi định gọi điện. Nhưng rồi tôi cho rằng anh phải được nghe nói trực tiếp. Vì thế mà tôi tới đây.”

    “Chuyện gì, Jim?”, Rhyme hỏi.

    “Amelia.”

    “Cái gì?”, Thom hỏi.

    “Cô ấy làm sao?” Rhyme, tất nhiên, không thể cảm thấy được quả tim mình đập trong lồng ngực, nhưng anh cảm thấy được máu dồn lên mặt và thái dương. “Cái gì? Nói tôi nghe!”

    “Rich Culbeau và hai gã bạn đi qua khu tạm giam. Tôi chẳng biết chính xác bọn họ mưu toan gì - chắc cũng chẳng có gì tốt đẹp - nhưng dù sao bọn họ cũng đã phát hiện ra một cảnh sát của tôi, Nathan, tay bị còng, ngồi ở văn phòng đằng trước. Còn phòng giam thì trống hoác.”

    “Phòng giam?”

    “Phòng giam Garrett”, Bell tiếp tục, y như thể điều này giải thích tất cả.

    Rhyme vẫn không hiểu ý nghĩa của sự việc. “Chuyện gì...”

    Viên cảnh sát trưởng nói bằng giọng cộc cằn: “Nathan bảo rằng cô Amelia của anh đã gí súng khống chế anh ta và giải thoát cho Garrett. Đó là một trường hợp cướp ngục. Bọn họ đang chạy trốn, bọn họ có vũ khí và không ai nắm trong tay manh mối nào về việc bọn họ ở đâu.”
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    III

    CUỘC ĐẤU TAY ĐÔI






    CHƯƠNG HAI MƯƠI BA





    Chạy.

    Nhanh hết mức có thể. Đôi chân cô nhức nhối vì những cơn đau khớp đang lan khắp người. Người cô ướt sũng mồ hôi, đã xây xẩm mặt mày vì nóng và mất nước.

    Và cô vẫn còn choáng váng khi nghĩ tới việc vừa làm. Garrett ở bên cạnh cô, im lặng chạy xuyên cánh rừng ngoại vi Tanner’s Corner.

    Như thế này còn hơn cả ngu ngốc đấy, thưa cô...

    Khi Sachs vào phòng giam để đưa cho Garrett cuốn Thế giới thu nhỏ, cô đã quan sát gương mặt sung sướng của gã trai lúc nhận lấy cuốn sách. Một lát trôi qua, gần như có người nào đó bắt buộc cô, cô thò tay qua các chấn song, nắm vai gã trai. Bối rối, gã nhìn đi chỗ khác. “Không, hãy nhìn tôi”, cô yêu cầu. “Hãy nhìn.”

    Cuối cùng thì Garrett cũng nhìn. Sachs xem xét bộ mặt đầy mụn, cái mồm giật giật, cặp mắt sẫm màu, đôi lông mày rậm rạp của cậu ta. “Garrett, tôi cần biết sự thật. Việc này chỉ là giữa cậu và tôi thôi. Hãy nói tôi nghe, cậu đã giết Billy Stail à?”

    “Tôi thề là tôi không giết. Tôi thề! Đó là gã đàn ông kia - cái gã mặc quần yếm màu nâu vàng. đã giết Billy. Đó là sự thật!”

    “Các chứng cứ không chứng tỏ điều này, Garrett.”

    “Nhưng người ta có thể nhìn nhận cùng một điều theo những cách khác nhau.” Gã đáp lại bằng giọng điềm tĩnh. “Nói chung, như kiểu chúng ta và con ruồi cùng trông thấy một vật nhưng cách chúng ta nhìn nhận nó khác với cách con ruồi nhìn nhận nó.”

    “Ý cậu là gì?”

    Chúng ta trông thấy một vật chuyển động - chỉ là một hình ảnh không rõ nét khi bàn tay ai đó đang cố gắng đập con ruồi. Nhưng theo cái cách mắt con ruồi làm việc thì nó trông thấy một bàn tay dừng lại trong không trung một trăm lần trong quá trình hạ dần xuống. Giống như một tập hợp các bức ảnh tĩnh. Cùng một bàn tay, cùng một chuyển động, nhưng con ruồi và chúng ta nhìn nhận khác nhau. Và màu sắc... Chúng ta nhìn vào một vật thấy độc một màu đỏ thuần nhất, tuy nhiên có những loài côn trùng lại thấy được chục sắc đỏ khác nhau.”

    Bằng chứng gợi ý rằng hắn đã phạm tội, Rhyme. Nó chưa chứng minh được điều ấy. Bằng chứng có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau.

    “Còn Lydia”, Sachs kiên trì hỏi, nắm lấy vai gã trai thậm chí chặt hơn. “Tại sao cậu bắt cóc cô ấy?”

    “Tôi đã nói với tất cả mọi người lý do tại sao… Vì cô ta cũng đang gặp nguy hiểm. Bến tàu kênh Nước đen... đó là một chốn nguy hiểm. Người ta chết ở đó. Người ta biến mất ở đó. Tôi chỉ bảo vệ cô ta thôi.”

    Tất nhiên đó là một chốn nguy hiểm. Nhưng nó nguy hiểm vì mi chăng?

    Tới đây, Sachs nói: “Cô ấy bảo cậu đang định cưỡng hiếp cô ấy.”

    “Không, không, không... Cô ta nhảy xuống nước, đồng phục bị ướt và rách. Tôi trông thấy cô ta, cô biết đấy, từ trên cao, ngực cô ta. Và tôi bị... kích thích. Nhưng tất cả chỉ có thế.”

    “Còn Mary Beth. Cậu đã gây thương tích cho cô ấy, đã cưỡng đoạt cô ấy à?”

    “Không, không, không! Tôi nói với cô rồi. Cô ấy bị đập đầu và tôi lau máu bằng cái tờ khăn giấy đó. Tôi không bao giờ làm thế, không làm thế với Mary Beth.”

    Sachs đăm đăm nhìn Garrett một lúc lâu hon.

    Bến tàu kênh Nước đen... đó là một chốn nguy hiểm.

    Cuối cùng, cô hỏi: “Nếu tôi đưa cậu ra khỏi đây cậu sẽ đưa tôi tới chỗ Mary Beth nhé?”

    Garrett chau mày. “Tôi làm thế, rồi cô sẽ đưa cô ấy quay lại Tanner’s Corner. Và cô ấy có thể bị hãm hại.”

    “Đó là cách duy nhất, Garrett. Tôi sẽ đưa cậu ra nếu cậu đưa tôi tới chỗ cô ấy. Chúng tôi có thể đảm bảo cho cô ấy được an toàn, Lincoln Rhyme và tôi.”

    “Ông ta và cô có thể làm được điều ấy?”

    “Phải. Nhưng nếu cậu không bằng lòng cậu sẽ ở tù lâu đấy. Và nếu Mary Beth vì cậu mà chết, cậu sẽ mắc tội giết người, cũng y như cậu đã bắn cô ấy vậy. Và cậu sẽ không bao giờ ra khỏi nhà tù được đâu.”

    Garrett nhìn ra bên ngoài cửa sổ. Dường như ánh mắt gã đuổi theo một con côn trùng đang bay. Sachs không thể trông thấy nó. “Được rồi.”

    “Cô ấy ở cách đây bao xa?”

    “Đi bộ sẽ mất tám đến mười tiếng. Cũng tùy.”

    “Tùy cái gì?”

    “Tùy xem có bao nhiêu người đuổi theo chúng ta và tùy xem chúng ta bỏ trốn thận trọng tới mức nào.”

    Garrett nói nhanh, giọng chắc chắn của gã khiến Sachs lo lắng - như thể gã đã dự đoán là sẽ có người cứu gã ra hoặc đã tính toán trước rằng gã sẽ bỏ trốn và đã cân nhắc việc tránh bị truy đuổi.

    “Đợi đấy”, cô bảo gã và bước trở ra văn phòng. Cô mở két sắt, lấy khẩu súng và con dao và đi ngược lại tất cả những gì đã được đào tạo, đi ngược lại tất cả những hiểu biết thực tiễn, chĩa khẩu Smith & Wesson vào Nathan Groomer.

    “Tôi xin lỗi phải làm việc này”, Sachs thì thào. “Tôi cần chìa khóa mở phòng giam hắn và tôi cần anh quay lại, cho hai tay ra đằng sau lưng.”

    Mắt trợn tròn, Nathan lưỡng lự, có lẽ cân nhắc xem có nên tìm đến khẩu súng đeo bên hông không. Hay - bây giờ thì Sachs đã nhận ra - có lẽ thậm chí chẳng nghĩ ngợi gì hết. Vì bản năng hoặc phản xạ hoặc chỉ là cơn giận dữ thuần túy hẳn đã khiến anh ta rút vũ khí ra khỏi bao.

    “Như thế này còn hơn cả ngu ngốc đấy, thưa cô”, Nathan nói.

    “Chìa khóa.”

    Anh ta mở ngăn kéo và quăng nó lên bàn. Anh ta cho tay ra đằng sau lưng. Sachs còng tay anh ta bằng chính bộ còng của anh ta và giật đứt chiếc điện thoại treo trên tường.

    Rồi cô cho Garrett ra khỏi phòng giam, cũng còng tay gã lại. Cửa sau khu tạm giam dường như để mở, nhưng cô nghĩ là mình đã nghe thấy tiếng bước chân và tiếng động cơ ô tô bên ngoài. Cô lựa chọn cửa trước. Họ thực hiện một cuộc chạy trốn không vương dấu vết gì, không bị phát hiện.

    Bây giờ, đã cách khu trung tâm một dặm, vây xung quanh là bụi rậm và cây cối, gã trai hướng dẫn cô đi dọc theo một lối mòn khó xác định. Những mắt xích của chiếc còng kêu leng keng khi gã giơ tay chỉ hướng họ phải đi.

    Sachs nhủ thầm: Nhưng, Rhyme ạ, em chẳng thể làm gì! Anh hiểu chứ? Em không có sự lựa chọn. Nếu trung tâm tạm giam ở Lancaster đúng như cô nghĩ thì Garrett sẽ bị cưỡng đoạt và ăn đòn ngay ngày đầu tiên và chắc chưa đến một tuần sẽ thiệt mạng. Sachs cũng biết đây là cách duy nhất để tìm thấy Mary Beth. Rhyme đã khai thác hết các chứng cứ và sự ngang ngạnh trong ánh mắt Garrett nói với cô rằng gã sẽ không đời nào chịu hợp tác.

    (Không, tôi không lẫn lộn giữa bản năng làm mẹ với nỗi băn khoăn đâu, Tiến sĩ Penny ạ. Và tất cả những gì tôi biết là nếu Lincoln và tôi có một đứa con trai, nó sẽ độc lập suy nghĩ và bướng bỉnh giống như chúng tôi vậy, và nếu chẳng may bất cứ điều gì xảy ra cho chúng tôi, tôi sẽ cầu nguyện để một người nào đấy sẽ trông nom nó theo cái cách tôi đang trông nom Garrett...)

    Họ di chuyển nhanh. Sachs ngạc nhiên thấy gã trai len lỏi qua cây cối mới thanh thoát làm sao, mặc dù tay gã bị còng. Xem chừng gã biết chính xác phải đặt bàn chân xuống chỗ nào, loại cây nào người ta có thể dễ dàng vạch cành lá đi qua, loại cây nào sẽ cản người ta lại. Chỗ nào mặt đất quá mềm không bước bên trên được.

    “Đừng bước chỗ đó”, Garrett nói giọng lạnh lùng. “Đây là đất sét từ vịnh Carolina. Nó giữ chân người ta như keo vậy.”

    Họ đi bộ nửa tiếng đồng hồ cho tới lúc mặt đất trở nên nhão nhoét, còn không khí thì đầy mùi mêtan lẫn mùi các chất bị phân rã. Tuyến đường rốt cuộc chẳng thể đi qua được - cuối cái lối mòn ấy là một bãi lầy lớn - và Garrett dẫn Sachs sang con đường hai làn rải nhựa. Họ bắt đầu đi qua các bụi cây mọc lúp xúp dọc theo lề đường.

    Vài chiếc ô tô chạy thong thả, các lái xe không để ý gì tới kẻ tội phạm mà họ đang đi qua.

    Sachs ghen tỵ quan sát họ. Mới chạy trốn được hai mươi phút, cô ngẫm nghĩ, thế mà cô đã cảm thấy tim mình thắt lại trước cuộc đời bình thường của tất cả những người khác - và trước khúc ngoặt đen tối của cuộc đời cô.

    Như thế này còn hơn cả ngu ngốc đấy, thưa cô.





    “Cô ơi!”

    Mary Beth McConnell giật mình tỉnh dậy.

    Cái nóng và bầu không khí ngột ngạt trong ngôi nhà gỗ đã khiến cô thiếp đi trên chiếc đi văng hôi hám.

    Giọng nói, ở gần bên, lại gọi: “Cô ơi, cô không sao chứ? Này cô? Mary Beth?”

    Cô nhảy khỏi đi văng và vội vã bước tới trước ô cửa sổ vỡ kính. Cô cảm thấy xây xẩm mặt mày, phải cúi đầu xuống một phút, dựa vào tường để đứng vững, vết thương trên thái dương nhức nhối dữ dội. Cô nghĩ: Mẹ mày, Garrett.

    Bớt đau đớn, Mary Beth nhìn được rõ ràng. Và cô tiếp tục bước tới chỗ cửa sổ.

    Đó là nhà truyền giáo. Ông ta đi với người bạn, một người đàn ông cao, đang hói dần, mặc quần dài màu xám và sơ mi lao động. Nhà truyền giáo vác rìu.

    “Cảm ơn ông, cảm ơn ông!”, Mary Beth thì thầm.

    “Này cô, cô không sao chứ?”

    “Tôi không sao. Hắn chưa quay lại.” Giọng Mary Beth vẫn khàn khàn đau đớn. Nhà truyền giáo đưa cho cô một bi đông nước nữa và cô uống cạn.

    “Tôi đã gọi cảnh sát thị trấn”, ông ta bảo Mary Beth. “Họ đang đến. Mười lăm, hai mươi phút nữa họ sẽ đến. Nhưng chúng tôi sẽ không đợi họ. Chúng tôi sẽ giải thoát cô ngay bây giờ, hai chúng tôi.”

    “Tôi chẳng thể cảm ơn ông cho đủ được.”

    “Hãy đứng lùi lại một chút. Tôi suốt đời chẻ gỗ và sau một phút cái cánh cửa đó sẽ trở thành một đống củi. Đây là Tom. Ông ấy cũng làm việc cho quận.”

    “Chào ông, Tom.”

    “Chào cô. Đầu cô có ổn không?”, ông ta chau mày hỏi.

    “Trông thế thôi chứ cũng không đến nỗi”, Mary Beth nói, sờ vào vết thương đã khô.

    Thình, thình.

    Chiếc rìu bập vào cánh cửa. Từ chỗ cửa sổ, Mary Beth có thể trông thấy lưỡi rìu khi nó vung lên cao và bắt ánh nắng. Cạnh sắc của nó lấp lánh, nghĩa là nó rất sắc. Mary Beth từng giúp đỡ cha chẻ củi để đốt lò sưởi. Cô nhớ cô đã say mê quan sát ông biết chừng nào, sau khi kết thúc công việc, mài lưỡi rìu vào một tảng đá mài - những tia lửa màu da cam bay tung lên, giống như pháo hoa trong ngày mùng Bốn tháng Bảy.

    “Kẻ bắt cóc cô là ai?”, Tom hỏi. “Thuộc loại hư hỏng à?”

    Thình... thình.

    “Hắn là học sinh trung học ở Tanner’s Corner. Hắn thật đáng sợ. Hãy nhìn tất cả những cái này.” Mary Beth hất tay chỉ đám côn trùng bị nhốt trong lọ.

    “Chao ôi!”, Tom nói, tì sát cửa sổ để nhìn vào.

    Thình.

    Cánh cửa nứt ra khi nhà truyền giáo bổ được một mảnh lớn.

    Huỵch.

    Mary Beth liếc nhìn cánh cửa. Garrett hẳn đã gia cố nó có thể bằng cách đóng ghép hai cánh cửa lại. Cô bảo Tom: “Tôi cảm thấy chính mình là một trong những con bọ chết tiệt của hắn. Hắn...”. Mary Beth trông thấy vụt một cái cánh tay trái Tom thọc qua cửa sổ và tóm lấy cổ áo cô. Tay phải gã thụi vào ngực cô. Gà kéo mạnh cô về phía trước, áp sát các chấn song, và đặt cái mồm ướt nhoẹt, đầy mùi bia với thuốc lá lên môi cô. Lưỡi gã phóng ra cố gắng lùa qua hai hàm răng cô.

    Gã sục sạo ngực cô, bóp véo, cố gắng tìm thấy đầu vú cô qua lần vải áo, trong khi đó cô vặn đầu đi để tránh gã, vừa nhổ ra phì phì vừa thét lên.

    “Mày đang làm cái quái quỷ gì vậy?”, nhà truyền giáo kêu to, buông rơi rìu. Ông ta chạy tới chỗ cửa sổ.

    Nhưng trước khi ông ta kéo được Tom ra thì Mary Beth đã tóm lấy bàn tay đang sờ soạng khắp ngực cô và đẩy mạnh xuống. Cô khiến cổ tay Tom sượt qua một mảnh thủy tinh nhọn nhô lên trên khung cửa sổ. Gã hét lên vì đau đớn và choáng váng. Gã thả cô ra, loạng choạng ngã về phía sau.

    Chùi miệng, Mary Beth từ chỗ cửa sổ chạy vào giữa căn phòng.

    Nhà truyền giáo quát Tom: “Mày làm như thế làm cái mẹ gì?”

    Hãy đập cho hắn một phát! Mary Beth tự nhủ thầm. Đập cho hắn một phát bằng cái rìu ấy. Hắn thật điên rồ. Giao luôn cả hắn cho cảnh sát.

    Tom chẳng thèm nghe. Gã bóp cánh tay đang chảy máu, xem xét vết cứa. “Chúa ôi, Chúa ôi, Chúa ôi...”

    Nhà truyền giáo lẩm bẩm: “Tao đã bảo mày phải kiên nhẫn. Sau năm phút là bọn ta đưa được nó ra và chỉ nửa tiếng đồng hồ nữa là bọn ta cho nó dang tay dang chân ra ở chỗ mày. Bây giờ thì kế hoạch của bọn ta rối tung lên rồi.”

    Dang tay dang chân...

    Lời gã kia nằm trong đầu óc Mary Beth một lát trước khi ý nghĩa của nó xuất hiện: không có cuộc gọi cho cảnh sát nào cả, không có ai đang tới cứu cô.

    “Trời ơi, nhìn này. Nhìn này!” Tom giơ cổ tay bị cứa lên, máu đang chảy ròng ròng xuống cánh tay.

    “Đ.mẹ”, nhà truyền giáo lẩm bẩm. “Bọn ta sẽ phải nhờ người khâu chỗ đó lại. Mày ngu lắm. Tại sao mày không đợi được chứ? Thôi nào, hãy đi xử lý chỗ đó đã.”

    Mary Beth nhìn Tom loạng choạng bước vào cánh đồng cỏ. Cách ô cửa sổ mười feet, gã dừng lại. “Đồ chó cái thối tha! Mày hãy sẵn sàng đi. Bọn tao sẽ quay lại.” Gã liếc nhìn xuống và cúi người khuất khỏi tầm nhìn một lát. Rồi gã đứng lên, cầm hòn đá cỡ quả cam to trong bàn tay còn lành lặn. Gã ném nó qua chấn song. Mary Beth loạng choạng lùi về phía sau đúng lúc nó đáp vào căn phòng, chỉ cách cô chừng gang rưỡi. Cô buông người lên đi văng, khóc nức nở.

    Trong khi hai gã bước về phía cánh rừng, cô lại nghe thấy Tom hét: “Mày hãy sẵn sàng đi!”





    Cả lũ đang ở nhà Harris Tomel, một ngôi nhà đẹp năm phòng ngủ kiến trúc kiểu thuộc địa, tọa lạc trên bãi cỏ khá lớn mà gã chưa bao giờ mó tay sửa sang. Ý tưởng về việc trang trí bãi cỏ của Tomel chỉ là đỗ chiếc F-250 ở đằng trước và chiếc Suburban ở đằng sau.

    Gã làm như thế này vì, dù sao trong bộ ba gã cũng là kẻ đã vào đại học và sở hữu nhiều áo len hơn sơ mi ca rô, Tomel phải nỗ lực hơn một chút để ra dáng một gã nhà quê thô lậu. Ờ, chắc chắn gã từng phải ngồi tù, nhưng đó là sau chuyến làm ăn bậy bạ ở Raleigh, nơi gã bán cổ phiếu, trái phiếu trong các công ty mà vấn đề duy nhất của chúng là chúng không tồn tại. Gã có thể bắn ngang ngửa một tay bắn tỉa nhưng Culbeau chưa bao giờ thấy hay nghe nói gã tự mình trực tiếp tấn công ai, ít nhất là những người không quan hệ gì tới gã. Tomel cũng suy nghĩquá nhiều, dành quá nhiều thời gian cho áo quần, gọi rượu pha bằng những loại yêu cầu riêng, thậm chí tại quán bar Eddie.

    Bởi vậy, khác với Culbeau, kẻ lao động quần quật xây dựng cơ ngơi của mình, và khác với O’Sarian, kẻ xoay xở đủ cách nhặt về các cô nàng phục vụ bàn để các cô nàng ấy săn sóc tới cái nhà lưu động cho gã, Harris Tomel cứ mặc kệ nhà cửa sân xướng. Culbeau đồ rằng Tomel hy vọng sẽ tạo được ấn tượng gã là một kẻ bần tiện.

    Nhưng đó là việc của Tomel và bộ ba đang có mặt tại ngôi nhà với sân trước sân sau nhếch nhác cùng các vật trang điểm thảm cỏ đến từ thành phố Detroit đâu phải nhằm mục đích bàn bạc chuyện tôn tạo quang cảnh, các gã có mặt tại đây chỉ vì một lý do duy nhất: Tomel đã được thừa kế bộ sưu tập súng ăn đứt mọi bộ sưu tập súng khác khi cha gã đã câu cá trên băng ở hồ Spivy vào đêm Giao thừa cách đây mấy năm và ngày hôm sau chẳng tỉnh dậy nữa.

    Cả lũ đứng trong căn phòng ốp gỗ của Tomel, xem xét các hộp đựng súng, đúng cái kiểu hai mươi năm trước Culbeau và O’Sarian đứng bên cạnh giá bày kẹo rẻ tiền ở cửa hiệu tạp phẩm Peterson trên phố Cây Thích, quyết định xem thó cái nào.

    O’Sarian cầm lên khẩu Colt AR-15 màu đen, phiên bản dân sự của khẩu M-16, vì gã lúc nào cũng oang oang nói mãi về Việt Nam và xem tất cả các bộ phim chiến tranh gã có thể kiếm.

    Tomel lấy khẩu Browning được khảm dát rất đẹp mà Culbeau thèm muốn y như gã thèm muốn đám đàn bà con gái trong quận, tuy bản thân gã là một tay súng trường và gã thích khoan được một lỗ vào tim con nai ở cách xa gần ba trăm thước hơn việc nổ một phát khiến một con vịt chỉ còn nắm lông. Phần gã, hôm nay, gã lựa chọn khẩu Winchester .30-06 rất diện của Tomel với chiếc kính ngắm to hơn hẳn bình thường.

    Ba gã gói ghém vô số đạn, nước, điện thoại di động của Culbeau, thức ăn. Và tất nhiên cả rượu lậu. Cả túi ngủ nữa. Tuy không gã nào nghĩ cuộc săn sẽ kéo dài.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI TƯ





    Một Lincoln Rhyme nghiêm nghị lăn xe quay vào la-bô khám nghiệm đã được thu dọn.

    Lucy Kerr và Mason Germain đứng bên cạnh chiếc bàn bằng gỗ ép công nghiệp lúc nãy đặt kính hiển vi. Họ đứng khoanh tay trước ngực và khi Thom cùng Rhyme vào phòng, cả hai đều nhìn nhà hình sự học cùng anh chàng phụ tá với vẻ vừa khinh miệt vừa nghi ngờ.

    “Thế quái nào mà cô ta có thể làm việc đó chứ?”, Mason hỏi. “Lúc ấy cô ta nghĩ gì?”

    Nhưng đây chỉ là hai trong số nhiều câu hỏi về Amelia Sachs và việc cô đã làm, những câu hỏi không thể trả lời, chưa thể, bởi vậy Rhyme chỉ hỏi: “Có ai bị thương không?”

    “Không”, Lucy nói. “Nhưng Nathan rất bàng hoàng, nhìn xuống nòng khẩu Smith & Wesson mà chúng tôithật điên rồ mới đưa cho cô ta.”

    Rhyme nỗ lực duy trì vẻ ngoài điềm tĩnh, nhưng nỗi lo sợ cho Sachs xuyên thấu trái tim anh. Lincoln Rhyme vốn tin tưởng vào các chứng cứ hơn bất cứ thứ gì khác, và các chứng cứ thì chỉ ra rõ ràng rằng Garrett Hanlon là một kẻ bắt cóc, giết người. Sachs, bị vẻ ngoài có tính toán của gã đánh lừa, cũng đang chịu nguy hiểm y như Mary Beth hay Lydia.

    Jim Bell bước vào phòng.

    “Cô ấy có lấy cái xe nào không?”, Rhyme tiếp tục hỏi.

    “Tôi nghĩ là không”, Bell nói. “Tôi đã hỏi xung quanh đây. Không có cái xe nào biến mất cả.”

    Bell nhìn tấm bản đồ vẫn được dính trên tường. “Đây không phải một khu vực dễ dàng để đi khỏi, cũng không dễ dàng bị phát hiện. Nhiều đầm lầy, không nhiều đường lớn. Tôi đã…”

    Lucy nói: “Hãy sử dụng chó, Jim. Irv Wanner trông nom mấy con chó săn cho cảnh sát bang đấy. Hãy gọi cho Đại úy Dexter ở Elizabeth City và xin số điện thoại của Irv. Ông ta sẽ lần theo dấu vết bọn họ.”

    “Ý kiến hay đấy. Chúng ta sẽ...”

    “Tôi muốn đề xuất một việc”, Rhyme ngắt lời.

    Mason cất tiếng cười lạnh lùng.

    “Cái gì?” Bell hỏi.

    “Tôi muốn thương lượng với anh.”

    “Không thương lượng gì hết”, Bell nói. “Cô ta là một tội phạm chạy trốn. Và có súng, để nhả đạn.”

    “Chị ấy sẽ không bắn bất cứ ai”, Thom nói.

    Rhyme tiếp tục: “Amelia tin tưởng rằng không có cách nào khác để tìm thấy Mary Beth. Đó là lý do tại sao cô ấy hành động như vậy. Họ đang đến chỗ Mary Beth bị giam giữ.”

    “Điều này chẳng thành vấn đề”, Bell nói. “Vấn đề là không thể cướp một kẻ giết người ra khỏi nhà tù được.”

    “Hãy cho tôi hai mươi tư tiếng đồng hồ trước khi anh gọi cảnh sát bang. Tôi sẽ tìm thấy hai người cho anh. Chúng ta có thể vạch các lời buộc tội. Nhưng nếu để cảnh sát bang và chó nghiệp vụ tham gia vào thì chúng ta đều biết rằng họ sẽ hành động đúng theo quy định, mà như thế thì có nghĩa sẽ có nhiều khả năng dẫn đến thương vong.”

    “Thương lượng ghê nhỉ, Lincoln”, Bell nói. “Cô bạn anh đã cướp tù nhân của chúng tôi...”

    “Nếu không nhờ tôi thì hắn đã chẳng trở thành tù nhân của các vị. Tự các vị chẳng bao giờ tìm thấy hắn được.”

    “Thôi, quên mẹ nó đi”, Mason nói. “Chúng ta đang lãng phí thời gian và mỗi phút chúng ta lãng phí nói này nói nọ bọn nó sẽ đi được xa hơn đấy. Tôi tán thành quan điểm huy động tất cả mọi người ở thị trấn tìm kiếm bọn nó. Rải cảnh sát khắp khu vực này. Làm như Henry Davett gợi ý ấy. Phát súng trường và...”

    Bell cắt lời anh ta, hỏi Rhyme: “Nếu chúng tôi cho anh hai mươi tư tiếng đồng hồ thì chúng tôi được gì?”

    “Tôi sẽ ở lại giúp đỡ các anh tìm thấy Mary Beth. Dù mất bao nhiêu lâu.”

    Thom nói: “Cuộc phẫu thuật, Lincoln...”

    “Quên cuộc phẫu thuật đi”, anh lẩm bẩm, cảm thấy nỗi tuyệt vọng khi nói điều này. Anh biết lịch của Tiến sĩ Weaver sít sao đến mức nếu anh bỏ lỡ ngày hẹn đã đặt trên bàn anh sẽ phải quay lại danh sách chờ. Cái ý nghĩ là Sachs làm việc này để anh không làm phẫu thuật được thoáng qua trong đầu Rhyme. Kéo dài thêm vài ngày và cho anh cơ hội thay đổi quyết định. Nhưng anh gạt cái ý nghĩ đó sang bên, nổi khùng lên với chính mình: Hãy tìm ra cô ấy, hãy cứu cô ấy. Trước khi Garrett bổ sung cô ấy vào danh sách các nạn nhân của gã.

    Bị đốt một trăm ba mươi bảy phát.

    Lucy nói: “Chúng tôi đang đứng trước cái, người ta gọi thế nào nhỉ, lòng trung thành bị chia sẻ, có phải không?”

    Mason nói: “Đúng, làm sao chúng tôi biết được rằng anh sẽ không khiến chúng tôi tìm kiếm lòng vòng và để cô ta trốn thoát?”

    “Bời vì...”, Rhyme kiên nhẫn nói. “Amelia đã sai lầm. Garrett là kẻ sát nhân và hắn chỉ sử dụng cô ấy để vượt ngục. Một khi hắn không cần cô ấy nữa, hắn sẽ giết cô ấy.”

    Bell đi đi lại lại một lúc, đăm đăm nhìn tấm bản đồ. “Được rồi, chúng tôi sẽ làm như vậy, Lincoln. Anh có hai mươi tư tiếng.”

    Mason thở dài. “Và cách quái nào mà ông tìm thấy cô ta giữa chốn hoang dã ấy chứ?” Anh ta hất tay về phía tấm bản đồ. “Ông sẽ chỉ gọi cho cô ta và hỏi cô ta ở đâu ư?”

    “Đây chính xác là việc tôi sẽ làm. Và ai đó hãy đưa Ben Kerr quay lại đây!”





    Lucy Kerr đứng trong văn phòng bên cạnh phòng tác chiến, gọi điện thoại.

    “Cảnh sát bang Bắc Carolina, Elizabeth City nghe đây.” Giọng phụ nữ trả lời dứt khoát. “Chị cần gì?”

    “Tôi muốn gặp Thám tử Gregg.”

    “Xin giữ máy.”

    “A lô?” Lát sau, một giọng nam giới hỏi.

    “Pete, tôi là Lucy Kerr ở Tanner’s Corner.”

    “Này, Lucy, tình hình thế nào? Mấy cô gái mất tích sao rồi?”

    “Đã kiểm soát được tình, hình”, Lucy nói, giọng điềm tĩnh, tuy cô điên tiết vì Bell cứ khăng khăng yêu cầu cô phải nhắc lại đúng như lời Lincoln Rhyme: “Nhưng chúng tôi gặp một vấn đề nhỏ khác”.

    Một vấn đề nhỏ…

    “Chị cần gì? Vài cảnh sát à?”

    “Không, chỉ là truy tìm vị trí một máy điện thoại di động.”

    “Có lệnh không?”

    “Thư ký thẩm phán sẽ fax cho anh ngay bây giờ.”

    ‘‘Cho tôi số điện thoại và số sêri.”

    Lucy cung cấp thông tin.

    “Mã vùng nào đấy, 212 à?”

    “Đó là một số điện thoại của New York. Đang sử dụng điện thoại di động ở ngoài vùng đăng ký.”

    “Không vấn đề gì. Chị muốn có ghi âm các cuộc nói chuyện chứ?”

    “Chỉ cần vị trí thôi.”

    Và một tầm nhìn rõ ràng đến mục tiêu...

    “Khỉ nào... hẵng hượm. Tờ fax đây…” Gregg ngừng lại một chút, đọc. “Ồ, chỉ là một người mất tích?”

    “Chỉ thế thôi”, Lucy miễn cưỡng nói.

    “Chị biết là tốn kém đấy. Chúng tôi sẽ phải yêu cầu chị trả tiền.”

    “Tôi hiểu.”

    “Được rồi, giữ máy nhé, tôi sẽ gọi các nhân viên kỹ thuật của tôi.” Có một tiếng cách khẽ.

    Lucy ngồi bên bàn, vai rũ xuống, bàn tay trái gập lại. Cô nhìn chằm chằm những ngón tay đỏ lên sau nhiều năm làm vườn, vết sẹo cũ do chiếc đai kim loại của một thùng gỗ nâng bổi, vết thắt ngẫng ở ngón đeo nhẫn sau năm năm đeo nhẫn cưới.

    Gập lại, duỗi ra.

    Quan sát các tĩnh mạch và cơ phía dưới da, Lucy Kerr nhận ra một điều. Rằng vụ phạm tội của Amelia Sachs đã trút vào lòng cô nỗi tức giận mãnh liệt hơn bất cứ tình cảm nào từng xuất hiện trong cô từ trước tới nay.

    Khi người ta cắt mất một phần cơ thể cô, cô đã cảm thấy xấu hổ, rồi cảm thấy thật bất hạnh. Khi chồng cô rời bỏ cô, cô cảm thấy tội lỗi và nhẫn nhục chịu đựng. Và khi rốt cuộc cô tức giận trước các sự việc này, nỗi tức giận của cô tựa như than hồng - nó tỏa ra sức nóng ghê gớm nhưng chưa bao giờ bùng lên thành những ngọn lửa.

    Nhưng vì một lý do mà cô chẳng thể hiểu được, người nữ cảnh sát đến từ New York ấy đã khiến cơn giận giữ mãnh liệt và ngoài ra không có thứ cảm xúc gì khác, bùng lên trong trái tim Lucy - tựa như đám ong bắp cày tuôn khỏi tổ, giết chết Ed Schaeffer theo cái cách thật khủng khiếp.

    Cơn giận giữ mãnh liệt trước sự phản bội lại Lucy Kerr, người chưa bao giờ cố ý làm ai phải đau đớn, một phụ nữ yêu cây cỏ, một phụ nữ từng là người vợ tốt của chồng mình, người con gái hiếu thảo của cha mẹ, người chị gái hiền hậu, người nữ cảnh sát chân chính, một phụ nữ chỉ mong muốn những niềm vui vô hại mà cuộc đời hào phóng ban phát cho tất cả, tuy nhiên dường như quyết tâm từ chối riêng mình cô.

    Chẳng còn cảm giác xấu hổ hay tội lỗi hay nhẫn nhục hay buồn rầu.

    Chỉ là nỗi tức giận - trước những sự phản bội xảy ra trong cuộc đời cô. Từ cơ thể cô, từ chồng cô, từ Chúa.

    Và bây giờ từ Amelia Sachs.

    “A lô, Lucy?”, Pete hỏi từ Elizabeth City. “Chị đang ở đầu dây chứ?”

    “Vâng, tôi đây.”

    “Chị... chị có sao không? Nghe giọng chị là lạ.”

    Lucy hắng giọng. “Không sao. Anh sẵn sàng chưa?”

    “Rồi. Khi nào thì đối tượng thực hiện cuộc gọi?”

    Lucy nhìn sang phòng bên kia. Cô hỏi to: “Sẵn sàng chưa?” Rhyme gật đầu.

    Lucy nói vào điện thoại: “Bất cứ lúc nào kể từ lúc này.”

    “Hãy giữ máy nhé”, Gregg nói. “Tôi sẽ kết nối.”

    Làm ơn cho việc này có tác dụng, Lucy tự nhủ thầm. Làm ơn...

    Rồi cô thêm dòng ghi chú vào lời cầu nguyện của mình: Và, lạy Chúa lòng lành, hãy để con bắn một phát trúng tim đứa phản bội.





    Thom đeo bộ tai nghe qua đầu Rhyme. Rồi anh chàng phụ tá bấm một số điện thoại.

    Nếu Sachs đã tắt máy, sẽ chỉ có ba hồi chuông và tiếp theo cái giọng phụ nữ trầm bổng êm ái ở hộp thư thoại sẽ cất lên.

    Một hồi... hai hồi...

    “A lô?”

    Rhyme không tin mình lại cảm thấy nhẹ nhõm dường ấy khi nghe thấy giọng Sachs. “Sachs, em không sao chứ?”

    Im lặng một chút. “Em không sao.”

    Rhyme nhìn thấy, trong căn phòng bên cạnh, Lucy Kerr với gương mặt rầu rĩ gật đầu.

    “Hãy nghe anh này, Sachs. Hãy nghe anh này. Anh biết tại sao em hành động như vậy, nhưng em phải đầu thú thôi. Em... em vẫn nghe đấy chứ?

    “Em đây, Rhyme.”

    “Anh biết em đang làm gì. Garrett đã đồng ý đưa em đến chỗ Mary Beth.”

    “Đúng vậy.”

    “Em không thể tin tưởng hắn đâu”, Rhyme nói. (Đồng thời nghĩ trong nỗi tuyệt vọng: Và cả mình nữa. Anh trông thấy Lucy xoay ngón tay thành hình tròn, nghĩa là: Giữ cho cô ta đừng cúp máy.) “Anh đã thương lượng với Jim. Nếu em đưa hắn quay lại, họ sẽ có hướng xem xét tội trạng của em. Cảnh sát bang hiện vẫn chưa tham gia. Và anh sẽ ở đây tới chừng nào tìm thấy Mary Beth. Anh hoãn phẫu thuật rồi.”

    Rhyme nhắm mắt chốc lát, cảm giác tội lỗi xuyên thấu anh. Nhưng anh chẳng có sự lựa chọn nào. Anh hình dung ra cái chết của cô gái ở Bến tàu kênh Nước đen, cái chết của Ed Schaeffer... Tưởng tượng thấy những con ong bắp cày xúm xít trên cơ thể Amelia. Anh phải phản bội cô để cứu cô.

    “Garrett vô tội, Rhyme. Em biết cậu ta vô tội. Em không thể để cậu ta bị đưa tới trung tâm tạm giam được. Ở đó bọn họ sẽ giết chết cậu ta.”

    “Thế thì chúng ta sẽ thu xếp giam giữ hắn tại một chỗ khác. Và chúng ta sẽ xem xét lại các chứng cứ. Chúng ta sẽ tìm kiếm thêm các chứng cứ. Chúng ta sẽ cùng làm. Em và anh. Chúng ta đã nói như vậy, phải không, Sachs? Em và anh… Bao giờ cũng là em và anh. Không có gì mà chúng ta lại không tìm ra được.”

    Một chút im lặng. “Không có ai đứng về phía Garrett. Cậu ta hoàn toàn đơn độc, Rhyme.”

    “Chúng ta có thể bảo vệ hắn.”

    “Anh không thể bảo vệ một người trước cả một thị trấn, Lincoln.”

    “Đừng dùng tên riêng”, Rhyme nói. “Điều đó sẽ đem đến xui xẻo, nhớ không?”

    “Toàn bộ chuyện này đã là xui xẻo rồi.”

    “Làm ơn đi, Sachs...”

    Cô nói: “Đôi khi, người ta chỉ cần dựa vào niềm tin.”

    “Bây giờ thì ai đang phân phát các câu châm ngôn đấy?” Rhyme bắt buộc mình cất tiếng cười - một phần để trấn an Sachs. Một phần để trấn an chính mình.

    Tiếng rọt rẹt mơ hồ.

    Hãy trở về nhà đi, Sachs, Rhyme tự nhủ thầm. Làm ơn đi! Chúng ta vẫn còn cứu vãn được gì đó. Tính mạng em cũng đang mong manh y như cái sợi thần kinh ở cổ anh - cái sợi bé tí duy nhất vẫn còn hoạt động.

    Và cũng quý giá y như vậy đối với anh.

    Sachs nói: “Garrett bảo em là bọn em có thể tới chỗ Mary Beth trong đêm nay hoặc sáng mai. Em sẽ gọi cho anh khi nào bọn em gặp được cô gái.”

    “Sachs, đừng cúp máy vội. Còn điều này. Để anh nói điều này.”

    “Gì vậy?”

    “Dù em nghĩ về Garrett như thế nào, cũng đừng tin tưởng hắn. Em nghĩ hắn vô tội. Nhưng cũng hãy chấp nhận là hắn có thể có tội. Em biết chúng ta vốn vẫn tiếp cận các hiện trường vụ án như thế nào, Sachs.”

    “Với một tư duy mở.” Cô đọc thuộc lòng quy tắc. “Không định kiến. Tin tưởng rằng mọi cái đều có thể.”

    “Đúng. Hãy hứa với anh là em sẽ nhớ như thế.”

    “Cậu ta bị còng mà, Rhyme.”

    “Cứ còng hắn nhé. Và đừng để hắn đến gần vũ khí của em.”

    “Vâng. Em sẽ gọi cho anh khi nào bọn em gặp được Mary Beth.”

    “Sachs...”

    Đường dây im bặt.

    “Mẹ kiếp”, nhà hình sự học lầm bẩm. Anh nhắm mắt, trong cơn giận dữ cố gắng giải thoát mình khỏi bộ tai nghe. Thom vươn người về phía trước, nhấc nó ra khỏi đầu Rhyme. Anh chàng chải lại mái tóc thẫm màu cho nhà hình sự học.

    Từ căn phòng bên cạnh, Lucy gác điện thoại và bước sang. Qua vẻ mặt cô, Rhyme có thể nói là việc truy tìm vị trí không đạt được kết quả.

    “Pete bảo bọn họ ở trong vòng bán kính ba dặm tính từ trung tâm Tanner’s Corner.”

    Mason lẩm bẩm: “Họ không xác định được cụ thể hơn à?”

    Lucy nói: “Nếu cô ta giữ máy thêm mấy phút nữa, họ sẽ có thể xác định vị trí của cô ta chỉ sai số mười lăm feet”.

    Bell đang xem xét tấm bản đồ. “Được rồi, cách trung tâm thị trấn ba dặm.”

    “Liệu hắn có quay lại Bến tàu kênh Nước đen không?”, Rhyme hỏi.

    “Không”, Bell nói. “Chúng ta biết rằng bọn họ đi ra khu Bờ Ngoài và Bến tàu kênh Nước đen thì ở hướng ngược lại.”

    “Đường ngắn nhất để đi ra khu Bờ Ngoài là đường nào?”, nhà hình sự học hỏi.

    “Bọn họ không thể đi bộ”, Bell vừa nói vừa bước tới trước tấm bản đồ. “Bọn họ sẽ phải đi ô tô hoặc vừa ô tô vừa thuyền. Có hai đường để ra đó. Bọn họ có thể theo đường 112 về phía nam đến đường 17. Theo tuyến ấy bọn họ đến Elizabeth City và có thể dùng thuyền, hoặc tiếp tục đi hết đường 17 đến đường 158 rồi lái xe ra bãi biển. Hoặc bọn họ có thể lựa chọn đường Harper... Mason, anh lấy Frank Sturgis và Trey, đến đường 112. Dựng rào chắn tại Belmont.”

    Rhyme nhận ra đây là ô M-10 trên tấm bản đồ.

    Viên cảnh sát trưởng tiếp tục: “Lucy, cô và Jesse lấy thêm Harper xuống đường Millerton. Dựng rào chắn tại đấy”. Đây là ô H-14.

    Bell gọi cậu em rể vào. “Steve, cậu điều phối thông tin liên lạc và trang bị bộ đàm cho tất cả mọi người nếu ai chưa có.”

    “Rõ rồi, Jim.”

    Bell bảo Lucy và Mason: “Thông báo với tất cả mọi người là Garrett đang mặc bộ đồ nỉ của phòng tạm giam. Màu xanh lơ. Bạn gái anh đang mặc gì? Tôi không nhớ.”

    “Cô ấy không phải bạn gái tôi”, Rhyme trả lời.

    “Xin lỗi.”

    Rhyme nói: “Quần bò, áo phông đen”.

    “Cô ta có đội mũ không?”

    “Không.”

    Lucy và Mason đi ra cửa.

    Một lát sau, căn phòng chỉ còn Bell, Rhyme và Thom.

    Viên cảnh sát trưởng gọi cho cảnh sát bang, đề nghị viên thám tử vừa giúp đỡ họ định vị số máy di động cử người theo dõi tần số đó, vì đối tượng mất tích có thể sẽ liên lạc lại.

    Rhyme để ý thấy Bell ngừng một chút. Anh ta liếc nhìn Rhyme và nói vào điện thoại: “Cảm ơn đề nghị của anh, Pete. Nhưng tới lúc này mới là một đối tượng mất tích. Chưa có gì nghiêm trọng đâu.”

    Bell gác máy, lầm bầm: “Chưa có gì nghiêm trọng. Lạy Chúa, lạy Chúa tôi”.





    Mười lăm phút sau, Ben Kerr bước vào văn phòng. Anh ta thực tế có vẻ mừng rỡ được quay lại, tuy rõ ràng là bối rối trước cái tin tức đòi hỏi sự quay lại của anh ta.

    Anh ta cùng Thom dỡ các thiết bị khám nghiệm mượn của cảnh sát bang đã được gói ghém lại, trong lúc Rhyme đăm đăm nhìn tấm bản đồ và các bảng chứng cứ trên tường.





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG TRỰC TIẾP - BẾN TÀU KÊNH NƯỚC ĐEN


    Khăn giấy Kleenex thấm máu

    Bụi đá vôi

    Nitrate

    Phốt phát

    Ammonia

    Chất tẩy

    Camphene





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT


    Xạ chồn hôi

    Lá thông bị cắt rời khỏi cành

    Các bức vẽ côn trùng

    Ảnh chụp gia đình

    Ảnh chụp Mary Beth

    Các sách về côn trùng

    Dây câu

    Tiền

    Chìa khóa chưa xác định

    Dầu hỏa

    Ammonia

    Nitrate

    Camphene





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - MỎ ĐÁ


    Túi vải bao bì cũ - Không đọc được tên in bên trên

    Ngô - Thức ăn chăn nuôi?

    Muội than trên túi

    Nước đóng chai nhãn hiệu Deer Park

    Bích quy phó mát nhãn hiệu Planters





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - CỐI XAY


    Bản đồ khu vực Bờ Ngoài

    Cát bãi biển

    Lá thích/sồi đã rữa





    Rhyme đăm đăm nhìn bảng chứng cứ cuối cùng, nhận ra rằng chứng cứ Sachs tìm thấy tại cối xay mới ít ỏi làm sao. Đây luôn luôn là vấn đề khi người ta đã đặt các manh mối hiển nhiên tìm thấy tại hiện trường vụ án vào một địa điểm cụ thể - ví dụ như chỗ cát và tấm bản đồ. Xét theo khía cạnh tâm lý, người ta bớt tập trung chú ý và rà soát ít cẩn thận hơn. Anh ước gì họ có thêm chứng cứ từ hiện trường này.

    Rồi Rhyme nhớ lại một việc. Lydia nói rằng Garrett thay quần áo khi đội tìm kiếm đang đến gần. Tại sao? Lý do duy nhất là hắn biết những quần áo hắn giấu ở đó có thể tiết lộ nơi hắn giấu Mary Beth. Anh liếc nhìn Bell. “Anh bảo Garrett đang mặc bộ đồ nỉ của tù nhân à?”

    “Phải.”

    “Anh có quần áo hắn mặc lúc bị bắt chứ?”

    “Ở đằng phòng tạm giam.”

    “Anh cử người đem đến đây được không?”

    “Chỗ quần áo ấy à? Có ngay.”

    “Hãy yêu cầu bỏ chúng vào túi giấy.” Rhyme đưa ra mệnh lệnh. “Đừng gập lại.”

    Viên cảnh sát trưởng gọi tới phòng tạm giam, yêu cầu một cảnh sát đem chỗ quần áo đến. Từ những câu trao đổi ở đầu dây đằng này, Rhyme suy luận rằng viên cảnh sát kia còn hơn cả sung sướng khi được góp phần vào việc tìm thấy cái cô ả đã trói chân trói tay anh ta lại với nhau và làm anh ta phải mất mặt.

    Rhyme đăm đăm nhìn tấm bản đồ bờ biển miền Đông. Họ có thể thu hẹp phạm vi rà soát, chỉ tập trung vào các ngôi nhà cổ - vì chúng có những chiếc đèn đốt bằng camphene - và chỉ tập trung vào các ngôi nhà không nằm sát bãi biển - với dấu vết của lá thích và sồi. Nhưng việc xác định một khu vực cụ thể thì thật đáng nản. Hàng trăm dặm.

    Điện thoại của Bell đổ chuông. Anh ta nhận cuộc gọi và trao đổi một phút rồi cúp máy. Anh ta bước tới trước tấm bản đồ. “Các rào chắn đã được dựng. Garrett và Amelia có thể sẽ đi vào trong nội địa ở chỗ này để vòng qua - anh ta đập đập vào ô M-10 - nhưng từ vị trí của Mason và Frank, cánh đồng này nằm trong tầm quan sát tốt và bọn họ sẽ bị phát hiện.”

    Rhyme hỏi: “Tuyến đường sắt phía nam thị trấn thì sao?”

    “Nó không được sử dụng để chở hành khách. Nó là tuyến vận chuyển hàng hóa và không có lịch tàu chạy. Nhưng bọn họ có thể đi bộ dọc theo đó. Đó là lý do tại sao tôi dựng rào chắn tại Belmont. Tôi cuộc rằng bọn họ sẽ đi lối ấy. Tôi cũng đang nghĩ Garrett có thể lẩn trốn một thời gian trong khu Bảo tồn sinh thái Thác Manitou - với mối quan tâm của hắn đến côn trùng và thiên nhiên hoặc đại loại vậy. Hắn có thể vẫn hay ở đó.” Bell đập đập vào ô T-10.

    Farr hỏi: “Sân bay thì sao?”

    Bell nhìn Rhyme: “Cô ta có thể lái trộm máy bay đi không?”

    “Không, cô ấy không biết lái máy bay.”

    Rhyme để ý thấy một ghi chú trên tấm bản đồ. Anh hỏi: “Căn cứ quân sự gì kia?”

    “Nó từng được sử dụng làm kho vũ khí trong thập kỷ sáu mươi và bảy mươi. Đã đóng cửa nhiều năm nay rồi. Nhưng khắp chỗ đó có các đường hãm và boong ke. Chúng ta sẽ cần đến hai chục người mới lục soát hết chỗ đó và hắn vẫn có thể tìm được một cái xó để ẩn trốn.”

    “Chỗ đó có lực lượng tuần tra không?”

    “Trước thì có, bây giờ thì không.”

    “Khu vực hình vuông kia là gì? Ở ô E-5 và E-6 ấy?”

    “Kia á? Có lẽ là cái công viên giải trí cũ”, Bell nói, nhìn Farr và Ben.

    “Đúng”, Ben xác nhận. “Hồi nhỏ em trai tôi và tôi hay đến đấy. Nó được gọi là, gì nhỉ? Nóc Nhà Anh điêng hoặc đại loại vậy.”

    Bell gật đầu. “Nó từng là khu vui chơi giải trí của một làng người Anh điêng. Cách đây mấy năm thì ngừng hoạt động - không có ai đến đấy nữa. Williamsburg và Sáu Lá Cờ được ưa thích hơn nhiều. Là nơi ẩn trốn tốt, nhưng nằm ở hướng ngược lại hướng ra khu Bờ Ngoài. Garrett sẽ không đến đấy đâu.”

    Bell đặt tay vào ô H-14. “Lucy đang ở đây. Mà ở những khu vực đó Garrett và Amelia sẽ phải bám theo đường Harper. Rời xa con đường sẽ là đầm lầy đầy đất sét. Bọn họ phải mất hàng ngày trời mới đi qua được - nếu bọn họ còn sống sót, mà chưa chắc bọn họ đã sống sót nổi. Bởi vậy... Tôi nghĩ chúng ta hãy cứ chờ xem sẽ xảy ra chuyện gì.”

    Rhyme lơ đãng gật đầu, cặp mắt anh di chuyển từ mốc địa hình này sang mốc địa hình khác trên tấm bản đồ quận Paquenoke y như chiến hữu của anh - con nhặng bất kham, lúc bấy giờ đã bay khỏi.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM





    Garrett Hanlon dẫn Amelia đi xuôi một con đường rộng trải nhựa. Họ đi chậm hơn lúc nãy, mệt lừ vì nóng và gắng sức.

    Khu vực này có những nét quen và cô nhận ra đây là đường Kênh Đào – con đường sáng hôm nay họ đã đi từ trụ sở chính quyền quận đến khám nghiệm hiện trường vụ án ở Bến tàu kênh Nước đen. Cô có thể trông thấy trước mặt những gợn sóng lăn tăn đen thẫm của sông Paquenoke. Bên kia kênh đào là những ngôi nhà lớn, đẹp đẽ mà cô đã bình phẩm với Lucy.

    Sachs nhìn xung quanh. “Tôi không hiểu. Đây là con đường chính dẫn vào thị trấn. Tại sao chẳng có rào chắn nào?”.

    “Họ nghĩ chúng ta đi lối khác. Họ đã dựng rào chắn ở phía đông và phía nam so với đây.”

    “Làm thế nào mà cậu biết được?”

    Garrett trả lời: “Họ nghĩ tôi kỳ cục. Họ nghĩ tôi là thằng ngu. Khi mình khác mọi người thì mọi người hay nghĩ như vậy. Nhưng tôi không như vậy”.

    “Nhưng chúng ta đang đi đến chỗ Marry Beth?”

    “Chắc chắn rồi. Chỉ không phải theo lối mà họ nghĩ.”

    Một lần nữa, sự tự tin và thiếu cởi mở của Garrett lại khiến Sachs lo lắng, nhưng sau đó cô lại chú ý vào con đường, họ tiếp tục đi trong im lặng. Mất hai mươi phút, họ ở cách cái ngã ba nơi Kênh Đào kết thúc tại đường 112 tối đa nửa dặm - Billy Stail đã bị sát hại ở ngã ba này.

    “Nghe nào!”, Garrett thì thào, hai bàn tay bị còng túm lấy cánh tay Sachs.

    Cô nghênh nghênh đầu nhưng không nghe thấy gì cả.

    “Nấp vào bụi đi”. Họ lùi từ đường vào một bụi nhựa ruồi lá cọ ngưa ngứa.

    “Gì thế?”, Sachs hỏi.

    “Xuỵt.”

    Một lát sau, một chiếc xe tải lớn không thùng chạy lại từ phía sau họ.

    “Nó từ cái nhà máy kia”, Garrett thì thào. “Ở phía trước mặt.”

    Chữ in trên thành xe cho thấy nó thuộc Công ty Davett. Cô nhận ra tên của người đàn ông đã giúp đỡ họ xử lý các chứng cứ. Chiếc xe đi qua rồi , họ trở ra đường.

    “Làm thế nào mà cậu nghe thấy?”

    “Ồ, người ta phải luôn luôn thận trọng. Giống như những con bướm đêm.”

    “Những con bướm đêm? Ý cậu là gì?”

    “Những con bướm đêm rất hay. Chúng, nói chung, cảm nhận được sóng siêu âm. Chúng có ra đa phát hiện các vật. Khi một con dơi phóng ra một chùm âm thanh để tìm kiếm chúng, những con bướm đêm liền gấp cánh lại và thả mình rơi xuống đất, ẩn trốn. Cả từ trường và điện trường nữa – côn trùng cũng cảm nhận được. Nói chung, những thứ mà chúng ta thậm chí không ý thức được. Cô biết là người ta có thể dụ một số loài côn trùng bằng sóng radio chứ? Hoặc đuổi chúng đi, tuỳ thuộc vào tần số.” Garrett chợt im lặng, đầu quay sang hướng khác, bất động. Rồi gã lại nhìn Sachs. Gã nói: “Người ta phải luôn luôn lắng nghe. Nếu không có thể bị kẻ khác thộp cổ lúc nào chả biết”.

    “Kẻ nào?”, Sachs ngập ngừng hỏi.

    “Cô biết đấy, tất cả.” Rồi Garrett hất đầu chỉ ngược lên phía trên con đường, về hướng Bến tàu kênh Nước đen và sông Paquenoke. “Mười phút nữa là chúng ta sẽ được an toàn. Họ sẽ không bao giờ tìm thấy chúng ta.”

    Sachs đang băn khoăn tự hỏi thực tế thì điều gì sẽ xảy ra cho Garrett khi họ tìm thấy Mary Beth và quay lại Tanner’s Corner. Gã sẽ vẫn phải nhận một số tội. Nhưng nếu Mary Beth chứng thực câu chuyện về kẻ giết người thực sự - gã đàn ông mặc quần yếm màu nâu vàng - trong trường hợp đó, ủy viên công tố có thể sẽ chấp nhận Garrett đã bắt cóc cô gái vì lợi ích của bản thân cô. Lời biện hộ cho các tội khác sẽ được mọi toà án hình sự chấp nhận. Và gã có thể sẽ trắng án.

    Nhưng ai gã đàn ông mặc quần yếm? Tại sao gã rình mò trong những cánh rừng xung quanh Bến tàu kênh Nước đen? Gã đã gây ra các vụ án mạng trong vòng vài năm qua và đang cố gắng đổ tội cho Garrett chăng? đã dọa dẫm thằng bé Todd Wilkes tới mức nó phải tự tử? Liệu có hay không một đường dây ma tuý mà Billy Stail tham gia vào? Sachs biết vấn đề ma tuý ở các thị trấn nhỏ cũng nghiêm trọng như ở các thành phố lớn vậy.

    Rồi cái ý nghĩ này xuất hiện trong cô: rằng Garrett có thể nhận diện thủ phạm thực sự đã sát hại Billy Stail – gã đàn ông mặc quần yếm, kẻ tới lúc này chắc phải nghe nói về vụ trốn chạy rồi, và đang mò đi tìm kiếm Garrett, tìm kiếm cả cô nữa. Để bịt miệng họ. Có lẽ nên…

    Garrett đột ngột đứng sững lại, khuôn mặt hiện vẻ sợ hãi. Gã xoay người một vòng.

    “Gì thế?”, Sachs thì thào.

    “Ô tô?”, đang phóng nhanh.”

    “Đâu?”

    “Xuỵt.”

    Họ nhìn thấy ánh đèn quét từ phía sau.

    Người ta phải luôn luôn lắng nghe. Nếu không có thể bị kẻ khác thộp cổ lúc nào chả biết.

    “Không!”, Garrett sững sờ kêu lên và đẩy Sachs vào một khóm lách.

    Hai chiếc xe tuần tra của quận Paquenoke lao dọc theo đường Kênh Đào. Cô không trông thấy được ai đang lái chiếc xe thứ nhất, nhưng viên cảnh sát ngồi ở ghế hành khách – viên cảnh sát da đen đã treo tấm bảng viết cho Rhyme – nheo mắt chăm chú quan sát khu rừng. Anh ta cầm khẩu súng săn. Lucy Kerr lái chiếc xe thứ hai. Jesse Corn ngồi bên cạnh cô.

    Garrett và Sachs nằm dán xuống đất, nấp dưới đám cỏ chồi.

    Những con bướm đêm liền gấp cánh lại và thả mình rơi xuống đất…

    Hai chiếc xe lao qua và phanh kít lại nơi đường Kênh Đào gặp đường 112. Chúng đỗ ngang đường, chắn cả hai làn đường, và những người cảnh sát rời khỏi xe, vũ khí sẵn sàng.

    “Chặn đường”, Sachs lẩm bẩm. “Khỉ gió thật.”

    “Không, không, không”, Garrett lẩm bẩm, điếng người. “Họ phải nghĩ là chúng ta đi lối kia chứ - về phía đông. Họ phải nghĩ như thế chứ!”

    Một chiếc xe chở khách chạy qua Sachs và Garrett, giảm tốc độ ở cuối con đường. Lucy vẫy cho chiếc xe dừng lại và tới hỏi han người lái xe. Rồi họ yêu cầu anh ta ra khỏi xe và mở cốp xe, khám xét kỹ lưỡng.

    Garrett nằm thu lu trong đám cỏ. “Làm thế quái nào mà họ xác định được chúng ta sẽ đi lối này nhỉ?”, gã thì thầm. “Làm thế quái nào chứ?”

    Vì họ có Lincoln Rhyme, Sachs thầm trả lời.





    “Họ không trông thấy gì hết, Lincoln”, Jim Bell bảo anh.

    “Amelia và Garrett sẽ chẳng đời nào lại đi ra chính giữa đường Kênh Đào đâu”, Rhyme bực bội nói. “Hai người sẽ lợi dụng các bụi rậm. Tránh bị phát hiện.”

    Jim Bell nói: “Đã bố trí rào chắn và họ đang khám xét tất cả các xe. Ngay cả khi họ biết người lái xe”.

    “Lối duy nhất để từ khu tạm giam vượt qua các đầm lầy là đường Kênh Đào rồi tới đường 112”. Nhưng giọng Bell nghe nghi ngại. “Tuy nhiên, tôi phải nói rằng đây là cú liều lĩnh lớn – điều tất cả mọi người đến Bến tàu kênh Nước đen. Nếu bọn họ đã thực sự đang đi về phía đông ra khu Bờ Ngoài thì bây giờ bọn họ đã thoát khỏi tay chúng tôi và chúng tôi sẽ không đời nào tìm thấy bọn họ được nữa. Đây là ý tưởng của anh, chà, nó có vẻ không được hiện thực cho lắm.”

    Nhưng Rhyme tin tưởng rằng mình đúng. Hai mươi phút trước, trong lúc đăm đăm nhìn tấm bản đồ, lần theo tuyến đường gã trai đã đưa Lydia đi – tuyến đường dẫn đến đầm lầy Sầu Thảm và hầu như không dẫn đến đâu khác – anh bắt đầu băn khoăn tự hỏi về vụ bắt cóc Lydia. Anh nhớ lời Sachs nói với anh sáng hôm nay khi họ đang truy đuổi Garrett.

    Lucy bảo hắn không có lẽ lại đi đường này.

    Và chi tiết ấy khiến anh đặt ra câu hỏi mà chưa ai trả lời được thỏa đáng. Chính xác tại sao Garrett lại bắt cóc Lydia Johansson? Câu trả lời của Tiến sĩ Penny là để giết chết cô ta như một nạn nhân thay thế. Nhưng, hoá ra, gã đã không giết cô ta tuy gã có thừa thời gian hành động. Cũng không cưỡng hiếp cô ta. Không còn động cơ gì khác để bắt cóc cô ta. Họ là những người xa lạ, cô ta chưa bao giờ chửi bới gã, gã xem chừng không có nỗi ám ảnh gì về cô ta, cô ta chẳng phải nhân chứng trong vụ sát hại Billy. Vậy mục đích của gã có thể là gì?

    Rồi Rhyme nhớ lại việc Garrett đã sẵn lòng cho Lydia biết Mary Beth đang bị giữ ở khu Bờ Ngoài – và cô gái vui vẻ như thế nào, không cần đến sự giải cứu ra sao. Lý do gì mà gã tự nguyện cung cấp những thông tin ấy? Và các chứng cứ ở chỗ cối xay – cát bãi biển, tấm bản đồ khu Bờ Ngoài… Theo Sachs thì Lucy đã dễ dàng tìm thấy. Quá dễ dàng. Anh đi đến kết luận rằng hiện trường đã được dàn dựng, như giới khoa học khám nghiệm vốn vẫn gọi các chứng cứ được bố trí để đánh lạc hướng điều tra.

    Lúc đó, Rhyme kêu lên một cách cay đắng: “Chúng ta đã bị qua mặt!”.

    “Ý ông là gì, Lincoln?, Ben hỏi.

    “Hắn đã đánh lừa chúng ta”, nhà hình sự học nói. Một gã trai mười sáu tuổi đãnh đánh lừa được tất cả họ. Ngay từ đầu, Rhyme giải thích rằng Garrett đã cố ý làm tuột một chiếc giày tại hiện trường bắt cóc Lydia. Gã đã cho bụi đá vôi vào đấy, nó sẽ khiến bất cứ ai hiểu biết về vùng này – như Davett chẳng hạn – nghĩ tới cái mỏ đá, nơi gã đã bố trí các chứng cứ khác, chiếc túi bám muội than và ngô – đến lượt các chứng cứ đó dẫn người ta tới chỗ cối xay.

    Đội tìm kiếm phải tìm thấy Lydia, cùng với các chứng còn lại – để họ tin rằng Mary Beth bị giữ ở một ngôi nhà khu Bờ Ngoài.

    Kế hoạch của Garrett thật xuất sắc, tuy nhiên gã đã mắc một sai lầm – cho rằng đội tìm kiếm phải mất vài ngày mới tìm thấy Lydia (đây là lý do tại sao gã định để lại tất cả số thức ăn kia cho cô gái). Tới lúc đó thì gã đã có mặt bên cạnh Mary Beth tại nơi ẩn trốn thực sự, còn đội tìm kiếm cứ việc lục soát khu Bờ Ngoài.

    Bởi vậy mà Rhyme đã hỏi Bell xem tuyến ngắn nhất để đi từ Tanner’s Corner về phía tây là tuyến nào. “Bến tàu kênh Nước đen”, viên cảnh sát trưởng trả lời. “Đường 112.” Và Rhyme đã yêu cầu Lucy cùng các đồng sự của cô tới đó càng nhanh càng tốt.

    Cũng có khả năng Garrett và Sachs đã vượt qua ngã ba mất rồi và đang đi về phía tây. Nhưng Rhyme tính toán khoảng cách và không nghĩ là họ có thể đi bộ - lại trong điều kiện phải trốn tránh - được xa như vậy với thời gian ít ỏi đó.

    Lúc này, Lucy gọi điện về từ chỗ rào chắn. Thom bật loa ngoài. Nữ cảnh sát, rõ ràng vẫn không biết Rhyme thực sự ở phe nào, hoài nghi nói: “Xung quanh đây, tôi chẳng trông thấy bóng dáng bọn họ đâu cả và chúng tôi đã kiểm tra hết mọi xe đi qua. Anh chắc chắn vào việc đấy chứ?”.

    Và dù Lucy lựa chọn suy nghĩ như thế nào về lời đáp ngạo mạn này, cô cũng chỉ nói: “Hãy hy vọng là anh đúng. Ở đây thì có khả năng là sẽ thực sự phải thất vọng.” Cô cúp máy.

    Một lát sau, điện thoại của Bell đổ chuông. Anh ta nghe, rồi ngẩng nhìn Rhyme. “Ba cảnh sát nữa vừa tới đường Kênh Đào, cách đường 112 chừng một dặm về phía nam. Họ đang đi bộ rà soát ngược lên phía bắc, tiến đến chỗ nhóm Lucy, kẹp Garrett cùng với Sachs vào giữa.” Anh ta nghe một lúc lâu hơn, liếc nhìn Rhyme, rồi lảng ánh mắt sang chỗ khác, tiếp tục nói vào điện thoại: “Vâng, cô ta có vũ khí… Và, vâng, tôi thấy bảo cô ta là tay súng cừ”.





    Sachs và Garrett khom mình nấp trong bụi, quan sát các xe chờ đợi để đi qua rào chắn.

    Rồi, ở phía sau họ, một âm thanh khác mà thậm chí không có thính giác nhạy bén của loài bướm đêm Sachs cũng phát hiện ra được: những tiếng còi hụ. Họ trông thấy loạt đèn pha thứ hai - tiến đến đầu đằng kia – đầu phía nam - đường Kênh Đào. Một chiếc xe tuần tra nữa đỗ lại và thêm ba cảnh sát bước ra, cũng được trang bị súng săn. Họ bắt đầu đi từ từ qua các bụi rậm, di chuyển về phía Garrett và Sachs. Sau mười phút là họ sẽ đi qua đúng đám lách đang che giấu hai kẻ chạy trốn.

    Garrett nhìn cô vẻ chờ đợi.

    “Gì thế?”, Sachs hỏi.

    Garrett liếc nhìn khẩu súng của cô.

    “Cô sẽ sử dụng nó chứ?”

    Sachs sững sờ chằm chằm chiếu ánh mắt vào gã. “Không. Tất nhiên là không.”

    Garrett hất đầu chỉ về phía rào chắn. “Họ thì có.”

    “Sẽ không ai bắn gì cả!”, Sachs gay gắt thì thào, khiếp sợ thấy Garrett thậm chí tính toán đến khả năng ấy. Cô ngoảnh nhìn cánh rừng đằng sau. Nó lầy lội và không thể đi qua mà không bị nhìn thấy hoặc nghe thấy. Phía trước họ là hàng rào thép mắt cáo vây xung quanh Công ty Davett. Qua các mắt lưới, cô nhìn thấy có xe trong bãi đỗ.

    Amelia Sachs từng làm về tội phạm đường phố một năm. Kinh nghiệm đó, cộng với những hiểu biết của cô về xe hơi, có nghĩa cô có thể mất chưa đầy ba mươi giây để đột nhập vào và đấu dây lửa khởi động một chiếc xe.

    Nhưng thậm chí nếu cô đánh cắp được xe rồi, bằng cách nào họ ra khỏi khu vực nhà máy? Có một cửa vận chuyển và giao hàng vào nhà máy, tuy nhiên nó cũng nằm trên đường Kênh Đào. Họ sẽ vẫn phải chạy qua rào chắn. Liệu họ có thể đánh cắp một chiếc SUV hoặc một chiếc xe tải loại nhỏ và lao qua hàng rào ở chỗ không ai trông thấy được, rồi xuyên rừng đến đường 112? Khắp xung quanh Bến tàu kênh Nước đen là những quả đồi dốc đứng cùng những chỗ thụt sâu xuống đầm lầy, liệu họ có thể thoát mà không để lăn xe và tự sát?

    Tốp cảnh sát đang đi bộ rà soát bây giờ chỉ còn cách gần hai trăm thước.

    Bất kể họ sẽ làm gì, đây cũng là lúc hành động. Sachs quyết định rằng họ không có sự lựa chọn. “Nào, Garrett. Chúng ta phải trèo qua hàng rào kia.”

    Họ lom khom di chuyển về phía bãi đỗ xe.

    “Cô đang nghĩ tới một chiếc xe à?”, Garrett hỏi, nhận ra nơi họ hướng đến.

    Sachs liếc nhìn lại sau lưng. Tốp cảnh sát còn cách gần một trăm thước.

    Garrett tiếp tục nói: “Tôi không thích ô tô. Chúng làm tôi sợ”.

    Nhưng Sachs chẳng chú ý nữa. Cô nghe thấy lời Garrett nói lúc trước, nó vẫn loanh quanh luẩn quẩn trong đầu óc cô.

    Những con bướm đêm liền gấp cánh lại và thả mình rơi xuống đất!





    * * *





    “Bây giờ họ đang ở vị trí nào?” Rhyme yêu cầu thông tin. “Tốp cảnh sát làm nhiệm vụ rà soát ấy?”

    Bell nhắc lại câu hỏi vào điện thoại của mình, lắng nghe rồi đặt tay vào một điểm trên tấm bản đồ, quãng nửa ô G-10. “Họ gần đến chỗ này. Đất là lối vào công ty Davett. Cách chừng một trăm thước về phía bắc.”

    “Liệu Amelia và Garrett có thể đi vòng qua nhà máy về phía đông được không?”

    “Không, xung quanh khu vực của Davett là hàng rào. Vượt sang bên kia đầm lầy nhão nhoét. Nếu bọn họ đi về phía tây bọn họ sẽ phải bơi theo kênh đào và có thể sẽ không leo lên bờ được. Dù sao thì chỗ đó cũng không có gì che chắn. Lucy và Trey chắc chắn sẽ trông thấy bọn họ.”

    Chờ đợi thật vô cùng khó khăn, Rhyme biết Sachs sẽ gãi và chọc vào da thịt mình để làm vơi bớt nỗi băn khoăn lo lắng – hệ quả xấu xuất phát từ những nỗ lực và tài năng của cô. Phải, các thói quen gây tổn hại, nhưng anh mới ghen tỵ với cô làm sao. Trước tai nạn, bản thân Rhyme sẽ làm vơi bớt nỗi căng thẳng bằng cách đi đi lại lại. Bây giờ thì anh chẳng làm gì được ngoài việc nhìn chằm chằm tấm bản đồ và bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng cô đang chịu biết bao nguy hiểm.

    Một cô thư ký thò đầu qua cửa.

    “Cảnh sát trưởng Bell, cảnh sát bang đang ở đường dây số hai.”

    Jim Bell bước vào văn phòng ở phía bên kia dãy hành lang nhận điện thoại. Anh ta nói chuyện vài phút rồi lại bước vào la-bô. Anh ta phấn chấn thông báo: “Chúng tôi tóm được bọn họ rồi! Người ta định vị được tín hiệu máy di động của cô ta. Cô ta đang di chuyển về phía tây trên đường 112. Bọn họ vượt qua được rào chắn”.

    Rhyme hỏi: “Bằng cách nào?”.

    “Có vẻ như bọn họ đã lẻn vào bãi đỗ xe của Davett và đánh cắp một chiếc xe tải loại nhỏ hoặc một chiếc SUV, xuyên rừng một đoạn rồi trở ra quốc lộ. Trời đất, như thế tay lái phải rất cứng.”

    Đó là Amelia của tôi, Rhyme tự nhủ. Cô gái ấy có thể lái xe leo tường…

    Bell tiếp tục: “Cô ta sẽ vứt chiếc xe đó và sử dụng một chiếc khác”.

    “Làm sao các anh biết được?”

    “Cô ta gọi tới một công ty cho thuê xe ở Hobeth Falls. Lucy và các cảnh sát khác đang âm thầm bám theo cô ta. Chúng tôi đang trao đổi với nhân viên của Davett xem ai bị mất xe để ở bãi đỗ. Nhưng chúng tôi không cần đến việc mô tả chiếc xe nếu cô ta cứ giữ máy một chút nữa. Vài phút nữa thôi là nhân viên kỹ thuật sẽ định vị được chính xác.”

    Lincoln Rhyme đăm đăm nhìn tấm bản đồ - tuy cho tới lúc này nó đã in sâu vào đầu óc anh. Lát sau, anh thở dài rồi lẩm bẩm: “Chúc may mắm”.

    Nhưng lời chúc ấy dành cho kẻ săn mồi hay con mồi thì Rhyme hẳn không nói ra.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này