Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI BỐN





    Tấm biển gắn trên một bức tường tòa án giải thích rằng tên tiểu bang bắt nguồn từ từ Carolus trong tiếng Latin, có nghĩa là Charles trong tiếng Anh. Vua Charles I đã ban giấy cấp đất để thiết lập nên thuộc địa này.

    Carolina...

    Amelia Sachs lại cứ tưởng tên tiểu bang được đặt theo tên một nữ hoàng hay một công nương nào đó, Carolina. Sinh ra và lớn lên ở Brooklyn, cô không mấy quan tâm, cũng không mấy hiểu biết, về hoàng tộc.

    Bây giờ thì cô đang ngồi giữa hai người lính gác trên chiếc ghế băng trong tòa án, tay vẫn bị còng. Tòa nhà bằng gạch đỏ lâu đời, sàn lát đá cẩm thạch và gỗ gụ sẫm màu. Những người đàn ông nghiêm khắc mặc com lê đen, những vị thẩm phán hoặc thống đốc, cô đồ là thế, từ những bức tranh sơn dầu nhìn xuống cô, như thể họ biết cô có tội. Không có máy điều hòa nhiệt độ, nhưng nhờ kỹ thuật công trình hiệu quả của thế kỷ XVIII, những làn gió nhẹ và bóng tối khiến chốn này đâm mát mẻ.

    Fred Dallray thong thả đi tới chỗ cô. “Xin chào - cô muốn cà phê hay thứ gì không?”

    Người lính gác bên tay trái vừa bắt đầu “Không nói chuyện với...” thì chiếc thẻ nhân viên Bộ Tư pháp đã cắt đứt lời nhắc nhở.

    “Không, Fred. Lincoln đâu?”

    Đã gần chín rưỡi.

    Không biết. Cô biết cái tay đó mà - đôi khi anh ta cứ bỗng dưng xuất hiện thôi. Đối với một người không đi lại được thì anh ta lại lang thang chỗ nọ chỗ kia nhiều hơn bất cứ ai khác tôi từng biết đấy,”

    Lucy và Garrett cũng chưa thấy tới.

    Sol Geberth, mặc bộ com lê màu xám trông đắt tiền, bước đến chỗ Sachs. Người lính gác bên tay phải nhanh chóng đứng lên nhường cho ông luật sư ngồi xuống. “Xin chào, Fred.” Ông luật sư nói với ông mật vụ.

    Dellray gật đầu đáp lại, nhưng lạnh nhạt, và Sachs suy luận rằng, cũng như với Rhyme, ông luật sư bào chữa này hẳn từng cãi trắng án cho một số đối tượng bị ông mật vụ tóm cổ.

    “Đã thương lượng rồi”, Geberth bảo Sachs. “Công tố viên đồng ý với tội ngộ sát - ngoài ra sẽ không có thêm điểm buộc tội nào. Năm năm. Không có chuyện cam kết để được tha.”

    Năm năm...

    Ông luật sư tiếp tục: “Hôm qua tôi chưa nghĩ tới một khía cạnh của việc này”.

    “Khía cạnh gì vậy?”, Sachs hỏi, cố gắng phán đoán qua vẻ mặt Geberth xem cái vấn đề mới nảy sinh đó phức tạp tới mức nào.

    “Vấn đề là cô là một cảnh sát.”

    “Điều ấy có liên quan gì?”

    Gerberth chưa kịp nói thì Dellray đã nói trước: “Cô là một sĩ quan cảnh sát. Một người vốn thuộc hệ thống này”.

    Khi Sachs vẫn chưa hiểu, người nhân viên mật vụ giải thích: “Thuộc hệ thống nhà tù này. Cô sẽ phải được cách ly. Nếu không cô sẽ không tồn tại nổi lấy một tuần. Hoàn cảnh sẽ khắc nghiệt đấy Amelia. Sẽ hết sức khắc nghiệt đấy.”

    “Nhưng có ai biết tôi là cảnh sát đâu.”

    Dellray cất tiếng cười khẽ. “Cho tới lúc cô được phát bộ đồng phục tù nhân bằng nỉ và lanh thì bọn họ sẽ biết không sót thông tin nào về cô cả.”

    “Tôi chưa từng tóm cổ ai dưới này. Tại sao họ lại bận tâm chuyện tôi là cảnh sát chứ?”

    “Cô từ đâu đến không tạo ra một mảy may khác biệt nào”, Dellray vừa nói vừa nhìn Geberth, ông này gật đầu khẳng định. “Cô tuyệt đối sẽ không được giam chung.”

    “Vậy, về cơ bản, sẽ là năm năm cô độc.”

    “Tôi e là thế, Geberth nói.

    Sachs nhắm mắt lại, cảm thấy cơn buồn nôn lan khắp người,

    Năm năm không xê dịch, năm năm của nỗi hãi sợ trong một không gian đóng kín, năm năm của ác mộng...

    Và, là một kẻ từng bị kết án, làm sao cô có thể nghĩ đến chuyện làm mẹ? Sự tuyệt vọng khiến cô nghẹt thở.

    “Thế nào?”, ông luật sư hỏi. “Sẽ thế nào đây ?”

    Sachs mở mắt ra. “Tôi chấp nhận.”





    Căn phòng đông đúc. Sachs trông thấy Mason Germain và một vài cảnh sát khác. Hai ông bà nét mặt nghiêm trang, mắt đỏ hoe, có lẽ là cha mẹ Jesse Corn, ngồi ở hàng ghế phía trước. Sachs vô cùng muốn nói điều gì đó với họ, nhưng ánh mắt khinh bỉ của họ khiến cô câm lặng. Cô chỉ trông thấy hai gương mặt nhìn cô vẻ tử tế: Mary Beth McConnell và một phụ nữ dáng nặng nề có lẽ là mẹ cô gái. Không thấy Lucy Kerr đâu. Cũng không thấy Rhyme. Cô cho rằng anh không lòng nào chứng kiến cảnh cô bị dẫn ra trong xiềng xích. Ờ, không sao, cô cũng chẳng muốn gặp anh trong hoàn cảnh này.

    Nhân viên chấp hành của tòa án dẫn Sachs đến bàn luật sư bào chữa. Anh ta không tháo còng cho cô. Sol Geberth ngồi bên cạnh cô.

    Họ đứng dậy khi vị thẩm phán bước vào, và người đàn ông dáng khẳng khiu khoác áo choàng màu đen rộng thùng thình an tọa bên chiếc bàn cao. Ông ta dành vài phút xem qua các tài liệu, trao đổi với người thư ký của mình. Cuối cùng, ông ta gật đầu, và người thư ký tuyên bố: “Phiên tòa xử vụ Người Dân bang Bắc Carolina đòi khởi tố Amelia Sachs”.

    Vị thẩm phán gật đầu với công tố viên đến từ Raleigh. Người đàn ông cao, tóc bạc đứng dậy. “Thưa ngài thẩm phán, bị cáo và bang đã đi đến một thỏa thuận điều đình nhận tội, theo đó thì bị cáo đồng ý nhận tội giết người cấp độ hai đối với cái chết của cảnh sát Jesse Randolph Corn. Bang bác bỏ tất cả các tội khác và đề nghị mức án năm năm tù, không có cam kết để được tha hoặc giảm án.”

    “Cô Sachs, cô đã bàn bạc về thỏa thuận này với luật sư của cô chưa?”

    “Đã, thưa ngài thẩm phán.”

    “Và ông ấy đã cho cô biết rằng cô có quyền phản đối nó để được đưa ra xét xử chưa?”

    “Thưa đã.”

    “Và cô hiểu là với việc chấp nhận thỏa thuận nay, cô sẽ phải nhận tội giết người?”

    “Vâng.”

    “Cô tự nguyện đi đến quyết định?”

    Sachs nghĩ tới cha cô, tới Nick. Và tới Lincoln Rhyme. “Vâng.”

    “Rất tốt. Cô có ý kiến như thế nào trước tội giết người cấp độ hai được buộc cho cô?”

    “Tôi nhận tội, thưa ngài thẩm phán.”

    “Theo đề nghị của bang, thỏa thuận điều đình nhận tội được đưa ra xem xét và tôi có mặt tại đây kết án cô...”

    Hai cánh cửa bọc da màu đỏ mở thông ra hành lang bị đẩy mạnh vào bên trong và với tiếng rít chói tai, chiếc xe lăn của Lincoln Rhyme lựa chiều lăn vào. Một nhân viên chấp hành cố gắng mở hai cánh cửa ra cho chiếc Storm Arrow, nhưng Rhyme có vẻ vội vã và cứ thế lao qua. Một bên cánh cửa đập vào tường đánh sầm. Lucy Kerr theo sau anh.

    Vị thẩm phán ngẩng nhìn, sẵn sàng quở trách kẻ xâm phạm. Khi ông ta trông thấy chiếc xe lăn, ông ta - giống như phần lớn những người khác - rút lui vào cái thái độ nhã nhặn khôn khéo mà Rhyme vốn vẫn khinh miệt, không nói gì cả. Ông ta quay lại phía Sachs. “Tôi có mặt tại đây kết án cô năm năm...”

    Rhyme nói: “Hãy tha lỗi cho tôi, ngài thẩm phán. Tôi cần trao đổi với bị cáo và luật sư của cô ấy một phút”.

    “Chà”, viên thẩm phán gầm gừ. “Chúng tôi đang tiến hành công việc. Anh có thể trao đổi với cô ấy sau.”

    “Với tất cả sự trân trọng, thưa ngài thẩm phán”, Rhyme đáp lời. “Tôi cần nói chuyện với cô ấy bây giờ.” Giọng anh cũng gầm gừ, nhưng âm lượng lớn hơn nhiều so với giọng thẩm phán.





    Giống hệt như những ngày tháng cũ, lại ở trong một phòng

    Phần lớn mọi người nghĩ công việc duy nhất mà các nhà hình sự học tiến hành là tìm ra và phân tích chứng cứ. Nhưng khi Lincoln Rhyme còn phụ trách bộ phận khám nghiệm của Sở Cảnh sát New York - bộ phận Điều tra và Nguồn lực - thời gian anh ra làm chứng trước tòa cũng gần bằng thời gian anh ở trong phòng thí nghiệm. Anh từng là một chuyên gia làm chứng. (Blaine, vợ cũ của anh, hay nhận xét rằng anh thích biểu diễn trước mọi người - trong đó có cả cô ta - hơn tương tác với họ.)

    Rhyme thận trọng điều khiển chiếc xe lăn đến sát dãy chấn song ngăn giữa các bàn của luật sư và khu vực dành cho cử tọa trong phòng xử án Tòa án quận Paquenoke. Anh nhìn Amelia Sachs và hình ảnh trước mắt làm tan nát trái tim anh. Sau ba ngày bị giam, cô đã sút cân nhiều, khuôn mặt trở nên vàng vọt. Mái tóc đỏ bẩn thỉu được búi lên - cô hay làm thế khi ở các hiện trường vụ án để tránh cho tóc quệt vào chứng cứ, kiểu tóc này khiến gương mặt bình thường vốn xinh đẹp của cô trông nghiêm nghị và mệt mỏi.

    Geberth bước tới chỗ Rhyme, khom người xuống. Nhà hình sự trao đổi với ông ta mấy phút. Cuối cùng, Geberth gật đầu và đứng thẳng dậy. “Thưa ngài thẩm phán, tôi ý thức đưọc rằng đây là phiên tòa có liên quan đến thỏa thuận điều đình nhận tội. Nhưng tôi xin nêu một đề xuất đặc biệt. Một số bằng chứng mới đã xuất hiện...”

    “Những bằng chứng mà ông có thể đưa ra tại phiên tòa xét xử, nếu thân chủ của ông quyết định khước từ thỏa thuận điều đình nhận tội”, thẩm phán nói gay gắt.

    “Tôi không đề xuất việc đưa ra trước tòa bất cứ bằng chứng nào cả. Tôi chỉ muốn bang nhà biết đến bằng chứng này và thử xem liệu người đồng nghiệp đáng kính của tôi đây có đồng ý cân nhắc tới nó hay không thôi.”

    “Với mục đích gì?”

    “Có thể để thay đổi các tội buộc cho thân chủ tôi.” Geberth nhũn nhặn nói thêm. “Điều có thể khiến danh sách những vụ kiện chờ xét xử của ngài thẩm phán ngắn bớt lại một chút.”

    Thẩm phán đảo mắt, cho thấy giọng điệu khéo léo của dân Yankee cũng có tác dụng. Tuy nhiên, ông ta vẫn liếc nhìn công tố viên và hỏi: “Thế nào?”.

    Công tố viên hỏi Geberth: “Bằng chứng loại gì? Một nhân chứng mới à?”.

    Rhyme không thể tự kiềm chế lâu hơn nữa. “Không”, anh nói. “Vật chứng.”

    “Ông là ông Lincoln Rhyme mà tôi đã nghe nói tới?”, viên thẩm phán hỏi.

    Cứ như thể có đến hai nhà hình sự học què quặt đến tiến hành công việc ở cái bang Bắc Carolina này không bằng.

    “Vâng, là tôi.”

    Công tố viên hỏi: “Bằng chứng đó đâu?”.

    “Đang được bảo quản ở chỗ làm việc của tôi, văn phòng cảnh sát trưởng quận Paquenoke”, Lucy nói.

    Thẩm phán hỏi Rhyme: “Ông sẽ đồng ý cung cấp lời khai, sau khi tuyên thệ trước tòa chứ?”

    “Tất nhiên.”

    “Ông có đồng ý không, luật sư?”, thẩm phán hỏi công tố viên.

    “Tôi đồng ý, thưa ngài thẩm phán, nhưng nếu đây chỉ là chiến thuật hoặc bằng chứng rốt cuộc hóa ra vô nghĩa, tôi sẽ buộc ông Rhyme tội can thiệp vào phiên tòa.”

    Thẩm phán suy nghĩ một lát rồi nói: “Xin lưu ý, đây không thuộc về phần xét xử. Tòa chỉ linh hoạt cho phép các bên được đưa ra lời khai trước khi xét xử. Việc kiểm tra bằng chứng sẽ được tiến hành tuân theo Quy định về Tố tụng Hình sự của bang Bắc Carolina. Hãy tuyên thệ đi”.

    Rhyme đỗ xe lăn trước bàn thẩm phán. Khi viên thư ký cầm cuốn Kinh thánh ngập ngừng tiến đến, Rhyme nói: Không, tôi không nhấc bàn tay phải lên được”. Rồi anh đọc: “Tôi xin long trọng thề rằng lời khai của tôi là đúng sự thực”. Anh cố gắng tìm ánh mắt Sachs, nhưng cô đang đăm đăm nhìn xuống sàn phòng xử án trang trí theo kiểu ghép mảnh đã phai màu.

    Geberth đi ra phía trước phòng xử án. “Ông Rhyme hãy khai họ tên, địa chỉ và nghề nghiệp của ông.”

    “Lincoln Rhyme, ở số 345 đường Tây Công viên Trung Tâm thành phố New York. Tôi là một nhà hình sự học.”

    “Nghĩa là một nhà khoa học khám nghiệm, đúng không?”

    “Phần nào nhiều hơn thế, nhưng khám nghiệm là phần lớn công việc tôi làm.”

    “Và quan hệ của ông đối với bị cáo Amelia Sachs?”

    “Cô ấy là trợ lý và đối tác của tôi trong nhiều cuộc điều tra hình sự.”

    “Và lý do ông đến Tanner’s Corner?”

    “Chúng tôi hỗ trợ Cảnh sát trưởng James Bell và văn phòng cảnh sát trưởng quận Paquenoke. Điều tra vụ sát hại Billy Stail cũng như các vụ bắt cóc Lydia Johansson và Mary Beth McConnell.”

    Geberth hỏi: “Bây giờ, ông Rhyme, ông nói là ông có bằng chứng mới về vụ án này?”.

    “Vâng, tôi có.”

    “Bằng chứng là gì?”

    “Sau khi chúng tôi biết Billy Stail đã đến Bến tàu kênh Nước đen với mục đích giết Mary Beth McConnell, chúng tôi bắt đầu phỏng đoán lý do để hắn làm việc này. Và tôi đi tới kết luận rằng hắn được trả tiền. Hắn...”

    “Tại sao ông nghĩ hắn được trả tiền?”

    “Lý do tại sao quá rõ ràng”, Rhyme làu bàu. Anh vốn hầu như không có chút kiên nhẫn nào đối với những câu hỏi không thích hợp và Gerberth đang đi chệch khỏi kịch bản của anh.

    “Hãy cho chúng tôi cùng biết, nếu có thể.”

    “Billy không có bất cứ kiểu quan hệ lãng mạn nào với Mary Beth. Hắn không tham gia vào vụ sát hại gia đình nhà Garrett Hanlon. Hắn thậm chí không biết cô gái. Bởi vậy hắn không có động cơ nào để giết cô ta trừ động cơ tiền bạc.”

    “Hãy tiếp tục.”

    “Dù là kẻ nào thuê hắn thì kẻ ấy cũng không định trả bằng séc, tất nhiên, mà bằng tiền mặt. Cảnh sát Lucy Kerr đã tới nhà cha mẹ Billy Stail và được phép khám xét phòng hắn. Cô ấy đã phát hiện ra mười nghìn đô la giấu dưới nệm giường.”

    “Chi tiết này có...”

    “Tại sao ông không để tôi trình bày cho hết câu chuyện nhỉ?”, Rhyme hỏi luật sư.

    Thẩm phán nói: “Đúng đấy, ông Rhyme. Tôi nghĩ là luật sư đã thực hiện đủ các bước chuẩn bị cơ bản”.

    “Với sự hỗ trợ của sĩ quan Kerr, tôi tiến hành kiểm tra dấu vân tay ở mặt trên và mặt dưới các xấp tiền. Tôi tìm thấy tổng cộng sáu mươi mốt dấu vân tay dạng ẩn. Ngoài dấu vân tay của Billy, hai trong số các dấu vân tay đó tỏ ra là của một người có liên quan đến vụ án này. Cảnh sát Kerr nhận được thêm một lệnh khám xét nữa đối với nhà đối tượng ấy.”

    “Ông cũng tham gia khám xét chứ?”, viên thẩm phán hỏi.

    Rhyme trả lời với sự kiên nhẫn ép buộc: “Không, tôi không tham gia. Tôi không thể làm được việc ấy. Nhưng tôi chỉ đạo cuộc khám xét, còn người thực hiện là cảnh sát Kerr. Bên trong ngôi nhà, cô ấy tìm thấy hóa đơn mua một chiếc xẻng giống hệt món vũ khí giết người kia, và tám mươi ba nghìn đô la tiền mặt gói bằng thứ giấy giống hệt thứ giấy gói hai xấp tiền ở nhà Billy Stail”.

    Vẫn hay gây ấn tượng mạnh như vậy, Rhyme để dành những gì kịch tính nhất cho tới phút chót. “Cảnh sát Kerr cũng tìm thấy các mảnh xương ở khu vực tổ chức tiệc thịt nướng đằng sau ngôi nhà. Các mảnh xương này phù hợp với xương gia đình nhà Garrett Hanlon.”

    “Đó là nhà ai vậy?”

    “Cảnh sát Jesse Corn.”

    Câu trả lời này làm dậy lên tiếng rì rầm từ các dãy ghế của phòng xử án. Công tố viên vẫn không tỏ ra bối rối nhưng ngồi hơi thẳng lên, đôi giày di qua di lại trên mặt sàn lát đá, thì thầm trao đổi với mấy người đồng nghiệp. Họ cân nhắc những hàm ý của sự tiết lộ này. Dưới khu vực dự khán, cha mẹ Jesse Corn quay sang nhìn nhau, ánh mắt đầy sững sờ. Mẹ anh ta lắc đầu, bật khóc.

    “Chính xác là ông đang đi tới đâu, ông Rhyme?”, viên thẩm phán hỏi.

    Rhyme kiềm chế không nói với thẩm phán rằng cái đích đã quá rõ ràng. Anh trả lời: “Thưa ngài thẩm phán, Jesse Corn là một trong số những kẻ cùng Jim Bell và Steve Farr âm mưu sát hại gia đình nhà Garrett Hallon cách đây năm năm, rồi lại định giết Mary Beth McConnell hôm trước”.

    Ồ, phải, chính trong lòng thị trấn này là mấy cái tổ ong bắp cày.

    Thẩm phán dựa người vào lưng ghế. “Điều này không liên quan gì đến tôi. Hai vị tự giao đấu.” Ông ta hất đầu về phía Geberth, rồi về phía công tố viên. “Hai vị có năm phút, sau đó hoặc là cô ta chấp nhận thỏa thuận điều đình nhận tội hoặc là tôi sẽ cấp giấy tại ngoại hậu cứu và sắp xếp lịch xét xử.”

    Công tố viên nói với Geberth: “Như thế không có nghĩa cô ta không giết chết Jesse. Thậm chí nếu Corn đã là một kẻ đồng mưu thì anh ta vẫn là nạn nhân của việc giết người”.

    Lúc này, cái ông miền Bắc kia bắt buộc phải đảo mắt. “Ồ, thôi nào.” Geberth nói gay gắt, như thể công tố viên là đứa học trò chậm hiểu. “Điều có nghĩa ở đây là Corn đã hành động vượt quá quyền hạn của một nhân viên thực thi pháp luật và khi anh ta tấn công Garrett anh ta trở thành kẻ tội phạm, được trang bị vũ khí, nguy hiểm. Jim Bell đã thừa nhận rằng bọn họ dự định tra tấn thằng bé để moi lấy lời khai về nơi thằng bé đang giữ Mary Beth. Tới khi bọn họ tìm thấy cô gái rồi thì Corn sẽ ở ngay đây phối hợp với Culbeau và mấy gã kia thủ tiêu Lucy Kerr cũng như hai cảnh sát còn lại.”

    Thẩm phán chậm rãi quét ánh mắt từ trái sang phải trong lúc theo dõi trận tennis vô tiền khoáng hậu này.

    Công tố viên nói: “Tôi chỉ có thể tập trung vào tội phạm trong tầm tay. Việc Jesse Corn có ý đồ giết ai hay không không thành vấn đề”.

    Geberth chậm rãi lắc đầu. Ông luật sư bảo thư ký tòa: “Chúng tôi tạm thời dừng cung khai. Điểm này đừng đưa chính thức vào văn bản”. Rồi ông ta bảo công tố viên: “Mục đích của vụ kiện là gì? Khi chính Corn là kẻ sát nhân”.

    Rhyme cũng nói với công tố viên: “Ông đưa việc này ra xét xử và theo ông thì bồi thẩm đoàn sẽ có cảm giác ra sao khi chúng tôi chứng minh rằng nạn nhân là một cảnh sát biến chất đã lập kế hoạch tra tấn một thằng bé vô tội để tìm thấy một cô gái trẻ, rồi thủ tiêu cô?”.

    Geberth tiếp tục: “Ông không muốn danh sách những kẻ bị ông bắt giữ chỉ đến đây thôi chứ? Ông đã có Bell, ông đã có em rể hắn, tay điều tra viên...”.

    Trước khi công tố viên kịp phản đối lần nữa, Rhyme ngẩng nhìn ông ta, nói giọng nhẹ nhàng: “Tôi sẽ giúp đỡ ông”.

    “Cái gì?”, công tố viên hỏi.

    “Ông biết kẻ nào đứng đằng sau toàn bộ câu chuyện này, phải không? Ông biết kẻ nào giết hại nửa số cư dân của Tanner’s Corner chứ?”

    “Henry Davett”, công tố viên đáp. “Tôi đã đọc hồ sơ và các lời khai.”

    Rhyme hỏi: “Và việc khởi tố ông ta thì như thế nào?”.

    “Không dễ dàng. Không có bằng chứng gì. Không có gì để kết nối ông ta với Bell hay với bất cứ ai ở thị trấn. Ông ta sử dụng trung gian và tất cả đều đang gây cản trở hoặc nằm ngoài quyền hạn xét xử của chúng tôi.”

    “Nhưng...”, Rhyme nói, “Ông muốn tóm được ông ta - trước khi có thêm những người chết vì ung thư chứ? Trước khi có thêm những đứa trẻ bị ốm rồi tự tử? Trước khi có thêm những đứa trẻ chào đời mang dị tật bẩm sinh?”.

    “Tất nhiên là tôi muốn.”

    “Thế thì ông cần tôi. Ông sẽ không tìm thấy ở bất cứ đâu trong bang này một nhà hình sự học có thể hạ gục Davett. Tôi có thể.” Rhyme liếc nhìn Sachs. Anh có thể trông thấy những giọt lệ trong mắt cô. Anh biết ý nghĩ duy nhất trong đầu óc cô lúc này là, dù cô có phải ngồi tù hay không, thì cô cũng đã không giết chết một người vô tội.

    Công tố viên thở dài thườn thượt. Rồi ông ta gật đầu. Vội vã, y như thể sợ mình sẽ có thể thay đổi ý kiến, ông ta nói: “Đồng ý thương lượng”. Ông ta nhìn về phía chủ tọa. “Thưa ngài thẩm phán, trong vụ Người Dân bang Bắc Carolina đòi khởi tố Amelia Sachs, bang xin rút tất cả các lời buộc tội.”

    “Tòa chấp thuận”, vị thẩm phán đã ngán ngẩm tuyên bố.

    “Bị cáo được tự do. Vụ tiếp theo.” Ông ta thậm chí chẳng buồn gõ búa.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI LĂM





    “Anh không biết liệu em có đến hay không”, Lincoln Rhyme nói.

    Thực tế là anh ngạc nhiên.

    “Lúc trước em cũng không chắc chắn mình có đến hay không”, Sachs đáp.

    Họ đang ở trong căn phòng bệnh viện của trung tâm y khoa ở Avery.

    Rhyme nói: “Anh vừa quay lại đây sau khi lên thăm Thom trên tầng năm. Việc đó khá kỳ cục - anh lại di chuyển được hơn cậu ấy”.

    “Anh ấy thế nào?”

    “Cậu ấy sẽ khỏe. Một hoặc hai ngày nữa cậu ấy sẽ ra viện. Anh bảo cậu ấy rằng cậu ấy sắp sửa nhìn nhận các phương pháp vật lý trị liệu dưới một góc độ khác. Cậu ấy không hề cười.”

    Người phụ nữ Guatemala dịu dàng - nhân viên điều dưỡng tạm thời cho Rhyme - ngồi trong góc phòng, đan một chiếc khăn choàng màu vàng và đỏ. Chị ta dường như sẽ vượt qua được những cơn tức tối của Rhyme, tuyanh đinh ninh đó là vì chị ta không thông thạo tiếng Anh đủ để hiểu hết những lúc bị anh mỉa mai và xúc phạm.

    “Em biết đấy, Sachs”, Rhyme nói. “Khi anh biết tin em cướp Garrett ra khỏi khu tạm giam, anh đã phân vân rằng em làm vậy cốt để anh có cơ hội suy nghĩ lại về việc phẫu thuật.”

    Đôi môi đẹp như của Julia Roberts nở một nụ cười. “Có thể là có phần nào như thế.”

    “Vậy bây giờ em đến đây để thuyết phục anh hoãn phẫu thuật?”

    Sachs đứng dậy khỏi chiếc ghế dựa và bước tới chỗ cửa sổ. “Khung cảnh đẹp thật.”

    “Thanh bình, phải không? Vòi phun nước và khu vườn. Cây cối. Anh không biết là loài nào với loài nào.”

    “Lucy có thể nói cho anh nghe. Cô ấy am hiểu về cây cối cũng giống như Garrett am hiểu về lũ bọ. Xin lỗi, côn trùng. Bọ chỉ là một loại côn trùng... Không, Rhyme, em đến đây không phải để thuyết phục anh hoãn phẫu thuật. Em đến đây để ở bên cạnh anh, để có mặt trong phòng hồi sức khi anh tỉnh dậy.”

    “Con tim thay đổi à?”

    Sachs quay sang Rhyme. “Khi Garrett và em đang bỏ chạy, cậu ta đã nói với em về một điều cậu ta đọc được từ cuốn sách đó. Cuốn Thế giới thu nhỏ.”

    “Anh có sự tôn trọng mới mẻ đối với lũ bọ hung sau khi đọc cuốn sách đó.”

    “Cậu ta đã chỉ cho em xem một đoạn. Đó là đoạn liệt kê các đặc điểm của sinh vật. Một trong số các đặc điểm ấy là những sinh vật lành mạnh luôn luôn nỗ lực để phát triển và thích nghi với môi trường xung quanh. Em nhận ra đó là việc anh phải làm, Rhyme - tiến hành cuộc phẫu thuật này. Em không thể can thiệp.”

    Lát sau, anh nói: “Anh biết nó sẽ không giết chết anh đâu, Sachs ạ. Nhưng bản chất công việc chúng ta làm là gì? Đó là những chiến thắng bé nhỏ. Chúng ta tìm thấy một cái sợi ở chỗ này, một phần của dấu vân tay dạng ẩnở chỗ kia, vài hạt cát có thể dẫn đến nhà một tên sát nhân. Đó là tất cả những gì anh theo đuổi ở đây - một sự cải thiện bé nhỏ. Anh sẽ không trèo ra khỏi chiếc xe lăn này được, anh biết điều ấy. Nhưng anh cần một chiến thắng bé nhỏ”.

    Có thể là cơ hội được thực sự nắm bàn tay em.

    Sachs cúi xuống, hôn Rhyme nồng nhiệt rồi cô ngồi lên giường.

    “Vẻ mặt ấy là thế nào, Sachs? Em trông hơi bẽn lẽn.

    “Về cái đoạn trong cuốn sách của Garrett à?”

    “Phải.

    “Có một đặc điểm nữa của sinh vật mà em đã muốn nhắc tới.”

    “Đặc điểm gì?”, Rhyme hỏi.

    “Tất cả các loài sinh vật đều nỗ lực để duy trì nòi giống.”

    Rhyme làu bàu: “Phải chăng anh cảm nhận được một thỏa thuận điều đình ở đây? Một kiểu thương lượng?”.

    Sachs trả lời: “Có thể chúng ta sẽ có một số chuyện để nói khi chúng ta quay lại New York”.

    Một y tá xuất hiện trên ngưỡng cửa. “Tôi phải đưa ông sang phòng tiền phẫu, ông Rhyme. Ông đã sẵn sàng lên xe chưa?”

    “Ồ, chắc chắn là tôi đã sẵn sàng...” Rhyme quay lại với Sachs. “Tất nhiên, chúng ta sẽ nói chuyện.”

    Cô hôn anh lần nữa và siết chặt bàn tay trái của anh, nơi anh có thể, dù chỉ mơ hồ, cảm thấy được áp lực ở ngón đeo nhẫn.





    Hai người phụ nữ ngồi sát bên cạnh nhau trong luồng ánh nắng đặc quánh.

    Hai cái cốc giấy đựng thứ cà phê chả ra gì do máy bán hàng tự động pha đặt trước mặt họ, trên chiếc bàn màu da cam đầy các vết cháy màu nâu có từ thuở người ta còn được phép hút thuốc trong bệnh viện.

    Amelia Sachs liếc nhìn Lucy Kerr đang ngồi vươn người về phía trước, hai bàn tay chắp lại với nhau, vẻ ơ thờ.

    “Có chuyện gì thế?”, Sachs hỏi Lucy. “Chị không sao chứ?”

    Người nữ cảnh sát lưỡng lự, rồi rốt cuộc nói: “Khoa ung bướu ở chái nhà tiếp theo đằng kia. Tôi đã điều trị hàng tháng trời tại đó. Trước và sau khi phẫu thuật”. Lucy lắc đầu. “Tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe chuyện này, nhưng vào ngày lễ Tạ ơn sau khi Buddy rời bỏ tôi, tôi đã đến đây. Đến thăm thôi. Uống cà phê và ăn bánhsandwich nhân cá ngừ với các y tá. Như thế có kỳ cục không? Tôi có thể đến thăm cha mẹ và đám anh chị em họ ở Raleigh, ăn gà tây và thịt nhồi. Hoặc đến thăm vợ chồng chị gái tôi ở Martinsville - cha mẹ của Ben ấy. Nhưng tôi lại muốn đến đây, nơi tôi cảm thấy như nhà mình. Điều mà tôi chắc chắn không cảm thấy khi ở trong chính ngôi nhà của tôi.”

    Sachs nói: “Thời gian cha tôi sắp sửa qua đời, mẹ tôi và tôi trải qua ba kỳ lễ trong bệnh viện. Lễ Tạ ơn, lễ Giáng sinh và lễ mừng Năm mới. Cha tôi đã nói đùa. Ông nói chúng tôi phải đặt chỗ sớm cho lễ Phục sinh. Tuy nhiên, ông đã không sống được đến lúc ấy”.

    “Mẹ cô vẫn còn chứ?”

    “Ồ, vâng. Bà đi lại dễ dàng hơn tôi. Tôi thừa hưởng từ cha tôi chứng viêm khớp. Chắc chắn là thế.” Sachs suýt nói đùa rằng đó là lý do tại sao cô bắn súng cừ như vậy - để cô khỏi phải chạy đuổi theo các đối tượng. Nhưng rồi cô nghĩ tới Jesse Corn, thoáng hiện lại cái chấm tròn do viên đạn xuyên trên trán anh ta, và cô im lặng.

    Lucy bảo: “Cô biết là anh ấy sẽ không sao đâu. Lincoln ấy mà”.

    “Không, tôi không biết”, Sachs đáp.

    “Tôi có linh cảm. Khi cô đã trải nghiệm nhiều như tôi - ý tôi là sự trải nghiệm trong bệnh viện - cô sẽ có linh cảm.”

    “Tôi hiểu”, Sachs nói.

    “Cô nghĩ sẽ mất bao lâu?”, Lucy hỏi.

    Mãi mãi...

    “Bốn tiếng đồng hồ, Tiến sĩ Weaver bảo vậy.”

    Họ có thể nghe thấy từ đằng xa đoạn đối thoại xủng xoảng, gượng ép trong một bộ phim truyền hình. Văng vẳng có tiếng loa gọi một bác sĩ. Có tiếng chuông chùm. Tiếng cười.

    Ai đó vội vã bước tới, rồi dừng lại.

    “Chào hai chị.”

    “Lydia”, Lucy mỉm cười nói. “Cô thế nào?”

    Lydia Johansson. Sachs không nhận ra cô ta ngay vì cô ta mặc áo choàng và đội mũ trùm mầu xanh lá cây. Cô nhớ ra cô gái là y tá ở đây.

    “Cô nghe nói chưa?”, Lucy hỏi. “Về việc Jim và Steve bị bắt ấy? Ai mà ngờ được?”

    “Cả triệu năm cũng không ngờ được”, Lydia đáp. “Người ta đang bàn tán khắp thị trấn.” Rồi cô y tá hỏi Lucy: “Chị có hẹn kiểm tra lại à?”.

    “Không. Hôm nay Rhyme sẽ lên bàn mổ. Xương sống. Chúng tôi là hai đội trưởng hoạt náo viên của ông ấy.”

    “Chà, tôi chúc ông ấy mọi sự tốt lành”, Lydia bảo Sachs. “‘Cảm ơn cô.”

    Cô gái to béo tiếp tục đi xuôi theo hành lang, vẫy tay chào rồi đẩy một cánh cửa.

    “Một cô gái thật dịu dàng”, Sachs nói.

    “Cô tưởng tượng được công việc đó không, làm y tá ở khoa ung bướu ấy? Khi tôi tiến hành phẫu thuật ngày nào cô gái cũng trực tại phòng bệnh. Vui vẻ hết mức có thể. Dũng cảm hơn cả tôi.”

    Nhưng Lydia khác xa với suy nghĩ của Sachs. Cô ta nhìn đồng hồ treo tường. Mười một giờ sáng. Cuộc phẫu thuật sẽ được tiến hành bất cứ lúc nào kể từ lúc này.





    Anh cố gắng cư xử tốt.

    Y tá phòng tiền phẫu đang giải thích các thứ cho anh và Lincoln Rhyme gật đầu, nhưng họ đã tiêm vào người anh một mũi valium và anh chẳng còn tập trung chú ý nữa.

    Anh muốn bảo người phụ nữ hãy yên lặng và cứ tiến hành công việc đi, nhưng anh nghĩ người ta nên cực kỳ giữ lễ độ đối với những người sắp sửa mổ banh cổ mình.

    “Thế ư?”, Rhyme nói khi cô ta dừng lại. “Thú vị nhỉ.” Tuy nhiên, anh không hề xác định được cô ta vừa bảo anh điều gì.

    Rồi một hộ lý tới và đẩy xe đưa Rhyme từ phòng tiền phẫu sang chính phòng mổ.

    Hai y tá chuyển anh từ xe đẩy sang bàn mổ. Một người đi về phía đầu đằng kia căn phòng và bắt đầu lấy các dụng cụ ra khỏi nồi hấp tiệt trùng.

    Phòng mổ trông bình thường hơn Rhyme tưởng. Gạch ốp màu xanh lá cây quá quen thuộc, các thiết bị bằngthép không gỉ, các dụng cụ, ống nghiệm. Nhưng cũng có rất nhiều hộp bìa các tông. Và một cái đài. Anh định hỏi họ sẽ mở loại nhạc gì, tuy nhiên anh nhớ ra rằng anh sẽ được gây mê và không quan tâm đến chuyện nhạc nhẽo nữa.

    “Khá là buồn cười”, Rhyme lơ mơ lẩm bẩm với một y tá đang đứng bên cạnh anh. Cô ta quay lại. Anh chỉ có thể trông thấy được đôi mắt cô ta phía bên trên khẩu trang.

    “Gì cơ?”, cô ta hỏi.

    “Họ sẽ mổ ở cái chỗ tôi cần được gây mê. Nếu tôi phải mổ ruột thừa thì họ có thể mổ mà không cần gây tê gì cả.”

    “Điều đó khá là buồn cười, ông Rhyme.”

    Anh bật tiếng cười ngắn ngủi, nghĩ: Như thế có nghĩa cô ta biết mình.

    Rhyme đăm đăm nhìn lên trần nhà trong tâm trạng suy tư, mơ hồ. Lincoln Rhyme vốn vẫn chia người ta ra thành hai loại: loại đến và loại đi. Có những người thích thú chuyến đi hơn là khi đã đến đích. Anh, về bản chất, thuộc loại người đến - tìm thấy câu trả lời cho các câu hỏi khám nghiệm là mục tiêu của anh và anh thích thú việc đạt tới giải pháp hơn là quá trình tìm kiếm nó. Tuy nhiên, bây giờ, nằm ngửa đăm đăm nhìn lên chùm đèn mổ mạ crôm sáng loáng, anh cảm thấy hoàn toàn ngược lại. Anh thích được tồn tại trong cái trạng thái hy vọng này hơn - tận hưởng cảm giác chờ đợi đầy hồi hộp.

    Người bác sĩ gây mê, một phụ nữ Ấn Độ, đi vào và chọc kim tiêm vào cánh tay Rhyme, chuẩn bị thuốc, đổ nó vào cái ống nối với kim tiêm. Chị ta có đôi bàn tay rất khéo léo.

    “Ông sẵn sàng ngủ một giấc chưa?”, chị ta hỏi với giọng nhẹ nhàng, trầm bổng.

    Sẵn sàng lắm rồi”, Rhyme lẩm bẩm.

    “Khi tôi tiêm mũi thuốc này tôi sẽ yêu cầu ông đếm ngược lại từ một trăm. Ông sẽ thiếp đi lúc nào không biết.”

    “Kỷ lục là bao nhiêu?”, Rhyme hỏi đùa.

    “Việc đếm ngược ấy à? Có một ông, to béo hơn ông nhiều, đếm được tới bảy mươi chín.”

    “Tôi sẽ cố gắng đếm tới bảy mươi chín.”

    “Nếu ông làm được điều đó phòng mổ này sẽ mang tên ông”, chị ta tỉnh bơ đáp.

    Rhyme quan sát chị ta bơm một ống truyền chất lỏng trong suốt. Chị ta quay đi nhìn màn hình kiểm tra.Rhyme bắt đầu đếm: “Một trăm, chín mươi chín, chín mươi tám, chín mươi bảy...”.

    y tá kia, cái cô đã gọi anh bằng tên, khom người xuống. Cô ta nói thấp giọng: “Xin chào”.

    Giọng điệu nghe khác thường.

    Rhyme liếc nhìn cô ta.

    Cô ta tiếp tục: “Tôi là Lydia Johansson. Nhớ tôi chứ?”. Trước khi Rhyme kịp nói rằng tất nhiên anh nhớ, cô ta đã nói thêm bằng giọng thì thào đầy đen tối: “Jim Bell nhờ tôi chuyển lời vĩnh biệt ông”.

    “Không!”, Rhyme lẩm bẩm.

    Người bác sĩ gây mê, vừa nhìn màn hình kiểm tra vừa nói: “Được rồi. Cứ thư giãn nhé. Mọi chuyện sẽ tốt đẹp”.

    Ghé sát miệng vào tai Rhyme, Lydia thì thầm: “Ông không thắc mắc tại sao Jim Steve Farr lại biết được những người nào đã mắc chứng ung thư à?”.

    “Không! Dừng lại!”

    “Tôi cung cấp cho Jim tên của họ, để Culbeau có thể đảm bảo rằng họ sẽ gặp tai nạn này khác. Jim Bell là bạn trai của tôi. Chúng tôi quan hệ với nhau nhiều năm nay rồi. Anh ấy là người sai tôi tới Bến tàu kênh Nước đen sau khi Mary Beth bị bắt cóc. Buổi sáng hôm đó tôi tới đặt hoa và loanh quanh canh chừng xem liệu Garrett có ló mặt không. Tôi sẽ nói chuyện với hắn để Jesse Ed Schaeffer có cơ hội tóm hắn - Ed cũng trong hội chúng tôi. Rồi họ sẽ ép hắn khai nơi Mary Beth đang ở. Nhưng chẳng ai ngờ hắn lại bắt cóc tôi.”

    Ồ, phải, chính trong lòng thị trấn này là mấy cái tổ ong bắp cày.

    “Dừng lại!”, Rhyme kêu lên. Nhưng giọng anh chỉ còn là lẩm bẩm.

    Người bác sĩ gây mê nói: “Đã được mười lăm giây. Có thể rốt cuộc ông sẽ phá vỡ kỷ lục. Ông đang đếm đấy chứ? Tôi không nghe thấy tiếng ông đếm”.

    “Tôi sẽ ở ngay đây”, Lydia vuốt ve trán Rhyme, bảo. “Ông biết đấy, rất nhiều thứ có thể trục trặc trong lúc tiến hành phẫu thuật. Ống truyền oxy bị xoắn, thuốc bị nhầm liều. Ai mà biết được? Chúng có thể giết chết ông, có thể đẩy ông rơi vào hôn mê. Nhưng chắc chắn ông sẽ không thể ra cung cấp lời chứng được.”

    “Khoan”, Rhyme hổn hển. “Khoan!”

    “Ha.” Bác sĩ gây mê vừa nói vừa cười to, ánh mắt vẫn chăm chú vào màn hình kiểm tra. “Hai mươi giây. Tôi cho rằng ông sẽ thắng cuộc đấy, ông Rhyme.”

    “Không, tôi không cho rằng ông sẽ thắng cuộc đâu.” Lydia thì thào và từ từ đứng dậy trong lúc Rhyme trông thấy căn phòng chỉ còn là một màu xám, rồi chỉ còn là một màu đen ngòm.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI SÁU





    Đây thực sự là một trong những chốn đẹp nhất trên thế giới này, Amelia Sachs tự nhủ.

    Một trong những chốn đẹp nhất để làm nghĩa trang.

    Công viên Tưởng niệm Tanner’s Corner, nằm trên đỉnh những quả đồi nhấp nhô, nhìn xuống sông Paquenoke cách mấy dặm ở phía dưới. Thậm chí vào hẳn bên trong còn thấy nó đẹp hơn là nhìn từ ngoài đường, như lần đầu tiên Sachs nhìn khi ngồi trên xe từ Avery tới.

    Nheo mắt vì nắng, cô nhận ra cái dải nước lấp lánh của con kênh đào Nước đen nhập vào dòng sông. Nhìn từ đây, thậm chí dải nước đen thẫm, ô nhiễm, từng mang biết bao đau khổ đến cho biết bao nhiêu người, trông cũng hiền lành, duyên dáng.

    Sachs đứng cùng một nhóm nhỏ bên trên một miệng huyệt. Bình tro đang được một nhân viên nhà xác hạ xuống. Amelia Sachs đứng cạnh Lucy Kerr. Garrett Hanlon đứng gần họ. Phía bên kia miệng huyệt là Mason Germain đứng cùng anh chàng Thom chống gậy, mặc sơ mi và chiếc quần miễn chê. Anh chàng đeo nơ bướm đỏ rực rỡ, nhìn có vẻ phù hợp mặc dù là trong cái thời điểm nghiêm trang này.

    Fred Dellray diện bộ com lê đen cũng có mặt, đứng tách ra một mình, trầm tư - như thể đang nhớ lại một đoạn từ một trong những cuốn sách triết học anh ta vốn vẫn ưa đọc. Trông anh ta sẽ giống một đức cha của tổ chức Dân tộc Hồi giáo nếu anh ta mặc sơ mi trắng thay cho sơ mi màu vỏ chanh với các chấm tròn to tướng màu vàng.

    Không có mục sư làm lễ, tuy đây là vùng quê mộ đạo và nếu định gọi mục sư đến phục vụ đám tang thì gọi được cả tá. Ông giám đốc nhà xác lúc này liếc nhìn nhóm người đang tập trung tại đây, hỏi xem có ai muốn phát biểu điều gì không. Và khi tất cả đều đưa mắt sang xung quanh tìm kiếm kẻ tình nguyện thì Garrett thọc tay vào túi chiếc quần rộng thùng thình lôi ra cuốn sách đã nhàu nát, cuốn Thế giới thu nhỏ.

    Bằng giọng ngập ngừng, cậu thiếu niên đọc: “Có những người cho rằng không tồn tại một sức mạnh siêu phàm, nhưng nỗi hoài nghi của người ta thực sự bị thử thách khi người ta nhìn vào thế giới côn trùng, cái thế giới được vinh dự vì sở hữu biết bao nhiêu đặc điểm đáng kinh ngạc: những đôi cánh mỏng tới mức dường như khó có thể được hình thành từ bất cứ vật liệu sống nào, những cơ thể không có lấy một miligam trọng lượng thừa, những bộ dò tốc độ gió chính xác đến từng dặm một giờ, dáng đi hiệu quả tới mức các kỹ sư cơ khí đã bắt chước để chế tạo rô bốt và quan trọng hơn hết, là khả năng tồn tại đáng kinh ngạc của côn trùng trước sự chống lại ghê gớm của loài người, các loài săn mồi và điều kiện thời tiết. Trong những khoảnh khắc tuyệt vọng, chúng ta có thể trông đợi vào sự thông minh và tính kiên trì của những sinh vật kỳ diệu này, tìm thấy nguồn an ủi và khôiphục lại niềm tin bị đánh mất”.

    Garrett ngẩng lên, gập cuốn sách lại, bối rối búng móng tay. Cậu ta nhìn Sachs và hỏi: “Cô, nói chung, muốn nói điều gì không ạ?”.

    Nhưng cô chỉ lắc đầu.

    Không ai khác phát biểu và vài phút sau mọi người rời khỏi ngôi mộ, tha thẩn đi ngược lên quả đồi theo một lối mòn quanh co. Trước khi họ leo lên được đến đỉnh đồi có con đường dẫn tới khu vực picnic nhỏ, đội công nhân nghĩa trang đã bắt đầu dùng máy xúc lấp ngôi mộ. Sachs thở nặng nhọc trong lúc họ leo lên đỉnh đồi rợp bóng cây gần bãi đỗ xe.

    Cô nhớ lại câu nói của Lincoln Rhyme:

    Đâu phải một nghĩa trang xấu xí. Mình không ngại nếu được chôn cất tại một nơi như thế này.
    Sachs dừng bước lau mồ hôi chảy trên mặt và lấy lại hơi thở. Cái nóng của Bắc Carolina sẽ vẫn tiếp tục gay gắt. Tuy nhiên, Garrett xem chừng không để ý gì đến nhiệt độ. Cậu ta chạy vượt qua cô và bắt đầu lôi các túi thực phẩm từ đằng sau chiếc Bronco của Lucy ra.

    Đây không hẳn là thời gian hay địa điểm cho một cuộc picnic nhưng, Sachs nghĩ, để tưởng nhớ những người đã khuất, theo một cách nào đó, thì món gà trộn và dưa hấu cũng tốt y như bất cứ cái gì khác.

    Cả rượu Scotch nữa, tất nhiên. Sachs thọc tay vào mấy chiếc túi mua hàng và rốt cuộc tìm thấy chai Macallanmười tám năm. Cô rút cái nút li-e ra với một tiếng bốp khe khẽ.

    A, âm thanh yêu thích của tôi, Lincoln Rhyme nói.

    Anh đang đến bên cạnh Sachs, cẩn thận lái chiếc xe lăn trên nền cỏ không bằng phẳng. Sườn đồi dẫn xuống chỗ ngôi mộ kia quá dốc đối với chiếc Storm Arrow, nên anh phải đợi tại bãi đỗ xe trên này. Từ đỉnh đồi, anh đã quan sát mọi người chôn cất bình tro hỏa táng chỗ xương Mary Beth phát hiện được ở Bến tàu kênh Nước đen - hài cốt của gia đình nhà Garrett.

    Sachs rót rượu Scotch vào cốc Rhyme, cắm cho anh một ống hút dài. Cô cũng rót cho mình một ít rượu.Những người khác đều uống bia.

    Rhyme nói: “Món trăng sáng thật chẳng ra thể thống gì cả, Sachs ạ. Bằng mọi giá hãy tránh xa nó. Thứ nàyngon hơn nhiều.

    Sachs nhìn xung quanh: “Cái chị người của bệnh viện đâu nhỉ? Chị nhân viên điều dưỡng ấy?”.

    “Chị Ruiz ấy à?”, Rhyme lẩm bẩm, “Vô vọng rồi. Chị ta bỏ việc rồi. Để lại anh bơ vơ.”

    “Bỏ việc ấy à?”, Thom nói. “Có mà anh khiến chị ta phát điên. Chị ta hẳn đã bị anh sa thải.”

    “Tôi từng là một ông thánh đấy”, nhà hình sự học quát.

    “Nhiệt độ của anh thế nào?”. Thom hỏi.

    “Tốt”, Rhyme làu bàu. “Của cậu thì sao?”

    “Có lẽ hơi cao một chút nhưng tôi không có vấn đề về huyết áp.”

    “Không có, nhưng cậu có một cái lỗ đạn trong người.

    Anh chàng phụ tá khăng khăng: “Anh nên…”

    “Tôi đã bảo tôi ổn.”

    “... lui vào bóng râm hơn một chút.

    Rhyme càu nhàu phàn nàn chuyện mặt đất không bằng phẳng nhưng anh cuối cùng cũng điều khiển cho xelui vào bóng râm hơn.

    Garrett cẩn thận bày đồ ăn, đồ uống và khăn giấy lên chiếc bàn dài dưới gốc cây.

    “Anh thế nào?, Sachs thì thào hỏi Rhyme, “Và trước khi anh lại làu bàu với cả em nữa, em sẽ không nói chuyện nóng nực gì đâu.”

    Anh nhún vai - cử chỉ này, một lời làu bàu câm lặng, ý muốn nói: tôi ổn.

    Nhưng thực tế thì anh không ổn. Một thiết bị kích thích dây thần kinh hoành bằng dòng điện giúp phổi anh hoạt động. Anh ghét cái thiết bị này - anh đã dần dần thôi phải phụ thuộc vào nó từ vài năm trước - nhưng bây giờ rõ ràng là anh cần đến nó. Cách đây hai ngày, trên bàn mổ, Lydia Johansson suýt khiến anh ngừng thở vĩnh viễn.

    Trong phòng chờ của bệnh viện, sau khi Lydia chào tạm biệt Sachs và Lucy, Sachs để ý thấy cô y tá biến mất qua ô cửa có biển đề KHOA GIẢI PHẪU THẦN KINH. Sachs đã hỏi: “Chị bảo cô ấy làm việc tại khoa ung bướu, đúng không nhỉ?”.

    “Đúng.”

    “Thế thì cô ấy đang làm gì đằng kia?”

    “Có thể là ghé qua chào Lincoln”, Lucy phỏng đoán.

    Nhưng Sachs không cho rằng y tá lại đến thăm xã giao bệnh nhân chuẩn bị được phẫu thuật.

    Rồi cô nghĩ: Lydia vốn vẫn có cơ hội biết về các chẩn đoán ung thư đối với những người từ Tanner’s Cornerđến khám bệnh. Tiếp theo, cô lại nhớ ra là một kẻ nào đó đã cung cấp thông tin về các bệnh nhân ung thư cho Bell - ba người ở Bến tàu kênh Nước đen bị Culbeau và đồng bọn giết chết. Còn ai hữu ích hơn một y tá làm việc tại khoa ung bướu chứ? Điều này khó có thể tin nổi, nhưng Sachs vẫn nói với Lucy và người nữ cảnh sát rút điện thoại di động ra thực hiện cuộc gọi khẩn cấp tới hãng điện thoại. Bộ phận an ninh của họ đã khôi phục lại tỉ mỉ các cuộc gọi của Jim Bell. Có hàng trăm cuộc gọi tới máy Lydia và từ máy cô ta tới.

    “Cô ta định giết chết anh ấy!”, Sachs kêu lên. Và hai người phụ nữ, một đã rút súng ra, chạy ào vào phòng mổ - chẳng khác nào một cảnh trong bộ phim truyền hình đầy kịch tính ER[41] - đúng lúc Tiến sĩ Weaver chuẩn bị đưa dao rạch.

    Lydia hốt hoảng và, trong lúc cố gắng chạy trốn, hoặc cố gắng thực hiện việc Bell yêu cầu, đã giật ống dẫn oxy ra khỏi cổ họng Rhyme trước khi hai người phụ nữ kịp khuất phục được cô ta. Vì chấn động này và vì ảnh hưởng của quá trình gây mê, Rhyme ngừng thở. Nhờ Tiến sĩ Weaver, anh tỉnh lại nhưng, sau đó, anh thở kém hơn bình thường nên phải quay lại với thiết bị xung điện.

    Thế đã đủ tồi tệ. Tuy nhiên, điều tồi tệ hơn là, trước sự giận dữ và ghê tởm của Rhyme, Tiến sĩ Weaver từ chối tiến hành phẫu thuật cho anh trong vòng ít nhất sáu tháng nữa - chừng nào mà chức năng thở của anh chưa hoàn toàn bình thường. Anh cố gắng năn nỉ, nhưng người bác sĩ phẫu thuật tỏ ra bướng bỉnh chẳng kém gì anh.

    Sachs nhấp thêm một ngụm rượu Scotch.

    “Em nói với Roland Bell chuyện ông em họ anh ấy rồi à?”. Rhyme hỏi.

    Sachs gật đầu. “Anh ấy nhận tin tức này một cách khó khăn. Anh ấy bảo Jim vốn vẫn là con chiên ghẻ, nhưng anh ấy chưa bao giờ nghĩ hắn lại làm những việc như thế. Anh ấy khá choáng váng.” Cô nhìn về phía đông bắc. “Nhìn kìa”, cô nói. “Đằng kia kìa. Anh biết cái gì không?”

    Cố gắng nhìn theo ánh mắt Sachs, Rhyme hỏi: “Em đang nhìn cái gì? Đường chân trời à? Hay một đám mây? Hay một chiếc máy bay? Khai sáng cho anh đi, Sachs”.

    “Đầm lầy Sầu Thảm. Hồ Drummond ở đó.”

    “Hấp dẫn nhỉ”, Rhyme mỉa mai.

    “Cái hồ đầy ma”, Sachs nói thêm, giống một hướng dẫn viên du lịch.

    Lucy bước tới, rót một ít rượu Scotch vào cốc giấy. Cô nhấm nháp, rồi nhăn mặt. “Kinh khủng. Y như vị xà phòng.” Cô mở chai Heineken.

    Rhyme nói: “Mỗi chai giá tám mươi đô la đấy”.

    “Thế thì đắt hơn xà phòng.”

    Sachs quan sát Garrett lùa một vốc ngô chiên vào mồm rồi chạy ra bãi cỏ. Cô hỏi Lucy: “Quận có ý kiến gì chưa?”.

    “Về việc làm mẹ nuôi thằng bé ấy à?”, Lucy hỏi. Rồi cô lắc đầu. “Không được chấp thuận. Chuyện sống đơn thân chẳng thành vấn đề. Vấn đề là nghề nghiệp của tôi. Cảnh sát. Ít thời gian ở nhà.”

    “Họ thì biết cái gì?”, Rhyme cau có.

    “Họ biết cái gì không quan trọng”, Lucy nói. “Quan trọng là họ làm gì. Garrett sẽ được ở với một gia đình trên Hobeth. Những con người tốt bụng. Tôi đã kiểm tra khá cẩn thận rồi.”

    Việc đó thì Sachs chẳng nghi ngờ gì.

    “Nhưng cuối tuần tới chúng tôi sẽ đi bộ việt dã.”

    Gần đó, Garrett đang khe khẽ rẽ cỏ, rón rén đến gần một mẫu vật.

    Khi Sachs quay lại, cô nhận ra Rhyme đã quan sát cách cô đăm đăm nhìn thằng bé.

    “Gì thế?”, cô hỏi, chau mày trước vẻ ngại ngần của anh.

    “Nếu có thể nói điều gì đó với một chiếc ghế trống, em sẽ nói điều gì, Sachs?”

    Cô lưỡng lự giây lát. “Em nghĩ hiện tại thì em sẽ giữ điều đó cho riêng mình, Rhyme.”

    Bỗng nhiên, Garrett cười to và bắt đầu rẽ cỏ chạy. Cậu ta đuổi theo một con côn trùng, mà cậu ta trông thấyrất rõ, qua khoảng không bụi mù mịt. Cậu thiếu niên đuổi kịp, vươn tay tóm lấy con mồi, rồi lăn sõng soài ra đất. Lát sau, cậu ta đứng dậy, vừa chăm chú nhìn vào hai lòng bàn tay khum khum vừa chậm rãi bước trở về chỗ bànpicnic.

    “Đố biết cháu tìm thấy con gì này”, Garrett hét toáng.

    “Đến cho bọn cô xem thử nào”, Amelia Sachs nói. “Cô muốn xem.”

    **THE END**
    -------------------------------------------------------

    [1] Food Lion: Một công ty Mỹ chuyên mở các chuỗi cửa hiệu, siêu thị (Các chú thích là của người dịch).
    [2] Nguyên văn là “Great Dismal Swamp”: Khu vực đầm lầy phía đông nam Virgina và đông bắc Bắc Carolina, một khu bảo tồn sinh thái ở Mỹ
    [3] Một loại cây bụi chứa nhựa độc, thường hình dáng lá giống như lá sồi.
    [4] Mũi tên bão táp
    [5] Muzak Holdings: một công ty chuyên cung cấp nhạc cho các công ty, các cửa hiệu bán lẻ
    [6] 70oF: gần 21oC
    [7] Bronx: một trong năm khu vực hành chính của thành phố New York
    [8] Một nhãn hiệu mũ do công ty John B.Stetson, Mỹ, sản xuất, đôi khi được sử dụng như một danh từ chung chỉ mũ của dân chăn bò (Cao bồi).
    [9] ATF (viết tắt của Bureau of Alcohol, Tobacco, Firearms and Explosives): Vụ Thuốc lá, Rượu, Vũ khí và Chất nổ (thuộc Bộ Tư pháp, Mỹ).
    [10] Nhà bệnh lý học, công khai ủng hộ quyền được chết của một người mắc bệnh nan y thông qua việc tự tử có bác sĩ trợ giúp
    [11] Nguyên văn là “lab”: phòng thí nghiệm
    [12] Câu thành ngữ đó là: “Have a bear by the tail” (Nắm đuôi con gấu), ý nói ở vào hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm.
    [13] Ocean Spray: một tổ chức doanh nghiệp của những người trồng việt quất và bưởi có trụ sở ở bang Massachusetts.
    [14] Hiệp hội Chuyên nghiệp Quốc gia về Nghệ thuật Sáng tạo và Trình diễn của Mỹ.
    [15] Nguyên văn là Alien.
    [16] Nguyên văn là Starship Troopers.

    [17] Nguyên văn là Deliverance.
    [18] Hansel và Gretel: hai nhân vật trong truyện cổ Grimm, là hai anh em con một người tiều phu nghèo bị mẹ kế đuổi vào rừng. Hai anh em đã rải những mẩu vụn bánh mì trên đường đi để đánh dấu đường về.
    [19] Một loại gỗ nhẹ dùng làm hình mẫu, bè…
    [20] Restriction Fragment Length Polymorphism: kỹ thuật đa hình chiều dài đoạn cắt giới hạn
    [21] Nguyên văn là “bluegill”.
    [22] Có nghĩa là: Chúa sẽ làm gì?
    [23] Nhãn hiệu một loại ngô chiên do công ty Frito-Lay, Mỹ, sản xuất
    [24] Một phân hiệu của Đại học Tổng hợp Bắc Carolina, đặt tại thị trấn Chapel Hill.
    [25] Nguyên văn là “Touched by an angle”.
    [26] UPC (viết tắt của Usagc Parameter Control): Điều khiển Thông số Sử dụng (thẻ ATM).
    [27] “Corn” có nghĩa là “ngô”.

    [28] Cây bu-lô: một loài cây phương bắc, thân nhẵn màu trắng.
    [29] PCP (viết tắt của phenylcyclohexylpiperidine): tên một loại ma túy.
    [30] “Olive và I love”, có nghĩa là ô liu” và “tôi yêu”, khi phát âm nghe gần giống nhau

    [31] Gạch vuông, mỗi cạnh hai mươi lăm centimét.
    [32] Luật này được gọi bằng tiếng Anh là “open-container law”: luật (về) chai/lon... đã mở/khui. Thực chất đây là luật cấm chế biến và/hoặc uống bia rượu từ chai/lon... đã mở/khui ở một số nơi công cộng, ví dụ như phố xá.

    [33] Biểu tượng cho biên giới văn hóa giữa các bang miền Bắc và miền Nam nước Mỹ.

    [34] Nguyên văn là “Once more into the breach, dear friends...”: Rhyme đọc một câu trong vở kịch Henry V của Shakespeare.

    [35] Nhân vật chính trong tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn của Mark Twain.


    [36] Một mẫu Anh bằng gần 4047m2
    [37] Nguyên văn là Wheel of fortune.”
    [38] Mason ám chỉ một người da đen. Trên thực tế, Malcom X (1925 - 1965) là người Mỹ gốc Phi theo đạo Hồi, nhà hoạt động nhân quyền ủng hộ chủ nghĩa ly khai và các quyền của người da đen, bị ám sát tại khu Harlem, thành phố New York.

    [39] Chó bull: giống chó đầu to, cổ ngắn, mập, khỏe, can đảm.

    [40] 7-Eleven có nghĩa là 7-Mười một - một hệ thống cửa hiệu đa quốc gia, ban đầu mở cửa từ bảy giờ sáng đến mười một giờ đêm.

    [41] ER (viết tắt của Emergency Room): Phòng cấp cứu, tên một bộ phim truyền hình chiếu trên kênh NBC từ 1994 - 2009.
  4. thanthuoaif New Member

    Làm thành viên từ:
    1 Tháng mười một 2013
    Số bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    chúc bạn buôn may bán đắt nhé !!!
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này