Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BA MƯƠI CHÍN





    Thom sẽ sống.

    Bác sĩ Phòng Cấp cứu của Trung tâm Y khoa Đại học Tổng hợp Bắc Carolina ở Avery đã nói vắn tắt: “Viên đạn ấy à? Nó vào rồi lại đi ra. Không chạm đến các bộ phận quan trọng. Tuy nhiên anh ta sẽ phải nghỉ làm một hoặc hai tháng.”

    Ben Kerr đã tình nguyện nghỉ học và lưu lại Tanner’s Corner vài ngày để hỗ trợ Rhyme. Anh chàng to béo cáu kỉnh: “Ông đâu thực sự xứng đáng được tôi giúp đỡ, Lincoln. Ý tôi là, khỉ gió thật, ông thậm chí chẳng buồn tự mình đứng lên bao giờ”.

    Vẫn chưa hoàn toàn thoải mái khi đùa cợt một người què quặt, Ben liếc nhanh sang Rhyme xem liệu kiểu trêu chọc này có quá trớn không. Chính vẻ nhăn nhó khó chịu của nhà hình sự học khẳng định rằng nó vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Nhưng Rhyme cũng nói thêm là, tuy anh đánh giá cao lời đề nghị giúp đỡ đó. Săn sóc và cho một người liệt tứ chi ăn là công việc làm cả ngày, đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế. Lại hầu như không được cảm ơn - nếu bệnh nhân là Lincoln Rhyme. Và vì thế mà Tiến sĩ Cheryl Weaver đang thu xếp để một điều dưỡng viên chuyên nghiệp ở trung tâm y khoa đến giúp đỡ Rhyme.

    “Nhưng cứ ở loanh quanh đây Ben”, anh nói. “Tôi vẫn có thể cần cậu. Hầu hết các phụ tá không ai làm được quá vài ngày.”

    Vụ việc rất bất lợi đối với Amelia Sachs. Các bước điều tra đã chứng tỏ rằng viên đạn giết chết Jesse Corn được bắn ra từ súng của cô và tuy Ned Spoto chết rồi. Lucy Kerr đã có lời khai trình bày lại những gì Ned nói với cô về sự kiện ấy. McGuire đã tuyên bố là ông ta sẽ đòi kết tội tử hình” Cả thị trấn từng yêu mến anh chàng Jesse Corn tốt bụng và anh đã thiệt mạng trong lúc cố gắng bắt giữ Thằng Bọ, dấy lên dư luận mạnh mẽ đòi hỏi án tử hình.

    Jim Bell phối hợp với cảnh sát bang đã xem xét nguyên nhân tại sao Culbeau cùng đồng bọn lại tấn công Rhyme và các cảnh sát. Một điều tra viên từ Raleigh tìm thấy hàng chục ngàn đô la tiền mặt giấu tại nhà chúng. “Rượu lậu thì không thể nào mang lại nhiều tiền như vậy được”, viên thám tử này nói. Rồi người ta nhớ tới ý kiến của Mary Beth: “Ngôi nhà gỗ hẳn ở gần một khu vực trồng cần sa - ba gã kia có lẽ đang câu kết với hai gã đã tấn công Mary Beth. Garrett hẳn đã tình cờ phát hiện ra hoạt động của chúng.”

    Bây giờ, ngày hôm sau cái ngày xảy ra những sự kiện kinh khủng ở ngôi nhà gỗ vốn là xưởng chưng cất rượu lậu, Rhyme ngồi trên chiếc Storm Arrow - động cơ vẫn chạy được mặc dù bị đạn xuyên thủng một lỗ - trong la-bô tạm thời, đợi người phụ tá mới. Anh đang rầu rĩ nghĩ về số phận của Sachs thì một bóng người xuất hiện ở ngưỡng cửa.

    Anh ngẩng nhìn và trông thấy Mary Beth McConnell. Cô bước vào phòng. “Ông Rhyme.”

    Anh để ý thấy Mary Beth mới xinh đẹp làm sao, ánh mắt mới tự tin làm sao, và nụ cười chỉ chực nở. Anh hiểu Garrett Hanlon đã bị cô cuốn hút biết bao. “Đầu cô thế nào rồi? Anh hất đầu chỉ chỗ thái dương cô bị băng bó.

    “Tôi sẽ có một vết sẹo khá ấn tượng đấy. Tôi nghĩ là tôi sẽ không xước hẳn tóc ra đằng sau nữa. Nhưng không có tổn thương gì nghiêm trọng.”

    Giống như tất cả những người khác, Rhyme cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng thực tế Mary Beth chưa bị Garrett cưỡng hiếp. Gã đã nói đúng sự thật về tờ khăn giấy thấm máu: Lúc ở dưới tầng hầm của ngôi nhà gỗ, Garrett khiến cô giật mình và vội vã đứng lên, đập đầu vào một cái xà thấp. Gã hiển nhiên là bị kích thích, quả có vậy, nhưng đây chỉ vì các hoóc môn của tuổi mười sáu, và Garrett chưa hề động chạm đến cô ngoài việc thận trọng bế cô lên gác, lau vết thương và băng bó lại. Gã hết lời xin lỗi vì cô bị đau.

    Cô gái lúc này bảo Rhyme: “Tôi chỉ muốn cảm ơn ông. Tôi không biết tôi sẽ làm gì nếu không có ông. Tôi xin lỗi về chuyện bạn ông, cô cảnh sát ấy. Nếu không nhờ cô ây thì bây giờ tôi chết rồi, tôi chắc chắn như thế. Hai gã đàn ông đó đang định... chà, ông có thể hình dung ra. Hãy cảm ơn cô ấy hộ tôi”.

    “Tôi sẽ nói.” Rồi Rhyme hỏi: “Cô làm ơn trả lời một chuyện được không?”.

    “Chuyện gì?”

    “Tôi biết cô đã cung cấp lời khai làm chứng với Jim Bell, nhưng tôi chỉ biết về những gì xảy ra tại Bến tàu kênh Nước đen thông qua các chứng cứ. Và một số chứng cứ không được rõ ràng. Liệu cô có thể kể lại cho tôi nghe?”

    “Tất nhiên... Tôi đang ở dưới bờ sông, phủi đất cát khỏi những di vật tôi phát hiện được. Tôi ngẩng nhìn và trông thấy Garrett. Tôi rất bực bội. Tôi chẳng muốn bị quấy rầy. Bất cứ khi nào trông thấy tôi hắn cũng xán ngay lại và bắt đầu trò chuyện y như chúng tôi là bạn thân không bằng.

    Buổi sáng hôm ấy hắn ở trong tâm trạng kích động. Hắn nói những câu đại loại như: “Chị đáng lẽ không nên đến đây một mình, nguy hiểm lắm, nhiều người đã chết tại Bến tàu kênh Nước đen.” Những câu đại loại vậy. Hắn khiến tôi nổi khùng. Tôi bảo hắn để tôi yên. Tôi phải làm việc. Hắn tóm tay tôi và cố gắng kéo tôi rời khỏi đấy. Rồi Billy Stail từ rừng đi ra, cậu ta quát: “Đồ con hoang” hay cái gì đó và bắt đầu đánh Garrett bằng xẻng, nhưng gã giật lấy xẻng từ tay Billy, đập chết cậu ta. Sau đó, gã lại tóm tay tôi bắt buộc tôi trèo vào thuyền và đưa tôi tới ngôi nhà gỗ. “

    “Garrett đã rình rập cô bao lâu rồi?”

    Mary Beth cười to. “Rình rập? Không, không, ông đã nói chuyện với mẹ tôi, tôi cuộc là thế. Sáu tháng trước, tôi vào trung tâm thị trấn và trông thấy mấy đứa bạn cùng trường hắn đang xử lý hắn. Tôi đuổi mấy đứa đi. Việc đó khiến tôi trở thành bạn gái hắn, tôi nghĩ thế. Hắn bám theo tôi khắp nơi nhưng tất cả chỉ vậy thôi. Kiểu như ngưỡng mộ tôi từ xa. Tôi từng chắc chắn rằng hắn vô hại.” Nụ cười của cô gái tắt dần. “Cho tới hôm vừa rồi.” Mary Beth liếc nhìn đồng hồ đeo tay. “Tôi phải đi. Nhưng tôi muốn hỏi ông - lý do thứ hai để tôi tới đây - là nếu ông không cần sử dụng làm chứng cứ nữa, liệu tôi có thể lấy chỗ xương còn lại không?”

    Rhyme, ánh mắt lúc bây giờ đang đăm đăm nhìn ra qua cửa sổ khi những ý nghĩ về Amelia Sachs lén lút quay lại đầu óc anh, chậm chạp quay sang Mary Beth.

    “Xương nào?”, anh hỏi.

    “Ở Bến tàu kênh Nước đen ấy? Nơi Garrett bắt cóc tôi ấy?”

    Rhyme lắc đầu. “Cô muốn nói điều gì vậy?”

    Mary Beth nhăn mặt lo lắng. “Chỗ xương - những di vật tôi đã tìm thấy. Tôi đang đào nốt thì Garrett bắt cóc tôi. Chúng rất quan trọng... Ông không có ý bảo là chúng bị thất lạc đấy chứ?”

    “Chẳng ai thu được cái xương nào tại hiện trường vụ án cả”, Rhyme nói. “Báo cáo chứng cứ không hề đề cập tới.”

    Mary Beth lắc đầu. “Không, không... Chúng không thể mất được!”

    “Xương kiểu gì?”

    “Tôi đã tìm thấy một số hài cốt của Những Người Thực Dân Biến Mất ở Roanoke. Từ cuối thế kỷ XVI.”

    Kiến thức lịch sử của Rhyme hầu như chỉ hạn chế ở thành phố New York. “Vấn đề này không quen thuộc lắm đối với tôi.”

    Tuy nhiên, khi Mary Beth trình bày về những người tới định cư trên đảo Roanoke thuở xa xưa và việc họ biến mất, anh gật đầu. “Tôi có nhớ ra gì đó từ hồi học phổ thông. Tại sao cô cho rằng đó là hài cốt của họ?”

    “Những cái xương hết sức lâu đời rồi, đã mục, và chúng không ở trong một khu vực chôn cất của những người Algonquin cũng không ở trong một nghĩa địa của những người thực dân. Chúng chỉ được vùi xuống đất mà không có bất cứ sự đánh dấu nào. Đây là cách đặc trưng các chiến binh hay làm đối với xác kẻ thù. Đây...” Mary Beth mở ba lô. “Tôi đã gói được vài cái trước khi Garrett đưa tôi đi.” Cô nhấc vài cái xương đang gói trong giấy bóng bọc thực phẩm ra, chúng đen sì và mục nát. Rhyme nhận ra một cái xương quay, một mảnh xương bả vai, một đoạn xương đùi và một cái xương chậu.

    “Còn cả chục cái nữa”, Mary Beth nói. “Đây là một trong những phát hiện lớn nhất lịch sử nước Mỹ. Chúng rất có giá trị. Tôi phải tìm lại chúng.”

    Rhyme đăm đăm nhìn cái xương quay - một trong hai xương cẳng tay. Lát sau, anh ngẩng lên.

    “Cô có thể đi ngược dãy hành lang đến văn phòng Cảnh sát trưởng được không? Hỏi Lucy Kerr và bảo cô ấy xuống đây một phút.”

    “Về việc những cái xương à?”, Mary Beth hỏi.

    “Có thể.”





    Đó là câu mà cha Amella Sachs hay nói: “Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta.”

    Câu này có nhiều ý nghĩa. Nhưng trên hết nó là lời khẳng định triết lý chung của hai người, cha và con gái. Cả hai đều hâm mộ những chiếc xe hơi tốc độ cao, đều say mê công việc của cảnh sát đường phố, sợ hãi những không gian khép kín và những cuộc đời chẳng đi tới đâu.

    Nhưng bây giờ thì người ta đã tóm được cô.

    Tóm được vĩnh viễn.

    Và những chiếc xe quý giá của cô, cuộc đời làm cảnh sát quý giá của cô, cuộc đời của cô với Rhyme, tương lai của cô với những đứa trẻ... tất cả đã bị hủy hoại.

    Trong phòng giam, Sachs bị tẩy chay. Những cảnh sát mang thức ăn và cà phê vào cho cô không nói gì với cô cả, chỉ lạnh lùng nhìn cô trừng trừng. Rhyme đang mời một luật sư từ New York bay xuống nhưng, giống như hầu hết các sĩ quan cảnh sát, Sachs cũng thông thạo luật hình sự chẳng kém gì các luật sư. Cô biết rằng, bất kể có thương lượng ra sao giữa một người nhiều kinh nghiệm từ Manhattan đến và ủy viên công tố quận Paquenoke, cuộc đời mà cô từng sống kết thúc rồi. Trái tim cô tê liệt y như cơ thể của Rhyme vậy.

    Trên sàn, một con côn trùng cần mẫn bò từ bức tường này sang bức tường khác. Nhiệm vụ của nó là gì? Ăn, ghép đôi, hay tìm chỗ trú ngụ?

    Nếu ngày mai tất cả mọi người trên trái đất biến mất, thế giới vẫn tiếp tục tồn tại bình thường. Nhưng nếu côn trùng biến mất thì đời sống sẽ kết thúc nhanh chóng - nói chung, trong vòng một thế hệ. Cây cối sẽ chết hết, rồi tới các con vật, và trái đất sẽ một lần nữa biến thành khối đá tảng khổng lồ.

    Cánh cửa dẫn sang văn phòng chính mở toang. Một cảnh sát mà Sachs không nhận ra là ai đứng đó. “Cô có điện thoại.” Anh ta mở cửa phòng giam, còng tay cô và đưa cô tới trước chiếc bàn nhỏ bằng sắt bên trên đặt máy điện thoại. Mẹ cô gọi, cô đồ là thế. Chắc là Rhyme đã gọi cho bà và thông báo với bà tin tức này. Hoặc người bạn thân nhất của cô ở New York, Amy.

    Nhưng khi cô nhấc ống nghe lên, đôi còng dày kêu leng keng, cô nghe thấy giọng Rhyme. “Ở đó thế nào hả Sachs? Có mát mẻ không?”

    “Không sao”, cô lẩm bẩm.

    “Luật sư sẽ tới đây đêm nay. Ông ta giỏi đấy. Ông ta đã làm về luật hình sự hai mươi năm. Ông ta từng cãi trắng án cho một đối tượng vướng vào một vụ đột nhập ăn trộm do anh buộc tội. Em biết là bất cứ ai làm được như thế đều phải giỏi.”

    “Rhyme, thôi nào. Tại sao còn mất công? Em là một người từ nơi khác đến đã cướp một tên sát nhân ra khỏi nhà giam và giết chết một cảnh sát địa phương. Tình huống vô vọng hết mức rồi.”

    “Chúng ta sẽ nói về vụ của em sau. Anh phải hỏi em một việc khác. Em đã ở hai ngày với Garrett. Em và hắn có nói chuyện gì không?”

    “Tất nhiên là có.”

    “Chuyện gì?”

    “Em không biết nữa. Côn trùng. Rừng, đầm lầy.” Tại sao anh lại hỏi cô những điều này? “Em không nhớ.”

    “Anh cần em nhớ ra. Anh cần em kể cho anh nghe tất cả những chuyện hắn đã nói.”

    “Tại sao phải mất công, Rhyme?”, Sachs nhắc lại.

    “Thôi nào, Sachs. Hãy chiều ý một kẻ què quặt già nua, được không?”
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI





    Lincoln Rhyme ngồi một mình trong la-bô tạm thời, đăm đăm nhìn các bảng chứng cứ.





    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG TRỰC TIẾP - BẾN TÀU KÊNH NƯỚC ĐEN


    Khăn giấy Kleenex thấm máu

    Bụi đá vôi

    Nitrate

    Phốt phát

    Ammonia

    Chất tẩy

    Camphone


    ***


    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNC GIÁN TIẾP PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT


    Xạ chồn hôi

    Lá thông bị cắt rời khỏi cành

    Các bức vẽ côn trùng

    Ảnh chụp gia đình

    Ảnh chụp Mary Beth

    Các sách về côn trùng

    Dây câu

    Tiền

    Chìa khóa chưa xác định

    Dầu hỏa

    Ammonia

    Nitrate

    Camphene



    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - MỎ ĐÁ


    Túi vải bao bì cũ - Không đọc được tên in bên trên

    Ngô - Thức ăn chăn nuôi?

    Muội than trên túi

    Nước đóng chai nhãn hiệu Deer Park

    Bích quy phó mát nhãn hiệu Planters



    TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - CỐI XAY


    Sơn nâu dây trên quần

    Cây gọng vó

    Đất sét

    Rêu nước

    Nước trái cây

    Sợi giấy

    Viên chua làm mồi câu

    Đường

    Camphene

    Chất cồn

    Dầu hỏa

    Men nở





    Rồi Rhyme nghiên cứu tấm bản đồ, ánh mắt lần theo dòng chảy của sông Paquenoke kể từ lúc nó khởi nguồn từ đầm lầy Sầu Thảm rồi đi qua Bến tàu kênh Nước đen và uốn khúc về phía tây.

    Có một chỗ gồ lên trên mặt giấy cứng của tấm bản đồ - một nếp gấp khiến người ta cứ muốn vuốt cho nó phẳng.

    Đó là cuộc đời mình trong mấy năm qua, Lincoln Rhyme tự nhủ thầm: những chỗ ngứa không thể gãi được.

    Có thể, mình sẽ sớm làm được việc ấy. Sau khi Tiến sĩ Weaver cắt ra, khâu lại và nhét đầy vào mình các tế bào non trẻ và kỳ diệu của cá mập... Có thể khi đó mình sẽ đưa được bàn tay trên những tấm bản đồ giống như tấm bản đồ này, vuốt phẳng một nếp gấp.

    Một động tác vô ích, không cần thiết, thực sự là vậy. Nhưng là một chiến thắng mới huy hoàng làm sao.

    Có tiếng bước chân. Đi giày cao cổ, Rhyme suy luận qua âm thanh. Với gót da cứng. Khoảng cách giữa các bước chân cho thấy đây phải là một người đàn ông cao lớn. Anh hy vọng đây là Jim Bell và đúng là anh ta thật.

    Thận trọng thổi vào ống điều khiển, Rhyme quay khỏi bức tường.

    “Lincoln”, viên cảnh sát trưởng hỏi. “Có chuyện gì vậy? Nathan báo có chuyện khẩn cấp.”

    “Vào đi. Đóng cánh cửa lại. Nhưng trước hết - có ai ngoài hành lang không?”

    Bell thoáng mỉm cười trước vẻ bí mật này và nhìn ra bên ngoài. “Không có ai.”

    Rhyme tự nhủ rằng nếu là ông anh họ của nhân vật này, Roland, thì anh ta sẽ còn thêm một câu thành ngữ miền Nam nào đấy. “Yên ắng như nhà thờ vào ngày lĩnh lương” là câu anh nghe thấy anh chàng Bell người miền Bắc thi thoảng dùng.

    Viên cành sát trưởng đẩy cho cánh cửa đóng lại rồi bước tới bên bàn, đứng dựa vào đấy, khoanh hai tay. Rhyme hơi quay đi và tiếp tục nghiên cứu tấm bản đồ khu vực. “Tấm bản đồ của chúng ta không kéo dài về phía bắc và phía tây đủ để thể hiện được kênh đào đầm lầy Sầu Thảm, đúng không?”

    “Cái kênh đào đấy ấy à? Không nó không thể hiện.”

    Rhyme hỏi; “Anh biết nhiều về nó chứ?”

    “Không nhiều lắm”, Bell đáp một cách tôn trọng. Anh ta mới biết Rhyme một thời gian ngắn nhưng hẳn đã cảm nhận được khi nào thì phải tỏ ra trung thực.

    Tôi đang làm một nghiên cứu nhỏ”, Rhyme nói, hất đầu chỉ chiếc điện thoại. “Kênh đào đầm lầy Sầu Thảm là một bộ phận của chuyến hàng hải nội địa. Anh biết là anh có thể đi thuyền suốt từ Norfolk, Virginia, xuôi xuống Miami mà chẳng cần ra ngoài biển?”

    “Tất nhiên. Mọi người ở Carolina đều biết tuyến hàng hải nội địa ấy. Tôi chưa bao giờ đi theo tuyến này. Tôi không thích ngồi tàu bè lắm. Xem phim Titanic tôi còn bị say sóng.”

    “Đã mất mười hai năm để tạo nên hệ thống kênh đào này. Nó kéo dài hai mươi hai dặm. Đào hoàn toàn bằng tay. Thật đáng kinh ngạc, anh có nghĩ thế không?... Thư giãn nào, Jim. Chuyện này là có ý của nó. Tôi xin cam đoan với anh. Hãy nhìn cái đường bền trên kia, cái đường giữa Tanner’s Corner và sông Paquenoke. Từ ô G-11 sang ô G-10.”

    “Anh muốn nói con kênh đào của chúng tôi ấy à? Kênh Nước đen ấy à?”

    “Đúng thế. Bây giờ, một chiếc thuyền có thể đi ngược theo đó vào sông Paquo rồi vào đầm lầy Sầu Thảm và…”

    Tiếng bước chân đến gần nghe không rõ ràng bằng nửa tiếng bước chân của Bell lúc trước, vì cánh cửa đang đóng, và có chút cảnh báo trước khi cánh cửa được đẩy ra. Rhyme ngừng nói.

    Mason Germain đứng ở ngưỡng cửa. Anh ta liếc nhìn Rhyme rồi liếc nhìn sếp mình, nói: “Tôi băn khoăn không biết anh đi đâu, Jim. Chúng ta phải gọi điện cho Elizabeth City. Đại úy Dexter có vài câu hỏi về việc xảy ra ở xưởng chưng cất rượu lậu cũ.”

    “Tôi chỉ đang nói chuyện với Rhyme. Chúng tôi đang nói tới...”

    Nhưng Rhyme vội vã ngắt lời Bell: “Này, Mason, tôi tự hỏi liệu anh có thể dành cho chúng tôi ít phút riêng tư ở đây được không?”

    Mason liếc nhìn từ người này sang người kia. Anh ta chậm chạp gật đầu. “Họ đang muốn trao đổi với anh sớm đấy, Jim ạ.” Anh ta đi khỏi trước khi Bell kịp đáp lại gì.

    “Anh ta đi chưa?”, Rhyme hỏi.

    Một lần nữa, Bell liếc nhìn xuôi theo dãy hành lang rồi gật đầu. “Tất cả chuyện này là gì, Lincoln?”

    “Anh có thể kiểm tra cửa sổ được không? Để đảm bảo rằng Mason đã đi khỏi? Ồ, và tôi muốn đóng cánh cửa lại.”

    Bell đóng cánh cửa. Rồi anh ta bước tới chỗ cửa sổ và nhìn ra. “Ờ. Anh ta đã ra phố. Lý do của tất cả chuyện này...?” Anh ta giơ hai bàn tay lên để hoàn tất nốt ý nghĩ.

    “Anh biết về Mason đến mức độ nào?”

    “Cũng như hầu hết các nhân viên của tôi thôi. Vì sao anh lại hỏi câu ấy?”

    “Vì hắn đã sát hại gia đình Garrett Hanlon.”





    “Cái gì?” Bell đã nở nụ cười nhưng nụ cười nhanh chóng biến mất. “Mason ấy à?”

    “Mason”, Rhyme nói.

    “Nhưng tại sao lại có thể thế được?”

    “Vì Henry Davett trả tiền cho hắn.”

    “Hẵng hượm”, Bell nói. “Tôi đang chậm hơn anh mất mấy nhịp.”

    “Tôi chưa thể chứng minh được. Nhưng tôi chắc chắn.”

    “Henry ấy à? Ông ta có dính dáng như thế nào?”

    Rhyme nói: “Tất cả liên quan tới kênh Nước đen.” Anh sa vào cái giọng giảng bài của mình, mắt không rời tấm bản đồ. “Này nhé, mục đích của việc đào các con kênh vào hồi thế kỷ XVIII là để tạo ra các tuyến giao thông đáng tin cậy vì đường bộ xấu quá. Nhưng khi đường bộ và đường sắt tốt lên, những người vận chuyển không sử dụng đường thủy nữa.”

    “Anh tìm thấy tất cả các thông tin này từ đâu vậy?”

    “Hiệp hội Lịch sử ở Raleigh. Tôi đã trò chuyện với một phụ nữ duyên dáng, bà Julie DeVere. Theo bà ấy thì kênh Nước đen đã đóng cửa ngay sau cuộc Nội chiến. Nó đã không được sử dụng trong một trăm ba mươi năm. Cho tới thời gian Henry Davett bắt đầu lại sử dụng nó để chạy xà lan.”

    Bell gật đầu. “Đó là năm năm trước.”

    Rhyme tiếp tục. “Cho tôi hỏi này - anh có bao giờ thắc mắc tại sao Davett lại sử dụng nó?”

    Viên cảnh sát trưởng lắc đầu. “Tôi nhớ là một số người chúng tôi từng hơi lo lắng rằng lũ trẻ sẽ cố gắng bơi ra chỗ xà lan và có thể bị thương hay bị chết đuối, nhưng không đứa nào làm vậy và chúng tôi thôi suy nghĩ về việc này. Tuy nhiên bây giờ anh hỏi thì tôi cũng không biết tại sao ông ta lại sử dụng con kênh. Ông ta vẫn có xe tải đi đi lại lại suốt. Chạy xe tải tới Norfolk thì chẳng thành vấn đề gì.”

    Rhyme hất đầu chỉ bảng chứng cứ. “Câu trả lời ở ngay kia. Cái dấu vết mà tôi chưa tìm thấy nguồn gốc: camphene.”

    “Cái chất để đốt đèn lồng ấy à?”

    Rhyme lắc đầu, nhăn mặt. “Không. Tôi đã mắc sai lầm ở chỗ đó. Đúng, camphene từng được sử dụng để đốt đèn lồng. Nhưng nó cũng còn được sử dụng vào mục đích khác nữa. Nó có thể được sử dụng để điều chế toxaphene.”

    “Là cái gì vậy?”

    “Một trong những loại thuốc trừ sâu nguy hiểm nhất. Nó được sử dụng chủ yếu ở miền Nam - cho tới thập niên tám mươi khi Cơ quan Bảo vệ Môi trường cấm sử dụng nó vào hầu hết các mục đích.” Rhyme tức tối lắc đầu. “Tôi đã cho rằng vì toxaphene đã bị cấm, việc cân nhắc nguồn gốc chất camphene kia theo hướng thuốc trừ sâu là vô ích, và nó chắc chắn phải từ những chiếc đèn lồng cổ. Trừ việc chúng ta chưa hề tìm thấy bất cứ chiếc đèn lồng cổ nào. Đầu óc tôi đã sa vào một lối mòn và chẳng thoát ra được. Không đèn lồng cổ à? Thế thì tôi đáng lẽ đã phải rà theo danh sách và bắt đầu xem xét tới thuốc trừ sâu. Và khi tôi xem xét tới - sáng hôm nay - tôi đã phát hiện được nguồn gốc chất camphene kia.”

    Bell gật đầu, đầy hào hứng. “Là từ đâu?”

    “Khắp mọi nơi”, Rhyme nói. “Tôi đã đề nghị Lucy lấy mẫu đất và nước xung quanh Tanner’s Corner. Toxaphene có ở khắp mọi nơi - trong nước, trong đất. Tôi đáng lẽ nên chú ý tới chi tiết Sachs nói với tôi hôm trước khi cô ấy đang tham gia tìm kiếm Garrett. Cô ấy trông thấy những khu vực cằn cỗi rộng mênh mông. Cô ấy cho là vì mưa acid, nhưng không phải vậy. Đó là vì toxaphene. Nồng độ toxaphene cao nhất có ở vài dặm xung quanh nhà máy cửa Davett - Bến tàu kênh Nước đen và con kênh. Ông ta đã sản xuất nhựa đường và giấy dầu để che giấu việc sản xuất toxaphene.”

    “Nhưng nó bị cấm cơ mà, tôi tưởng anh đã nói như thế.”

    “Tôi đã gọi điện cho một người bạn là nhân viên mật vụ FBI và anh ta đã gọi điện cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường. Nó không bị cấm hoàn toàn - các chủ trang trại có thể sử dụng nó trong trường hợp cấp bách. Nhưng đây đâu phải lý do để Davett sản xuất hàng triệu tấn. Người nhân viên ở Cơ quan Bảo vệ Môi trường giải thích về cái gọi là “vòng quay thuốc độc.”

    “Nghe ghê gớm quá.”

    “Đúng thế. Toxaphene quả có bị cấm nhưng lệnh cấm ở Mỹ chỉ là cấm sử dụng. Nó có thể được sản xuất tại đây rồi bán sang các nước khác.”

    “Và nó có thể được sử dụng ở các nước khác.”

    “Nó được phép sử dụng ở hầu hết các nước Thế giới thứ ba và Mỹ Latin. Cái vòng quay là như thế này: các nước đó phun thuốc trừ sâu lên lương thực thực phẩm và đưa nó trở lại Mỹ. Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Lương thực thực phẩm chỉ thanh tra một tỷ lệ nhỏ rau và trái cây nhập khẩu nên vô khối người ở Mỹ vẫn bị đầu độc, dù toxaphene đã bị cấm.”

    Bell cất tiếng cười hoài nghi: “Và Davett không thể vận chuyên nó theo đường bộ vì sẽ không quận nào hay thị trấn nào cho phép việc vận chuyển toxaphene ngang qua. Và nhật ký hành trình trên các xe tải của ông ta sẽ cung cấp thông tin về loại hàng hóa mà xe chuyên chở. Chưa kể đến vấn đề dư luận nếu người ta biết ông ta đang làm gì.”

    “Chính xác.” Rhyme gật đầu. “Vì thế ông ta mở lại con kênh để vận chuyển toxaphene qua tuyến hàng hải nội địa tới Norfolk, ở đó nó được đưa lên các tàu nước ngoài. Chỉ có điều nảy sinh một vấn đề - khi con kênh đóng cửa hồi thế kỷ VXIII, đất đai xung quanh đây đã được bán cho các cá nhân. Những người có nhà ngay sát kênh có quyền quản lý việc sử dụng kênh.”

    Bell nói: “Thế là Davett đã trả tiền để thuê những đoạn kênh của họ.” Anh ta gật đầu, sực hiểu ra. “Và ông ta hẳn đã trả rất nhiều tiền - hãy xem các ngôi nhà ở Bến tàu kênh Nước đen mới to tát làm sao. Và hãy ngẫm nghĩ về những chiếc xe tải, xe Mercedes, xe Lexus đẹp đẽ mà người ta lái đi xung quanh đây. Nhưng chuyện này thì liên quan gì tới Mason và gia đình Garrett?”

    “Đất đai của cha Garrett ở bên bờ kênh. Tuy nhiên, ông ấy không bán quyền sử dụng. Vì thế Davett hoặc ai đó trong công ty ông ta đã thuê Mason thuyết phục cha Garrett bán và khi ông ấy vẫn không bán, Mason lựa lấy mấy đứa rác rưởi người địa phương giúp đỡ hắn sát hại gia đình đó - Culbeau, Tomel và O’Sarian. Rồi tôi phỏng đoán rằng Davett đã hối lộ để người thi hành di chúc bán mảnh đất cho ông ta.”

    “Nhưng gia đình Garrett chết trong một tai nạn. Một tai nạn ô tô. Chính tôi đã trông thấy bản báo cáo.”

    “Phải chăng Mason là sĩ quan soạn bản báo cáo ấy?”

    “Tôi không nhớ, nhưng có thể thế, Bell thừa nhận. Anh ta nhìn Rhyme với nụ cười ngưỡng mộ. “Làm sao mà anh phát hiện ra được chuyện này?”

    “Ồ, dễ dàng thôi - vì không bao giờ có sương giá vào tháng Bảy cả. Dù sao thì cũng không có ở Bắc Carolina.”

    “Sương giá ấy à?”

    “Tôi đã nói chuyện với Amelia. Garrett kể cho cô ấy nghe là vào buổi tối gia đình hắn thiệt mạng, chiếc ô tô bị bám sương giá, còn cha mẹ và em gái hắn thì run cầm cập. Nhưng vụ tai nạn xảy ra vào tháng Bảy. Tôi nhớ đã trông thấy bài báo trong tập hồ sơ - bức ảnh chụp Garrett và gia đình. Hắn mặc áo phông và bức ảnh chụp họ tại một bữa tiệc kỷ niệm ngày mùng Bốn tháng Bảy. Theo bài báo, bức ảnh được chụp trước khi tai nạn xảy ra một tuần.”

    “Thế thằng nhãi nói tới cái gì? Sương giá, run cầm cập à?”

    “Mason và Culbeau đã sử dụng một ít toxaphene của Davett để sát hại cái gia đình kia. Tôi đã trao đổi với bác sĩ của tôi tại trung tâm y khoa. Chị ấy nói rằng trong những trương hợp bị đầu độc thần kinh cực điểm, hay xuất hiện tình trạng co cơ. Đó là hiện tượng run cầm cập mà Garrett đã trông thấy. Sương giá thì có thể là hơi hoặc cặn hóa chất còn trong xe.”

    “Nếu hắn trông thấy tại sao hắn chẳng kể cho ai nghe?”

    “Tôi mô tả thằng nhãi với bác sĩ. Và chị ấy nói rằng có vẻ như buổi tối hôm đó hắn cũng bị đầu độc. Chỉ đủ khiến hắn rơi vào tình trạng nhạy cảm đa hóa chất. Mất trí nhớ, tổn thương não, phản ứng dữ dội trước các loại hóa chất khác trong không khí, trong nước. Anh nhớ những lằn đỏ trên da hắn chứ?”

    “Tất nhiên.”

    “Garrett nghĩ đó là vì lá sồi độc, nhưng không phải vậy. Bác sĩ bảo tôi rằng da nổi ban là một triệu chứng kinh điển của tình trạng nhạy cảm đa hóa chất. Nó khởi phát khi người ta tiếp xúc với những lượng hết sức nhỏ các hóa chất mà bình thường chẳng gây tác hại gì đến ai. Thậm chí xà phòng hay nước hoa cũng làm da nổi ban.”

    “Nghe hợp lý đấy”, Bell nói. Rồi, chau mày, anh ta nói thêm: “Nhưng nếu anh không có bằng chứng cụ thể thì tất cả những gì chúng ta đang có chỉ là sự phỏng đoán”.

    “Ồ, tôi nên đề cập tới mới phải.” Rhyme chẳng kiềm chế nổi một nụ cười yếu ớt, sự khiêm tốn chưa bao giờ là một phẩm chất mà anh giỏi thể hiện ra bên ngoài. “Tôi có vài bằng chứng cụ thể. Tôi đã phát hiện được xác cha mẹ và em gái Garrett.”
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI MỐT





    Tại khách sạn Albemarle Manor, cách khu tạm giam của quận Paquenoke một khối phố, Mason Germain không chờ đợi thang máy mà leo luôn thang bộ, các bậc thang trải thảm màu nâu vàng xơ xác.

    Anh ta tìm thấy phòng 201 và gõ cửa.

    “Vào đi.” Giọng nói cất lên.

    Mason từ từ đẩy mở cánh cửa, hé lộ một căn phòng quét sơn màu hồng đang tắm trong ánh nắng buổi chiều vàng rực rỡ. Bên trong nóng ngột ngạt. Anh ta không thể tưởng tượng được chủ sở hữu hiện tại của căn phòng lại thích tình trạng như thế này, nên anh ta đồ rằng gã - cái tay đang ngồi bên bàn kia - hoặc là quá lười biếng đến nỗi không buồn bật máy điều hòa nhiệt độ hoặc là quá ngu ngốc đến nỗi không biết bật nó ra sao. Điều ấy khiến Mason càng tăng thêm nỗi ngờ vực.

    Gã đàn ông gốc Phi, thân hình rắn chắc và nước da đặc biệt thẫm màu, mặc một bộ com lê đen nhàu nhĩ. Tại sao gã lại không tự gây sự chú ý chứ. Mason khinh khỉnh nghĩ bụng. Gã Malcom X chết tiệt[38].

    “Anh là Germain?”, gã đàn ông hỏi.

    “Phải rồi.”

    Đôi chân gã đàn ông gác trên chiếc ghế dựa kê trước mật và khi gã rút bàn tay từ dưới tờ nhật báo Người quan sát Charlotte ra, những ngón tay dài của gã đang nắm khẩu súng lục tự động nòng dài.

    “Hành động ấy trả lời một trong số các câu hỏi của tôi”, Mason nói. “Rằng liệu anh có súng không.”

    “Câu hỏi thứ hai là gì?”, gã đàn ông mặc com lê hỏi.

    “Rằng liệu anh có biết sử dụng nó không.”

    Gã đàn ông chẳng nói chẳng rằng, cẩn thận đánh dấu đoạn đề cập tới mình trong một bài báo bằng mẩu bút chì ngắn ngủn. Trông gã y như đứa học trò lớp ba đánh vật với bảng chữ cái.

    Mason lại im lặng quan sát gã đàn ông, rồi cảm thấy dòng mồ hôi đáng ghét chảy dọc xuống mặt. Không buồn xin phép, Mason bước vào buồng tắm, giật lấy chiếc khăn lau mặt, xong vứt nó xuống nền.

    Gã đàn ông cất tiếng cười, cũng đáng ghét y như dòng mồ hôi lúc nãy, và nói: “Tôi đang có ấn tượng rất rõ ràng rằng anh không ưa cái kiểu của tôi lắm”.

    “Đúng, tôi nghĩ là tôi không ưa”, Mason trả lời. “Nhưng nếu anh biết việc anh sẽ làm thì tôi ưa hay không ưa cái gì không quan trọng.”

    “Điều đó hoàn toàn đúng”, gã da đen lạnh nhạt đáp. “Vậy, hãy nói tôi nghe. Tôi không muốn ở đây lâu hơn mức cần thiết.”

    “Cách hành động đây. Ngay bây giờ Rhyme đang nói chuyện với Jim Bell tại trụ sở chính quyền quận. Còn Amelia Sachs, cô ta ở trong khu tạm giam phía trên con phố này.”

    “Chúng ta nên đến đâu trước nhỉ?”

    Không chần chừ, Mason nói: “Amelia”.

    “Vậy chúng ta sẽ làm như thế.” Gã đàn ông nói y như thể đó là ý tưởng của gã. Gã cất khẩu súng đi, đặt tờ nhật báo lên chiếc tủ gương trang điểm, rồi, với sự lịch thiệp mà Mason chắc chắn rằng không có gì khôi hài hơn, nói: “Mời ông ra trước”. Và gã chỉ tay về phía cánh cửa.





    “Xác gia đình nhà Hanlon à?”, Jim Bell hỏi Rhyme. “Ở đâu?”

    “Đằng kia”, Rhyme nói, hất đầu chỉ một đống xương lúc trước ở trong ba lô của Mary Beth. “Chúng là những gì Mary Beth tìm thấy tại Bến tàu kênh Nước đen. Cô ta tưởng chúng là xương những người sống sót của Thuộc Địa Biến Mất. Nhưng tôi phải tiết lộ cho cô ta biết rằng chúng không lâu đời đến mức ấy. Chúng trông có vẻ mục nát, tuy nhiên đó đơn giản vì chúng đã bị thiêu cháy một phần. Tôi từng làm công việc khám nghiệm khảo cổ nhiều lần và tôi nhận ra ngay là chúng mới nằm dưới đất chừng năm năm thôi - đúng khoảng thời gian kể từ khi gia đình nhà Hanlon thiệt mạng. Chúng là xương một người đàn ông gần bốn mươi tuổi, một người phụ nữ cũng trạc tuổi ấy đã từng sinh con và một đứa bé gái chừng mười tuổi. Đây chính xác là sự mô tả về gia đình của Garrett.”

    Bell nhìn đống xương. “Tôi không hiểu.”

    “Đất của gia đình nhà Garrett ở ngay bên kia đường 112, đoạn chạy qua Bến tàu kênh Nước đen, phía bờ sông. Mason và Culbeau đầu độc gia đình đó rồi thiêu cháy xác họ và đem chôn, còn xe thì đẩy xuống nước. Davett đã hối lộ để nhân viên điều tra làm báo cáo láo và trả tiền cho một người nào đấy ở nhà tang lễ để người này giả vờ là có hỏa táng mấy cái xác. Tôi đảm bảo rằng phía dưới mấy ngôi mộ không có gì. Mary Beth hẳn đã nói chuyện tìm thấy chỗ xương với ai đó và chuyện lọt tới tai Mason. Hắn thuê Billy Stail đến Bến tàu kênh Nước đen thủ tiêu cô gái và đánh cắp các chứng cứ - tức chỗ xương.”

    Cái gì? Billy ư?”

    “Chỉ có điều Garrett lại tình cờ ở đó, canh chừng cho Mary Beth. Anh biết đấy, cậu ta đã nhận định đúng: Bến tàu kênh Nước đen là một chốn nguy hiểm. Người ta quả đã chết ở đó - những vụ khác xảy ra trong vòng vài năm qua. Chỉ có điều không phải Garrett giết họ. Mà là Mason và Culbeau. Họ bị sát hại vì đã mắc bệnh do nhiễm toxaphene và bắt đầu nghi ngờ nguyên nhân tại sao. Tất cả mọi người ở thị trấn đều biết Thằng Bọ, bởi vậy Mason hoặc Culbeau đã giết một cô gái - Meg Blanchard - bằng tổ ong bắp cày, nhằm tạo cái vẻ như cậu ta đã làm việc ấy. Mấy người kia thì bị bọn chúng đập đầu rồi ném xuống kênh cho chết đuối. Những ai không thắc mắc gì chuyện bệnh tật - cha Mary Beth và Lucy Kerr chẳng hạn - thì bọn chúng không bận tâm.”

    “Nhưng Garrett đã để lại dấu vân tay trên chiếc xẻng... vũ khí giết người.”

    “À, chiếc xẻng”, Rhyme trầm ngâm. “Có điều này rất thú vị liên quan đến chiếc xẻng. Tôi đã lại phạm phải sai lầm... Chỉ có hai bộ dấu vân tay in trên đó thôi.”

    “Đúng, của Billy và của Garrett.”

    “Thế dấu vân tay của Mary Beth đâu?”, Rhyme hỏi.

    Cặp mắt Bell nheo lại. Anh ta gật đầu, “Đúng. Không có dấu vân tay nào của cô ấy.”

    “Vì nó không phải xẻng của cô ta. Mason đưa nó cho Billy mang đến Bến tàu kênh Nước đen - sau khi lau sạch dấu vân tay của chính mình, tất nhiên. Tôi có hỏi Mary Beth về việc này. Cô ta nói Billy đã từ bụi rậm bước ra, vác theo chiếc xẻng. Mason tính toán rằng nó sẽ là thứ vũ khí giết người hoàn hảo - vì làm công việc khảo cổ, Mary Beth chắc phải có xẻng. Chà, Billy đến Bến tàu kênh Nước đen và trông thấy Garrett ở đó. Hắn định khử cả Thằng Bọ. Nhưng Garrett giật được chiếc xẻng và đập Billy. Cậu ta tưởng mình đã giết chết hắn, nhưng không phải.”

    “Không phải Garrett giết chết Billy à?”

    “Không, không, không... Cậu ta chỉ đập Billy một hoặc hai phát, làm hắn ngã gục tuy nhiên không làm hắn bị thương nặng. Rồi Garrett đưa Mary Beth tới ngôi nhà gỗ vốn của dân cất rượu lậu. Mason là người đầu tiên có mặt tại hiện trường. Hắn công nhận điều ấy.”

    “Đúng. Hắn đã nhận điện thoại thông báo.”

    “Cũng khá ngẫu nhiên là hắn lại đang ở gần đấy, anh có nghĩ như vậy không?”

    “Ừ. Lúc ấy tôi không nghĩ gì về việc này.”

    “Mason tìm thấy Billy. Hắn cầm chiếc xẻng lên - có đi găng tay cao su thu thập chứng cứ - đánh thằng bé đến chết.”

    “Làm sao anh biết được?”

    “Nhờ vị trí các dấu găng tay cao su. Một tiếng đồng hồ trước, tôi đã yêu cầu Ben xem xét lại cán chiếc xẻng bằng thiết bị hiệu chỉnh ánh sáng. Mason cầm chiếc xẻng giống như cầm cây gậy đánh bóng chày. Đây không phải cái cách mà người ta cầm lên một chứng cứ ở hiện trường vụ án. Và hắn điều chỉnh tay nắm nhiều lần để lực giáng xuống mạnh hơn. Khi Sachs có mặt tại hiện trường, cô ấy nói vết máu cho thấy Billy bị đập vào đầu trước tiên và gục ngã bất tỉnh. Tuy nhiên, hắn vẫn còn sống. Cho tới khi bị Mason dùng chiếc xẻng đập vào cổ.”

    Bell nhìn ra bên cửa sổ, nét mặt gượng gạo. “Tại sao Mason lại giết Billy?”

    “Có thể hắn tính toán rằng Billy sẽ khiếp sợ và khai ra sự thật. Hoặc có thể thằng bé tỉnh lại khi Mason đến và nói nó chán ngấy rồi, nó không muốn tiếp tục cái thỏa thuận kia nữa.”

    “Vậy đây là lý do tại sao anh muốn Mason rời khỏi đây... mấy phút trước. Tôi đã băn khoăn không biết như thế là thế nào. Chúng ta sẽ chứng minh tất cả chuyện này ra sao đây, Lincoln?”

    “Tôi có các dấu găng tay cao su trên chiếc xẻng. Tôi có chỗ xương, chúng cho phản ứng dương tính với toxaphene nồng độ cao. Tôi muốn cử một thợ lặn tìm kiếm chiếc xe của gia đình nhà Hanlon dưới sông Paquenoke. Một số chứng cứ sẽ được khôi phục lại - thậm chí sau năm năm. Rồi chúng ta phải lục soát nhà Billy xem ở đó có tiền mặt để lần đến Mason được không. Và chúng ta cũng lục soát nhà Mason nữa. Sẽ là một vụ khó khăn đấy.” Rhyme mỉm cười yếu ớt. “Nhưng tôi giỏi, Jim ạ. Tôi có thể xử lý được.” Rồi nụ cười của anh tắt dần. “Nhưng nếu Mason không chuyển chứng cứ sang chống lại Henry Davett, việc lập một vụ chống lại ông tasẽ khó khăn đấy. Tất cả những gì tôi có chỉ là thứ kia thôi.” Rhyme hất đầu về phía chiếc bình nhựa đựng chừng tám ounce thứ chất lỏng màu lợt.

    “Cái gì thế?”

    “Toxaphene nguyên chất. Lucy đã lấy được một mẫu từ nhà kho của Davett cách đây nửa tiếng đồng hồ. Cô ấy bảo ở đằng đấy phải có tới chục nghìn ga-lông hóa chất này. Nếu chúng ta xác định được thành phần của loại hóa chất đã giết chết gia đình nhà Garrett phù hợp với thành phần của cái thứ đang đựng trong chiếc bình kia thì chúng ta có thể thuyết phục ủy viên công tố tiến hành việc khởi tố Davett.”

    “Nhưng Davett đã giúp đỡ chúng ta tìm thấy Garrett.”

    “Tất nhiên. Tìm thấy Garrett - và Mary Beth - càng nhanh chóng càng tốt là mối quan tâm của ông ta. Davett là kẻ muốn cô gái chết hơn ai hết.”

    “Mason”, Bell lẩm bẩm, lắc đầu. “Tôi đã biết anh ta nhiều năm... Anh cho là anh ta nghi ngờ à?”

    “Anh là người duy nhất tôi nói chuyện này. Tôi thậm chí không nói chuyện này với Lucy - tôi chỉ đề nghị cô ấy làm vài việc đi đi lại lại hộ tôi thôi. Tôi sợ nhỡ ai nghe trộm được và việc đến tai Mason hoặc Davett. Thị trấn này, Jim ạ, nó là một tổ ong bắp cày. Tôi không biết phải tin tưởng ai.”

    Bell thở dài. “Làm sao anh có thể chắc chắn đó là Mason?”

    “Vì Culbeau và đồng bọn xuất hiện tại ngôi nhà gỗ ngay sau khi chúng ta xác định được vị trí của nó. Và Mason là kẻ duy nhất biết thông tin... ngoài tôi, anh và Ben. Hắn ắt đã gọi điện cho Culbeau cung cấp thông tin. Vậy… chúng ta hãy gọi điện cho cảnh sát bang, yêu cầu một thợ lặn của họ xuống đây kiểm tra Bến tàu kênh Nước đen. Chúng ta phải lấy lệnh khám xét nhà Billy và cả nhà Mason nữa.”

    Rhyme thấy Bell gật đầu. Nhưng thay cho việc đi đến chỗ máy điện thoại, anh ta bước tới trước cửa sổ và đẩy cho cánh cửa đóng lại. Rồi anh ta lại bước tới trước cửa ra vào, mở cửa, nhìn ra, rồi đóng lại.

    Quay ổ khóa chìm.

    “Jim, anh đang làm gì vậy?”

    Bell do dự, rồi bước một bước về phía Rhyme.

    Nhà hình sự học nhìn lần nữa vào mắt viên cảnh sát trưởng và vội vã cắn ống điều khiển giữa hai hàm răng. Anh thổi vào nó và chiếc xe lăn bắt đầu tiến lên. Nhưng Bell bước ra phía sau anh, dứt đứt phựt dây ắc quy. Chiếc Storm Arrow tiến lên chừng mươi phân, và dừng lại.

    “Jim”, Rhyme thì thào. “Không phải cả anh nữa chứ?”

    “Anh đoán đúng đấy.”

    Rhyme nhắm mắt lại. “Không, không”, anh thì thầm. Đầu anh gục xuống. Nhưng chỉ là vài milimét thôi. Như hầu hết những con người vĩ đại, cử động thể hiện sự thất bại của Lincoln Rhyme cũng không dễ dàng gì mà nhận ra được.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    V

    THỊ TRẤN VẮNG BÓNG TRẺ






    CHƯƠNG BỐN MƯƠI HAI





    Mason Germain và gã da đen trông rầu rĩ chậm chạp đi qua con hẻm bên cạnh khu tạm giam của Tanner’s Corner.

    Gã đàn ông toát mồ hôi, bực bội đập một con muỗi. Gã lầm bầm gì đó và chùi bàn tay dài vào mái tóc ngắn ngủn kỳ quái.

    Mason cảm thấy muốn chọc tức gã vô cùng nhưng kiềm chế được.

    Gã đàn ông có vóc người cao và kiễng chân lên là gã nhìn qua được ô cửa sổ của khu tạm giam. Mason trông thấy gã đi đôi bốt màu đen thấp cổ - đóng bằng da sơn bóng loáng - vì lý do nào đó đôi bốt ấy làm tăng thêm sự khinh miệt của viên cảnh sát đối với cái kẻ từ nơi khác tới này. Anh ta tự hỏi không biết gã đã bắn bao nhiêu người rồi.

    “Cô ta ở trong kia”, gã đàn ông nói. “Một mình.”

    “Chúng tôi đang giam Garrett ở phía bên kia.”

    “Anh hãy vào theo lối đằng trước. Liệu có thể chuồn ra qua lối đằng sau không?”

    “Tôi là cảnh sát, nhớ chứ? Tôi có chìa khóa. Tôi có thể mở cửa sau”, Mason nói với giọng cạnh khóe, lại tự hỏi không biết thằng cha này có dở hơi hay không.

    Nhưng anh ta cũng được đáp trả bằng giọng cạnh khóe. “Tôi chỉ đang hỏi liệu có cửa ở đằng sau hay không. Đây là điều tôi không biết, tôi chưa bao giờ tới cái thị trấn lầy lội này.

    “Ồ. Có, có cửa.”

    “Ờ, thế thì đi thôi.”

    Mason nhận ra gã đàn ông đã đang cầm súng trong tay mà anh ta không trông thấy khẩu súng được rút ra lúc nào.





    Sachs ngồi trên chiếc ghế băng trong phòng giam, như bị thôi miên trước sự chuyển động của một con ruồi.

    Đây là ruồi gì? Cô băn khoăn tự hỏi. Garrett sẽ biết ngay lập tức. Cậu ta là cả kho kiến thức. Một ý nghĩ xuất hiện trong đầu óc cô: sẽ có lúc kiến thức của một đứa trẻ về một vấn đề vượt kiến thức của cha mẹ nó. Chắc chắn sẽ rất kỳ diệu, rất đáng phấn khởi, khi biết rằng mình đã tạo ra cái sinh vật giỏi giang hơn mình này. Cũng sẽ cảm thấy xấu hổ nữa.

    Một kinh nghiệm mà cho tới bây giờ Sachs chưa từng trải qua.

    Cô lại suy nghĩ về cha cô. Người đã làm gia tăng tội phạm. Suốt những năm phục vụ trong lực lượng cảnh sát súng ông không nhả đạn bao giờ. Tự hào về cô con gái bao nhiêu, ông cũng lo lắng bấy nhiêu vì sự say mê của cô đối với súng đạn. “Bắn là biện pháp cuối cùng.” Ông vẫn hay nhắc nhở cô.

    Ôi, Jesse... Tôi có thể nói gì với anh đây?

    Tất nhiên, không thể nói gì cả. Tôi không thể nói gì cả. Anh đã ra đi rồi.

    Sachs cho là cô trông thấy một cái bóng bên ngoài ô cửa sổ khu tạm giam. Nhưng cô phớt lờ nó, và ý nghĩ của cô chuyển sang Rhyme.

    Cô nhớ lại lần cách đây mấy tháng, nằm cùng nhau trên chiếc giường nệm khí lỏng sang trọng trong nhà anh ở Manhattan, họ xem bộ phim Romeo và Juliet đặc sắc của Baz Luhrmann, một kịch bản hiện đại lấy bối cảnh Miami. Đối với Rhyme, cái chết luôn luôn lởn vởn xung quanh và xem những cảnh cuối cùng của bộ phim, Amelia Sachs nhận ra rằng, giống như các nhân vật của Shakespeare, cô và Rhyme nếu nhìn nhận theo cách nào đó cũng là đôi tình nhân xấu số. Và một ý nghĩ nữa lúc ấy đã vụt lướt qua đầu óc cô: anh và cô cũng sẽ cùng nhau giã từ cuộc đời.

    Sachs chẳng dám chia sẻ ý nghĩ này với Lincoln Rhyme, một người theo chủ nghĩa duy lý, một người không có tế bào đa cảm nào trong bộ não cả. Nhưng khi ý nghĩ này xuất hiện rồi, nó lưu lại vĩnh viễn trong tâm trí cô và vì sao đó mà mang đến cho cô niềm an ủi hết sức to lớn.

    Tuy nhiên, bây giờ, cô thậm chí không thể tìm thấy sự khuây khỏa trong cái ý nghĩ kỳ cục này. Không, bây giờ - do cô - họ sẽ sống riêng rẽ và sẽ chết riêng rẽ. Họ sẽ...

    Cánh cửa khu phòng giam mở toang và một cảnh sát trẻ bưóc vào. Sachs nhận ra anh ta. Đó là Steve Farr, em rể Jim Bell.

    “Này cô kia”, anh ta gọi.

    Sachs gật đầu chào. Rồi cô để ý thấy hai điều ở Farr. Thứ nhất là anh ta đeo một chiếc đồng hồ hiệu Rolex giá trị bằng nửa năm lương của một cảnh sát điển hình ở Bắc Carolina.

    Thứ hai là anh ta đeo một khẩu súng bên sườn, bao không đóng khóa.

    Mặc dù có tấm biển gần phía ngoài cánh cửa mở vào khu phòng giam. CẤT TẤT CẢ VŨ KHÍ TRONG KÉT SẮT TRƯỚC KHI BƯỚC VÀO KHU PHÒNG GIAM.

    “Cô thế nào?” Farr hỏi.

    Sachs nhìn anh ta, không có phản ứng gì.

    “Hôm nay lại im lặng, hử? Chà, thưa cô, tôi mang tin tức tốt lành đến cho cô đây. Cô được tự do ra đi.” Farr búng một bên tai vểnh.

    “Tự do? Ra đi?”

    Farr lục tìm chìa khóa.

    “Phải. Người ta đã đi đến kết luận rằng phát súng của cô chỉ là tai nạn. Cô hoàn toàn có thể rời khỏi đây.”

    Sachs chăm chú quan sát bộ mặt Farr. Anh ta không nhìn vào cô.

    “Thế giấy rút lại lời buộc tội thì sao?”

    “Là cái gì vậy?”, Farr hỏi.

    “Không có ai đã bị buộc tội hình sự lại có thể được thả khỏi nơi giam giữ mà không có giấy rút lại lời buộc tội do ủy viên công tố ký.”

    Farr mở khóa phòng giam và đứng lùi lại, bàn tay rờ rờ gần báng súng. “Ồ, có thể đó là cách các cô làm ở thành phố lớn. Nhưng ở dưới này chúng tôi thoải mái hơn rất nhiều. Người ta hay nói là dân miền Nam chúng tôi chậm tiến hơn, cô biết đấy. Tuy nhiên, không phải vậy. Không, thưa cô. Chúng tôi làm việc thực sự hiệu quả hơn.”

    Sachs vẫn ngồi. “Tôi có thể hỏi tại sao anh mang vũ khí vào khu phòng giam được chứ?”

    “Ồ, cái này hả? Farr vỗ vỗ khẩu súng. “Chúng tôi không có các quy tắc nghiêm ngặt lắm về những chuyện như vậy. Thôi nào. Cô được tự do rời khỏi đây. Phần lớn người ta sẽ nhảy cẫng lên trước tin tức ấy.” Anh ta hất đầu về phía cửa sau khu tạm giam.

    “Ra qua cửa sau?”, Sachs hỏi.

    “Tất nhiên rồi.”

    “Anh không thể bắn vào lưng một tù nhân đang bỏ chạy. Như thế là giết người.”

    Farr chậm rãi gật đầu.

    Bọn họ bố trí kịch bản ra sao nhỉ? Sachs băn khoăn tự hỏi. Có ai khác ở bên ngoài cánh cửa kia sẽ thực sự nổ súng không? Có thể. Farr tự đập đầu mình rồi kêu cứu. Bắn một phát lên trần. Bên ngoài, một người nào đó - có thể là một công dân “đầy lo lắng” - khẳng định rằng anh ta đã nghe thấy tiếng súng nổ và cho rằng Sachs có vũ khí, mới nhả đạn vào cô.

    Cô không nhúc nhích.

    “Nào, đứng lên và biến đi.” Farr rút khẩu súng ra khỏi bao. Sachs chậm chạp đứng lên.

    Anh và em, Rhyme...





    “Anh đã khá gần với sự thật đấy, Lincoln”, Jim Bell nói.

    Lát sau, gã thêm: “Đúng chín mươi phần trăm. Theo kinh nghiệm của tôi trong công tác thực thi pháp luật thì đó là một tỷ lệ cao. Quá không may cho anh khi tôi là cái mười phần trăm mà anh bỏ qua mất”.

    Bell tắt máy điều hòa nhiệt độ. Vì cửa sổ đóng kín, căn phòng ngay lập tức nóng lên. Rhyme cảm thấy trán ướt đẫm mồ hôi. Hơi thở của anh trở nên nặng nhọc.

    Gã cảnh sát trưởng tiếp tục: “Đã có hai gia đình ở bên bờ kênh Nước đen không cho phép ông Davett chạy xà lan qua.”

    Một ông Davett đáng kính trọng, Rhyme để ý lời Jim nói

    “Bởi vậy trưởng bộ phận bảo vệ của ông ấy đã thuê mấy người chúng tôi giải quyết vấn đề. Chúng tôi đã bàn bạc rất lâu với gia đình nhà Conklin và họ đã quyết định quyền. Nhưng lão bố Garrett dứt khoát không chịu. Chúng tôi dự định dàn dựng một vụ đâm xe và đã lấy một bình cái thứ bỏ mẹ kia - Bell hất đầu chỉ chiếc bình trên bàn - để đánh ngất bọn họ. Chúng tôi biết cứ thứ Tư là gia đình nhà đó lại đi ăn tối bên ngoài. Chúng tôi đổ toxaphene vào các khe mái hắt của bộ phận điều hòa nhiệt độ, rồi nấp trong rừng. Bọn họ lên xe và lão bố Garrett bật điều hòa. Hóa chất phun ra phủ kín bọn họ. Nhưng chúng tôi đã sử dụng nhiều quá...”

    Bell lại liếc nhìn chiếc bình. “Đủ để giết chết người ta hai lần”, gã tiếp tục, cau mày nhớ lại sự việc. “Gia đình nhà đó bắt đầu co giật... Một cảnh tượng thật đáng sợ. Garrett không ở trong xe nhưng hắn chạy tới và trông thấy những gì đang diễn ra. Hắn cố gắng vào bên trong mà không được. Tuy nhiên, hắn hít phải một lượng lớn toxaphene và có vẻ vì thế đã trở thành đứa ngớ ngẩn. Hắn loạng choạng chạy vào rừng trước khi chúng tôi kịp tóm cổ. Tới lúc hắn lại ló mặt - một hay hai tuần sau - hắn chẳng còn nhớ gì. Hậu quả của tình trạng nhạy cảm đa hóa chất mà anh đã nói tới, tôi cho là vậy. Nên chúng tôi tạm thời mặc kệ hắn đấy - khá chắc chắn rằng hắn cũng sẽ ngoẻo theo gia đình.

    “Rồi chúng tôi hành động chính xác như anh phỏng đoán. Đốt mấy cái xác và đem chôn ở Bến tàu kênh Nước đen. Đẩy chiếc ô tô xuống một cái lạch bên cạnh đường Kênh Đào. Trả một trăm nghìn cho tay điều tra viên để đổi lấy các báo cáo giả. Cứ khi nào chúng tôi nghe nói có ai mắc một chứng ung thư khó giải thích và nghi ngờ về nguyên nhân, Culbeau và mấy đứa kia lại lĩnh nhiệm vụ vử lý.”

    “Cái đám tang chúng tôi trông thấy trên đường vào thị trấn. Các anh đã giết chết thằng bé, phải không?”

    “Todd Wilkes ấy à?”, Bell hỏi. “Không. Nó tự tử.”

    “Nhưng là vì nó đã mắc bệnh do nhiễm toxaphene, phải không? Nó mắc bệnh gì, ung thư à? Hay tổn thương gan? Hay tổn thương não?”

    “Có thể. Tôi không biết.” Nhưng bộ mặt gã cảnh sát trưởng nói lên rằng gã biết quá rõ.

    “Dù sao thì Garrett cũng không liên quan gì, phải không?”

    “Không liên quan.”

    “Còn hai gã đã tới ngôi nhà gỗ? Hai gã tấn công Mary Beth thì sao?”

    Bell lại gật đầu, vẻ khó chịu. “Tom Boston và Lott Cooper. Bọn chúng cũng có can dự - bọn chúng đảm nhận việc thử rất nhiều hóa chất độc hại của Davett trên núi nơi dân cư thưa thớt hơn. Bọn chúng biết chúng tôi đang tìm kiếm Mary Beth nhưng khi Lott phát hiện ra con bé tôi cho là hắn quyết định chưa thông báo với tôi ngay để còn vui vẻ tí đã. Và, phải rồi, chúng tôi thuê Billy Stail thủ tiêu con bé nhưng hắn chưa kịp thì Garrett đã đưa con bé đi mất.”

    “Và anh cần tôi giúp đỡ tìm thấy cô ta. Không phải để cứu cô ta - mà để có thể giết cô ta và hủy mọi chứng cứ cô ta đã phát hiện được.”

    “Sau khi anh tìm thấy Garrett và chúng tôi đưa hắn từ cối xay về, tôi không khóa cửa khu tạm giam để Culbeau và đồng bọn có thể, thì cứ nói là, thuyết phục Garrett khai với chúng tôi nơi Mary Beth đang ở. Nhưng cô bạn anh đã tới cướp hắn đi trước khi bọn kia kịp hành động.”

    Rhyme nói: “Và khi tôi tìm thấy ngôi nhà gỗ, anh liền gọi cho bè lũ Culbeau. Bảo bọn chúng tới trừ khử tất cả chúng tôi tại đó”.

    “Tôi xin lỗi... toàn bộ chuyện này đã biến thành cơn ác mộng. Tôi không muốn, nhưng... anh thấy đấy.”

    “Một cái tổ ong bắp cày...”

    “Ồ, phải, chính trong lòng thị trấn này là mấy cái tổ ong bắp cày.”

    Rhyme lắc đầu. “Hãy nói tôi nghe, liệu những cái xe đẹp đẽ, những ngôi nhà to tát và tất cả số tiền kia có đáng để hủy hoại toàn bộ thị trấn? Nhìn xung quanh anh xem, Bell. Hôm trước diễn ra đám tang một đứa trẻ mà ở nghĩa trang không có lấy đứa trẻ nào. Amelia đã bảo trong thị trấn hầu như chẳng còn đứa trẻ nào nữa. Anh biết tại sao chứ? Người ta vô sinh hết rồi.”

    “Đã thương lượng với quỷ sứ thì phải chấp nhận rủi ro”, Bell nói ngắn gọn. “Nhưng, như chỗ tôi biết, cuộc đời chỉ là một sự thỏa hiệp.” Gã nhìn Rhyme hồi lâu, đi đến bên bàn. Gã xỏ đôi găng tay cao su, nhấc bình toxaphene lên. Gã bước về phía Rhyme và bắt đầu từ từ xoáy nắp đậy.





    Steve Farr thô bạo đẩy Amelia Sachs tới cửa sau khu tạm giam. Khẩu súng lục gí mạnh vào chính giữa lưng cô.

    Gã đang mắc một sai lầm kinh điển là gí họng súng sát người nạn nhân. Nó khiến cô có được lợi thế - khi cô bước ra ngoài rồi cô biết chính xác vị trí của khẩu súng và có thể gạt khẩu súng bằng khuỷu tay. May ra thì Farr sẽ đánh rơi món vũ khí và cô sẽ guồng chân chạy hết tốc lực. Nếu cô chạy được đến phố Chính, sẽ có các nhân chứng và gã có thể do dự không dám bắn.

    Gã mở cánh cửa sau.

    Một luồng ánh nắng nóng nực tràn vào khu tạm giam đầy bụi bặm. Sachs chớp mắt. Một con ruồi bay vo ve xung quanh đầu cô.

    Chỉ cần Farr cứ giữ tư thế này, gí khẩu súng sát vào người cô, cô sẽ có một cơ hội…

    “Bây giờ thì thế nào?”, Sachs hỏi.

    “Tự do ra đi.” Farr nhún vai, nói giọng vui vẻ. Sachs căng thẳng, chuẩn bị gạt khuỷu tay vào gã, lên kế hoạch cho mỗi nước đi. Nhưng rồi gã nhanh chóng bước lùi lại, đẩy cô ra khoảng đất nhếch nhác phía sau khu tạm giam. Farr vẫn đứng bên trong, ở khoảng cách cô không thể động đến.

    Gần đó, phía sau một bụi cây cao, Sachs nghe thấy một âm thanh khác. Tiếng lên đạn của một khẩu súng lục, cô tự nhủ thầm.

    “Đi đi”, Farr nói. “Biến khỏi đây đi.”

    Sachs lại nghĩ tới Romeo và Juliet.

    Nghĩ tới cái nghĩa trang xinh xắn trên quả đồi nhìn xuống Tanner's Corner mà họ đã chạy xe ngang qua vào buổi sáng tưởng chừng cách đây cả đời người rồi.

    Ôi, Rhyme...

    Con ruồi bay vèo qua mặt Sachs. Một cách bản năng, cô xua nó đi, và bắt đầu bước về phía bãi cỏ mọc lúp xúp.





    Rhyme bảo Bell: “Anh không nghĩ sẽ có người thắc mắc nếu tôi chết theo cái cách như thế này à? Tôi khó có thể tự mình mở một chiếc bình”.

    Gã cảnh sát trưởng đáp: “Anh va phải bàn. Nắp bình lỏng. Toxaphene đổ tóe vào anh. Tôi vào, tuy nhiên chúng tôi chẳng kịp cứu anh”.

    “Amelia sẽ không để yên đâu. Cả Lucy cũng vậy.”

    “Cô bạn gái của anh sắp sửa chẳng còn là vấn đề gì. Còn Lucy ư? Cô ta rất có thể lại đổ bệnh... và lần này thì có thể chẳng còn gì mà cắt bỏ đi để cứu cô ta nữa.”

    Bell chỉ do dự một chút, rồi gã bước tới gần và rót thứ chất lỏng kia lên mũi và miệng Rhyme. Gã hắt chỗ còn lại vào vạt trước sơ mi của anh.

    Gã cảnh sát trưởng thả chiếc bình xuống lòng Rhyme, vội vã bước lùi lại và che mồm bằng khăn mùi xoa.

    Đầu Rhyme ngật về phía sau, miệng anh bất giác há ra và vài giọt chất lỏng chảy vào. Anh bắt đầu tắc thở.

    Bell tháo đôi găng tay cao su, nhét vào túi quần. Gã đợi một lát, bình thản quan sát Rhyme, rồi chậm rãi bước về phía cửa, mở khóa, đẩy cánh cửa ra. Gã gọi to: “Có tai nạn! Có ai không, tôi cần giúp đỡ!”. Gã bước ra hành lang. “Tôi cần...”

    Bell bước ngay vào đường đạn của Lucy Kerr, khẩu súng lục của cô chĩa thẳng ngực gã.

    “Lạy Chúa, Lucy!”

    “Đủ rồi, Jim. Hãy cứ đứng nguyên đấy.”

    Gã cảnh sát trưởng bước lùi lại. Nathan, tay thiện xạ, bước vào phòng, đến đằng sau Bell, rút khẩu súng lục của gã cảnh sát trưởng ra khỏi bao. Một người nữa bước vào - một người đàn ông to lớn mặc bộ com lê màu nâu vàng và sơ mi trắng.

    Ben cũng chạy vào, phớt lờ tất cả những người khác, vội vã bước tới chỗ Rhyme, dùng khăn giấy lau mặt cho nhà hình sự học.

    Gã cảnh sát trưởng trừng trừng nhìn Lucy và mọi người. “Không, các vị không hiểu! Đã có tai nạn! Cái chất độc kia đổ ra. Các vị phải...”

    Rhyme nhổ xuống sàn và thở khò khè vì thứ nước có tác dụng làm se. Anh bảo Ben: “Cậu lau lên phía bên trên má tôi được không? Tôi sợ nhỡ nó dây vào mắt. Cảm ơn cậu”.

    “Tất nhiên rồi, Lincoln.”

    Bell nói: “Tôi đang định gọi giúp đỡ! Cái chất kia đổ ra! Tôi...”.

    Người đàn ông mặc bộ com lê lôi đôi còng tay ra khỏi thắt lưng, bập nó vào cổ tay gã cảnh sát trưởng. Ông ta nói: “James Bell, tôi là Thám tử Hugo Branch của cảnh sát bang Bắc Carolina. Anh đã bị bắt”. Branch nhìn Rhyme vẻ cáu kỉnh. “Tôi đã bảo anh là hắn sẽ đổ vào áo anh mà. Chúng ta đáng lẽ đã phải đặt thiết bị đó ở chỗ khác.”

    “Nhưng ông có ghi băng lại được đủ không?”

    “Ồ, quá đủ. Đây chẳng phải là vấn đề. Vấn đề là những cái máy phát ấy tốn tiền đấy.”

    “Hãy gửi hóa đơn cho tôi”, Rhyme nói gay gắt trong lúc Branch cởi áo sơ mi của anh, tháo micro và máy phát.

    “Đây là một cái bẫy”, Bell thì thào.

    Anh đoán đúng đấy.

    “Nhưng chất độc.”

    “Ồ, nó không phải toxaphene”, Rhyme nói. “Chỉ là ít rượu lậu. Từ chiếc bình chúng tôi đã lấy mẫu xét nghiệm. À này Ben nếu còn tí nào, ngay bây giờ tôi có thể làm một ngụm. Và lạy Chúa, có ai bật điều hòa lên được không?”





    Cơ căng ra, cắt sang phía bên trái và chạy như điên. Mình sẽ trúng đạn nhưng nếu mình may mắn viên đạn sẽ chưa hạ gục mình.

    Nếu ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta...

    Amelia Sachs bước ba bước vào bãi cỏ.

    Sẵn sàng...

    Chạy...

    Rồi một giọng đàn ông từ phía sau họ, bên trong khu tạm giam, cất lên: “Đứng im, Steve! Bỏ vũ khí xuống sàn. Nào! Tôi không nói lại lần nữa đâu!”.

    Sachs xoay người một vòng và trông thấy Mason Germain, súng chĩa vào gã thanh niên tóc cắt cua đang bàng hoàng, đôi tai tròn đỏ lựng lên. Farr khom lưng, bỏ khẩu súng xuống sàn. Mason nhanh chóng bước tới, còng gã lại.

    Có tiếng bước chân bên ngoài, tiếng lá kêu loạt soạt. Xây xẩm mặt mày vì nóng và vì chất aderaline, Sachs quay lại phía bãi cỏ, trông thấy một người da đen vóc dáng rắn chắc đang trèo ra khỏi bụi cây, nhét khẩu súng lục tự động Browning to tướng vào bao.

    “Fred!”, cô kêu lên.

    Nhân viên mật vụ FBI Fred Dellray, mồ hôi đầm đìa trong bộ com lê màu đen, bước về phía Sachs, nóng nảy phủi ống tay áo. “Này, Amelia. Lạy Chúa, ở dưới này quá quá quá nóng. Tôi không ưa thị trấn này tí tẹo nào. Và nhìn bộ com lê này. Từ đầu tới chân, tôi không biết, bụi bặm hay là cái gì nữa. Cái của nợ gì thế này, phấn hoa à? Chúng ta không có cái của nợ này ở Manhattan. Nhìn ống tay áo này!”

    “Anh đang làm gì ở đây?”, Sachs kinh ngạc hỏi.

    “Thế cô nghĩ tôi đang làm gì? Lincoln không chắc anh ấy có thể tin tưởng hay không thể tin tưởng ai, bởi vậy anh ấy mới bảo tôi bay xuống đây và ngoắc tôi vào với cái tay cảnh sát Germain để canh chừng cho cô. Tôi hiểu là anh ấy cần giúp đỡ, vì thấy anh ấy không thể tin tưởng được Jim Bell và đám anh em gã.”

    Bell à?”, Sachs thì thầm.

    “Lincoln nghĩ anh ấy đã chắp nối được toàn bộ câu chuyện. Anh ấy sẽ biết một cách chắc chắn ngay bây giờ. Nhưng có vẻ anh ấy đoán đúng, cái thằng em rể kia.” Dellray hất đầu chỉ Steve Farr.

    “Hắn sắp sửa hạ được tôi”, Sachs nói.

    Anh chàng mật vụ tủm tỉm cười: “Cô không phải chịu nguy hiểm một chút xíu nào, không đời nào. Tôi đã ngắm đầu ruồi vào chính giữa hai cái tai to tướng của thằng cha kia ngay khi cánh cửa sau vừa mở ra. Hắn mải ngắm vào mục tiêu là cô nên không để ý gì đến xung quanh cả”.

    Dellray để ý thấy Mason đang ngờ vực quan sát mình. Anh chàng mật vụ cười to, nói với Sachs: “Anh bạn chúng ta ở đây không ưa cái kiểu của tôi lắm. Anh ta đã bảo tôi vậy”.

    “Hẵng khoan”, Mason phản đối. “Tôi chỉ muốn nói...”

    “Anh muốn nói tới các nhân viên của FBI, tôi cuộc là thế, Dellray ngắt lời.

    Viên cảnh sát lắc đầu, giọng cộc cằn: “Tôi muốn nói tới dân miền Bắc”.

    “Đúng đấy, anh ta không ưa dần miền Bắc đâu”, Sachs khẳng định.

    Sachs và Dellray cười to. Nhưng Mason vẫn giữ vẻ nghiêm trang. Dù sao thì cũng không phải những khác biệt về văn hóa khiến anh ta nghiêm trang thế. Anh ta nói với Sachs: “Xin lỗi, nhưng tôi phải đưa cô vào lại phòng giam. Cô còn đang bị bắt giữ”.

    Nụ cười của Sachs tắt dần, và cô nhìn lần nữa ánh nắng nhảy nhót trên bãi cỏ vàng úa bẩn thỉu. Cô hít vào lần nữa không khí nóng nực bên ngoài trời, rồi lại lần nữa. Cuối cùng, cô quay bước trở vào khu tạm giam lờ mờ tối.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG BỐN MƯƠI BA





    Anh đã giết Billy, đúng không?”, Rhyme hỏi Jim Bell.

    Nhưng gã cảnh sát trưởng im lặng.

    Nhà hình sự học tiếp tục: “Hiện trường vụ án chẳng được bảo vệ trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Và, tất nhiên, Mason là sĩ quan cảnh sát đầu tiên có mặt tại đó. Tuy nhiên, anh đến đó trước anh ta. Anh không nhận được điện thoại từ Billy thông báo rằng Mary Beth đã chết và anh bắt đầu lo lắng, vì thế anh lái xe đến Bến tàu kênh Nước đen và phát hiện ra cô gái đã biến mất, còn Billy thì bị thương. Billy nói với anh việc Garrett đang đưa cô gái đi. Rồi anh xỏ găng tay cao su vào, cầm chiếc xẻng lên và giết chết thằng bé”.

    Rốt cuộc, cơn giận dữ của gã cảnh sát trưởng cũng bùng ra qua lớp mặt nạ. “Tại sao anh đã nghi ngờ tôi?”

    “Ban đầu, tôi quả có nghĩ tới Mason - chỉ ba chúng ta và Ben biết về ngôi nhà gỗ. Tôi đồ là anh ta đã gọi điện cho Culbeau và bảo hắn đến đó. Nhưng tôi hỏi Lucy và hóa ra Mason đã gọi điện cho cô ấy và bảo cô ấy đến đó - chỉ để đảm bảo rằng Amelia và Garrett sẽ không trốn thoát lần nữa. Rồi tôi phải suy nghĩ và tôi nhận ra lúc ở chỗ cối xay Mason đã cố gắng bắn Garrett. Bất cứ kẻ nào can dự vào cái âm mưu kia đều sẽ muốn hắn sống sót - giống như anh - để hắn còn dẫn anh đến chỗ Mary Beth. Tôi kiểm tra tình hình tài chính của Mason và được biết rằng anh ta sở hữu một ngôi nhà rẻ tiền và đang nợ nần đầm đìa với các tài khoản MasterCard và Visa. Không có kẻ nào đang đút lót anh ta. Không giống như anh và em rể anh, Bell ạ. Anh có ngôi nhà trị giá bốn trăm ngàn đô la và vô khối tiền mặt trong ngân hàng. Steve Farr thì có ngôi nhà trị giá ba trăm chín mươi ngàn và chiếc thuyền trị giá một trăm tám mươi ngàn. Chúng tôi đang xin lệnh của tòa án để được dòm vào cái két sắt của anh. Đang tự hỏi liệu chúng tôi sẽ tìm thấy bao nhiêu tiền.”

    Rhyme tiếp tục: “Tôi hơi tò mò về lý do tại sao Mason lại hăng hái với việc tóm cổ Garrett đến thế nhưng anh ta có lý do xác đáng. Anh ta bảo tôi rằng anh ta khá tức tối khi anh nhận ghế cảnh sát trưởng - anh ta không thực sự hiểu tại sao vì anh ta có thành tích tốt hơn và thâm niên cao hơn. Anh ta nghĩ nếu tóm cổ được Thằng Bọ, Ban Giám đốc chắc chắn sẽ giao ghế cảnh sát trưởng cho anh ta khi nhiệm kỳ của anh kết thúc”.

    “Toàn bộ cái trò diễn kịch khốn kiếp của anh...”, Bell lẩm bẩm. “Tôi cứ nghĩ anh chỉ tin tưởng vào các bằng chứng.”

    Rhyme hiếm khi đấu khẩu với con mồi của mình. Tuy nhiên, anh vẫn bảo Bell: “Tôi những muốn sử dụng bằng chứng hơn. Nhưng đôi khi cũng phải ứng biến. Tôi không hẳn là kẻ hay tự ái như tất cả mọi người đều nghĩ đâu”.





    Chiếc xe lăn Storm Arrow không phù hợp với phòng giam Amelia Sachs.

    “Không có lối vào cho người què quặt à?”, Rhyme càu nhàu. “Đấy là một sự vi phạm Luật người khuyết tật.”

    Sachs nghĩ anh đang sử dụng những lời lẽ hung hãn vì cô, anh muốn để cho cô thấy các tâm trạng quen thuộc. Nhưng cô không nói gì.

    Do vấn đề chiếc xe lăn, Mason Germain gợi ý dùng phòng thẩm vấn. Sachs lê bước vào, đeo cả còng tay và còng chân. Viên cảnh sát đã khăng khăng yêu cầu việc ấy (cô, suy cho cùng, từng thu xếp một cuộc chạy trốn chính từ nơi này).

    Ông luật sư từ New York đã tới. Ông ta tên là Solomon Geberth, đầu bạc. Là thành viên của luật sư đoàn New York, Massachusett và Washington DC, ông ta được tòa án Bắc Carolina chấp thuận cho cãi riêng cho trường hợp của Sachs. Thật lạ lùng, với khuôn mặt điển trai, lịch lãm và cử chỉ tác phong thậm chí còn lịch lãm hơn, ông ta dường như giống một vị luật sư miền Nam tao nhã bước ra từ tiểu thuyết của John Grisham hơn hẳn một chú chó bull[39] của luật sư đoàn Manhattan. Mái tóc cắt tỉa gọn gàng của ông ta xịt keo bóng loáng và bộ com lê Ý phẳng lỳ ngay cả với cái độ ẩm đáng kinh ngạc của Tanner's Corner.

    Lincoln Rhyme ngồi giữa Sachs và luật sư của cô. Cô đặt bàn tay lên tay vịn chiếc xe lăn.

    “Họ đã giới thiệu một công tố viên đặc biệt từ Raleigh”, Geberth trình bày. “Vì vụ tay cảnh sát trưởng với tay điều tra viên kia, tôi nghĩ họ không hoàn toàn tin tưởng McGuire. Dù sao thì ông ta cũng đã xem xét các chứng cứ và đã quyết định bãi bỏ mọi lời buộc tội Garrett.”

    Vẻ mặt Sachs xao động trước tin tức này. “Ông ta đã bác bỏ?”

    Geberth nói: “Garrett thừa nhận việc đánh Billy, và tưởng mình đã giết chết nó. Nhưng Lincoln đoán đúng. Kẻ giết chết thằng bé kia là Bell, và thậm chí nếu họ buộc cậu ta tội tấn công người khác thì hành động của Garrett rõ ràng cũng là hành động tự vệ. Viên cảnh sát kia, Ed Schaeffer ấy? Cái chết của ông ta được kết luận là tai nạn.”

    “Việc bắt cóc Lydia Johansson thì sao?”

    “Khi cô ta nhận ra rằng Garrett chưa bao giờ có ý định làm hại mình, cô ta quyết định rút đơn kiện. Mary Beth cũng vậy. Mẹ cô này lại không muốn, tuy nhiên các vị nên biết chuyện cô gái đã tranh cãi với mẹ. Cuộc tranh cãi đó khá kịch liệt, tôi phải công nhận như thế.”

    “Thế là cậu ta được tự do? Garrett ấy?”, Sachs hỏi, ánh mắt cắm xuống sàn.

    “Họ sẽ thả cậu ta ra sau ít phút nữa”, Geberth bảo cô. Rồi ông ta nói: “Được rồi, vấn đề là như thế này, Amelia: ông ủy viên công tố giữ quan điểm rằng, dù Garrett hóa ra không phải kẻ tội phạm nghiêm trọng, thì cô cũng đã mắc tội giúp đỡ một tù nhân bị bắt dựa trên căn cứ thỏa đáng chạy trốn và đã giết chết một sĩ quan cảnh sát trong lúc mắc tội này. Ông ủy viên công tố sẽ đòi buộc tội giết người cấp độ một, đồng thời sẽ thêm hai điểm buộc tội khác nữa: cũng đều là giết người - cố sát và ngộ sát - điểm này lại bao gồm làm chết người do bất cẩn và làm chết người do sơ suất trong khi thi hành nhiệm vụ”.

    “Cấp độ một?”, Rhyme quát lên. “Đó là sự việc không hề có dự tính trước, là một tai nạn! Hãy vì Chúa.”

    “Đây chính là điều tôi sẽ cố gắng chứng minh tại tòa”, Geberth nói. “Rằng viên cảnh sát kia, cái người đã bất ngờ vồ lấy cô, là một phần nguyên nhân khiến cô nổ súng. Nhưng tôi đảm bảo họ sẽ buộc cô tội làm chết người do bất cẩn. Thực tế thì chắc chăn sẽ như vậy.”

    “Cơ hội được trắng án ra sao?”, Rhyme hỏi.

    “Ít lắm. Nhiều nhất là mười, mười lăm phần trăm. Tôi xin lỗi, nhưng tôi bắt buộc phải khuyên cô chấp nhận một thỏa thuận điều đình nhận tội.”

    Sachs có cảm giác bị tống một quả đấm vào ngực. Cô nhắm mắt lại và khi thở ra cứ như thể linh hồn cô đã rời khỏi thể xác cô vậy.

    “Lạy Chúa”, Rhyme lẩm bẩm.

    Sachs nghĩ tới Nick, bạn trai cũ của cô. Cô nhớ, khi bị bắt vì tội cướp xe tải và nhận lại quả, anh ta đã từ chối một thỏa thuận điều đình nhận tội, liều đứng trước một bồi thẩm đoàn. Anh ta bảo cô: “Việc này giống như câu cha em hay nói ấy, Aimees - khi mình hành động người ta không thể tóm được mình. Được ăn cả ngã về không”.

    Bồi thẩm đoàn mất mười tám phút để kết tội Nick. Anh ta vẫn đang ngồi tù ở New York.

    Sachs nhìn cái ông Geberth mặt mũi nhẵn nhụi. Cô hỏi: “Nếu có thương lượng, ủy viên công tố sẽ đòi buộc tội gì?”.

    “Ông ta chưa cho ý kiến. Nhưng có thể là tội cố sát - nếu cô chịu ngồi tù. Theo tôi, tám đến mười năm. Tuy nhiên, tôi phải nói với cô rằng ở Bắc Carolina này sẽ là ngồi tù. Ở đây không có khu an dưỡng đâu.”

    Rhyme làu bàu: “Đấu với mười lăm phần trăm cơ hội trắng án”.

    Geberth nói: “Đúng vậy”. Rồi ông luật sư thêm: “Cô phải hiểu rằng không có điều kỳ diệu nào ở đây đâu, Amelia. Nếu chúng ta ra tòa, công tố viên sẽ chứng minh cô là một nhân viên thực thi pháp luật chuyên nghiệp, một xạ thủ vô địch, và bồi thẩm đoàn sẽ khó có thể chấp nhận việc nổ súng là chẳng may”.

    Luật lệ bình thường không áp dụng đối với bất cứ ai ở phía bắc sông Paquo. Cả chúng tôi lẫn bọn họ. Anh có thể thấy chính anh nhả đạn tnrớc khi anh đọc cho người ta biết về các quyền của người ta và điều đó hoàn toàn không vấn đề gì cả.

    Ông luật sư nói: “Nếu điều này xảy ra, họ có thể buộc cô tội giết người cấp độ một và cô sẽ lĩnh án hai mươi năm”.

    “Hoặc tử hình”, Sachs lẩm bẩm.

    “Phải, đây là một khả năng. Tôi không thể nói với cô là không có khả năng đó.”

    Vì lẽ nào đấy, cái hình ảnh xuất hiện trong tâm trí Sachs vào khoảnh khắc này là hình ảnh gia đình chim ưng làm tổ bên ngoài ô cửa sổ ngôi nhà của Lincoln Rhyme ở Manhattan: con trống, con mái, và con con. Cô nói: “Nếu tôi xin nhận tội ngộ sát, tôi sẽ phải ngồi tù bao lâu?”.

    “Chắc sáu, bảy năm. Không có chuyện cam kết để được tha đâu.”

    Anh và em, Rhyme.

    Sachs hít sâu vào. “Tôi sẽ xin nhận tội.”

    “Sachs...”, Rhyme cất lời.

    Nhưng cô nhắc lại với Geberth: “Tôi sẽ xin nhận tội”.

    Ông luật sư đứng lên. Ông ta gật đầu. “Tôi sẽ gọi cho ủy viên công tố ngay bây giờ, xem liệu ông ta có chấp thuận không. Có tin tức gì, tôi sẽ thông báo ngay.” Gật đầu chào Rhyme, ông luật sư đi ra.

    Mason liếc nhìn gương mặt Sachs. Anh ta đứng lên và bước về phía cửa, đôi giày cao cổ dậm cồm cộp. “Tôi sẽ để hai người nói chuyện vài phút. Tôi không phải khám xét anh chứ, Lincoln?”

    Rhyme mỉm cười mệt mỏi: “Tôi chẳng có vũ khí gì, Mason”.

    Cánh cửa đóng sập lại.

    “Thật là một mớ bòng bong, Lincoln”, Sachs nói.

    “Ừm, Sachs. Đừng gọi tên riêng.”

    “Tại sao không?”, Sachs hoài nghi hỏi, gần như là thì thầm. “Xui xẻo à?”

    “Có thể.”

    “Anh đâu thuộc loại mê tín dị đoan. Hay ít nhất thì anh vẫn luôn luôn bảo em như thế.”

    “Không mê tín lắm. Nhưng đây là một chốn đáng sợ.”

    Tanner’s Corner... Thị trấn vắng bóng trẻ.

    “Anh đáng lẽ phải nghe em”, Rhyme nói. “Em đã xác định đúng về Garrett. Anh đã sai lầm. Anh chỉ nhìn vào các chứng cứ và hoàn toàn sai lầm.”

    “Nhưng em cũng không biết rằng em đúng. Em không biết gì cả. Em chỉ có linh cảm và em hành động thôi.”

    Rhyme nói: Bất kể chuyện gì xảy ra, Sachs, anh sẽ không đi đâu cả”. Anh hất đầu chỉ xuống chiếc Storm Arrow và bật cười. “Anh không đi đâu xa lắm được thậm chí nếu anh có muốn đi. Còn em, em sẽ đi, một ngày nào đó. Anh sẽ ở đây đợi em ra tù.”

    “Lời lẽ thôi, Rhyme”, Sachs nói. “Chỉ là lời lẽ thôi... Cha em cũng bảo ông sẽ không đi đâu cả. Một tuần sau thì căn bệnh ung thư đưa ông đi.”

    “Anh quá bướng bỉnh trước cái chết.”

    Nhưng anh không quá bướng bỉnh để tình trạng cơ thể được khá hơn, Sachs nghĩ, để gặp một ai đó khác, để đi tiếp và bỏ lại em đằng sau.

    Cánh cửa thông sang phòng thẩm vấn mở ra. Garrett đứng ở ngưỡng cửa, Mason đứng đằng sau cậu ta. Hai bàn tay cậu thiếu niên, không còn bị còng nữa, giơ ra phía trước, khum lại.

    “Này”, Garrett nói thay lời chào. “Xem tôi tìm thấy cái gì này. Nó ở trong phòng giam của tôi.” Cậu ta mở hai bàn tay và một con côn trùng nhỏ bay ra. “Đó là một con bướm sư tử. Nó thích tìm hút mật hoa nữ lang. Người ta không hay thấy chúng bên trong nhà đâu. Khá thú vị.”

    Sachs mỉm cười yếu ớt, nhận niềm thích thú từ cặp mắt đầy ánh nhiệt tình của cậu thiếu niên. “Garrett, có một việc tôi muốn cậu biết.”

    Cậu ta bước đến gần hơn, nhìn xuống cô.

    “Cậu nhớ những gì cậu đã nói trong ngôi nhà lưu động chứ? Khi cậu nói chuyện với bố cậu ngồi trên chiếc ghế trống?”

    Garrett do dự gật đầu.

    “Cậu đã nói cậu cảm thấy đau khổ biết bao khi ông không muốn cậu lên xe buổi tối hôm ấy.”

    “Tôi nhớ.”

    “Nhưng cậu biết tại sao ông không muốn cậu... Ông đã cố gắng cứu tính mạng cậu. Ông biết trong xe có thuốc độc và cả nhà sắp chết. Nếu cậu lên xe với cả nhà cậu cũng sẽ chết. Và ông không muốn điều đó.”

    “Tôi nghĩ là tôi biết”, Garrett nói với giọng thiếu chắc chắn và Amelia Sachs đồ rằng viết lại quá khứ của người ta là một việc không có mấy hy vọng.

    “Hãy luôn luôn nhớ như thế,”

    “Tôi sẽ nhớ.”

    Sachs nhìn con bướm đêm bé tí, màu be, đang bay xung quanh phòng thẩm vấn. “Cậu có để lại con vật nào trong phòng giam cho tôi không? Để bầu bạn?”

    “Có, tôi có để lại. Một đôi bọ rùa – tên thật của chúng là bọ hung đốm. Một con rầy và một con ruồi giả ong. Cách chúng bay hay lắm. Cô có thể quan sát chúng hàng tiếng đồng hồ liền.” Garrett ngừng lại. “Nói chung, tôi xin lỗi vì đã nói dối cô. Vấn đề là, nếu không thì tôi không bao giờ thoát ra được và không thể nào cứu Mary Beth được.”

    “Không sao đâu, Garrett.”

    Cậu ta nhìn Mason. “Bây giờ tôi có thể đi chứ?”

    “Cậu có thể.”

    Garrett bước ra phía cửa, quay lại và nói với Sachs: “Tôi sẽ tới, nói chung, sẽ thường xuyên tới thăm cô. Nếu được.”

    “Tôi sẽ rất vui.”

    Garrett bước ra ngoài, và qua cánh cửa mở Sachs có thể trông thấy cậu ta bước tới một chiếc SUV. Đó là xe của Lucy Kerr. Sachs trông thấy Lucy xuống xe, mở cửa cho cậu ta - giống như một bà mẹ đón đứa con trai sau buổi tập đá bóng. Cánh cửa nhà giam đóng lại, cắt đứt cái khung cảnh gia đình này.

    Và chẳng mấy chốc cô đã ở trong nỗi cô độc này.



    ***



    Ra khỏi Tanner's Corner, nơi con đường vẫn còn hai làn đường 112 có một khúc ngoặt, gần sông Paquenoke. Ngay bên lề đường, mọc um tùm những đám lau, lách, chàm, và những khóm mao hương cao khoe hoa đỏ rực rỡ như màu cờ.

    Đám cây cỏ này tạo thành góc vườn yên tĩnh, chỗ đỗ xe ưa thích của các cảnh sát quận Paquenoke. Họ nhấm nháp trà đá và nghe đài trong lúc chờ đợi khẩu súng bắn tốc độ ghi nhận một tốc độ năm mươi tư dặm một giờ hoặc hơn thế. Rồi họ phóng xe trên quốc lộ đuổi theo, bất ngờ tóm lấy tay tài xế chạy quá tốc độ cho phép và bổ sung thêm chừng trăm đô la vào kho bạc quận.

    Hôm nay, Chủ nhật, khi chiếc SUV Lexus đi qua đoạn đường này, đồng hồ trên khẩu súng bắn tốc độ của Lucy chỉ một tốc độ cho phép, bốn mươi tư dặm một giờ. Nhưng cô vẫn vào số chiếc xe công vụ, bật cái đèn xoay xanh đỏ trên nóc xe và lao đuổi theo chiếc SUV.

    Cô tiến đến gần chiếc Lexus, quan sát nó kỹ lưỡng. Đã từ lâu, cô biết cách kiểm tra gương chiếu hậu của chiếc xe cô định yêu cầu dừng lại. Cứ nhìn vào mắt người lái xe là đã có thể cảm thấy được khá chắc chắn loại tội trạng khác mà họ đang phạm phải, nếu quả là như vậy, ngoài tội chạy quá tốc độ cho phép hoặc để đèn hậu bị vỡ. Ma túy, đánh cắp vũ khí, uống rượu. Có thể cảm thấy được mức độ nguy hiểm của việc yêu cầu dừng xe. Bây giờ cô đang trông thấy ánh mắt người đàn ông lướt qua tấm gương, liếc nhìn cô không một chút tội lỗi hay lo lắng.

    Ánh mắt an toàn...

    Nó khiến cơn giận dữ trong Lucy sôi sục hơn và cô phải hít thở mạnh để kiềm chế.

    Chiêc ô tô to lớn trờ lên lề đường đầy bụi và Lucy tiến đến đỗ đằng sau. Theo như quy định thì Lucy yêu cầu dừng xe là để kiểm tra giấy tờ, nhưng cô chẳng bận tâm tới những thứ đó. Không quy định nào của Cơ quan Quản lý Xe gắn máy khiến cô quan tâm. Cô mở cửa xe bằng hai bàn tay run run và bước ra ngoài.

    Ánh mắt người đàn ông bây giờ đưa sang tấm gương bên thành xe, tiếp tục lạnh lùng quan sát cô. Nó thể hiện đôi chút ngạc nhiên, chú ý, vì cô đang không mặc đồng phục - chỉ quần bò và sơ mi lao động - tuy cô có đeo súng bên hông. Một cảnh sát đang không trong giờ làm nhiệm vụ yêu cầu dừng một chiếc xe không chạy quá tốc độ cho phép nghĩa là thế nào.

    Henry Davett kéo kính cửa sổ xe xuống.

    Lucy Kerr nhìn vào bên trong, cái nhìn vượt qua Davett. Ngồi ở ghế hành khách phía trước là một phụ nữ ngoài năm mươi tuổi. Mái tóc vàng xịt keo khô se cho thấy bà ta chắc chăm đi gội đầu ngoài tiệm. Cổ tay, tai và ngực bà ta lóng lánh kim cương. Một cô con gái tuổi thiếu niên ngồi đằng sau, lật xem các hộp đựng đĩa CD, thầm thưởng thức thứ âm nhạc mà cha cô không bao giờ nghe vào ngày Chủ nhật - ngày nghỉ ngơi và thờ phụng đức Chúa.

    “Sĩ quan Kerr”, Davett nói. “Có vấn đề gì thế?”

    Nhưng Lucy có thể trông thấy trong ánh mắt ông ta, bây giờ thì không còn là qua gương nữa, rằng ông ta biết chính xác vấn đề là gì.

    Và họ vẫn giữ vẻ vô tội, bình tĩnh, như khi Davett trông thấy ánh đèn xanh đỏ xoay trên nóc chiếc Crown Victoria của cô.

    Cô không kiềm chế được cơn giận dữ và quát lên: “Xuống xe đi, Davett”.

    “Anh yêu, anh đã làm chuyện gì?”

    “Có cảnh sát, việc này là sao?”, Davett thở dài hỏi.

    “Xuống xe. Mau.” Lucy cho tay vào bên trong, bật khóa cửa xe.

    “Cô ta có thể làm thế ư, anh yêu? Cô ta có thể…”

    “Im đi, Edna.”

    “Được rồi, tôi xin lỗi.”

    Lucy giật mạnh cửa xe. Davett tháo dây an toàn và bước ra lề đường đầy bụi.

    Một chiếc xe rờ moóc phóng qua, làm trùm bụi lên khắp người họ. Davett khó chịu nhìn những hạt đất sét Carolina xám xịt đậu xuống chiếc áo vét màu xanh da trời. “Gia đình tôi và tôi bị muộn giờ ăn trưa rồi. Tôi không nghĩ…”

    Lucy tóm cánh tay ông ta, lôi ông ta ra khỏi lề đường, đứng vào bên đám lúa trời và cỏ nến mọc cao. Một dòng suối nhỏ, là một nhánh của sông Paquenoke, chảy bên cạnh đường.

    Davett cường điệu nhắc lại: “Việc này là sao?”

    “Tôi đã biết tất cả.”

    “Thế à, sĩ quan Kerr? Cô đã biết tất cả à? Là những gì vậy?”

    “Chất độc đó, những vụ án mạng, con kênh đào…”

    Davett nhẹ nhàng nói: “Tôi chưa bao giờ có một chút quan hệ trực tiếp nào với Jim Bell hay bất cứ ai ở Tanner’s Corner. Nếu có những thằng ngu rồ dại nào đấy trong số nhân viên của tôi đi thuê những thằng ngu rồ dại khác làm những việc phi pháp, thì đó cũng đâu phải lỗi của tôi chứ. Và nếu điều đó đã xảy ra, tôi sẽ hợp tác với nhà chức trách trăm phần trăm”.

    Không bối rối trước câu đáp trả khéo léo của Davett, Lucy nói giọng đe dọa: “Ông sẽ chìm cùng với Bell và thằng em rể hắn”.

    “Tất nhiên tôi sẽ không sao cả. Không có gì liên hệ tôi với bất cứ tội ác nào. Không nhân chứng. Không tài khoản, không chuyển tiền, không bằng chứng về bất cứ việc làm sai trái nào. Tôi là nhà sản xuất các sản phẩm hóa dầu - chất tẩy, nhựa đường, và một số loại thuốc diệt côn trùng.”

    “Thuốc diệt côn trùng bất hợp pháp.”

    “Sai”, Davett gay gắt đáp. “Cơ quan Bảo vệ Môi trường vẫn cho phép sử dụng toxaphene tại Mỹ trong một số trường hợp. Và nó hoàn toàn không bất hợp pháp tại hầu hết các nước Thế giới thứ Ba. Hãy chịu khó đọc, cô cảnh sát: nếu không có thuốc diệt côn trùng, bệnh sốt xuất huyết, bệnh viêm não, nạn đói... sẽ giết chết hàng trăm nghìn người mỗi năm và…”

    “... và khiến những người tiếp xúc với nó mắc chứng ung thư, mất khả năng sinh sản, bị tổn thương gan, và…

    Davett nhún vai. “Hãy cho tôi thấy các nghiên cứu đi, cảnh sát Kerr. Hãy cho tôi thấy các nghiên cứu chứng minh điều ấy.”

    “Nếu nó vô hại đến thế thì tại sao ông phải thôi vận chuyển bằng xe tải? Tại sao ông phải chuyển sang vận chuyển bằng xà lan?”

    “Tôi không thể đưa nó đến cảng bằng bất cứ cách nào khác - vì có những quận và thị trấn thích a dua a tòng đã cấm vận chuyển một số loại hóa chất mà họ không biết thông tin thực sự về chúng. Và tôi không lấy đâu ra thời gian để thuê đám vận động hành lang tác động thay đổi luật.”

    “Chà, tôi cuộc rằng Cơ quan Bảo vệ Môi trường sẽ quan tâm tới việc ông đang làm ở đây.”

    “Ồ, xin mời”, Davett khinh khỉnh nói. “Cơ quan Bảo vệ Môi trường ấy à? Hãy bảo họ đến. Tôi sẽ cho cô số điện thoại của họ. Nếu họ có đến thăm nhà máy nhé, thì họ cũng sẽ tìm thấy toxaphene ở mức độ cho phép khắp xung quanh Tanner’s Corner này.”

    “Có thể ở mức độ cho phép nếu xét riêng nước, riêng không khí, riêng các sản vật địa phương... Nhưng nếu tất cả những thứ đó kết hợp lại với nhau? Nếu một đứa trẻ uống một cốc nước lấy từ cái giếng cha mẹ nó đào, rồi chơi trên cỏ, rồi ăn một trái táo hái từ một vườn quả địa phương, rồi...”

    Davett nhún vai. “Luật pháp quy định rõ ràng, cảnh sát Kerr. Nếu cô không thích chúng, hãy viết thư gửi ông nghị bà nghị của cô.”

    Cô tóm ve áo Davett, gầm lên: “Ông không hiểu. Ông sắp sửa phải vào tù.”

    Davett giật áo ra, thì thầm hằn học: “Không, mới không hiểu, cô sĩ quan. Cô rất không hiểu. Tôi rất, rất hiểu việc tôi làm. Tôi không phạm phải lỗi lầm nào cả”. Ông ta liếc nhìn đồng hồ đeo tay. “Bây giờ tôi phải đi.”

    Davett bước trở về chỗ chiếc SUV, vuốt vuốt mái tóc đang thưa dần. Mồ hôi khiến nó thẫm màu và ẹp xuống.

    Ông ta trèo vào xe, đóng sầm cánh cửa lại.

    Lucy bước tới phía người lái khi ông ta bắt đầu nổ máy. “Hẵng khoan”, cô nói.

    Davett liếc nhìn Lucy. Nhưng người nữ cảnh sát phớt lờ ông ta. Ánh mắt cô đang hướng vào những hành khách của ông ta. “Tôi muốn mẹ con bà trông thấy cái việc mà Henry đã làm.” Hai bàn tay khỏe mạnh giật bung vạt áo sơ mi. Người phụ nữ trong xe há hốc mồm nhìn các vết sẹo màu hồng ở vị trí trước đây là bộ ngực cô.

    “Ôi, xin hãy thôi đi.” Davett lẩm bẩm, đưa ánh mắt qua chỗ khác.

    “Cha...”, cô con gái sững sờ thì thào. Bà mẹ cứ nhìn chằm chằm, không thốt lên lời nào được.

    Lucy nói: “Ông bảo ông không phạm phải lỗi lầm nào ư, Davett?... Ông sai rồi. Ông đã gây ra việc này”.

    Gã đàn ông gài số xe, đánh xi nhan xin rẽ, kiểm tra gương quan sát điểm mù, rồi từ từ cho xe ra quốc lộ.

    Lucy đứng đó hồi lâu, nhìn chiếc Lexus đi xa dần. Cô lục túi quần lôi ra kim băng cài lại áo. Cô đứng dựa vào xe mình hồi lâu, cố gắng không khóc, rồi tình cờ cô nhìn xuống, để ý thấy ở vệ đường một bông hoa nhỏ có màu đỏ hơi hung hung. Cô nheo mắt. Nó là một bông lan hài hồng, thuộc họ phong lan. Những bông hoa trông giống những chiếc hài tí hon. Đây là loài hiếm gặp ở quận Paquenoke và cô chưa bao giờ thấy cây lan hài nào dễ thương như cây này. Sau năm phút, bằng cần gạt tuyết trên kính chắn gió, cái cây đã được cô đánh lên và được đặt an toàn vào cái cốc cao của chuỗi cửa hiệu 7-Eleven[40], thứ bia mang hương vị rễ cây phải hy sinh cho vẻ đẹp khu vườn của Lucy Kerr.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này