Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 40


    Trong căn phòng khách sạn tồi tàn, Lincoln Rhyme lắc đầu ngờ vực khi Sachs nói với anh điều cô vừa phát hiện ra: rằng họ đã biết Charlotte mấy năm trước khi ả đến New York và sử dụng cái tên giả Carol Ganz. Ả và con gái, tên là Pammy, là nạn nhân trong vụ án đầu tiên Sachs và Rhyme hợp tác điều tra – chính vụ án hôm qua anh vừa nghĩ tới, kẻ bắt cóc bị ám ảnh bới những khúc xương người, một đối tượng cũng thông minh và tàn nhẫn như Thợ Đồng Hồ vậy.

    Để truy nã hắn, Rhyme đã tuyển dụng Sachs làm mắt, làm tai, làm chân cho anh tại các hiện trường, và họ đã cùng nhau giải cứu được cà ả đàn bà lẫn con gái ả – và hóa ra Carol tên thật là Charlotte Willoughby. Ả là thành viên một phong trào vũ trang cánh hữu căm ghét chính phủ và những dính líu của chính phủ vào chuyện nội bộ các nước. Sau khi được giải cứu, ả đàn bà đã đánh bom trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Manhattan. Vụ nổ làm chết sáu người.

    Rhyme và Sachs nhận giải quyết vụ này, nhưng Charlotte cùng con gái biến mất vào các hoạt động bí mật, có lẽ là ở miền Tây hoặc Midwest, và cuối cùng mất dấu vết.

    Thi thoảng, họ vẫn kiểm tra những báo cáo có liên quan đến một nhóm vũ trang hay chính trị cánh hữu nào đó của FBI, Chương trình Bắt giữ Tội phạm Bạo lực và cảnh sát thành phố, tuy phiên không phát hiện ra manh mối về Charlotte và Pammy. Mặc dù vậy, Sachs chưa bao giờ bớt lo lắng cho cô gái nhỏ, và đôi lúc, nằm trên giường cùng Rhyme ban đêm, cô lại nói thành lời rằng chẳng biết cô bé đang làm gì, nếu đã quá muộn để cứu cô bé. Sachs, người luôn luôn muốn có con, khiếp sợ cuộc đời mà mẹ cô bé có lẽ đang bắt buộc cô bé phải sống – chui lủi, quá ít bạn bè cùng trang lứa, không được học ở các trường bình thường – tất cả nhân danh một thứ sự nghiệp thù hận.

    Và bây giờ Charlotte – với gã chồng mới Bud Allerton – đã quay lại thành phố này tiến hành một vụ khủng bố nữa, và Rhyme và Sachs thêm một lần liên quan đến cuộc đời bọn họ.

    Charlotte trừng trừng nhìn Rhyme, cập mắt ả chứa đầy cả lệ lẫn lòng căm ghét.

    “Chúng mày đã giết Bud! Đồ phát xít dã man chúng mày! Chúng mày đã giết anh ấy.” Rồi kẻ tù nhân bật tiếng cười lạnh lùng. “Nhưng chúng tao đã chiến thắng Tối nay chúng tao đã giết được bao nhiêu đứa? Năm mươi đứa. Bảy mươi lăm? Và bao nhiêu nhân vật cao cấp từ Lầu Năm Góc?”

    Sachs vươn người tới sát mặt ả.

    “Chị có biết rằng có những đứa trẻ trong phòng hội nghị đó không? Vợ và chồng các quân nhân? Cha mẹ họ? Ông bà họ? Chị có biết không hả?”

    “Tất nhiên là chúng tao biết”, Charlotte trả lời.

    “Họ cũng trở thành những vật hy sinh, đúng không?”

    “Vì mục đích cao cả hơn”, Charlotte đáp.

    Đó có lẽ là câu khẩu hiệu mà ả và nhóm của ả hô mỗi khi bắt đầu một cuộc tập hợp, hay bất cứ cuộc họp nào.

    Rhyme bắt gặp ánh mắt Sachs. Anh nói: “Có lẽ chúng ta nên cho chị ta xem kết quả cuộc tàn sát”.

    Sachs gật đầu và bật ti vi lên.

    Nữ biên tập viên xuất hiện trên màn hình. “… một thương tích không nghiêm trọng. Sĩ quan đội tháo bom đang điều khiển từ xa robot tháo ngòi nổ hai quả bom thì bị thương nhẹ do mảnh vỡ văng vào người. Anh đã được xử lý vết thương và về nhà. Thiệt hại vật chất ước tính là năm trăm nghìn đô la. Khác với các báo cáo ban đầu, vụ đánh bom không liên quan tới Al-Qaeda hay bất cứ nhóm Hồi giáo cực đoan nào. Theo lời một nữ phát ngônviên Sở Cảnh sát New York thì một tổ chức khủng bố trong nước chịu trách nhiệm về vụ đánh bom. Nếu bây giờ quý vị khán giả mới bắt đầu theo dõi chương trình, xin tường thuật lại là hai quả bom đã phát nổ khoảng giữa trưa hôm nay tại tòa văn phòng HUD khu Hạ Manhattan, nhưng không ai tử vong và chỉ có một trường hợp bị thương nhẹ. Một thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Tổng Tham mưu Trưởng Liên quân nằm trong số các mục tiêu của tổ chức khủng bố...”

    Sachs tắt tiếng ti vi và hướng cái nhìn tự mãn sang Charlotte.

    “Không”, ả há hốc mồm. “Ôi, không... Tại sao...?”

    Rhyme nói: “Hiển nhiên là chúng tôi đã phát hiện ra trước khi quả bom phát nổ và sơ tán mọi người trong căn phòng”.

    Charlotte bị mất tinh thần ghê gớm.

    “Nhưng... không thể nào. Không... Các sân bay đóng cửa, các chuyến tàu... ”

    “Ồ, đấy”, Rhyme nói với giọng coi thường. “Chúng tôi chỉ cần kéo dài thời gian. Đầu tiên, đúng, tôi tưởng hắn sẽ đánh cắp Đồng hồ Delphi thật, nhưng rồi tôi đi đến kết luận rằng đó chỉ là đòn nghi binh. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa hắn đã không làm gì với chiếc đồng hồ ở Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ. Bởi vậy, trong lúc xác định chuyện hắn đang thực sự toan tính, chúng tôi đã gọi cho ngài thị trưởng vi đề nghị ngài ra lệnh tạm dừng các chuyến bay, các phương tiện giao thông công cộng.”

    Anh biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta nhấn cái nút đó...

    Charlotte liếc nhìn vào phòng ngủ, nơi chồng ả đã chết một cái chết vô ích. Rồi lý tưởng quay lại trong ả, ả nói bằng giọng đều đều: “Chúng mày sẽ không bao giờ đánh bại được chúng tao đâu. Chúng mày có thể chiến thắng một, hai trận. Nhưng chúng tao sẽ lấy lại đất nước của chúng tao. Chúng tao sẽ…”

    “Nảy, thôi những lời lẽ khoa trương ấy đi, nhé?” Người vừa nói là một người đàn ông da đen, cao, gầy, bước vào căn phòng. Nhân viên mật vụFBI Fred Dellray. Khi anh ta nghe nói tới khủng bố trong nước, anh ta bỏ vụ lừa đảo kế toán mà anh ta đang hỗ trợ (“Dù sao cũng là một vụ chán ngắt”) và tuyên bố sẽ là nhân viên cơ quan điều tra liên bang chịu trách nhiệm vụ đánh bom tòa nhà HUD.

    Dellray mặc bộ com lê màu xanh dương cùng với chiếc sơ mi màu xanh lá cây trông phát choáng, bên ngoài khoác áo choàng màu nâu có hoa văn kiểu zích zắc, mốt năm 1975. Thẩm mỹ của anh ta đối với các thứ trang phục sang trọng cũng phô trương như cung cách của anh ta vậy. Anh ta nhìnCharlotte. “Chà, chà, chà, hãy xem chúng ta tóm được cái gì.” Ả ngang ngạnh nhìn lại. Anh ta bật cười. “Đáng tiếc là cô sẽ đi tù... chà, vĩnh viễn, và cô thậm chí chẳng đạt được điều mà cô những muốn đạt được. Bơi lòng vòng dưới cái vực thất bại thấy thế nào?”

    Phương pháp phỏng vấn đối tượng tình nghi của Dellray rất khác phương pháp của Kathryn Dance, Rhyme ngờ là cô sẽ không đồng tình.

    Charlotte bị Sachs bắt vì những vụ phạm tội cấp bang và bây giờ tới lượt Dellray bắt ả vì những vụ phạm tội cấp liên bang – cả vụ lần này lẫn vụ đánh bom trụ sở Liên Hiệp Quốc mấy năm trước, tội dính líu vào một vụ bắn người ở San Francisco và vài tội linh tinh khác.

    Charlotte nói ả hiểu ả có các quyền gì và rồi lại bắt đầu một bài thuyết giáo nữa.

    Dellray ngoắc ngón tay bảo ả: “Chờ chút, cưng”. Người đàn ông rắn chắc quay sang Rhyme. “Thế anh xác định được sự việc bằng cách nào, Lincoln? Chúng tôi nghe thông tin này thông tin nọ toàn về đám cảnh sát ăn tiền, rồi chuyện thằng cha kỳ quặc để lại danh thiếp là những chiếc đồng hồ, rồi chuyện tiếp theo mà chúng tôi biết là các sân bay đóng cửa và báo động an ninh cấp một tại tòa nhà HUD làm tôi mất giấc ngủ trưa.”

    Rhyme kể chi tiết về quá trình điều tra hết sức nỗ lực để cuối cùng xác định được kế hoạch thực sự của Thợ Đồng Hồ. Kathryn Dance đã đưa ra ý kiến là hắn nói dối khi nói tới nhiệm vụ ở New York. Bởi vậy, họ xem xét lại các bằng chứng. Một số chỉ ra khả năng gã sắp sửa đánh cắp một hiện vật hiếm có tại bảo tàng Mỹ thuật Thành phố.

    Nhưng càng suy nghĩ, Rhyme càng thấy khả năng đó ít đi. Rhyme xác định rằng Duncan dựng lên câu chuyện về chiếc phong bì không được chuyển tới bảo tàng Mỹ thuật chỉ nhằm làm họ tập trung vào bảo tàng này. Một kẻ thận trọng như Thợ Đồng Hồ sẽ không để lại dấu vết. Gã nộp Vincent cho cảnh sát, vì biết kẻ hiếp dâm sẽ khai về ngôi nhà thờ, nơi gã để lại những cuốn hướng dẫn tham quan bảo tàng có đề cập tới đồng hồ Delphi. Gã nhắc tới nó với Hallerstein, cũng như với Vincent. Nhưng sao? Kathryn Dance nghiên cứu lại băng phỏng vấn gã mấy lần, và đi đến kết luận rằng có thể gã nói dối khi nói gã lựa chọn những người tưởng chừng là nạn nhân ấy đơn giản vì từ những địa điếm ấy việc trốn thoát sẽ dễ dàng.

    “Nghĩa là...”. Rhyme nói với Dellray, “… gã lựa chọn họ vì lý do nào đấy khác. Vậy, họ có điểm gì chung?”.

    Rhyme nhớ lại một điều Dance đã tìm hiểu được về hiện trường thứ nhất. Ari Cobb nói chiếc SUV thoạt tiên đỗ ở cuối con hẻm, nhưng rồi Thợ Đồng Hồ lùi xe ra đầu con hẻm bỏ cái xác.

    “Tại sao? Một lý do là gã cần bỏ xác nạn nhân ở một vị trí nhất định. Cái gì gần vị trí đó? Cửa hậu tòa văn phòng HUD.”

    Rồi Rhyme có danh sách khách hàng từ công ty thiết kế sàn, nơi Thợ Đồng Hồ giấu quả bom ngụy trang bằng bình xịt chữa cháy, và biết rằng họ từng cung cấp thảm và gạch lát nền cho tòa văn phòng HUD.

    “Tôi cử cậu tân binh của chúng tôi đi xem xét xung quanh khu vực. Cậu ấy phát hiện ra một tòa nhà bên kia phố Cedar đang được cải tạo lại. Công nhân đã quét lại nhựa mái cách đấy một tuần, ngay trước đợt lạnh. Những mảnh hắc ín ở đó phù hợp với những mảnh hắc ín tìm thấy trên giày đối tượng. Mái tòa nhà kia là vị trí lý tưởng để quan sát tòa văn phòng HUD.”

    Điều này cũng giải thích tại sao gã đã vãi cát xuống nền hiện trường và quét đi – để đảm bảo tuyệt đối chắc chắn rằng họ không tìm thấy dấu vết nào khiến ai đấy về sau nhận diện được gã khi gã quay lại đặt bom.

    Rhyme còn phát hiện ra các nạn nhân khác có mối liên quan đến tòa nhà. Lucy Richter hôm nay sẽ được tuyên dương ở đó, và cô được phát những tấm thẻ đặc biệt để đi vào tất cả các khu vực trong tòa nhà. Cô cũng được phát một bản thông báo mật về thủ tục an ninh và sơ tán trong trường hợp khẩn cấp.

    Đối với Joanne Harper, hóa ra cô đã thiết kế các bình hoa cho buổi lễ – một cách hay để đưa lén cái gì đó vào tòa nhà.

    “Tôi cho là một quả bom. Chúng tôi đề nghị sự tham gia của ngài thị trường bằng cách ngài gọi cho bên truyền thông, yêu cầu họ giữ kín việc chúng tôi đang sơ tán tòa nhà HUD để các đối tượng không trao đổi tin tức. Nhưng quả bom phát nổ trước khi đội tháo bom có thể vô hiệu hóa nó.”Rhyme lắc đầu. “Thật đáng ghét khi những chứng cứ rõ ràng lại bị thổi bay mất. Anh biết là lấy dấu vân tay từ các mảnh kim loại đá văng trong không khí với tốc độ chín trăm kilômét một giây thì khó khăn như thế nào?”

    “Làm sao anh tóm được tiểu thư Dễ Thương đây?”, Dellray hỏi, hất đầu về phía Charlotte.

    Rhyme nói với giọng coi thường: “Việc ấy dễ dàng thôi. Cô ta mắc tội bất cẩn. Nếu Duncan là rởm thì ả ta hỗ trợ hắn ở hiện trường thứ nhất trong con hẻm cùng phải là rởm. Cậu tân binh của chúng tôi đã lấy số đuôi trên biến đăng ký tất cả các xe đỗ gần con hẻm phố Cedar. Chiếc xe mà cô em gái rởm đang lái là một chiếc Avis, do Charlotte Allerton thuê. Chúng tôi kiểm tra mọi khách sạn trong thành phố cho tới lúc tìm thấy cô ta”.

    Dellray lắc đầu. “Còn đối tượng của anh thì sao? Ngài Thợ Đồng Hồ ấy?”

    “Đó lại là một câu chuyện khác”, nhà hình sự học nói rằng con gái Charlotte, cô bé Pam, nghe thấy bảo gã ở một chỗ bên Brooklyn nhung không biết chỗ nào. “Chẳng còn manh mối nào nữa.”

    Dellray cúi người xuống. “Chỗ nào ở Brooklyn? Chúng tôi cần biết. Và ngay bây giờ.”

    Charlotte đáp ngang ngạnh: “Chúng mày thật tồi tệ! Tất cả chúng mày! Chúng mày chỉ lả đổ bợ đỡ cho cái bộ máy quan liêu tại Washington.Chúng mảy đang bán đi trái tim đất nước chúng tao và...”

    Dellray vươn người ra đằng trước, ghé sát mặt Charlotte. Anh ta tặc lưỡi. “Ờ. Không chính trị, không triết lý… Tất cả những gì chúng tôi muốn là trả lời vào câu hỏi. Hiểu chưa?”

    “Đ. mẹ mày.” Đó là câu trả lời của Charlotte.

    Dellray phồng má lên như người thổi kèn trumpet. Anh ta rên rỉ: “Tôi không phải đối thủ của con người tài trí này”.

    Rhyme ước có Kathryn Dance ở đây thẩm vấn ả ta, mặc dù anh nghĩ chắc cũng mất nhiều thời gian mới moi nổi thông tin từ ả.

    Anh lăn xe về phía trước và thì thầm, để Pam không nghe thấy:

    “Nếu cô giúp đỡ chúng tôi, tôi xin đảm bảo rằng khi ở trong tù cô sẽ thi thoảng được gặp con gái. Nếu cô không hợp tác, tôi cam đoan cô sẽ chẳng thấy lại mặt nó chừng nào cô vẫn còn sống”.

    Charlotte liếc nhìn ra hành lang, nơi Pam đang ngồi trên một chiếc ghế dựa, bướng bỉnh cầm cuốn Harry Potter. Cô gái nhỏ tóc đen trông xinh xắn, các nét có vẻ mong manh và quá mảnh khảnh. Cô bé mặc chiếc quần bò đã bạc, chiếc áo ni màu xanh lam thẫm. Mắt cô bé thâm quầng. Cô bật các ngón tay vào nhau liên tục. Cả con người cô toát lên nỗi nghèo khổ.

    Charlotte quay lại nhìn Rhyme. “Thế thì tao sẽ không bao giờ gặp lại nó nữa”, ả nói bình thản.

    Dellray chớp mắt, anh ta thông thường ít bộc lộ những phản ứng tình cảm bằng nét mặt.

    Bản thân Rhyme thì chẳng nghĩ được gì hơn để nói với người đàn bà này.

    Đúng lúc đó, Ron Pulaski chạy vào căn phòng. Anh dừng lại lấy hơi.

    “Gì thế?”, Rhyme hỏi.

    Mất một lát, chàng cảnh sát trẻ mới trả lời được. Cuối cùng, anh nói: “Những cuộc điện thoại... Thợ Đồng Hồ...”.

    “Nói rõ ràng xem nào, Ron.”

    “Xin lỗi...” Một hơi thở sâu. “Chúng tôi không thể lần ra điện thoại di động của hắn, nhưng một nhân viên lễ tân khách sạn đã trông thấy cô ta,Charlotte, hôm nào chừng nửa đêm cũng gọi điện, trong vòng bốn hay năm hôm nay rồi. Tôi gọi tới công ty cung cấp dịch vụ điện thoại lấy được số cô ta gọi đi. Họ lần theo nó, phát hiện ra một máy điện thoại công cộng ở Brooklyn. Chỗ ngã tư này.”

    Pulaski đưa mảnh giấy cho Sellitto, ông ta tiếp tục chuyển cho Bo Haumann và Đơn vị Phản ứng nhanh.

    “Làm việc tốt lắm”, Sellitto bảo Pulaski. Ông ta gọi cho viên phó thanh tra phụ trách đồn cảnh sát khu vực, nơi có bốt điện thoại công cộng kia. Cảnh sát sẽ bắt đầu rà soát trong dân cư ngay sau khi Mel Cooper gửi qua email cho viên phó thanh tra bức ảnh chắp ghép.

    Rhyme đồ rằng Thợ Đồng Hồ không ở gần bốt điện thoại – điều ấy sẽ không khiến nhà hỉnh sự học ngạc nhiên – nhung chỉ ba mươi phút sau, họ đã có thông tin tích cực từ một cảnh sát tuần tra, anh ta tìm thấy mấy người hàng xóm nhận ra gã đàn ông.

    Sellitto lấy số nhà và thông báo cho Bo Haumann.

    Sachs tuyên bố: “Em sẽ gọi về từ hiện trường”.

    “Hẵng hượm”. Rhyme nói, liếc nhìn Sachs. “Tại sao em không ngồi đây đi. Để Bo xử lý vụ này.”

    “Sao thế?”

    ‘Họ sẽ có đầy đủ lực lượng chiến đấu.”

    Rhyme đang nghĩ tới cái sự mê tín là những cảnh sát sắp sửa rời khỏi ngành hay bị chết hoặc bị thương hơn những người khác. Rhyme vốn vẫn không tin tưởng chuyện mê tín. Nhưng điểu ấy chẳng thành vấn đề. Anh muốn Sachs ở lại.

    Amelia Sachs có lẽ cũng nghĩ tới việc đó, xem chừng cô đang cân nhắc. Rồi Rhyme thấy cô nhìn ra Pam Willoughby ở ngoài hành lang. Cô quay lại nhìn nhà hình sự học. Ánh mắt họ gặp nhau. Anh khẽ mỉm nụ cười và gật đầu.

    Sachs vớ lấy chiếc áo khoác ngắn bằng da, vội vã đi về phía cửa.

    Tại một khu vực yên tĩnh ở Brooklyn, khoảng chục cảnh sát từ từ di chuyển dọc theo vỉa hè, sáu cảnh sát khác bước rón rén trong con hẻm đằng sau ngôi nhà tồi tàn đứng riêng biệt.

    Đây là khu vực với những ngôi nhà giản dị, nằm giữa những mảnh sân nhỏ, đang đầy các thứ trang trí cho lễ Giáng sinh. Diện tích chật hẹp không ảnh hưởng tới việc chủ nhân những ngôi nhà này bày ra hết mức có thể nào là ông già tuyết, nào là tuần lộc, các vị tiểu thẩn.

    Sachs chậm rãi bước dọc theo vỉa hè, dẫn đầu nhóm tập kích. Cô liên lạc với Rhyme qua bộ đàm.

    “Chúng em đang ở đây”, cô nói khe khẽ.

    “Tình hình thế nào?”

    “Chúng em đã kiểm tra những ngôi nhà ở hai bên và đẳng sau. Không có nhà nào đối diện.” Bên kia phố là một vườn rau chung. Thằng bù nhìn xơ xác đứng giữa mảnh vườn bé tí. Trên ngực nó loằng ngoằng các hình vẽ và chữ viết.

    “Khu vực khá thuận lợi cho việc tập kích. Chúng em... khoan. Rhyme.” Một ngọn đèn bật lên trong một căn phòng đằng trước. Đồng đội xung quanh Sachs dừng lại và khom người xuống. Cô thì thầm:' “Hắn vẫn còn ở đó... Em tắt máy đây”.

    “Tóm cổ hắn đi, Sachs.” Cô nghe thấy một nỗi quyết tâm khác thường trong giọng Rhyme. Cô biết anh bực bội vì gã đàn ông đã trốn thoát. Cứu được mọi người tại tòa nhà HUD và bắt được Charlotte là tốt rồi. Nhưng Rhyme chưa vui vẻ chừng nào mà tất cả các đối tượng chưa đưa tay vào còng.

    Nhung anh cũng không quyết tâm bằng Amelia Sachs. Cô muốn giao Thợ Đồng Hồ cho Rhyme – như một món quà kỷ niệm lần cuối cùng họ hợp tác phá án.

    Cô thay đổi tần số và nói vào mic: “Thám tử 5885 gọi nhóm Phản ứng nhanh Một”.

    Bo Haumann, tại trạm chỉ huy cách đấy một khối phố, trả lời qua bộ đàm: “Báo cáo đi”.

    “Hắn đang ở đây. Vừa trông thấy một ngọn đèn bật lên trong căn phòng đằng trước.”

    “Roger, nhóm B, nghe thấy không?”

    Đây là những cảnh sát chốt đằng sau ngôi nhà. “Trưởng nhóm B báo cáo nhóm Phản ứng nhanh Một. Roger đây. Chúng tôi... khoan. Được rồi, bây giờ hắn ở trên gác. Vừa trông thấy ngọn đèn bật lên trên gác. Xem chừng là phòng ngủ đằng sau.”

    “Đừng nghĩ hắn có một mình”, Sachs nhắc nhở. “Có thể có cả kẻ nào đấy thuộc tổ chức của Charlotte. Hoặc có thể hắn vừa có một tên đồng lõa khác.”

    “Roger, thám tử, nghe”, Haumann nói bằng giọng khàn khàn. “Trinh sát Kỹ thuật các anh có báo cáo gì cho chúng tôi?”

    Những nhóm Trinh sát Kỹ thuật đang vào vị trí trên nóc tòa chung cư đằng sau ngôi nhà Thợ Đồng Hồ trú ngụ và trong mảnh vườn bên kia phố, họ đang từ đó hướng máy móc sang ngôi nhà.

    “Nhóm Trinh sát Kỹ thuật Một báo cáo nhóm Phản ứng nhanh Một. Tất cả các cửa sổ kính màu đều đóng. Hoàn toàn không nhìn được vào bên trong. Chúng tôi phát hiện ra nhiệt ở phần phía sau ngôi nhà. Nhưng hắn đang ở nguyên một chỗ. Có một ngọn đèn bật trong gian áp mái, nhưng không tài nào nhìn vào, không cửa sổ, chỉ có những mái hắt”

    “Tình hình ở đây cũng giống thế, nhóm Trinh sát Kỹ thuật Hai. Không nhìn vào được. Phát hiện ra nhiệt trên gác, chẳng có gì dưới tầng trệt. Vừa nghe thấy một, hai tiếng lách cách.”

    “Vũ khí à?”

    “Có thể. Cũng có thể chỉ là các thiết bị trong nhà hoặc lò sưởi.”

    Người cảnh sát thuộc Đơn vị Phản ứng nhanh đứng bên cạnh Sachs dùng tay ra hiệu triển khai quân. Anh ta, Sachs và hai cảnh sát khác tập trung tại cửa trưóc, một nhóm bốn cảnh sát ở ngay đằng sau họ. Một người cầm trục gỗ phá cửa. Ba người kia chĩa súng vào các cửa sổ tầng trệt và tầng hai.

    “Nhóm B gọi nhóm Một. Chúng tôi đã vào vị trí. Và đã bố trí thang bên cạnh căn phòng sáng đèn đằng sau.”

    “Nhóm A, đã vào vị trí”, một cảnh sát khác thì thầm qua bộ đàm.

    “Chúng ta chẳng phải khách khí”, Haumann nói với các nhóm. “Khi tôi đếm đến ba, ném lựu đạn tạo ánh sáng và tiếng nổ vào những căn phòng sáng đèn. Nhớ ném mạnh để ném qua được kính cửa sổ. Đến một, thì đồng thời tập kích vào theo cả lối đằng trước lẫn lối đằng sau. Nhóm B, chia ra, chịu trách nhiệm tầng trệt và tầng hầm. Nhóm A, xông thẳng lên gác. Đừng quên, gã này biết chế tạo bom. Nhớ đề phòng xung quanh.”

    “Nhóm B, rõ.”

    “Nhóm A, rõ.”

    Mặc dù trời lạnh cóng, hai lòng bàn tay Sachs trong đôi găng nhãn hiệu Nomex ướt mồ hôi. Cô tháo chiếc bên tay phải ra và thổi vào nó. Rồi lại làm như thế với chiếc bên tay trái. Rồi cô siết chặt đai áo chống đạn và mở nắp bao đạn dự trữ. Những cảnh sát khác sử dụng súng máy, nhưng Sachs chưa bao giờ sử dụng loại vũ khí này. Cô thích cái tao nhã của một viên đạn được nhắm chính xác hơn là một loạt đạn bắn vung vãi.

    Sachs và ba cảnh sát tập kích vào đầu tiên gật đầu với nhau.

    Giọng khàn khàn của Haumann bắt đầu đếm. “Sáu... năm... bốn… ba…”

    Tiếng kính vỡ vang lên trong bầu không khí khô lạnh khi những quả lựu đạn được ném qua cửa sổ.

    Haumann tiếp tục đếm bình thản: “Hai... một”.

    Tiếng lựu đạn nổ chát chúa làm rung chuyển các cứa sổ và trong khoảnh khắc ngôi nhà bùng lên ánh sáng trắng chói lòa. Người cảnh sát lực lưỡng thúc trục gỗ vào cánh cửa trước đánh sầm. Cánh cửa ngay lập tức nứt toác và chỉ sau vài giây cảnh sát đã tỏa ra khắp ngôi nhà hầu như chả có đồ đạc gì.

    Tay nảy cầm đèn pin, tay kia cầm súng, Sachs cùng nhóm của mình xông lên cầu thang.

    Cô bắt đầu nghe thấy giọng những cảnh sát khác gọi to thông báo họ đã kiểm tra xong tầng hầm và các căn phòng ở tầng trệt.

    Rồi tất cả các căn phòng đều được thông báo là đã kiểm tra xong.

    “Hắn biến đằng quái nào nhỉ?”, Sachs lẩm bẩm.

    “Hắn luôn luôn làm những cuộc phiêu lưu, phải không?”, ai đó hỏi.

    “Thằng chết tiệt vô hình này”, một giọng khác nói.

    Rồi Sachs nhận được báo cáo qua tai nghe: “Nhóm Trinh sát Kỹ thuật Một. Đèn gian ảp mái vừa bật. Hắn ở đây”.

    Trong phòng ngủ nhỏ đẳng sau, họ phát hiện ra một cái cửa lật trên trần và một sợi dây to buông xuống từ đó. Chắc hẳn là dây kéo thang. Một cánh sát tắt đèn trong căn phòng để họ không dễ dàng bi nhắm bắn. Họ đứng lùi lại và chĩa súng lên ô cửa, còn Sachs túm lấy sợi dây kéo mạnh. Nó cót két trôi xuống, kèm theo một chiếc thang gấp.

    Người nhóm trưởng hét to: “Tên kia, trên gian áp mái. Xuống mau... Có nghe thấy tao nói không? Đây là cơ hội cuối cùng của mày”.

    Chẳng động tĩnh gì.

    Người nhóm trưởng nói: “Lựu đạn”.

    Một cảnh sát rút quả lựu đạn từ thắt lưng ra, gật đầu.

    Người nhóm trưởng đặt bàn tay lên chiếc thang, nhưng Sachs lắc đầu. “Tôi sẽ tóm cổ hắn.”

    “Chị chắc chắn mình muốn thế chứ?”

    Sachs gật đầu. “Chỉ có điều cho tôi mượn một chiếc mũ sắt.”

    Cô đội mũ, cài dây.

    “Chúng tôi đã sẵn sàng, thưa thám tử.”

    “Tiến hành thôi.” Sachs leo lên đến gần bậc thang trên cùng – rồi lấy quả lựu đạn. Cô rút chốt an toàn, nhắm mắt lại để ánh sáng không làm mình bị lóa và cũng là để thích ứng với bóng tối trên gian áp mái.

    Được rồi, chúng ta đến đây.

    Sachs ném quả lựu đạn vào gian áp mái và hạ thấp đầu xuống.

    Ba giây sau, quả lựu đạn nổ. Sachs leo nốt những bậc thang lên một gian nhỏ mù mịt khói và mùi thuốc nổ. Cô lăn mình ra xa ô cửa, bấm đèn pin và lia nó theo vòng tròn trong lúc di chuyến tới chỗ một cái cột vật che chắn duy nhất cô tìm thấy được.

    Không có gì phía bên phải, không có gì ở chính giữa, không có gì...

    Đúng lúc đó, Sachs ngã lăn quay.

    Cái sàn hoàn toàn không làm bằng gỗ như nhìn bề ngoài mà bằng tấm vữa[82]. Chân phải của cô thụt xuống qua lớp trần phòng ngủ, khiến cô bị giữ chặt lấy, chẳng nhúc nhích được. Cô kêu lên vì đau.

    “Thám tử!”, ai đó gọi.

    Sachs nâng chiếc đèn pin và khẩu súng lên, chĩa về phía duy nhất cô có thể nhìn – thẳng đằng trước. Sát thủ không có đây.

    Nghĩa là hắn ở đẳng sau cô.

    Chính lúc ấy, ngọn đèn trên trần được bật lên, gần như chiếu xuống đúng đầu Sachs, biến cô thành một mục tiêu hoàn hảo.

    Sachs nỗ lực để quay lại, chờ đợi tiếng nổ đanh của một phát súng, cú đập gây tê liệt của một viên đạn xuyên vào đầu, cổ, hay lưng cô.

    Sachs nghĩ về cha.

    Nghĩ về Lincoln Rhyme.

    Anh và em, Sachs...

    Rồi cô quyết định cô không thể chết mà để cho hắn không hề hấn gì. Cô dùng răng giữ khẩu súng ngắn và chống cả hai tay vặn mạnh người lại, tìm kiếm mục tiêu.

    Sachs nghe thấy tiếng giày cao cổ nện bên thang khi một cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh leo lên giúp đỡ cô. Tất nhiên, đó chính là điều Thợ Đồng Hồ đang chờ đợi – cơ hội để giết thêm cảnh sát. Hắn đang sử dụng cô làm mồi nhử các cảnh sát khác vào chỗ bị tiêu diệt và hy vọng sẽ lợi dụng tình trạng rồi loạn để tẩu thoát.


    “Cẩn thận!”, Sachs nói to, tay nắm chặt khẩu súng ngắn. “Hắn…”

    “Hắn đâu?”, trưởng nhóm A hỏi. Anh ta đứng lom khom ở bậc thang trên cùng. Anh ta đã không nghe thấy cô nói – hoặc đã không lắng nghe – vội vã leo lên, theo sau là hai cảnh sát khác. Họ đang quét ánh mắt xung quanh căn phòng – kể cả khu vực đằng sau Sachs.

    Tim cô tức giận đập thình thịch, cô cố gắng hết sức ngoái nhìn qua vai. Cô hỏi: “Các anh không trông thấy hắn à? Hắn phải ở đó chứ”.

    “Không.”

    Người nhóm trưởng và một cảnh sát nữa cúi xuống, túm lấy áo chống đạn của Sachs, kéo cô ra khỏi tấm vữa. Khom người, cô xoay một vòng.

    Căn phòng trống không.

    “Hắn ra ngoài bằng cách nào?”, người sĩ quan Đơn vị Phản ứng nhanh lẩm bẩm. “Không cửa, không cửa số.”

    Sachs nhận ra một thứ ở bên kia căn phòng. Cô cười thành tiếng chua chát. “Hắn không hề lên đây. Không lên đây, không dưới gác. Hắn có lẽ đã chuồn hàng tiếng đồng hồ rồi.”

    “Nhưng những ngọn đèn. Ai đó bật và tắt chúng.”

    “Không. Nhìn kìa.” Sachs chỉ một chiếc hộp màu be nối với hộp cầu chì. “Hắn muốn làm chúng ta tưởng rằng hắn vẫn còn ở đây. Để hắn thêm cơ hội tẩu thoát.”

    “Cái gì thế?”

    “Còn cái gì nữa? Nó là một thiết bị định giờ.”
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 41


    Sachs kết thúc việc khám nghiệm hiện trường tại ngôi nhà ở Brooklyn, gửi số chứng cứ quá ít ỏi mà cô có thể tìm thấy về cho Rhyme.

    Cô cởi bộ đồ Tyvek và mặc chiếc áo khoác vào, vội vã đi qua cái lạnh cắt da cắt thịt tới chỗ Sellitto đỗ xe. Ngồi ở đằng sau xe là Pam Willoughby, ôm chặt cuốn Harry Potter và nhấm nháp cốc sôcôla nóng do viên thám tử to béo xoay xở kiếm được. Ông ta vẫn còn ở bên trong ngôi nhà bí mật của đối tượng, làm nốt các thủ tục. Sachs trèo vào xe, ngồi bên cạnh cô bé. Theo gợi ý của Kathryn Dance, họ đã đưa cô gái nhỏ đến đây cùng xem xét nơi trú ngụ và tài sản của Thợ Đồng Hồ với hy vọng rằng một cái gì đó có thể hỗ trợ trí nhớ của cô. Nhưng gã đàn ông chẳng bỏ lại nhiều thứ và dù sao Pammy cũng không trông thấy gì khiến cô có thể cung cấp thêm thông tin.

    Mỉm cười, Sachs quan sát cô gái nhỏ, nhớ vẻ hy vọng lạ lùng khi cô nhìn thấy cô bé trên chiếc xe đi thuê tại hiện trường đầu tiên. Nữ cảnh sát nói: “Suốt mấy năm qua, cô nghĩ tới cháu rất nhiều”.

    “Cháu cũng thế”, cô gái nhỏ đáp, nhìn xuống cái cốc của mình.

    “Sau khi đến New York, cháu đi đâu?”

    Mẹ con cháu trở về Missouri và lẩn trốn trong rừng. Me để cháu ở cùng những người khác. Hầu như cháu toàn một mình, đọc sách. Cháu chẳng hòa hợp lắm với ai cả. Họ đối xử tệ với cháu. Nếu cô không nghĩ như họ nghĩ, mà những điều họ nghĩ rất kinh khủng, họ sẽ hoàn toàn bỏ rơi cô.

    Nhiều người học tập tại nhà. Nhưng cháu thực sự muốn đến trường và làm ầm ĩ lên. Bud không muốn, nhưng mẹ rốt cuộc đồng ý. Tuy nhiên, bà ấy bảo nếu cháu tiết lộ cho bất cứ ai về bà ấy, về việc bà ấy làm, cháu cũng sẽ bị đi tù như một kẻ trợ thủ... không, một kẻ đồng lõa. Và ở đó đàn ông sẽ giở trò với cháu. Cô biết là cháu đang nói tới chuyện gì.”

    “Ôi, cháu yêu.”

    Sachs siết chặt bàn tay cô bé. Amelia Sachs muốn có con vô cùng, và biết rằng, cách này hay cách khác, trong tương lai cô sẽ có con. Cô xúc động sâu sắc khi một người mẹ lại để con mình phải trải qua những điều này.

    “Và đôi lúc, khi cuộc sống thực sự tồi tệ, cháu vẫn nghĩ tới cô và tưởng tượng rằng cô là mẹ cháu. Cháu không biết tên cô. Có thể hồi đó cháu đã nghe tên cô rồi nhưng cháu chẳng thể nhớ được. Nên cháu đặt cho cô một cái tên khác: Artemis. Cháu đọc những câu chuyện thần thoại từ cuốn sách này. Đó là nữ thần săn bắn. Vì cô giết chết bọn chó dại, bọn người đang tấn công cháu.” Cô bé nhìn xuống. “Đó là một cái tên thật ngớ ngẩn.”

    “Không, không, đó là một cái tên tuyệt vời. Cô rất yêu cái tên ấy... Cháu đã nhận ra cô trong con hẻm hôm thứ Ba, đúng không? Lúc cháu ngồi trên xe?”

    “Vâng. Cháu nghĩ trời xui khiến cô ở đó, để lại cứu cháu. Cô có cho là có những chuyện như thế xảy ra không?”

    Không, Sachs không tin. Nhưng cô nói: “Đôi lúc, cuộc sống diễn ra theo những cách rất lạ lùng”.

    Một chiếc xe loại được chế tạo để chạy trong thành phố đỗ lại và một người làm công tác xã hội mà Sachs quen biết bước ra, đi đến chỗ họ.

    “Ôi chao.” Người phụ nữ gốc Phi xinh đẹp xoa xoa hai bàn tay vào nhau trước cái máy sưởi. “Thậm chí chưa chính thức bắt đầu mùa đông. Lạnh như thế này thật không chịu đựng nổi.” Chị ta đã thu xếp cho cô gái nhỏ và giờ đang trình bày: “Chúng tôi tìm thấy mấy gia đinh muốn nhận con nuôi thực sự tốt. Có một gia đinh ở Riverdale tôi quen biết nhiều năm nay rồi. Cháu sẽ lưu lại đó vài ngày tới, trong lúc chúng tôi thử xem có thể lần ra một số bà con của cháu không”.

    Pammy cau mày. “Cháu có thể mang một cái tên mới không?”

    “Một cái tên mới?”

    “Cháu không muốn là cháu nữa. Cháu không muốn mẹ lại nói chuyện với cháu. Và cháu không muốn bất cứ ai mà mẹ cháu có quan hệ tìm thấy cháu.”

    Sachs giành quyển nói trước dù cho người phụ nữ làm công tác xã hội kia sắp sửa nói gì: “Chúng ta đảm bảo là sẽ không có gì xảy ra với cháu. Một lời hứa đây”.

    Panuny ôm lấy Sachs.

    “Vậy cô có thể gặp lại cháu?”, Sachs hỏi.

    Cố gắng kiểm chế nỗi phấn chấn trước việc này, cô gái nhỏ đáp: “Cháu nghĩ là có thể. Nếu cô muốn”.

    “Đi mua sắm vào ngày mai, cháu thấy thế nào?”

    “Được. Chắc chắn được ạ.”

    “Tốt. Một cuộc hẹn đấy nhé.” Sachs chợt nảy ra một ý tưởng. “Này, cháu thích chó không?”

    “Có ạ, mấy người cháu sống cùng ở Missouri nuôi một con. Cháu ưa nó hơn bọn họ.”

    Sachs gọi cho Thom đang ở nhà Rhyme. “Có một câu hỏi.” “Xin mời.”

    “Đã ai nhận nuôi Jackson chưa?”

    “Chưa. Nó vẫn chờ người nhận nuôi đây.”

    “Chẳng phải đăng tin tìm người nhận nuôi nó nữa”, Sachs nói Cô ngắt máy và nhìn Pam. “Cô có một món quà Giáng sinh sớm cho cháu.”


    Đôi khi, thậm chí những chiếc đồng hồ đeo tay được chế tạo tinh vi nhất cũng đơn giản là không hoạt động,

    Nếu người ta suy nghĩ về chúng, người ta sẽ thấy chúng thực sự rất dễ gặp trục trặc. Năm trăm, một nghìn bộ phận chuyển động tí hon, những chiếc vít những lò xo, chân kính nhỏ li ti, tất cả được lắp ráp một cách chính xác, hàng chục chuyển động riêng rẽ làm thành một hợp xướng... Hàng trăm thứ có thể bị nhầm lẫn. Đôi khi người thợ đồng hồ tính toán sai, đôi khi một mẩu kim loại bé xíu không hoàn hảo, đôi khi chủ sở hữu chiếc đồng hồ lên dây cót quá chặt. Đôi khi anh ta đánh rơi nó. Hay hơi ẩm luồn vào bên dưới vỏ kính.

    Rồi chiếc đồng hồ lại có thể hoạt động chính xác trong môi trường này mà không hoạt động chính xác trong môi trường khác. Thậm chí chiếc đồng hồ danh tiếng Rolex Oyster Vĩnh Cửu, mang tính cách mạng vì là chiếc đồng hồ đầu tiên thuộc dòng xa xi dành cho các thợ lặn, cũng chỉ chịu được những mức áp suất nhất định dưới nước.

    Lúc bấy giờ, gần công viên Trung Tâm, Charles Vespasian Hale ngồi trong chiếc xe của chính gã, gã đã lái đến đây từ San Diego – chẳng để lại dấu vết gì, nếu mua xăng bằng tiền mặt và tránh những tuyến đường phải trả phí giao thông. Gã đang tự hỏi yếu tố nào khiến kế hoạch mà gã vạch ra không được thuận buồm xuôi gió.

    Gã đồ rằng câu trả lời là cảnh sát, đặc biệt là Lincoln Rhyme. Hale đã làm mọi việc gã có thể nghĩ ra để dự đoán những động thái của Rhyme.Nhưng người cựu cảnh sát rốt cuộc cứ đi trước gã một chút. Rhyme thực hiện chính xác cái điều gã lo lắng – anh quan sát vài bánh răng, vài đòn bẩy, rồi từ đó suy ra được cách lắp ráp toàn bộ chiếc đồng hồ của Hale.

    Gã sẽ có vô khối thời gian xem xét lại những sai sót vả tương lai cố gắng tránh để xuất hiện những sai sót này. Gã sẽ lái xe trở về California, rờikhỏi đây ngay tức khắc. Gã liếc nhìn gương mặt mình trong gương chiếu hậu. Gã đã nhuộm lại màu tóc tự nhiên, đã tháo cặp kính áp tròng màu xanh lơ nhạt, nhưng chất collagen[83], khiến gã có chiếc mũi dày, cặp má phị và cái cằm đôi, vẫn cỏn nằm dưới lớp da gã. Và sẽ mất hàng tháng trời gã mới lấy lại được gần hai mươi ki-lô phải giảm đi vì phi vụ này, để trở về là chính bản thân gã. Gã cảm thấy ốm yếu, uể oải sau khoảng thời gian vừa qua ở thành phố và cần trở về với thiên nhiên hoang dã, với núi đồi.

    Đúng, Hale đã thất bại. Nhưng, như gã nói với Vincent Reynolds, điều ấy chẳng nhằm nhò gì trong cả cái kế hoạch vĩ đại. Gã không lo lắng về việc Charlotte Allerton bị bắt. Bọn ả đâu biết danh tính thực sự của gã (suốt từ bấy tới giờ bọn ả đinh ninh rằng gã tên thật là Duncan) và những tiếp xúc ban đầu được thông qua các cá nhân cực kỳ kín đáo.

    Hơn nữa, thực tế thi sự thất bại lại có mặt tích cực – Hale đã biết được một điều làm thay đổi cuộc đời gã. Gã sáng tạo ra nhân vật Thợ Đồng Hồ đơn giản vì nhân vật này có vẻ rùng rợn, khiên dân chúng và cảnh sát xuất hiện mối quan tâm vốn vẫn dành cho loại tội phạm của những chương trình tin tức giật gân ly kỳ.

    Nhưng khi vào vai, Hale ngạc nhiên với phát hiện rằng nhân vật này chính là hiện thân cho cái bản ngã đích thực của gã. Việc vào vai giống như là trở về nhà vậy. Gã đâm ra mê say thời gian và các loại đồng hồ. (Gã cũng hình thành nên niềm thích thú lâu dài đối với Đồng hồ Delphi, đánh cắp nó vào lúc nào đó sau này là khả năng quá ư rõ ràng.)

    Thợ Đồng Hồ...

    Bản thân Charles Hale đơn giản là một chiếc đồng hồ. Người ta có thể sử dụng một chiếc đồng hồ cho những việc vui vẻ như kiểm tra những cơn co bóp dạ con chờ đợi sự ra đời của một đứa bé. Hay những việc dã man như phối hợp thời gian để thực hiện một vụ cướp bóc, tàn sát phụ nữ và trẻ em.

    Thời gian vượt qua giới hạn đạo đức.

    Hale lúc này nhìn xuống cái vật nằm trên ghế bên cạnh mình, chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng Breguet. Với đôi bàn tay đeo găng, gã cầm nó lên, chậm rãi vặn dây cót – vặn dây cót không hết cỡ bao giò cũng tốt hơn – rồi cẩn thận đút nó vào giữa hai lớp nilon xốp trong cái phong bì lớn màu trắng.

    Hale đậy nắp phong bì có dính sẵn và nổ máy.

    Chẳng manh mối rõ rệt nào cả.


    Rhyme, Sellitto, Cooper và Pulaskỉ đang ngồi trong phòng thí nghiệm trên đường Tây Công viên Trung Tâm, xem những thứ quá ít ỏi được tìm thấy tại ngôi nhà bí mật của đối tượng bên Brooklyn.

    Amelia Sachs lúc này không có mặt. Cô chẳng thông báo mình đi đâu. Nhưng cô cũng chẳng cần phải thông báo. Cô đã bảo Thom rằng cô ở gần đây, nếu mọi người muốn gọi cô – tham gia một cuộc họp chỗ góc phố Sáu và Năm mươi bảy. Rhyme đã kiểm tra danh bạ điện thoại. Đó là trụ sở công ty Argyle.

    Rhyme đơn giàn không thể suy nghĩ tới việc ấy, và anh đang tập trung vào vấn đề làm thế nào tiếp tục tìm kiếm Thợ Đồng Hồ dù gã có là ai chăng nữa.

    Xem xét ngược trở lại, Rhyme dựng lên sơ bộ bối cảnh các sự kiện. Buổi lễ được thông báo ngày 15 tháng Mười, vậy Carol và Bud đã liên lạc với Thợ Đồng Hồ vào khoảng thời gian này. Gã đến New York chừng mùng 1 tháng Mười một, ngày ngôi nhà bí mật ở Brooklyn bắt đầu được thuê. Mấy tuần sau đó, Amelia Sachs nhận vụ Creeley, rồi tiếp theo không bao lâu, Baker và Wallace quyết định cho thủ tiêu cô.

    “Lúc này bọn chúng mốc nối với Thợ Đồng Hồ. Khi chúng ta tưởng hắn là Duncan, hắn nói với chúng ta thế nào nhi? Về việc bọn chúng gặp gỡ ấy?”

    Sellitto trả lời: “Chỉ là ai đó ở câu lạc bộ đã giới thiệu bọn chúng với nhau, cái câu lạc bộ nơi Baker động đến bạn hắn”.

    “Nhưng hắn nói dối. Không có câu lạc bộ nào...” Rhyme lắc đầu. “Kẻ nào đó đã giới thiệu bọn chúng với nhau, kẻ nào đó biết Thợ Đồng Hồ... có thể là kẻ nào đó ở thành phố này. Nếu chúng ta phát hiện ra được kẻ ấy, có thể sẽ có những manh mối chắc chắn. Baker có khai gì không?”

    “Không, không một lòi. Không đứa nào mở miệng.”

    Chàng cảnh sát trẻ lắc đầu. “Đó sẽ là một việc khó khăn. Tôi muốn nói, có bao nhiêu băng nhóm tội phạm có tổ chức trong thành phố này? Biết đến lúc nào mới lần ra được đúng kẻ ấy. Xem chừng chẳng ai định tình nguyện giúp đỡ chúng ta đâu.”

    Nhà hình sự học cau mày. “Cậu đang nói tới cái gì? Một băng nhóm tội phạm có tổ chức thì đóng vai trò gì?”

    “Chà, tôi chỉ nghĩ kẻ nào đó có liên quan tới giới tội phạm có tổ chức chính là kẻ đã giới thiệu bọn chúng với nhau.”

    “Tại sao?”

    “Baker muốn thủ tiêu một cảnh sát, đúng không ạ? Tuy nhiên hắn chẳng thể thực hiện theo cái cách khiến hắn bị nghi ngờ, bởi vậy hắn phải thuê kẻ nào đó. Hắn đến chỗ quen biết thuộc giới tội phạm có tổ chức. Nhưng chỗ quen biết ấy không làm việc giết cảnh sát, nên giới thiệu Baker với một tên có thể làm việc này: Thợ Đồng Hồ.”

    Chẳng ai nói gì, Pulaski đỏ bừng mặt và nhìn xuống. “Tôi không biết. Chỉ là một ý nghĩ thế thôi.”

    “Và là một ý nghĩ quá hay, cậu chàng ạ”, Sellitto nói.

    “Thật à?”

    Rhyme gật đầu. “Không tồi... Hãy gọi cho lực lượng đặc nhiệm về tội phạm có tổ chức và thử xem đám đưa tin của họ có thể cung cấp tin tức gì. Gọi cho Dellray nữa... Bây giờ, chúng ta sẽ quay lại với các chứng cứ.”

    Họ xác định được một số dấu vân tay tại ngôi nhà bí mật ở Brooklyn, nhưng chẳng dấu vân tay nào cho kết quả theo Hệ thống hợp nhất nhận diện dấu vân tay tự động và chẳng dấu vân tay nào phù hợp với dấu vân tay trên những hiện trường trước. Ngôi nhà được thuê dưới một cái tên giả khác và một địa chỉ giả. Đây là hợp đồng giao dịch sử dụng tiền mặt. Kiểm tra kỹ lưỡng việc truy cập Internet trong khu vực thì thấy gã đàn ông xem chừng thi thoảng truy cập qua vài mạng không dây xung quanh đấy. Không phát hiện được các hộp thư điện tử, chỉ có các website đã truy cập. Website Thợ Đồng Hồ vào thường xuyên nhất là của một cửa hiệu sách bán các giáo trình cho một số chuyên ngành y khoa bậc đại học.

    Sellitto nói: “Bậy thật, lại một kẻ nào nữa đã thuê hắn”.

    Chắc chắn, Rhyme tự nhủ thầm, gật đầu. “Hắn sẽ nhằm vào một, hoặc một số nạn nhân khác. Biết đâu ngay bây giờ hắn đang xây dựng kế hoạch. Nghĩ xem hắn có thể gây ra tai họa như thế nào khi đóng giả một bác sĩ.”

    Và ta đã để hắn trốn thoát.

    Xem xét chỗ chứng cứ Sachs thu thập được, thấy hầu như không có gì hơn ngoài những cái sợi tuột từ cổ len của áo khoác và vài mẩu thực vật màu xanh đọng dấu vết nước biển – tuy nhiên hóa ra chẳng phù hợp với rong và nước biển phát hiện xung quanh chiếc thuyền của Robert Wallace ởLong Island.

    Viên phó thanh tra phụ trách đồn cảnh sát khu vực bên Brooklyn gọi điện thông báo rằng việc tìm hiểu thêm trong khu vực là vô ích. Năm, sáu người nhớ đã gặp Thợ Đồng Hồ, nhưng không ai biết gì về gã.

    Đối với Charlotte và gã chồng mới chết của ả, Bud Allerton, quá trình điều tra đạt kết quả mỹ mãn hơn nhiều. Đôi vợ chổng còn lâu mới thận trọng bằng Thợ Đồng Hồ. Sachs tìm thấy số lượng lớn chứng cứ vê các nhóm vũ trang bí mật đã chứa chấp bọn chúng cũng như về cái Hội đồng Ái quốc khét tiếng trên mạn phía bắc thành phố New York, mà Rhyme và Sachs từng đụng độ. Những cuộc điện thoại, dấu vân tay, email... cung cấp choFBI và cảnh sát bang vô số manh mối truy lùng.

    Chuông cửa reo và Thom rời khỏi căn phòng đi ra mở cửa. Lát sau, anh ta quay vào với một người phụ nữ mặc quân phục. Đấy là Lucy Richter,“nạn nhân” thứ tư của Thợ Đồng Hồ. Rhyme để ý thấy cô ngạc nhiên vì phòng thí nghiệm giám định vật chứng trong ngôi nhà của anh hơn việc anh bị tàn tật. Rồi anh ý thức được rằng người phụ nữ này đã tham gia vào một thể loại chiến tranh nơi những quả bom là thứ vũ khí mà người ta lựa chọn, hiển nhiên là cô đã chứng kiến đủ kiểu mất tay chân, liệt bán thân hay toàn thân. Tình trạng của Rhyme không khiến cô bối rối.

    Lucy giải thích là cô mới gọi điện cho Kathryn Dance, nói muốn trao đổi với các nhân viên điều tra. Nữ thám tử của California đề nghị cô gọi điện hoặc ghé nhà Rhyme.

    Thom ngó vào hỏi cô uống chè hay cà phê. Thường ghét khách khứa và không thích khuyến khích bất cứ ai nấn ná chưa ra về, Rhyme lúc này, trái lại, trừng mắt với anh chàng phụ tá.

    “Chị ấy có lẽ đang đói đấy, Thom. Hoặc có lẽ muốn uống gì đó chất hơn. Rượu Scotch chẳng hạn.”

    “Chỉ là không hiểu nổi anh thôi”, Thom nói. “Không biết rằng lại có một quy tắc hiếu khách dành cho các quân nhân trong ấn bản Lincoln Rhymecủa Emily Post[84].”

    “Cảm ơn, nhưng tôi không dùng gì”, Lucy nói. “Tôi không ở đây lâu được. Đầu tiên, tôi muốn cảm ơn các vị. Vì đã cứu tính mạng tôi, hai lần.”

    “Thực ra...”, Selỉitto bình luận, “... lần thứ nhất chị không gặp nguy hiểm. Hắn không hề định làm hại chị, hay bất cứ nạn nhân nào. Lần thứ hai ấy à? Chà, được, xin nhận, vì hắn muốn cho nổ tan tành phòng hội nghị”.

    “Gia đình tôi cũng ở đó”, Lucy nói. “Tôi không thể nào cảm ơn cho đủ.”

    Rhyme, vẫn luôn luôn như vậy, cảm thấy bực bội với chuyện cảm ơn, tuy nhiên anh cũng gật đầu trước cái mà anh cho là một lời cảm ơn đúng đắn.

    “Lý do tiếp theo là tôi phát hiện ra một chi tiết có thể hữu ích. Tôi đã nói chuyện với những người hàng xóm về thời điểm hắn đột nhập. Một người đàn ông, anh ta sống cách đó ba tòa nhà, kể cho tôi một chi tiết. Anh ta bảo rằng hôm qua, trong lúc nhận một món hàng đằng sau tòa nhả, anh ta phát hiện ra một sợi dây từ mái nhà buông xuống con hẻm. Anh có thể đi từ mái tòa nhà tôi ở sang đó khi dễ dàng. Tôi nghĩ đấy có thể là cách hắn tẩu thoát.”

    “Thật thú vị”. Rhyme nhận xét.

    “Nhưng còn một việc nữa. Chồng tôi đã xem sợi dây. Bob từng hai năm là lính đặc nhiệm hải quân Mỹ...”

    “Hải quân? Còn chị thuộc lục quân?”, Pulaski vừa hỏi vừa cười thành tiếng.

    Lucy mỉm cười. “Thi thoảng chúng tôi lại có những cuộc thảo luận... thú vị. Đặc biệt vào mùa bóng bầu dục. Dù sao, anh ấy cũng đã xem sợi dây và nói bất cứ ai buộc sợi dây này đều biết mình đang làm gì. Nó là một nút buộc hiếm gặp, sử dụng trong môn leo núi bằng dây thừng. Nó được gọi là nút buộc của người chết. Anh không hay gặp nó ở Mỹ, mà chủ yếu ở châu Âu. Hắn chắc chắn từng leo vách đá hoặc leo núi ở nước ngoài.”

    “A, một thông tin chẳng dễ dàng gì có được.” Rhyme vẻ phiền muộn liếc nhìn Pulaski. “Thật xấu hổ khi nạn nhân phải tự phát hiện chứng cứ, cậu nghĩ thế chứ? Điều này thực sự nằm trong bản mô tả công việc của chúng ta đây.” Anh quay sang Lucy. “Sợi dây vẫn còn ở đó à?”

    “Vâng.”

    “Tốt... Chị sẽ ở thành phố một thời gian?”, Rhyme hỏi. “Nếu chúng tôi bắt được hắn, chúng tôi có thể cần chị làm chứng tại tòa.'’

    “Tôi sắp sửa trở ra nước ngoài rồi. Nhưng tôi chắc chắn có thể quay về dự xét xử. Tôi có thể xin nghỉ phép đặc biệt.”

    “Chị sẽ sang đây bao lâu?”

    “Tôi đăng ký hai năm.”

    “Chị đăng ký rồi?”, Sellitto hỏi.

    “Đầu tiên tôi chẳng nghĩ sẽ quay lại. Ở đấy rất khắc nghiệt. Nhưng rồi tôi đã quyết định quay lại.”

    “Vì vụ đánh bom tại buổi lễ?”

    “Không, ngay trước đây. Tôi nhìn các gia đình và những quân nhân khác, nghĩ cũng kỳ lạ khi cuộc đời đặt người ta vào những chốn người ta chưa bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ ở đó. Nhưng người ta ở đó, làm những việc tốt đẹp, quan trọng và căn bản là cảm thấy đúng đắn. Vậy đây.” Lucymặc áo khoác. “Nếu các vị cần tôi, tôi sẽ xin nghỉ phép để về nhà.”

    Họ chào nhau và Thom tiễn Lucy ra cửa.

    Khi anh chàng phụ tá quay vào, Rhyme bảo anh ta: “Bổ sung cho mô tả sơ lược đối tượng. Một tay leo vách đá hoặc leo núi, có khả năng được đào tạo bên châu Âu”. Quay sang Pulaski, Rhyme nói: “Và cử ai đó thuộc đơn vị Khám nghiệm hiện trường đi lấy sợi dây mà cậu đã bỏ qua lúc trước...”.

    “Thực tế, tôi không hẳn là người xem xét…”

    “... rồi tìm một chuyên gia về leo trèo. Tôi muốn biết hắn có thể đã được đào tạo tại đâu. Và kiểm tra sợi dây nữa. Hắn mua nó ở chỗ nào, bao giờ?”

    “Vâng, thưa sếp.”

    Mười lăm phút sau, chuông cửa lại reo và Thom quay vào với Kathryn Dance. Đôi tai nghe máy iPod màu trắng lủng lẳng qua vai, cô chào tất cả mọi người. Cô cầm một chiếc phong bì cỡ A4 màu trắng.

    “Chào chị”, Pulaski nói

    Rhyme nhướn một bên mày.

    “Tôi đang trên đường ra sân bay”, Dance giải thích. “Chỉ muốn tạm biệt mọi người. Ồ, cái này nằm trên bậc cửa.”

    Dance đưa chiếc phong bì cho Thom.

    Anh chàng phụ tá liếc nhìn nó. “Không địa chỉ người gửi.” Anh ta cau mày.

    “Hãy đảm bảo an toàn”. Rhyme nói. “Cái giỏ.”

    Seỉlitto cầm chiếc phong bì và bước tới chỗ một cái thùng lớn đan bằng các thanh thép – giống như một cái giỏ mây đựng đồ đem đi giặt. Ông ta đặt chiếc phong bì vào bên trong, kẹp chặt nắp thùng lại. Lẽ dĩ nhiên, bất cứ cái gói chưa được xác định nào cũng đều phải vào giỏ xử lý bom, thiết bị có tác dụng vô hiệu hóa những quả bom tự chế cỡ từ nhỏ đến vừa. Nó bao gồm các bộ phận cảm biến nhận ra được dấu hiệu của các muối nitrate và các loại thuốc nổ thông thường khác.

    Máy vi tính đánh hơi chiếc phong bì, thông báo rằng không phải bom.

    Đeo găng tay cao su, Cooper lấy chiếc phong bì ra xem xét. Nó mang một cái nhãn in trên máy vi tính, chẳng có gì ngoài hai từ Lincoln Rhyme.

    “Dính sẵn”, người kỹ thuật viên bổ sung, nhăn mặt vẻ chấp nhận. Các nhà hình sự học ưa kiểu phong bì cũ hơn, kiểu phong bì mà các đối tượng phải liếm, nước bọt là một nguồn đầy ADN. Cooper nói thêm rằng loại phong bì này rất quen thuộc, nó được bán tại tất cả các cửa hiệu trên toàn quốc, hầu như không thể truy nguyên.

    Rhyme lăn xe lại gần và, với Dance bên cạnh, quan sát người kỹ thuật viên rút ra một chiếc đồng hồ bỏ túi và một bức thư, cũng in trên máy vi tính.

    “Hắn gửi”. Cooper thông báo.

    Chiếc phong bì nằm đó chưa đây mười lăm phút – khoảng thời gian từ lúc Lucy Richter ra về tới lúc Dance đến. Sellitto gọi cho Trung tâm yêu cầu một số xe của đồn cảnh sát khu vực Hai mươi rà soát khắp khu vực này. Cooper gửi qua email cho đồn Hai mươi bức ảnh chắp ghép thể hiện khuôn mặt Thợ Đồng Hồ.

    Chiếc đồng hồ đang chạy tích tắc và chỉ giò chính xác. Nó làm bằng vàng và trên mặt nó có vài cái mặt nhỏ.

    “Nặng”, Cooper nói. Anh ta đeo kính lúp lên và xem xét nó tỉ mỉ hơn. “Trông cũ kỹ, có dấu hiệu hao mòn... không khắc đánh dấu tên họ.” Anh ta lấy cái chổi lông lạc đà và quét chiếc đồng hồ bên trên một tờ giấy loại dùng để in báo. Cả chiếc phong bì. Không thấy dấu vết nào rơi ra.

    “Đây là bức thư, Lincoln.” Cooper đặt nó vào máy chiếu.


    Ngài Rhyme kính mến,

    Tôi sẽ chẳng còn ở đây lúc ngài nhận được bức thư này. Tất nhiên, bây giờ thì tôi đã biết rằng không ai tới dự buổi lễ bị thương vong gì. Tôi đi đến kết luận ngài đã dự đoán trước được kế hoạch của tôi. Rồi tôi cũng lại dự đoán trước được kế hoạch của ngài và hoãn chuyến viếng thăm Charlotte tại khách sạn, việc ấy cho tôi cơ hội nhận ra những cảnh sát của ngài. Tôi đồ rằng ngài đã cứu được con gái ả. Tôi hài lòng vì điều đó. Nó xứng đáng hưởng những cái tốt đẹp hơn là cặp vợ chồng kia.

    Vậy xin chúc mừng. Tôi cứ nghĩ kẽ hoạch ấy hoàn hào. Nhưng rõ rang tôi đã nhầm.

    Chiếc đồng hồ bỏ túi là một chiếc hiệu Breguet. Nó là chiếc đồng hồ tôi yêu thích trong số rất nhiều đồng hồ tôi từng gặp. Nó được sản xuất từ đầu thế kỷ XIX,có một cái hồi hình trụ bằng hồng ngọc, một lịch vạn niên và một dù chống sốc. Tôi hy vọng ngài hiểu được cửa sổ thể hiện cáckỳ trăng, khi xem xét lại những cuộc phiêu lưu vừa qua của chúng ta. Trên thế giới hiếm có hiện vật nào như chiếc đồng hồ này. Tôi xin tặng nó cho ngài, vì lòng kính trọng. Chưa ai từng khiến tôi không hoàn thành một công việc, ngài giỏi như vậy đấy. (Tôi cũng định nói ngài giỏi như tôi, tuy nhiên điều ấy không hoàn toàn đúng. Suy cho cùng thì ngài không bắt được tôi.) Nhớ lên dây cót chiếc Breguet (nhưng nhẹ nhàng thôi); nó sẽ đếm thời gian từ nay tới lúc chúng ta gặp lại.

    Lời khuyên: Nếu tôi là ngài, tôi sẽ chẳng để nó bị lỡ một giây nào cả.

    Thợ Đồng Hồ

    Sellitto nhăn mặt.

    “Gi thế?”, Rhyme hỏi.

    “Anh nhận được những lời đe dọa sang trọng hơn tôi đấy, Linc ạ. Thông thường thì các đối tượng của tôi chỉ nói: “Tao sẽ giết mày”. Và thế là cái quái quỷ gì?” Sellỉtto chỉ bức thư. “Một dấu chấm phẩy? Hắn đe dọa anh và hắn sử dụng dấu chấm phẩy. Thật chả ra sao.”

    Rhyme không cười. Anh vẫn điên tiết vì gã đàn ông trốn thoát mất – và cũng điên tiết vì hắn rõ ràng chẳng có nguyện vọng về hưu.

    “Lon, khi anh chán nói những câu bông lơn vớ vẩn, anh có thể sẽ muốn để ý thấy rằng kiến thức ngữ pháp của hắn hoàn hảo. Điều ấy cho chúng ta biết thêm về hắn. Được học hành hẳn hoi. Trường tư? Có học bổng? Tốt nghiệp xuất sắc? Ghi lên bảng. Thom.”

    Sellitto nói bình thản: “Những dấu chấm phẩy chết tiệt”.

    “Có cái gì đây này”, Cooper nói, ngẩng lên khỏi màn hình máy vi tính. “Mẫu vật màu xanh lá cây tìm thấy tại ngôi nhà ở Brooklyn à? Tôi khá chắc chắn đó là Caulerpa taxifoila. Một loài rong độc.”

    “Một loài gì?”

    “Nó là một loài rong biển sinh sôi nảy nở không kiểm soát được. Gây ra đủ thứ vấn đề. Đã bị cấm ở Mỹ.”

    “Và có lẽ, nếu nó sinh sôi nảy nở tràn lan, người ta tìm thấy nó ở mọi nơi”, Rhyme nói cáu kỉnh. “Một bằng chứng vô ích.”

    “Thực tế, không phải vậy”, Cooper giải thích. “Cho tới nay, nó chỉ được tìm thấy trên bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ.”

    “Từ Mexico đến Canada?”

    “Khá nhiều.”

    Rhyme nói thêm giọng châm biếm: “Đó gần như là một địa chỉ ấy nhỉ. Gọi đơn vị Chiến thuật và Vũ khí Đặc biệt đi”.

    Lúc này, Kathryn Dance cau mày. “Vũng West Side à?” Cô cân nhắc gì đó một lát. Rồi cô hỏi: “Băng phỏng vấn hắn đâu?”.

    Mel Cooper tìm thấy cái file đó. Anh ta ấn nút PLAY và lần thứ mấy chục họ quan sát kẻ giết người nhìn vào máy camera, nói dối tất cả bọn họ.Dance vươn về phía trước, vẻ chăm chú. Cô khiến Rhyme nhớ tới những lúc bản thân mình nhìn chằm chằm các vật chứng.

    Anh đã xem phần phỏng vấn này nhiều tới nỗi trở nên vô cảm trước những lời lẽ, bây giờ anh chẳng còn thấy nó cung cấp thông tin gì hữu ích nữa. Nhưng Dance bỗng nhiên bật cười. “Tôi có một ý nghĩ.”

    “Ý nghĩ gì?”

    “Chà, tôi không thể nói với anh một địa chỉ tuy nhiên tôi có thể nói với anh một bang. Tôi phỏng đoán rằng hắn đến từ California. Hoặc đã sống ở đó một thời gian.”

    “Tại sao chị nghĩ vậy?'

    Dance cho tua ngược lại. Rồi cho chạy đoạn Thợ Đồng Hồ nói tới việc lái xe đi Long Island nhận chiếc SUV bị tịch thu.

    Dance dừng băng và nói: “Tôi đã nghiên cứu cách diễn dạt ở các vùng khác nhau. Thông thường người California sử dụng từ “cái” khỉ nhắc tới các tuyến quốc lộ. Ví dụ như cái tuyến 405 ở Los Angeles. Trong khi bị phỏng vấn, hẳn nhắc tới “cái tuyến 495” ở New York này. Và anh có nghe thấy hắn sử dụng từ xa lộ không? Từ đó cũng được sử dụng phổ biến ở California, phổ biến hơn so với từ đường cao tốc hay quốc lộ. Là những từ anh nghe thấy ở vùng East Side.”

    Có thể hữu ích, Rhyme tự nhủ thầm. Một viên gạch nữa trên bức tường chứng cứ. “Ghi lên bảng”, anh yêu cầu.

    “Khi tôi trở về, văn phòng tôi sẽ mở một cuộc điều tra chính thức”. Dance nói. “Tôi sẽ công bố tất cả những thông tin chúng ta đã có trên phạm vi toàn bang. Chúng ta sẽ xem chuyện gì xảy ra. Được rồi, tôi phải đi đây... Ồ, tôi sẽ chờ đợi cả hai người sớm đến California đây.”

    Anh chàng phụ tá liếc nhìn Rhyme. “Anh ấy cần đi du lịch nhiều hon. Anh ấy cứ giả vờ không thích thú nhưng sự thực là anh ấy bao giờ cũng cảm thấy thích thú, một khi đã đến nơi nào đó rồi. Miễn là có rượu Scotch và những vụ trọng án để anh ấy khỏi buồn chán thôi.”

    “Đây là Bắc California”, Dance nói. “Vùng đồng quê của rượu vang, phần lớn là rượu vang, nhưng yên tâm, chúng tôi có vô khối các vụ án.”

    “Chúng tôi sẻ xem thế nào”, Rhyme nói với vẻ chẳng hứa hẹn. Rồi anh thêm: “Nhưng một việc, chị làm ơn được không?”.

    “Chắc chắn rồi.”

    “Tắt điện thoại di động của chị đi. Biết đâu tôi sẽ lại muốn gọi cho chị trên đường chị ra sân bay, trong trường hợp có tình tiết gì mới.”

    “Nếu không phải quay về với lũ trẻ, tôi sẽ mở máy nghe ngay.”

    Sellitto cảm ơn Dance lần nữa và Thom tiễn cô ra cửa.

    Chàng cảnh sát trẻ nhìn các bảng chứng cứ. “Tôi đã gọi điện về chuyện sợi dây rồi, nếu sếp ý muốn nói thế.”

    “Không, không phải tôi ý muốn nói thế”. Rhyme lầm bầm. “Tôi đã nói hẳn ra là nó hữu ích.” Anh hất đầu chỉ chai rượu Scotch trên chiếc giá kê phía bên kia căn phòng.

    “Ổ, vâng.”

    “Hai suất nhé”, Sellitto làu bàu. “Và đừng bủn xỉn đấy.”

    Pulaski rót rượu, đưa ly cho hai người – Cooper từ chối. Rhyme nói với chàng cảnh sát trẻ.

    “Đừng quên bản thân cậu.”

    “Ồ, tôi đang mặc quân phục mà.”

    Sellitto nén tiếng cười.

    “Được rồi. Có lẽ chỉ một chút thôi.” Pulaski rót cho mình, rồi nhấp lấy thứ rượu mạnh – và cực kỳ đắt – ấy. “Tôi thích loại này”, anh nói, tuy nhiên ánh mắt nói lên điều ngược lại. “Sếp có bao giờ pha không, với bia gừng hay Sprite chẳng hạn?”
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 42

    Trước và sau.

    Người ta tiếp tục tiến lên.

    Vì lý do này khác, người ta tiếp tục tiến lên, và cái Trước trở thành cái Sau.

    Lincoln Rhyme cứ nghe thấy những từ này phảng phất trong đầu, lặp đi lặp lại. Kỷ lục bị phá vỡ. Người ta tiếp tục tiến lên.

    Thực tế thì chính bản thân Rhyme từng dùng cụm từ này – khi anh nói với vợ là muốn ly dị ít lâu sau tai nạn. Mối quan hệ giữa họ đã lung lay một thời gian rồi và anh quyết định rằng dù anh có sống sót với cái cổ bị gãy hay không, anh cũng sẽ tự mình tiếp tục tiến lên, không trói buộc cô vào cuộc đời đầy khó khăn làm vợ một người què quặt.

    Nhưng hồi ấy, “tiếp tục tiến lên” mang ý nghĩa rất khác so với cái Rhyme hiện đang đối mặt. Cuộc sống anh đã xây dựng nên trong suốt những năm qua, một cuộc sống chông chênh, sắp sửa có thay đổi to lớn. Tất nhiên, vấn đề là ở chỗ, bằng hành động chuyển sang công ty Argyle, Sachs thực sự sẽ không tiến lên. Cô sẽ lùi lại.

    Sellitto và Cooper đi rồi, chỉ còn Rhyme và Pulaski trong phòng thí nghiệm dưới gác, ngồi trước một chiếc bàn khám nghiệm sắp xếp các chứng cứ của những vụ bê bối liên quan đến đồn cảnh sát khu vực 118. Cuối cùng, phải đương đầu với các chứng cứ – và cái thực tế là bọn họ đã vô tình thuê vào một kẻ khủng bố trong nước. Baker, Wallace, và Henson đã chấp nhận luật sư bào chữa và đang tố giác tất cả những ai cùng dính líu tới. (Tuy nhiên chẳng người nào hé răng về kẻ đả móc nối Thợ Đồng Hồ vói Baker. Điều này có thể hiểu được. Anh đơn giản là không khai tên một nhân vật thuộc hàng cầm đầu một băng nhóm tội phạm có tổ chức, khi anh được đẩy vào cái nhà tù mà hắn biết đâu rốt cuộc cũng vào, nhờ lời khai của anh.)

    Tự chuẩn bị tinh thần cho sự ra đi của Sachs, Rhyme đi đến kết luận rằng Ron Pulaski rốt cuộc sẽ là một cảnh sát khám nghiệm hiện trường giỏi. Anh có trí thông minh, tính độc đáo, và ngoan cường như Lon Sellitto. Rhyme có thể đánh nhẵn những chỗ xù xì ở anh sau tám tháng hoặc một năm. Anh và cậu tân binh sẽ cùng nhau xử lý các hiện trường vụ án, phân tích các chứng cứ, và tìm thấy đối tượng, những kẻ sẽ vào tù hay nếu cố gắng chống lại sẽ phải chết. Công việc sẽ tiếp tục. Cả hệ thống cảnh sát đâu chỉ là một người.

    Phải, công việc sẽ tiếp tục... Nhưng khó có thể hình dung được rằng công việc lại thiếu vắng Amelia Sachs.

    Chà, mẹ kiếp cái thói đa cảm. Rhyme tự nhủ và trở về với công việc. Anh liếc nhìn bảng chứng cứ. Thợ Đồng Hồ đang ở đâu đó ngoài kia, mình sẽ tìm thấy hắn. Hắn sẽ... không... trốn... thoát… được.

    “Sao cơ?”, Pulaski hỏi.

    “Tôi không nói gì cả”. Rhyme quát.

    “Có, sếp vừa nói gì mà. Tôi…” Pulaski im bặt dưới ánh mắt trừng trừng khinh miệt của Rhyme.

    Quay lại với nhiệm vụ, Pulaski hỏi: “Các ghi chép tôi tìm thấy tại văn phòng của Baker thì sao? Chúng được viết trên thứ giấy rẻ tiền. Tôi có nên sử dụng ninhydrin lảm hiện dấu vân tay không ạ?”.

    Rhyme đang định trả lòi.

    Một giọng phụ nữ nói: “Không. Đầu tiên, anh thử với khói i ốt. Tiếp theo, đến ninhydrin, tiếp theo, đến nitrate bạc. Anh phải thực hiện đúng các bước như thế”.

    Rhyme ngẩng nhìn Sachs đứng trên ngưỡng cửa. Anh khoác lên gương mặt mình một vẽ hòa nhã. Có được vẻ mặt khả dĩ rồi, anh tự khen ngợi mình. Là rộng lượng. Là chín chắn.

    Sachs tiếp tục: “Nếu không, các hóa chất có thể phàn ứng lẫn nhau và anh làm hỏng dấu vân tay mất”.

    Chà, như thế này thật bất tiện, nhà hình sự học bực bội nhủ thầm. Anh nhìn chằm chằm những bảng chứng cứ, trong lúc sự im lặng giữa họ gào thét như gió tháng Mười hai ngoài trời.

    Sachs nói: “Xin lỗi”.

    Người ta chẳng thường xuyên nghe thấy những lời này từ cô, tần suất sử dụng câu xin lỗi của cô cũng bằng của Rhyme. Tức là hầu như không bao giờ.

    Rhyme không đáp lại. Anh vẫn không rời mắt khỏi các bảng chứng cứ.

    “Thực sự xin lỗi.”

    Bực bội vì kiểu tình cảm xã giao này, Rhyme ngoảnh nhìn sang bên, cau mày, hầu như chẳng thể kiềm chế nỗi tức giận.

    Nhưng anh nhận ra Sachs đang không nói với anh.

    Ánh mắt cô đặt vào Pulaski. “Bằng cách nào đó tôi sẽ bổ sung kiến thức cho anh. Anh có thể xử lý hiện trường vụ án tiếp theo. Tôi sẽ phụ. Hoặc đợi một vài hiện trường nữa.”

    “Sao thế?”, chàng cảnh sát trẻ hỏi.

    “Tôi biết là anh đã nghe nói việc tôi sắp sửa rời khỏi lực lượng.”

    Anh gật đầu.

    “Nhưng tôi đã thay đổi quyết định.”

    “Chị không rời khỏi lực lượng nữa à?”, Pulaski hỏi.

    “Không.”

    “Này, chẳng thành vấn đề”, Pulaski nói. “Tôi không ngại chuyện chia sẻ công việc thêm một thời gian nữa, chị biết đấy.” Cảm giác nhẹ nhõm được thoát thân phận con kiến duy nhất dưới chiếc kính lúp của Lincoln Rhyme rõ ràng át nỗi thất vọng vì bị đẩy trở lại vai trò người phụ tá.

    Sachs kéo mạnh một cái ghế dựa tới ngồi đối diện Rhyme.

    Anh nói: “Anh tưởng em đến Argyle”.

    “Em đã đến đây. Để từ chối họ.”

    “Anh có thể hỏi tại sao không?”

    “Em nhận được một cú điện thoại. Từ Suzanne Creeley. Vợ Ben Creeley. Bà ấy cảm ơn em đã tin tưởng, đã tìm thấy kẻ thực sự giết chồng bà. Bà ấy khóc. Bà ấy bảo em rằng bà ấy hoàn toàn chẳng chịu đựng nổi cái ý nghĩ là chồng bà ấy tự tử. Bị giết chết thật kinh khủng. Nhưng tự tử, hành động đó sẽ hủy hoại mọi thứ họ từng có với nhau suốt bao nhiêu năm.”

    Sachs lắc đầu. “Một nút thắt trên sợi dây và một ngón tay cái bị gãy... Em nhận ra đó là tất cả những gì thuộc về nghề nghiệp này, Rhyme. Không phải cái chuyện vô nghĩa em vướng vào, không phải những thủ đoạn chính trị, cha em, Baker và Wallace… Người ta không thể khiến cho nó quá phức tạp được. Làm cảnh sát là tìm thấy sự thật đằng sau một nút thắt và một ngón tay cái bị gãy. Thế thôi.”

    Anh vả em, Sachs…

    “Vậy...”, cô hỏi, hất đầu về phía những tấm bảng, “... gã bất lương của chúng ta, có tin tức mới về gã không?”.

    Rhyme nói với Sachs món quà anh nhận được, chiếc đồng hồ Breguet, rồi tổng kết lại: “Một tay leo vách đá hoặc leo núi, khả năng là được đào tạo bên châu Âu. Hắn từng có thời gian ở California, gần bờ biển. Và hắn gần đây đã ở đó. Có thể ngay bây giờ đang sống ở đó. Có giáo dục. Sử dụng đúng cú pháp, dấu câu. Và anh muốn nghiên cứu lại từng bánh răng của chiếc đồng hồ. Hắn là thợ đồng hồ, phải không? Điêu ấy có nghĩa hắn có thể đã tháo mặt sau đồng hồ ra để lục lọi bên trong. Anh muốn tìm thấy, dù chỉ một mảy dấu vết”. Rhyme hất đầu chỉ bức thư, nói thêm: “Hắn thừa nhận đã quan sát khách sạn vào khoảng thời gian chúng ta tóm cổ Charlotte. Anh muốn từng vị trí nơi hắn có thể đã đứng quan sát phải được xem xét. Ron, cậu nhận nhiệm vụ đó”.

    “Rõ.”

    “Và đừng quên những gì chúng ta biết về hắn. Có thể hắn đã đi, mà cũng có thể hắn chưa đi. Phải đảm bảo là vũ khí trong tầm tay. Bên ngoài bộ áo liền quần Tyvek. Hãy nhớ...”

    “Tập trung xem xét nhưng vẫn quan sát phía sau chứ gì?”, Pulaski hỏi.

    “Điểm A cho trí nhớ tốt”, nhà hình sự học nói. “Bây giờ thì đi làm việc đi.”
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    PHẦN IV

    12:48 TRƯA THỨ HAI

    Vậy thời gian là gì? Nếu không ai hỏi ta, ta biết nó là gì.

    Nếu phải giải thích với cái người hỏi ta,

    ta lại chẳng biết thế nào.

    THÁNH AUGUSTINE


    Chương 43

    CHƯƠNG 43


    Ngày tháng Mười hai kể cũng không quá rét mướt, nhưng cái lò sưởi cổ lổ của nhà Rhyme bị hỏng và tất cả mọi người ở phòng thí nghiệm dưới gác đều co ro trong những chiếc áo khoác dày. Mỗi lần thở ra, miệng họ lại tỏa từng đám hơi nước và chóp mũi thì đỏ ửng lên. Amelia Sachs mặc hai áo len, còn Pulaski mặc chiếc vét tông cổ độn vai màu xanh lá cây lủng lẳng những tấm vé đi cáp treo tại khu trượt tuyết Killington giống như những tấm huy chương kỷ niệm chiến dịch trên ngực một cựu chiến binh vậy.

    Một cảnh sát trên ván trượt tuyết, Rhyme tự nhủ thầm. Điểu ấy xem chừng kỳ quặc, tuy nhiên anh không thể nói chính xác tại sao. Có thể là cái gì đó liên quan đến nguy cơ phải lao vèo xuống một sườn núi với một khẩu súng ngắn cỡ chín ly cò rất nhạy giấu dưới bộ đổ nỉ.

    “Tay thợ chữa lò sưởi đâu rồi?”, Rhyme quát anh chàng phụ tá.

    “Anh ta nói sẽ có mặt trong khoảng từ một giờ đến năm giờ.” Thom đang mặc chiếc vét tông bằng vải tuýt Rhyme tặng nhân dịp Giáng sinh năm ngoái, và quấn chiếc khăn casơmia màu hoa cà, một trong những món quà của Sachs.

    “A, trong khoáng từ một giờ đến năm giờ. Tôi bảo nhé. Gọi lại cho anh ta và...”

    “Đây là anh ta nói...”

    “Không, nghe này. Gọi lại cho anh ta và bảo anh ta rằng chúng ta nhận được báo cáo về một kẻ cuồng sát đang đi lung tung xung quanh khu vực anh ta sống, chúng ta sẽ đến đó bắt kẻ này trong khoảng từ một giờ đến năm giờ. Thử xem anh ta có còn dám nói thế.”

    “Lincoln”, anh chàng phụ tá kiên nhẫn nói. “Tôi không...”

    “Anh ta biết chúng ta làm gì ở đây chứ? Anh ta biết chúng ta phục vụ và bảo vệ mọi người chứ? Gọi cho anh ta, bảo anh ta thế.”

    Pulaski nhận ra Thom không với lấy điện thoại. Anh hỏi: “Ừm, anh có muốn tôi không? Ý tôi là, gọi điện ấy?”.

    A, sự chân thành của tuổi trẻ...

    Thom trả lời Pulaski: “Đừng chú ý gì đến anh ấy. Anh ấy giống một con chó hung hăng chồm lên anh. Lờ anh ấy đi và anh ấy sẽ thôi ấy mà”.

    “Một con chó?”. Rhyme hỏi. “Tôi là một con chó. Như thế thì hơi mỉa mai, phải không, Thom? Vì ở đây anh đang cắn bàn tay cho anh ăn đấy.” Hài lòng với câu trả miếng, anh thêm: “Bảo tay thợ đó là tôi nghĩ rằng tôi đang bị giảm thể nhiệt. Kể ra thì tôi cũng nghĩ như vậy thật”.

    “Thế thì sếp có thể cảm thấy…”, chàng cảnh sát trẻ hỏi, nhưng câu hỏi bị chặn lại.

    “Phải, dứt khoát là tôi có thể cảm thấy rất bực bội, Pulaski.”

    “Xin lỗi, tôi nói mà không suy nghĩ.”

    “Ê.” Thom bật cười. “Chúc mừng anh!”

    “Gì thế?”, chàng cảnh sát trẻ hỏi.

    “Anh đã tiến bộ đến chỗ được gọi bằng họ rồi đấy. Anh ấy bắt đầu đánh giá anh cao hơn con sên một bước rồi... Đó là cách anh ấy nói tới những người anh ấy thực sự thích. Chẳng hạn như tôi, tôi chỉ là Thom thôi. Mãi mãi là Thom.”

    “Nhưng...”, Sachs bảo chàng cảnh sát trẻ, “... anh mà nói xin lỗi anh ấy lần nữa là anh sẽ bi giáng cấp”.

    Lát sau, chuông cửa reo và anh chàng Thom chỉ-được-gọi- bằng-tên-riêng đi ra mở cửa.

    Rhyme liếc nhìn đồng hồ. 1:02. Liệu có thể là tay thợ đó thực tế lại thuộc loại mau mắn không?

    Nhưng, tất nhiên, không phải. Lon Sellitto bước vào, định cởi áo khoác, rồi lại thôi. Ông ta liếc nhìn hơi thở tỏa cuổn cuộn từ mồm mình. “Lạy Chúa, Linc, với những gì mà chính quyền thành phố nhả ra cho anh, anh đủ khả năng trả tiền chạy lò sưởi, anh biết mà. Kia là cà phê à? Có nóng không?”

    Thom rót cho ông ta một tách và Sellitto cầm cái tách bằng một tay, còn một tay mở chiếc cặp đựng tài liệu. “Rốt cuộc cũng lấy được nó.” Sellitto hất đầu chỉ cái mà ông ta vừa rút ra, một bìa kẹp hồ sơ cũ kỹ nhãn hiệu Redweld nhằng nhịt những ghi chú bằng bút chì và bút mực đã phai màu, nhiều chỗ bị gạch, bằng chứng của nhiều năm không được chính quyền thành phố thường xuyên sử dụng đến nữa.

    “Hồ sơ Luponte à?”, Rhyme hỏi.

    “Nó đấy.”

    “Tôi muốn có nó từ tuần trước”, nhà hình sự học làu bàu, bên trong mũi anh đau nhoi nhói vì lạnh. Chắc anh sẽ phải bảo tay thợ kia là anh sẽ thanh toán hóa đơn trong vòng một đến năm tháng. Anh liếc nhìn chiếc bìa kẹp hồ sơ.

    “Tôi gần như chẳng chờ đợi nó nữa. Tôi biết anh rất khoái những câu cách ngôn, Lon ạ. Anh có nghĩ tới cái câu ngày đã muộn mà tiền vẫn chưa đủ không?”

    “Không”, viên thám tử nói vẻ hòa nhã. “Cái câu tôi nghĩ tới là nếu anh đã làm ơn cho ai mà họ lại phàn nàn, thì mặc mẹ họ.”

    “Một câu hay đấy”, Lincoln Rhyme thừa nhận.

    “Dù sao, anh cũng chẳng bảo tôi nó thuộc loại hồ sơ nào. Tôi phải tự mình tìm kiếm và nhờ Ron Scott lục lọi cho.”

    Rhyme nhìn chằm chằm viên thám tử trong lúc ông ta mở hồ sơ và xem lướt qua nó. Anh cảm thấy một nỗi lo lắng ghê gớm, không biết mình sẽ tìm thấy cái gì. Có thể là thông tin tốt lành, có thể là thông tin gây choáng váng. “Thế nào cũng có bản báo cáo chính thức. Tìm đi.”

    Sellỉtto tìm trong tập hồ sơ. Ông ta giơ bản báo cáo lên. Trang trên cùng có cái nhãn đánh máy Anthony C. Luponte, Phó Thị trưởng. Chiếc bìa kẹp hồ sơ được niêm phong bằng một băng giấy màu đỏ đã bạc màu, in chữ Mật.

    “Tôi có nên mở nó chăng?”, Seỉlitto hỏi.

    Rhyme đảo mắt.

    “Linc này, đến đoạn vui vẻ nhớ bảo tôi, được không?”

    “Đặt nó vào cái giá giở trang. Đặt đi và xin cảm ơn.”

    Sellitto xé băng giấy và đưa bản báo cáo cho Thom.

    Anh chàng phụ tá đặt bản báo cáo vào một thiết bị trông giống như cái giá đặt sách dạy nấu ăn trong bếp. Thiết bị này được gắn với lõi cao su có chức năng giở trang, điều khiển bằng một cử động hết sức khẽ khàng của ngón tay Rhyme trên bàn phím. Anh bắt đầu giở lướt qua toàn bộ tài liệu, vừa đọc vừa cố gắng dẹp tâm trạng căng thẳng.

    “Luponte à?” Sachs ngẩng lên khỏi những bảng chứng cứ.

    Một trang nữa được giở qua. “Ừ, nó.”

    Rhyme đọc hết đoạn này sang đoạn khác những phát biểu rối rắm trong chính quyền thành phố.

    Ôi, nào, anh tức tối nghĩ. Đến cái chỗ chết tiệt ấy đi...

    Liệu thông điệp sẽ là tốt hay xấu?

    “Có gì đó dính dáng tới Thợ Đồng Hồ à?”, Sachs hỏi.

    Cho tới lúc này, chưa xuất hiện manh mối nào về gã đàn ông, kể cả ở New York lẫn ở California, nơi Kathryn Dance đã bắt đầu cuộc điều tra của chính mình.

    Rhyme nói: “Chẳng có gì dính dáng tới hắn”.

    Sachs lắc đầu. “Nhưng đây là lý do tại sao anh muốn tìm hồ sơ đó mà.”

    “Không, chẳng qua tự em bảo rằng đấy là lý do tại sao anh muốn tìm nó.”

    “Thế thì nó liên quan tới cái gì, một vụ khác?”, Sachs hỏi. Cặp mắt cô nhìn sang các bảng chứng cứ của mấy vụ không nghiêm trọng mà họ cũng đang điều tra.

    “Không phải mấy vụ đó.”

    “Thế thì cái gì?”

    “Anh đã có thể nói với em từ lâu rồi nếu nãy giờ em đừng làm anh mất tập trung đọc.”

    Sachs thở dài.

    Cuối cùng, Rhyme cũng tới cái phần anh tìm kiếm. Anh dừng lại, nhìn qua cửa sổ những cành cây màu nâu tiêu điều trong công viên Trung Tâm. Trong thâm tâm, anh tin tưởng rằng bản báo cáo sẽ nói với anh những điều anh muốn nghe thấy, nhưng Lincoln Rhyme trước hết là một nhà khoa học, và anh nghi ngờ con tim.

    Sự thật cái đích duy nhất.

    Liệu các từ ngữ này sẽ tiết lộ sự thật nào cho anh?

    Rhyme quay lại với bản báo cáo, đọc vội vã. Và rồi đọc lại lần nữa.

    Lát sau, anh nói với Sachs: “Anh muốn đọc cho em nghe cái này”.

    “Vâng. Em nghe đây.”

    Ngón tay của bàn tay phải Rhyme cử động trên bàn phím điều khiển và các trang được lật lại. “Đoạn này là ở trang đầu tiên. Em đang nghe chứ?”

    “Em đã bảo em nghe đây mà.”

    “Tốt. Phiên tòa này hiện tại đang và sẽ được giữ bí mật. Từ ngày 18 đến ngày 29 tháng Sáu năm 1974, mười hai sĩ quan cảnh sát thành phốNew York bị truy tố bởi một đại bồi thấm đoàn vê tội tống tiền các chủ cửa hiệu và doanh nhân ở Manhattan và Brooklyn, cũng như về tội ăn hối lộ để bỏ dở những vụ án hình sự. Ngoài ra, bốn sĩ quan còn bị truy tố về tội tấn công người khác nhằm đạt được mục đích tống tiền. Mười hai sĩ quan này thuộc về cái gọi là Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu, cái tên đồng nghĩa với tội tham nhũng nghiêm trọng trong lực lượng cảnh sát.”

    Rhyme nghe thấy Sachs thở gấp gáp. Anh ngẩng lên và thấy cô đang nhìn chằm chằm tập hồ sơ y như một đứa trẻ nhìn chằm chằm con rắn trên sân sau ngôi nhà.

    Anh tiếp tục đọc: “Không có gì to lớn hơn niềm tin tưởng giữa những công dân của Hợp Chủng quốc này và những nhân viên thực thi pháp luật có trách nhiệm bảo vệ họ. Những sĩ quan thuộc Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu đã phạm phải một tội không thể bào chữa được là phá vỡ niềm tin thiêng liêng đó và không chỉ phạm tội mà còn đem lại nỗi hổ thẹn không thể đo đếm được cho các đồng đội can đảm và sẵn sàng hy sinh thân minh.

    Bởi vậy, tôi, thị trưởng thành phố New York, trao tặng Huân chương vì lòng dũng cảm ghi nhận công lao đưa những kẻ tội phạm ra trước công lý cho các sĩ quan sau đây: sĩ quan tuần tra Vincent Pazzini, sĩ quan tuần tra Herman Sachs và thám tử Lawrence Koepel”.

    “Sao?”, Sachs thì thào.

    Rhyme tiếp tục đọc: “Mỗi quan này đã nhiều lần chấp nhận nguy hiềm đến tính mạng trong lúc hoạt động bí mật nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở xác định những kẻ tội phạm và thu thập chứng cứ để sử dụng trước tòa. Do tính chất nguy hiểm của nhiệm vụ được giao phó, việc tuyên dương được tố chức kín và biên bản sẽ dược niêm phong, đảm bảo an toàn cho ba sĩ quan cũng như cho gia đình họ. Tuy nhiên, họ có thể chắc chắn rằng, mặc dù những nỗ lực của họ không được ngợi ca công khai, sự biết ơn của thành phố đối với họ hoàn toàn chẳng giảm sút”.

    Amelia Sachs đăm đăm nhìn Rhyme. “Cha em...”

    Rhyme gật đầu chỉ tập hồ sơ. “Cha em là một trong số những cảnh sát chân chính, Sachs ạ. Ông ấy một trong số ba người thoát tội. Chỉ có họ mới không thuộc nhóm đối tượng, họ làm việc cho Sở Nội vụ. Ông ấy đối với Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu cũng giống y như em đối với đám cảnh sát ở quán Thánh James, chỉ có điều ông ấy là một đặc tình.”

    “Làm sao anh biết?”

    “Anh không biết. Anh có nhớ về báo cáo Luponte và những phiên tòa xử nhóm cảnh sát tham nhũng, nhưng anh không biết cha em từng liên quan. Đấy là lý do tại sao anh muốn xem hồ sơ.”

    “Thế nghĩa là thế nào?”, Sellitto hỏi, trong miệng đầy bánh ngọt vị cà phê.

    “Tiếp tục tìm đi, Lon. Còn có cái gì đó khác nữa.”

    Viên thám tử tìm trong tệp hồ sơ, thấy một giấy chứng nhận và một Huân chương Vì lòng dũng cảm, một trong những phần thưởng cao quý nhất do Sở Cảnh sát trao tặng. Sellitto đưa nó cho Sachs. Đôi môi đẩy đặn của cô hé mở, cặp mắt nheo lại, trong lúc cô đọc văn bản viết trên giấy da không đóng khung, mang tên cha cô. Tấm huân chương đung đưa dưới những ngón tay cô run rẩy.

    “Này, đẹp chưa”, Pulaski nói, chỉ tờ giấy chứng nhận. “Xem tất cả những hoa văn trang trí kia.”

    Rhyme hất đầu về phía tập hồ sơ để trên cái giá giở trang. “Toàn bộ câu chuyện nằm trong đó, Sachs ạ. Người chỉ huy của cha em ở Sở Nội vụ phải đảm bảo là những cảnh sát khác không nghi ngờ cha em. Ông ta đưa cho cha em mỗi tháng mấy nghìn để rải khắp các chỗ, làm như cha em cũng ăn tiền. Ông phải được tín nhiệm, nếu có bất cứ kẻ nào nghĩ ông là một nguồn tin, ông chắc sẽ mất mạng, đặc biệt khi Tony Gallante đã tham gia. Sở Nội vụ tiến hành một cuộc điều tra giả về ông nhằm tạo sự tin tưởng. Cuộc điều tra ấy thất bại vì thiếu chứng cứ. Các thẻ quản lý vật chứng bị thất lạc là do họ đã thỏa thuận với bên Khám nghiệm hiện trường.”

    Sachs cúi đầu. Rồi cô bật một tiếng cười ngắn ngủi. “Cha em luôn luôn là người khiêm nhường. Nó cũng giống y như cha em vậy, phần thưởng cao quý nhất cha em từng nhận được là phần thưởng chẳng được tiết lộ ra. Ông không bao giờ nói một lời nào về nó.”

    “Em có thể đọc tất cả các chi tiết. Cha em bảo rằng ông sẽ chịu đựng sự hiểu nhầm, ông sẽ cung cấp mọi thông tin cần thiết về Gallante và những kẻ cầm đầu khác. Nhưng ông sẽ không bao giờ làm chứng công khai trước tòa. Ông sẽ không khiến cho mẹ con em gặp nguy hiểm.”

    Sachs đăm đăm nhìn tấm huân chương đang đung đưa – giống quả lắc của một chiếc đồng hồ, Rhyme hài hước nghĩ.

    Cuối cùng, Lon Sellitto xoa xoa hai bàn tay vào nhau. “Nghe này, tôi sung sướng vì tin tức tốt lành”, ông ta nói giọng làu bàu. “Nhưng các vị thấy thế nào nếu chúng ta biến quách khỏi đây và tới quán Manny. Tôi có thể ăn trưa gì đó. Và, có ngạc nhiên không? Tôi cá là họ sẽ trả tiền chạy lò sưởi.”

    “Tôi cũng muốn đi”, Rhyme nói với vẻ chân thành mà anh tin tưởng rằng ngụy trang được cho cái việc anh tuyệt đối không muốn ra ngoài đường, đánh vật với những con phố đóng băng trơn trượt trên chiếc xe lăn. “Nhưng tôi đang viết một bài xã luận để gửi tờ Thời báo.” Anh hất đầu về phía máy vi tính. “Với lại, tôi phải ở đây đợi tay thợ kia.” Anh lắc đầu. “Từ một giờ đến năm giờ.”

    Thom đang sắp sửa nói gì đó – chắc chắn để thuyết phục Rhyme đi – nhưng người cất lời lại là Sachs.

    “Xin lỗi. Tôi có kế hoạch khác mất rồi.”

    Rhyme bảo: “Nếu nó có dính dáng đến băng tuyết anh không quan tâm đâu”. Anh đồ rằng Sachs và cô gái nhỏ, Pammy Willoughby, lại có kế hoạch đi chơi với đứa con nuôi của cô bé, chú chó giống Havanese, Jackson.

    Nhưng Sachs rõ ràng có một chương trình khác.

    “Nó có đấy”, cô nói. “Ý em là, dính đáng đến băng tuyết.” Cô bật cười, hôn lên môi anh. “Nhưng cái mà nó không dính dáng đến là anh.”

    “Ơn Chúa”, Lincoln Rhyme nói, phả một làn hơi mỏng lên trần nhà và quay lại với màn hình máy vi tính.


    “Cô.”

    “Thám tử Snyder, bác thế nào?”, Amelia Sachs hỏi.

    Art Snyder đứng trên ngưỡng cửa ngôi nhà nhỏ một tầng của ông, trừng trừng nhìn cô. Ông trông khá hơn lần cuối cùng cô gặp – khi ông nằm ở ghế sau chiếc xe thùng của mình. Tuy nhiên, ông không hề bớt tức giận. Cặp mắt đỏ ngầu chiếu thẳng vào mắt cô.

    Nhưng khi nghề nghiệp khiến người ta đôi lúc phải nhận những phát súng thì vài cái nhìn trừng trừng chẳng ăn thua gì. Sachs mỉm cười. “Cháu chỉ đến để cảm ơn bác.”

    “Vâng, vi điều gì?” Snyder cầm một chiếc cốc uống cà phê rõ ràng đang không đựng cà phê. Cô nhìn thấy nhiều cái chai lại xuất hiện trong ngăn tủ. Cô cũng nhận ra là chưa dự án cải tạo nhà cửa nào được triển khai.

    “Chúng cháu đã kết thúc vụ quán Thánh James.”

    “Phải, tôi có nghe nói.”

    “Thám tử Snyder, ở ngoài này lạnh nhỉ”, Sachs nói.

    “Ông ơi.” Một phụ nữ dáng chắc nịch với mái tóc cắt ngắn màu nâu và gương mặt vui vẻ gọi từ cửa bếp.

    “Chỉ là một người ở Sở.”

    “Chà, mời cô ấy vào di. Tôi sẽ pha cà phê.”

    “Cô ấy là một phụ nữ bận rộn”, Snyder nói gắt gỏng. “Chạy khắp nơi trong thành phố, làm đủ việc, hỏi đủ chuyện. Cô ấy chắc không nán lại được đâu.”

    “Cháu đang chết cóng ngoài này rồi.”

    “Art! Để cô ấy vào đi.”

    Ông thở dài, quay bước vào bên trong, để Sachs đi theo và tự đóng cửa lại. Cô bỏ áo khoác lên một chiếc ghế dựa.

    Bà vợ Snyder đi đến chỗ họ. Nguời phụ nữ bắt tay Sachs. “Cho cô ấy ngồi cái ghế thoải mái kia, Art.” Bà nói giọng bực bội.

    Sachs ngồi vào cái ghế Barcalounger đã sờn. Snyder ngồi trên đi văng, sức nặng của cơ thể ông làm nó kêu cót két. Ông không vặn nhỏ bớt tiếng ti vi, đang có một trận đấu bóng rổ sôi sục.

    Bà vợ mang tới hai tách cà phê.

    “Đừng pha cho tôi”, Snyder nói, nhìn cái cốc.

    “Tôi vừa rót đấy. Ông muốn tôi đổ đi à? Lãng phí cà phê ngon à? ” Bà để nó trên bàn, bên cạnh Snyder và trở vào bếp, nơi bà đang phi tỏi thơm lừng.

    Sachs im lặng nhấm nháp tách cà phê đặc, Snyder thì đăm đăm xem chương trình của ESPN. Ánh mắt ông dõi theo quả bóng từ vị trí phát bóng ở ngoài vạch ba điểm, bàn tay nắm lại khi nó bay vèo vào.

    Đến một đoạn quảng cáo. Snyder chuyển kênh xem đánh bài xì.

    Sachs nhớ Kathryn Dance từng đề cập tới sức mạnh của sự im lặng trong việc khiến cho người ta mở lời. Cô ngồi đấy, nhấm nháp cà phê, nhìn ông, chẳng nói gì cà.

    Cuối cùng, bực bội, Snyder hỏi: “Vụ quán Thánh James ấy à?”.

    “À vâng.

    “Tôi đọc được thông tin là Dennis Baker đứng đằng sau. Và tay phó thị trưởng.”

    “Đúng.”

    “Tôi đã gặp Baker vài lần. Thấy cũng không có vấn đề gì. Chuyện anh ta làm tôi ngạc nhiên quá.” Vẻ băn khoăn lướt ngang qua gương mặtSnyder. “Cả giết người à? Sarkowski và người đàn ông kia?”

    Sachs gật đầu. “Và một vụ mưu sát.” Cô không kể rằng chính cô suýt nữa trở thành nạn nhân.

    Snyder lắc đầu. “Tiền bạc là một chuyện. Nhưng giết người đó là một trận bóng hoàn toàn khác.”

    Amen.

    Snyder hỏi: “Có phải trong số đối tượng có cái đứa tôi bảo cô không? Có nhà hay gì đó ở Maryland ấy?”.

    Sachs cho rằng Snyder xứng đáng được tin cậy.

    “Đó là Wallace. Nhưng nó không phải một địa điểm. Nó là một chiếc thuyền.” Và Sachs giải thích về chiếc thuyền của Wallace.

    “Thật à? Maryland Monroe à? Cái tên hết sức đặc biệt.”

    Sachs nói. “Chúng cháu sẽ không giải quyết được vụ án nếu không có sự giúp đỡ của bác”.

    Gương măt Snyder vụt hiện lên một vẻ hài lòng. Rồi ông nhớ ra là mình đang tức giận. Ông đứng dậy, thở dài, rót thêm whisky vào cốc. Xong, ông lại ngồi xuống. Tách cà phê của ông vẫn chưa được đụng đến. Ông chuyển kênh thêm vài lần.

    “Cháu có thể hỏi bác một việc không?”

    “Tôi chẳng cho cô hỏi mà được à?”, Snyder lẩm bẩm.

    “Bác bảo lả bác biết cha cháu. Chẳng còn nhiều người biết cha cháu. Cháu đã muốn hỏi bác về ông.”

    “Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu à?”

    “Không. Cháu không muốn biết về nó.”

    Snyder nói: “Ông ấy là kẻ may mắn đã thoát”.

    “Đôi khi người ta cố gắng tránh bị ăn đạn.”

    “Ít nhất thì sau đó ông ấy cũng sống trong sạch. Nghe nói ông ấy không lần nào sẩy chân nữa.”

    “Bác bảo là bác làm việc với cha cháu. Trước đây ông chẳng hay nói về những công việc ông làm. Cháu luôn luôn tự hỏi không biết công việc hồi ấy thế nào. Tuy nhiên cháu sẽ viết lại một vài điều.”

    “Cho các cháu của ông ấy?”

    “Đại loại vậy.”

    Snyder nói lưỡng lự: “Chúng tôi chưa bao giờ là những cộng sự”.

    “Nhưng bác biết cha cháu.”

    Một thoáng ngập ngừng. “Phải.”

    “Bác chỉ cần kể cho cháu: Câu chuyện về cái người chỉ huy ấy thế nào... cái người chỉ huy điên rồ ấy? Trước đây cháu luôn luôn muốn biết câu chuyện ly kỳ này.”

    “Kẻ điên rồ nào?”, Snyder khinh khỉnh hỏi. “Có vô số những kẻ điên rồ.”

    “Cái người đã điều nhóm chiến thuật đến nhầm một căn hộ khác ấy?”

    “Ồ. Caruthers hả?”

    “Cháu nghĩ là ông ta. Cha cháu là một trong những ngườỉ đã chiến đấu với kẻ bắt con tin cho tới lúc Đơn vị Phản ứng nhanh tìm thấy đúng địa điểm.”

    “Phải. Phải. Tôi đã có mặt tại đó. Caruthers, thằng cha đáng ghét. Cái làng nhỏ... ơn Chúa là không ai bị làm sao. Ồ, mà cũng hôm ấy, hắn quên lắp pin cho loa pin... Một chi tiết khác nữa về hắn: Hắn không tự đánh bóng ủng đâu. Cô biết đây, hắn để đám tân binh làm. Và hắn boa cho họ, đại khái là năm xu. Tôi muốn nói, boa cho lính đã kỳ dị rồi. Lại còn có năm xu chết tiệt?”

    Âm lượng ti vi được hạ xuống mấy nấc. Snyder bật cười. “Này, cô có muốn nghe một câu chuyện không?”

    “Chắc chắn là có ạ.”

    “Chà, cha cô, tôi, cùng với một nhóm, được nghỉ phép, đang đi ra công viên Quảng trường Madison, xem một trận đấu bóng hay đại loại thế. Và cái thằng nhãi ấy xuất hiện, lăm lăm một khẩu súng phốc, cô biết là cái gì chứ?”

    Sachs biết. Nhưng cô trả lời là không.

    “Một kiểu súng tự tạo. Nạp được duy nhất một viên đạn cỡ 22. Và cô có tin nổi không, thằng nhãi tội nghiệp này trấn lột bọn tôi đấy. Nó yêu cầu bọn tôi giơ tay lên ngay giữa phố Ba mươi tư. Chúng tôi đang đưa ví cho nó thì cha cô đánh rơi ví mình, bất ngờ một cách cố ý, cô biết tôi muốn nói gì chứ? Thằng nhãi cúi xuống nhặt. Khi nó đứng dậy nó sợ xanh mắt mèo, bốn họng súng của chúng tôi đang chĩa thẳng vào nó, bốn khẩu Smittie, giương cò và sẵn sàng nhả đạn. Gớm, vẻ mặt thằng nhãi… Nó nói: “Xui xẻo quá”. Đó là một câu kinh điển hay thế nào? “Xui xẻo quá.” Ôi chao, chúng tôi cười cả buổi tối về việc này...” Gương mặt người đàn ông bỗng nhiên nở nụ cười. “Ồ, còn một chuyện nữa

    Trong lúc Snyder kể chuyện, Sachs gật đầu khuyến khích ông. Thực tế cô đã biết hầu hết những câu chuyện đó. Herman Sachs hoàn toàn không phải là không thích nói với con gái về công việc của mình. Hai cha con từng dành biết bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ga ra, nghiên cứu một bộ truyền lực hoặc một bộ phun nhiên liệu, và những câu chuyện về cuộc đời một cảnh sát cứ ào ạt tuôn – những hạt giống ươm cho tương lai của chính cô sau này.

    Nhưng, tất nhiên, cô không ở đây để hỏi thăm truyền thống gia đình mình. Không, nó đơn giản là một cuộc gọi cần-hỗ trợ-khẩn cấp, cuộc gọi với mã số 10-13 xuất phát từ con tim. Sachs quyết định rằng cựu thám tử Art Snyder sẽ không xuống dốc nữa. Nếu ông cho là bạn bè ngoảnh mặt với ông vì ông đã góp phần vào việc tóm cổ cái đám ở quán Thánh James, thì cô sẽ đem đến cho ông niềm vui khi có biết bao nhiêu người yêu quý ông: bản thân cô, Sellitto, Rhyme và Ron Pulaski, Fred Dellray, Roland Bell, Nancy Simpson, Frank Rettig, cũng như nhiều người khác.

    Sachs hỏi Snyder thêm một số chuyện và ông trả lời – có lúc hăng hái, có lúc khó chịu, có lúc bối rối, nhưng chẳng hề từ chối trả lời. Mấy lần,Snyder đứng dậy, rót rượu đầy cốc, và chốc chốc lại liếc nhìn đồng hồ đeo tay, rồi liếc nhìn cô, hàm ý rất rõ ràng: Cô không có chỗ nào để đến nữa hả?

    Nhưng cô cứ ngồi đó, thoải mái trong chiếc Barcalounger, hỏi ông chuyện này chuyện nọ và thậm chí kể ra vài chuyện chiến dấu của chính cô.Amelia Sachs chưa đi đâu cả, cô đang nắm trong tay toàn bộ thời gian trên thế giới này.


    **THE END**


    LỜI TÁC GIẢ


    Các tác giả có thể viết hay khi xung quanh mình là những người bạn, những người đồng nghiệp, và tôi đã vô cùng may mắn khi được ở giữa những con người thực sự tuyệt vời: Will và Tina Anderson, Alex Bonham, Louise Burke, Robby Burroughs, Britt Carlson,…

    Và cũng giống như mọi lần, xin đặc biệt cảm ơn Madelyn Warcholik.

    Những ai quan tâm đến chủ đề chế tạo và sưu tầm đồng hồ sẽ thấy cuốn Đánh dấu thời gian[85] của Michael Korda rất thú vị.


    [1] Front: khoảng không gian hay bề mặt ngăn cách hai khối khí có thuộc tính nhiệt - ẩm khác nhau. (Các chú thích là của người dịch.)
    [2] Band-Aid là nhãn hiệu băng dính y tế của hãng dược phẩm và thiết bị y tế Johnson & Johnson, Mỹ, một mặt có màu nâu vàng (ám chỉ màu của chiếc SUV, dạng viết tắt của Sport Utility Vehicle – dòng xe đa dụng).
    [3] Midtown (trung), cùng với Uptown (thượng) và Downtown (hạ), là một trong ba phân khu chính của Manhattan, New York.
    [4] oF, khoảng 10oC.
    [5] Liberty Island: Một hòn đảo nhỏ, không có người sinh sống nằm ở khu Thượng trong vịnh New York.
    [6] LaGuardi: Một trong số ba sân bay chính ở New York, đặt theo tên của Fiorello Henry LeGuardia – Thị trưởng New York từ năm 1934 đến năm 1945.
    [7] National Public Radio: Viết tắt là NPR.
    [8] Storm Arrow: Mũi tên Bão táp.
    [9] Big Building: Cơ quan hành chính Long Island, thuộc Queens (khu vực hành chính lớn nhất trong năm khu vực hành chính của thành phố New York).
    [10] Westchester: Một hạt thuộc bang New York, nơi tập trung các cơ quan thực thi pháp luật.
    [11] Jeopardy: Một chương trình trò chơi tìm hiểu kiến thức trên truyền hình Mỹ.
    [12] Rodman’s Neck: Tên bán đảo ở phía tây bắc Manhattan, nơi đặt một căn cứ đào tạo của Sở cảnh sát New York.
    [13] Chó bull: Giống chó luôn luôn sẵn sàng tấn công.
    [14] Upper East Side: Khu bờ Đông Thượng – một khu vực thuộc Manhattan, New York, nằm giữa công viên Trung tâm và sông Đông.
    [15] Tyvek: Một dòng sản phẩm của công ty DuPont (nhà máy sản xuất đặt tại bang Virginia, Mỹ, và Luxembourg), bao gồm bộ đồ bảo hộ áo liền quần kèm mũ và bao chân, thường là màu trắng.
    [16] Coke: Một cách gọi thông thường cho nước ngọt Coca-Cola.
    [17] Extreme Interrogation Techniques.
    [18] Dumpster: Một loại thùng chứa rác lớn của Mỹ.
    [19] Mục chuyện lượm lặt của tờ Bưu điện New York.
    [20] Velcro: Một nhãn hiệu của loại khóa hay dùng cho giày thể thao, xăng đan, quần áo… gồm hai bản có độ nhám khác nhau, khi ép lại sẽ dính chặt vào nhau.
    [21] HUD: (viết tắt của Housing and Urban Development) Cơ quan Phát triển Nhà ở và Đô thị.
    [22] Chinatown: Khu phố của người Trung Quốc ở New York.
    [23] Trăng Dâu: Strawberry Moon.
    [24] Trăng Cơm Mới: Harvest Moon.
    [25] Trăng Săn Bắt: Hunter Moon.
    [26] Những cuộc chạm trán ngang sức ngang tài hạng ba : Close Encounters of the Third Kind.
    [27] Ghi xổ số: Thực ra là một dạng xổ số bất hợp pháp do các băng nhóm tội phạm có tổ chức điều hành.
    [28] Sitcom: Hài kịch tình huống hay sitcom (viết tắt của từ tiếng Anh: situation comedy) là một thể loại của hài kịch, lúc đầu được sản xuất cho radio nhưng hiện nay được trình chiếu chủ yếu trên ti vi. Sitcom có nhiều tập với những tình huống hài hước được lồng ghép vào nội dung câu chuyện phim và được thực hiện hầu hết trong trường quay.
    [29] 75oF, khoảng gần 42oC.
    [30] Charles Manson bị kết án tử hình năm 1971 với tám điểm buộc tội, bảy về giết người và một về âm mưu giết người, nhưng sau đó hưởng án chung thân vì Tòa án Tối cao bang California xóa bỏ án tử hình, hiện vẫn còn trong tù và chưa được quyền xin phóng thích trước năm 2012.
    [31] oF, khoảng -10oC.
    [32] Gia đình Sopranos là một sê-ri kịch truyền hình Mỹ xoay quanh trùm mafia ở New Jersey Toney Soprano.
    [33] Donald John Trump (sinh năm 1946): Nhà kinh doanh bất động sản, nhà văn người Mỹ. Ông là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Trump Organization, một công ty phát triển bất động sản đặt trụ sở tại Mỹ.
    [34] Flatiron: có nghĩa là bàn là than.
    [35] Caller ID: dịch vụ truyền số máy gọi và tên thuê bao số máy này tới phía nhận cuộc gọi. Sellitto sử dụng loại thẻ đặc biệt để trong trường hợp chủ cửa hiệu đồng hồ kia sử dụng dịch vụ hiển thị số máy gọi tới, ông ta sẽ nhận được một số máy với tên thuê bao giả.
    [36] Chevy: một cách gọi thông thường cho xe Chevrolet của General Motors.
    [37] Dãy nhà máy đóng hộp: Canery Row.
    [38] Quả cầu làm bằng pha lê và các bóng đèn điện được đưa lên đỉnh một cái cột trênn tòa nhà của tờ Thời báo New York rồi được hạ xuống đánh dấu thời khắc năm mới đến.
    [39] Nicolaus Copernicus (1473-1543): Nhà thiên văn học nêu ra hình thức hiện đại đầu tiên của thuyết nhật tâm.
    [40] Starbucks là một công ty đa quốc gia đặt trụ sở tại Mỹ, sản xuất cà phê và có mạng lưới các quán bán cà phê.
    [41] Balsa: Một loại cây to, lớn nhanh, có thể cao tới ba mươi mét, là loại cây bản địa của vùng nhiệt đới Nam Mỹ.
    [42] Nguyên văn là “play it close to the chest”: Thành ngữ ám chỉ việc giữ kín ý đồ.
    [43] S và P: Ở đây muốn nói tới năm trăm công ty hàng đầu trong các ngành công nghiệp nổi bật của Mỹ, được đưa vào danh sách của Standard & Poor’s – một công ty về thông tin đầu tư thuộc tập đoàn McGraw-Hill, Mỹ.
    [44] Quay xe ở chỗ hẹp: Nguyên văn là “three-pointer”, là phương pháp quay xe bằng cách tiền, rồi lùi, rồi lại tiến, mỗi lần tiến và lùi quay được một chút.
    [45] Muối nitrate: Một số muối nitrate được sử dụng trong sản xuất chất nổ.
    [46] Slimjim: Là nhãn hiệu do hãng HPC Inc., một hãng sản xuất và cung cấp dụng cụ chuyên dụng cho thợ khóa, đưa ra thị trường. Slimjim được sử dụng để mở khóa cửa ô tô mà không cần chìa.
    [47] Grand Inquisitor – Đại Chánh án (Tòa án dị giáo do Giáo hội Thiên chúa La Mã thiết lập để đàn áp dị giáo).
    [48] Một nhãn hiệu của loại ghế bành mà người ta có thể điều chỉnh cho lưng ghế hạ xuống và phía trước ghế nâng lên để ngồi duỗi dài thoải mái.
    [49] Một nhãn hiệu máy tập thể dục.
    [50] Chiếc gậy hình chữ Y (nghĩa đen) là dụng cụ của người dò nước ngầm.
    [51] Bếp Địa ngục: một khu vực thuộc Manhattan, New York.
    [52] Lối đánh (thông thường) với mười sáu viên tròn trên bàn bi a, tương tự lối đánh bi a hai mươi mốt viên.
    [53] The Deuce: Biệt hiệu cho kênh ESPNZ, cùng một kiểu như kênh ESPN, ra đời ngày 1 tháng Mười năm 1993.
    [54] ACP (viết tắt của Automatic Colt Pistol): Súng Colt tự động.
    [55] 1 grain = 0,065 g.
    [56] Vùng miền Nam ấm áp của nước Mỹ, thông thường được coi là bao gồm các bang Arizona, California, Florida, Nevada, New Mexico, Texas, Georgia...
    [57] Một bộ phim đoạt giải Emmy, giải thưởng dành cho phim truyền hình của Mỹ, bắt đầu chiếu từ ngày 5 tháng Bảy năm 1989 và kéo dài tới ngày 14 tháng Năm năm 1998.
    [58] Hệ thống các cửa hàng bán lẻ thực phẩm, ở thành phố New York có khoảng ba mươi cửa hàng.
    [59] Một món kiểu Pháp, bò om với rượu vang đỏ.
    [60] Bob Dylan (tên khai sinh: Robert Allen Zimmerman, sinh năm 1941): ca sĩ, nhà soạn nhạc, nhà thơ, DJ. Ông là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn tới âm nhạc đại chúng trong năm thập kỷ qua.
    [61] Từ tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “vâng”.
    [62] Vụ án trong tiểu thuyết đầu tiên trong bộ truyện trinh thám về nhân vật Lincoln Rhyme của Jeffery Deaver: Kẻ tầm xương.
    [63] Một trong những công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ, có chi nhánh cung cấp điện, ga, hơi nước cho New York.
    [64] Jimi Hendrix (1942 - 1970): ca sĩ, nghệ sĩ chơi guitar người Mỹ, được coi là tay guitar vĩ đại nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử nhạc rock.
    [65] Đồ uống làm bằng rượu vang hoặc rượu mạnh pha với nước, đường, chanh, gia vị…
    [66] Pint: Đơn vị đo lường, tương đương 0,5l
    [67] Ám chỉ nhà tù Abu Ghraib ở thành phố Abu Ghraib, Iraq. Năm 2003, nhà tù này bị tai tiếng quốc tế vì những cáo buộc về hành động tra tấn và lạm dụng tù nhân của quân đội Mỹ.
    [68] Đơn vị đo lường, tương đương 4,5l.
    [69] °F, khoảng –7°c.
    [70] Thiết bị ổ cứng của hãng Palm Inc., một hãng chuyên sản xuất thiết bị máy vi tính cầm tay đặt trụ sở tại Sunnyvale, California, cho phép người sử dụng kết nối với các mạng máy tính, có thể soạn, trả lời, quản lý thư điện tử từ xa.
    [71] Ám chỉ cách nhìn nhận vấn đề đa chiều chứ không phải một chiều.
    [72] Little Italia – tên chung cho các khu tiểu dân Ý ở Mĩ
    [73] PDA (viết tắt của Personal Digital Assistant): Thiết bị kỹ thuật số cá nhân, có thể bao gồm một số chức năng của máy vi tính, điện thoại di động, máy nghe nhạc, máy ảnh.
    [74] Thông thường là các loại xốt cay đặc trưng cho các món Mexico, dùng để chấm.
    [75] Dòng xe đa dụng quân sự, sản phẩm của hãng chế tạo xe hạng nặng AM General, Mỹ.
    [76] The Girl’s Guide to Self-Interrogation.
    [77] Outward Bound expeditions: một tổ chức phi lợi nhuận xây dựng các chương trình thám hiểm thế giới hoang dã.
    [78] Khí cháy, không màu, không mùi, bốc cháy ở 465°C.
    [79] United Way: liên minh các tổ chức từ thiện ở Mỹ.
    [80] Một kim loại kiềm, được sử dụng đáng kể trong đồng hồ nguyên tử.
    [81] Người phụ trách một chương trình truyền thanh Mỹ, bình luận viên về các vấn đề chính trị.
    [82] Tấm làm bằng bia carton, ở giữa có vữa.
    [83] Protein co giãn như cao su, đóng vai trò cấu trúc chính trong cơ thể động vật có xương sống.
    [84] Emily Post (1873 - 1960): tác giả người Mỹ, viết sách xoay quanh chủ đề phép xã giao.
    [85] Marking time
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này