Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 35

    Lon Sellito quay lại nhà Rhyme, tức giận đi tới đi lui.

    Có vẻ như luật sư của Duncan đã gặp viên trợ lý ủy viên công tố bang và đạt được thỏa thuận là với một bản khai thừa nhận tội lỗi, một khoản tiền một trăm nghìn đô la đền bù cho việc huy động cảnh sát và lực lượng cứu hỏa, cùng với một cam kết bằng văn bản rằng sẽ làm chứng buộc tội Baker, gã thoát mọi tội hình sự, và sẽ bị bắt lại nếu không giữ lời cam kết xuất hiện trước tòa làm chứng chống Baker. Gã chẳng hề bị lấy dấu vân tay hay ghi biên bản giam giữ.

    Viên thám tử to béo quần áo nhàu nhĩ nhìn chằm chằm chiếc máy điện thoại, mắt quắc lên, tay chống nạnh, y như chính chiếc máy điện thoại là thằng ngốc bất tài đã thả một kẻ có khả năng giết người.

    Sự tự vệ bộc lộ rõ ràng trong giọng ông công tố viên. “Chẳng còn cách nào khác để anh ta hợp tác”, người đàn ông nói. “Anh ta được đại diện bởi một luật sư của công ty Hoàng tử Reed. Anh ta chịu nộp hộ chiếu. Tất cả đều đúng quy tắc. Anh ta đồng ý vẫn thuộc phạm vi kiểm soát của cơ quan pháp luật cho tới lúc xử Baker. Tôi đã bố trí cho anh ta ở tại một khách sạn trong thành phố, cắt cử một cảnh sát canh chừng. Anh ta sẽ không đi đâu. Có gì mà to chuyện? Tôi làm như thế này hàng trăm lần rồi.”

    “Bên Westchester thì sao?”. Rhyme quát vào mic điện thoại “Cái xác bị đánh cắp thì sao?”

    “Họ đồng ý không khởi tố. Tôi báo là chúng ta sẽ dành cho họ sự giúp đỡ mà họ đang cần với mấy vụ khác.”

    Ông công tố viên có thể coi vụ này như chiếc nhẫn vàng trong sự nghiệp của ông ta, việc tiêu diệt được một đường dây cảnh sát tham nhũng sẽ khiến ông ta vụt nổi tiếng.

    Rhyme lắc đầu, tức điên. Sự bất tài và thói tham vọng cá nhân khiến anh giận dữ. Thật khó khăn để làm công việc này mà không bị can thiệp bởi các quan chức. Chết tiệt thế nào mà chẳng có ai gọi cho anh trước khi thả Duncan ra? Thậm chí chưa có ý kiến của Kathryn Dance về đoạn băng phỏng vấn, cũng vẫn còn quá nhiều câu hỏi chưa được trả lời.

    Sellitto quát: “Hắn đang ở đâu?”.

    “Dù sao, bằng chứng nào...?”

    “Hắn đang ở chỗ quái nào?”, Sellitto tức giận hỏi.

    Ông công tố viên lưỡng lự nói cho họ biết tên một khách sạn ở khu Midtown và số điện thoại di động của người cảnh sát canh chừng Duncan.

    “Tôi gọi đây.” Cooper bấm số điện thoại.

    Sellitto tiếp tục. “Và luật sư của hắn là ai?”

    Viên trợ lý úy viên công tố bang cũng cho họ biết tên người này. Ông ta nói giọng căng thẳng: “Tôi thật lòng không hiểu toàn bộ sự ầm ĩ này là…”.

    Sellitto dập máy. Ông ta nhìn Dance. “Tôi chuẩn bị nhấn một số nút nghiêm trọng. Chị biết tôi đang nói gì chứ?”

    Dance gật đầu. “Ở California, chúng tôi cũng gặp những trường hợp rất phiền phức. Nhưng tôi cảm thấy thoải mái với ý kiến của mình. Hãy làm bất cứ việc gì có thể để tìm thấy hắn. Tôi muốn nói là tất cả mọi việc. Tôi sẽ trình bày đúng ý kiến ấy với bất cứ ai anh muốn tôi trình bày. Giám đốc Sở, thị trưởng, thống đốc.”

    Rhyme nói vói Sachs: “Thử xem vị luật sư biết gì về hắn”.

    Cô lấy tên ông ta, mở điện thoại di động đánh tách. Tất nhiên, Rhyme biết về công ty Hoàng tử Reed. Đó là một công ty luật lớn, được kính trọng,ở mạn dưới Broadway. Các luật sư thuộc công ty này nổi tiếng với những vụ bảo vệ cho những tội phạm thuộc giới trí thức, thu hút nhiều sự chú ý.

    Bằng giọng nghiêm trang. Cooper thông báo: “Chúng ta gặp phải một vấn đề. Liên quan đến người cảnh sát ở khách sạn, canh chừng Duncan. Anh ta vừa kiểm tra phòng hắn. Hắn biến mất rồi, Lincoln”.

    “Cái gì?”

    “Người cảnh sát nói tối hôm qua hắn đi ngủ sớm, bào rằng hắn cảm thấy không khỏe và hắn muốn hôm nay dậy muộn. Trông có vẻ hắn đã cạy khóa sang căn phòng sát bên cạnh. Người cảnh sát không biết việc này xảy ra khi nào. Chắc hẳn đêm hôm qua.”

    Sachs nắm chặt chiếc điện thoại. “Hoàng từ Reed không cỏ luật sư nào mang tên như đã nói với ông công tố viên. Và Duncan chẳng phải khách hàng của họ.”

    “Ôi, mẹ kiếp”, Rhyme quát to.

    “Thôi được”, Sellitto nói. “Tới lúc phải mời đến kỵ binh.” Ông ta gọi cho Bo Haumann chỉ huy Đơn vị Phản ứng nhanh và bảo rằng họ cần bắt đối tượng tình nghi lại ngay. “Chỉ có điều chúng tôi chẳng biết chính xác hắn đang ở đâu.”

    Sellitto cung cấp cho vị sĩ quan chỉ huy chiến thuật những chi tiết ít ỏi mà họ đang nắm. Phản ứng của Haumann, mà Rhyme không nghe thấy, tuy nhiên suy ra được từ lời Sellitto. “Anh chẳng cần nói với tôi, Bo ạ.”

    Sellitto để lại lời nhắn cho chính ủy viên công tố bang, rồi gọi cho Tòa nhà Lớn thông báo tình hình.

    “Tôi muốn tìm hiểu thêm về hắn”, Rhyme nói với Cooper “Chúng ta đã tự mãn quá đáng. Chúng ta chưa hỏi đầy đủ.” Anh liếc nhìn Dance. “Kathryn, tôi thực sự không muốn đề nghị việc này…”

    Cô đang cất điện thoại di động. “Tôi đã hủy chuyến bay rồi.”

    “Tôi xin lỗi. Đây không hẳn là vụ của chị.”

    “Nó là vụ của tôi kể từ lúc tôi phỏng vấn tay Cobb hôm thứ Ba”, Dance nói, cặp mắt màu xanh lá cây lạnh lùng và đôi môi bĩu ra.

    Cooper đang chạy những thông tin họ đã biết được về Gerald Duncan. Anh ta lập một danh sách số điện thoại và bắt đầu gọi. Sau mấy cuộc trao đổi, anh ta nói: “Nghe này. Hắn không phải là Duncan. Cảnh sát bang Missouri đã điều xe tới cái địa chỉ ghi trên bằng lái Đúng, chủ sỡ hữu ngôi nhà mang tên Gerald Duncan, nhưng không phải gã Gerald Duncan của chúng ta. Người đàn ông sống ở đó đã chuyển đến Anchorage do yêu cầu công việc cách đây sáu tháng. Ngôi nhà hiện tại bỏ không và đang chờ cho thuê. Ảnh anh ta đây”.

    Bức ảnh lấy từ bằng lái xe chụp một người đàn ông rất khác gã đàn ông họ bắt ngày hôm qua.

    Rhyme gật đầu. “Xuất sắc. Hắn đọc báo để kiểm tra các tin rao cho thuê nhà, tìm thấy một ngôi nhà đã được rao lâu rồi và tính toán rằng trong vòng vài tuần nữa nó vẫn chưa được cho thuê vì vướng lễ Giáng sinh. Cũng giống như đối với ngôi nhà thờ vậy. Và hắn làm giả tấm bằng lái xe mà chúng ta xem. Cả hộ chiếu nữa. Chúng ta đánh giá quá thấp gã này ngay từ đầu.”

    Cooper, nhìn chằm chằm vào máy vi tính, gọi to: “Chủ sở hữu ngôi nhà kia, Duncan thật, gặp một số vấn đề về thé tín dụng. Thông tin cá nhân bị đánh cắp”.

    Lincoln Rhyme cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc thân mình, phần cơ thể mà theo lý thuyết anh không cảm thấy được gì cả. Anh có cảm giác rằng một tai họa vô hình đang lộ ra nhanh chóng.

    Dance nhìn gương mặt bất động của Duncan cũng chăm chú y như Rhyme nhìn các bảng chứng cứ. Cô nói với vẻ trầm ngâm: “Hắn thực sự đang toan tính điều gì?”.

    Một câu hỏi họ chưa thể bắt đầu trả lời được.


    Ở trên tàu điện ngẩm, Charles Vespasian Hale, gã đàn ông đã giả dạng Gerald Duncan, Thợ Đồng Hồ, kiểm tra chiếc đồng hồ đeo tay (chiếc đồng hồ Breguet bỏ túi mà gã yêu quý không phù hợp với vai trò gã chuẩn bị sắm).

    Tất cả đã theo đúng kế hoạch. Gã đang đáp chuyến tàu xuất phát từ Brooklyn, nơi gã có ngôi nhà bí mật đầu tiên, mang tâm trạng đề phòng và cả hổi hộp nữa.

    Tất nhiên, câu chuyện về bản thân mình trong quá khứ mà Hale kể cho Vincent Reynolds hầu như chả có gì là sự thật. Nó không thể nào là sự thật được. Gã đã lập kế hoạch dài hơi với cái công việc của gã và gã biết rằng kẻ hiếp dâm xốp xồm xộp kia sẽ khai tông tốc tất cả cho cảnh sát ngay khi vừa bi đe dọa.

    Ra đời tại Chicago, Hale là con trai một thầy giáo dạy tiếng Latin bậc trung học (vì thế gã có cái tên lót đặt theo tên một vị hoàng đế La Mã cao quý) và một phụ nữ quản lý gian bán các món đồ đẹp đẽ xinh xinh ở một cửa hiệu ngoại ô thuộc hệ thống công ty Sears. Cặp vợ chồng chẳng bao giữ nói nhiều, chẳng làm nhiều. Tối tối, sau bữa ăn yên lặng, cha gã đến chỗ những cuốn sách, mẹ gã đến chỗ chiếc máy khâu. Đối với họ, một hoạt động kiểu gia có thể là ngồi vào hai chiếc ghế riêng rẽ, trước chiếc ti vi nhỏ, theo dõi những bộ phim sitcom vớ vẩn và những vở kịch vụ án vừa xem vừa đoán được tình tiết chúng tạo ra cho họ thứ phương tiện giao tiếp độc nhất vô nhị – bằng cách bình luận về những diễn biến trên màn hình, họ bày tỏ vói nhau những mong mỏi, những nỗi bất mãn mà họ không có đủ can đảm để thổ lộ trực tiếp.

    Yên lặng...

    Đứa con trai hầu như suốt đời là kẻ cô độc. Gã là đứa con xuất hiện bất ngờ và cha mẹ gã cư xử với gã bằng cung cách trang trọng, lãnh đạm, giễu cợt, y như gã là một loài thực vật mà họ không chắc chắn phải tưới nước, bón phân ra sao. Biết bao nhiêu tiếng đồng hồ lẻ loi, tẻ nhạt đã trở thành một vết thương hở, và Charles cảm thấy nỗi mong muốn đến tuyệt vọng bận rộn làm cái gì đó cho hết thời gian, vì sợ sự tĩnh lặng nhức nhối trong ngôi nhà sẽ bóp nghẹt gã.

    Hết giờ này sang giờ khác, gã ở bên ngoài – đi bộ hoặc trèo cây. Vì một lý do nào đấy mà người ta dễ chịu đựng tình trạng cô đơn hơn khi người ta ở bên ngoài trời. Luôn luôn có cái gì đó khiến người ta phân tán tư tường, luôn luôn có cái gỉ đó người ta sẽ tìm thấy bên kia ngọn đồi tiếp theo, ở cái cành tiếp theo trên cây thích. Gã tham gia câu lạc bộ sinh học ngoài trời ở trường. Gã tham gia các cuộc thám hiểm của tố chức Huấn luyện Dã ngoại[77] và bao giờ cũng là người đầu tiên vượt qua chiếc cầu treo, lao xuống nước từ các vách đá, tụt xuống sườn núi theo dây thừng.

    Nếu bắt buộc phải ở trong nhà, Charles hình thành thói quen lấp đầy thời gian bằng việc sắp xếp ngăn nắp các vật. Việc sắp xếp các dụng cụ văn phòng phẩm, những cuốn sách vả đồ chơi có thể không ngừng lấp đầy biết bao nhiêu tiếng đồng hồ nhức nhối. Gã không lẻ loi khi làm việc ấy, gã không đau đớn bởi buồn chán, gã không sợ sự yên lặng.

    Mày có biết không, Vincent, rằng từ meticulous (thận trọng, tỉ mỉ) xuất phát từ từ meticulosus trong tiếng Latin, có nghĩa là sợ hãi?

    Khi các thứ không chính xác và lộn xộn, Charles hay rơi vào trạng thái bị kích động, thậm chí nếu sai sót chỉ là cái gì đó ngớ ngẩn như một thanh ray tàu hỏa bị lệch hay một nan hoa xe đạp bị cong. Gã sợ bất cứ cái gì không trôi chảy cũng giống như người khác sợ tiếng móng tay dí ken két trên một tấm bảng đen vậy.

    Cuộc hôn nhân của cha mẹ gã chẳng hạn. Sau khỉ cha mẹ gã ly dị, gã chưa bao giờ nói chuyện lại với họ. Cuộc đời phải trật tự và hoàn hảo. Khi nó không thể anh nên được tự do loại bỏ tất cả các yếu tố lộn xộn. Gã chẳng cầu nguyện (chẳng có bằng chứng thực tế nào cho thấy người ta làm cho cuộc đời trật tự hay đạt được mục tiêu thông qua sự giao tiếp với thánh thần), nhưng giả dụ như gã cầu nguyện, gã sẽ cầu nguyện cho tất cả các yếu tố lộn xộn biến mất.

    Hale tham gia quân đội hai năm, ở đó gã phát triển mạnh mẽ trong môi trường của kỷ cương trật tự. Gã đi học tại trường đào tạo hạ sĩ quan và được các giáo sư chú ý. Sau khi gã được phong hàm sĩ quan, họ đề nghị gã dạy lịch sử quân sự và xây dựng kế hoạch chiến lược, chiến thuật, những lĩnh vực mà gã rất xuất sắc.

    Giải ngũ, Hale dành một năm cho môn đi bộ việt dã và leo núi ở châu Âu. Rồi gã trở về Mỹ và làm nghề huy động vốn đầu tư mạo hiểm, học thêm luật buổi tối.

    Gã làm luật sư một thời gian và xuất sắc trong việc xây dựng các hợp đồng kinh doanh. Gã kiếm được rất nhiều tiền, nhưng nỗi cô đơn không rời khỏi cuộc đời gã. Gã lảng tránh những mối quan hệ vì chúng đòi hỏi sự ứng biến và đầy những hành vi phi lý. Càng ngày niềm đam mê lập kế hoạch và đưa mọi vật vào trật tự càng thay thế vai trò của một người tình. Và cũng giống như bất cứ ai thay thế một mối quan hệ có thật bằng một nỗi ám ảnh.Hale nhận ra mình đang tìm kiếm những cách mạnh mẽ để thỏa mãn bản thân.

    Sáu năm trước, gã tìm thấy giải pháp hoàn hảo. Gã đã giết nạn nhân đầu tiên.

    Sống ở San Diego, Hale biết chuyện một người cộng tác kinh doanh với gã bị thương nặng. Một thằng lái xe say rượu đâm vào xe anh ta. Tai nạn khiến phần hông anh ta nát bét và cả hai chân đều gãy đôi – một chân phải cắt bỏ. Thằng lái xe không bày tỏ bất cứ chút ăn năn nào, khăng khăng không chịu nhận mình đã sai, chẳng những thế còn đổ lỗi gây ra tai nạn lên chính nạn nhân. Thằng du côn bị kết án nhưng, vì là lần đầu tiên phạm tội, hắn được hưởng án nhẹ. Rồi hắn bắt đầu quấy rối người bạn làm ăn của Hale để vòi tiền.

    Hale quyết định rằng không thể cho thằng kia tiếp tục. Gã đi đến một kế hoạch tỉ mỉ nhằm khiến thằng ranh con phải phát khiếp mà dừng lại. Nhưng khi gã xem xét toàn bộ kế hoạch, gã nhận ra nó làm gã cảm thấy thiếu thoải mái, bực bội. Kế hoạch ấy có cái gì đó vụng về. Nó không trật tự một cách chính xác như ý gã muốn. Cuối cùng, gã nhận ra vấn đề. Kế hoạch của gã khiến nạn nhân khiếp sợ, tuy nhiên vẫn sống. Nếu thằng nhãi kia chết, thì kế hoạch mới hoàn hảo và chẳng còn dấu vết nào dẫn tới Hale hay người bạn bị thương được.

    Nhưng liệu gã có thể thực sự giết người không? Cái ý tưởng nghe hoàn toàn trái với lẽ thường.

    Có hay không?

    Vào một đêm tháng Mười mưa gió, Hale đi đến quyết định.

    Vụ án mạng diễn ra hoàn hảo và cảnh sát chẳng hề ngờ vực cái chết của tay thanh niên là cái gì khác ngoài một tai nạn điện giật tại nhà.

    Hale chuẩn bị tinh thần là minh sẽ cảm thấy hối hận. Nhưng không, gã đã không cảm thấy hối hận gì. Thay vào đó là sự mê ly. Kế hoạch được thực hiện quá hoàn hảo, cái thực tế là hắn vừa giết người không thành vấn đề.

    Con nghiện muốn có thêm thuốc.

    Chẳng bao lâu sau đó, Hale tham gia vào một dự án kinh doanh ở Mexico City – xây dựng những khu vực điền trang sang trọng. Tuy nhiên, một quan chức tham nhũng đã gây ra đủ các trở ngại hòng khiến vụ làm ăn thất bại. Đối tác người Mexico của Hale cho biết kẻ ti tiện này đã hành động như vậy nhiều lần.

    “Thật đáng tiếc nếu không loại bỏ được hắn”, Hale nói nhũn nhặn.

    “Ổ, chẳng bao giờ loại bỏ được hắn đâu”, người bạn Mexico nói. “Anh có thể bảo là hắn bất khả xâm phạm.”

    Điều này khiến Hale chú ý. “Tại sao?”

    Tay ủy viên hội đồng thành phố này, người bạn Mexico giải thích, bị ám ảnh về vấn đề an ninh. Hắn đi một chiếc SUV bọc sắt to tướng, một chiếc Cadillac đặt sản xuất riêng, và luôn luôn mang theo vệ sĩ có trang bị vũ khí. Công ty nhận bảo vệ cho hắn liên tục thay đổi các tuyến đường để đi lại giữa nhà hắn và văn phòng, các cuộc gặp gỡ. Hắn chuyển gia đình từ ngôi nhà này sang ngôi nhà khác một cách ngẫu nhiên, và thường xuyên thậm chí không ở trong những ngôi nhà của chính hắn mà ở nhà bạn bè hoặc nhà thuê. Và hắn thường xuyên đi ra ngoài cùng đứa con trai còn ít tuổi – người ta đồn đại rằng hắn giữ thằng bé ở gần làm tấm mộc. Tay ủy viên hội đồng cũng được một bộ trưởng nội vụ liên bang cao cấp che chở.

    “Vậy, anh có thể bảo là hắn bất khả xâm phạm”, người bạn Mexico nói trong lúc rót đầy hai ly Patrón, loại rượu tequila rất đắt tiền.

    “Bất khả xâm phạm”, Hale trầm ngâm thì thầm. Gã gật đầu.

    Chẳng bao lâu sau cuộc gặp gỡ, năm bài báo có vẻ không liên quan gì đến nhau xuất hiện trên tờ El Heraldo de Mexico số ra ngày 23 tháng Mười.

    Một vụ hỏa hoạn xảy ra tại Mexicana Seguridad Privado, công ty cung cấp các dịch vụ an ninh, khiến toàn bộ nhân viên phải sơ tán. Không có báo cáo nào về thương vong và thiệt hại không đáng kể.

    Một hacker đã làm tắt máy chủ của một nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động, khiến dịch vụ bị gián đoạn tại một phần Mexico City và khu vực ngoại ô phía nam trong hai tiếng đồng hồ.

    Một chiếc xe tải bốc cháy giữa quốc lộ 160, phía nam Mexico City, gẩn Chalco, gây tắc nghẽn hoàn toàn tuyến giao thông lên phía bắc.

    Henri Porfirio, Chủ tịch ủy ban cấp giấy phép kinh doanh bất động sản thành phố, qua đời khi chiếc SUV của ông làm sập cây cầu một làn đường, rơi thẳng từ trên cao mười hai mét xuống một xe tải chở propane[78] đang đỗ và nổ tung. Tai nạn xảy ra khi các lái xe đang theo những hướng dẫn từ bốt chỉ đường để rời khỏi quốc lộ, rẽ vào một đường nhánh để tránh một vụ ùn tắc giao thông lớn. Các xe khác trước đó đã vượt qua cây cầu an toàn, tuy nhiên, xe ông ủy viên hội đồng, vì bọc thép, quá nặng đối với cây cầu cũ kỹ, mặc dù có một tấm biển báo cây cầu chịu được trọng lượng xe SUV. Người phụ trách an ninh của Porfirio biết về vụ ùn tắc giao thông và cố gắng liên lạc để hướng dẫn cho ông một tuyến an toàn hơn nhưng không được, vì không kết nối được với điện thoại di động của ông. Xe ông là xe duy nhất rơi khỏi cầu.

    Con trai Porfirio không ở trong chiếc SUV, đáng lẽ nó sẽ đi cùng ông. Ngày hôm trước bị ngộ độc nhẹ do thức ăn, cậu bé ở nhà với mẹ.

    Erasmo Saleno, quan chức nội vụ cao cấp thuộc chính quyền liên bang Mexico, bị bắt sau khi một nguồn tin bí mật đưa cảnh sát tới ngôi nhà nghỉ mùa hè của ông ta, tại ngôi nhà họ tìm thấy vũ khí và cocaine được cất giấu (điều kỳ lạ là các phóng viên cũng được báo động, trong đó có một nhiếp ảnh gia có quan hệ với tờ Thời báo Los Angeles).

    Tất cả là những tin tức được đăng trong một ngày.

    Một tháng sau, dự án bất động sản của Hale bắt đầu triển khai và gã nhận từ người bạn làm ăn ở Mexico khoản chia thêm năm trăm nghìn đô la tiền mặt.

    Gã hài lòng với món tiền. Tuy nhiên, gã còn hài lòng hơn với những mối quan hệ gã thiết lập được thông qua nhà doanh nghiệp Mexico. Chẳng bao lâu sau, nhà doanh nghiệp này lại giới thiệu gã với một người ớ Mỹ có nhu cầu về các dịch vụ tương tự.

    Bây giờ, mỗi năm vài lần, giữa các dự án kinh doanh. Hale lại nhận một nhiệm vụ như thế. Thông thường là sát nhân, tuy nhiên gã cũng tham gia vào những âm mưu tài chính, lừa đảo bảo hiểm, và ăn trộm tinh vi. Hale làm việc cho bất cứ ai, vì bất cứ động cơ gì, những việc ấy không can hệ đến gã. Gã chẳng quan tâm tại sao ai đó lại muốn một tội ác được thực hiện. Gã đã hai lần giết những ông chồng lăng mạ vợ. Gã giết một kẻ gạ gẫm trẻ con một tuần trước khi giết một nữ doanh nhân là một Mạnh Thường Quân lớn cho Con đường thống nhất[79].

    Định nghĩa tốt và xấu của Charles Vespasian Hale khác với của mọi người. Tốt là sự hào hứng về tinh thần. Và xấu là sự buồn chán. Tốt là một kế hoạch tinh vi được thực hiện suôn sẻ, và xấu là một kế hoạch cẩu thả hoặc một kế hoạch được thực hiện bất cẩn.

    Nhưng âm mưu hiện tại của Hale – chắc chắn là âm mưu tinh vi và có ảnh hưởng nhất – đang được thực hiện một cách hoàn hảo.

    Chúa sáng tạo ra bộ máy phức tạp của vũ trụ, rồi lên dây cót và cho nó bắt đầu chạy...

    Hale rời tàu điện ngầm và leo lên phố, mũi gã đau nhói vì lạnh, cặp mắt chảy nước, và gã bắt đầu đi bộ dọc theo vỉa hè. Gã chuẩn bị nhấn nút đểnhững chiếc kim trên thiết bị bấm giờ đích thực của gã bắt đầu chạy.


    Điện thoại của Lon Sellitto đổ chuông và ông ta nhận cuộc gọi. Cau mày, ông ta trao đổi mấy câu ngắn gọn. “Tôi sẽ xem xét.”

    Rhyme ngẩng nhìn vẻ chờ đợi.

    “Haumann. Anh ấy vừa nhận một cú điện thoại từ người quản lý một công ty chuyên phát bưu phẩm ở cùng tầng với cái công ty mà Thợ Đồng hồ đột nhập tại khu Midtown. Người quản lý nói một khách hàng vừa gọi điện. Một phong bì đáng lẽ phải giao ngày hôm qua lại chẳng thấy đâu cả. Xem chừng ai đó đã đột nhập và đánh cắp nó vào khoảng thời gian chúng ta đang rà soát văn phòng tìm kiếm đối tượng. Người quản lý hỏi liệu chúng ta cóbiết gì không.”

    Ánh mắt Rhyme đưa sang những bức hình Sachs chụp dãy hàng lang. Chúa phù hộ cho cô, cô đã chụp toàn bộ tầng đó. Phía dưới tên công ty chuyển phát bưu phẩm là dòng chứ An ninh nghiêm ngặt – Chuyển phát bảo đảm những thứ có giá trị.

    Rhyme nghe thấy tiếng mọi người nói lao xao xung quanh anh. Tuy nhiên anh không nghe thấy rõ ràng từng lời. Anh đăm đăm nhìn bức ảnh, rồi lại nhìn các chứng cứ khác.

    “Sự tiếp cận vấn đề”. Rhyme thì thào.

    “Sao cơ?”, Sellitto cau mày hỏi.

    “Chúng ta quá tập trung vào Thợ Đồng Hồ và các vụ giết người giả, rồi tiếp theo vào kế hoạch tiêu diệt Baker của hắn, chúng ta đã không xem xét điều gì khác đang diễn ra.”

    “Là điều gì?”, Sachs hỏi.

    “Việc đột nhập. Tội mà hắn thực tế đã phạm là tội xâm nhập trái phép. Tất cả những văn phòng ở tầng đó đều không được gác mất một lúc. Khi người ta sơ tán tòa nhà, người ta để các cửa mở?”

    “Chà, phải, tôi cho là vậy”, viên thám tử to béo nói.

    Sachs tiếp lời: “Có nghĩa trong lúc chúng ta tập trung vào công ty thiết kế sàn, Thợ Đồng Hồ hẳn đã khoác lên người một bộ đồng phục hoặc chỉcần đeo vào cổ một tấm phù hiệu rồi đi vào công ty chuyển phát hàng hóa và dễ dàng lấy cái phong bì kia”.

    Sự tiếp cận vấn đề...

    “Hãy gọi cho công ty chuyển phát bưu phẩm. Tìm hiểu xem có gì bên trong phong bì, ai gửi nó và gửi đi đâu. Tiến hành ngay.”
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 36

    Chiếc taxi dừng trước bảo tàng Mỹ thuật Thành phố ở đại lộ Năm. Tòa nhà đồ sộ được trang hoàng để đón Giáng sinh theo phong cách thờiVictoria trang nhã, đặc trưng cho khu Upper East Side. Một không khí lễ hội nhẹ nhàng.

    Charles Vespasian Hale trèo ra khỏi chiếc taxi, gã thận trọng nhìn xung quanh để phòng chút nguy cơ bị cảnh sát bám. Quá ít khả năng gã bị theo dõi. Tuy nhiên, gã vẫn thong thả, nhìn khắp bốn phía xem có bất cứ ai gây cho gã sự chú ý nhỏ nhất nào không. Gã chẳng phát hiện thấy cái gì đáng lo lắng.

    Hale cúi xuống bên cửa sổ taxi để mở, trả tiền người lái xe – đưa tiền mặt bằng đôi bàn tay đeo găng – và khoác chiếc túi vải bạt màu đen qua vai, gã leo lên các bậc thang vào khu vực tiền sảnh rộng như ở nhà thờ lớn, âm vang những giọng nói, phần lớn của trẻ em. Bảo tàng đầy trẻ em đang được nghỉ học. Chỗ nào cũng có cành thường xuân, những món đồ trang trí, những dải tuyn, dây vàng. Nhạc của Bach được chơi rộn ràng trên dương cầm phát ra từ băng ghi âm sẵn, vang vọng suốt lối vào sâu hun hút.

    Hale để chiếc túi trong phòng treo áo khoác, tuy nhiên gã lại mang theo áo khoác và mũ. Người nhân viên giữ đồ kiểm tra túi, ghi xuống phiếu gửi đồ là có bốn cuốn sách mỹ thuật, rồi kéo khóa túi lại và chúc Hale một ngày thú vị. Gã nhận phiếu gửi đồ, trả tiền và vào cửa, gật đầu mỉm cười với những nhân viên bảo vệ ở lối vào và bước qua họ vào bảo tàng.


    “Đồng hồ Delphi à?”, Rhyme đang trao đổi với giám đốc bảo tàng Mỹ thuật Thành phố qua điện thoại.

    “Nó vẫn đang được trưng bày tại đó?”

    “Vâng, thưa thám tử”, người đàn ông đáp ngập ngừng. “Chúng tôi đã trưng bày nó tại đây hai tuần. Nó là một phần của chuyến trưng bày vòng quanh các thành phố.”

    “Được, được, được. Nó có người gác không?”

    “Tất nhiên là có. Tôi...”

    “Có khả năng một tên trộm sẽ đánh cắp nó.”

    “Đánh cắp nó? Ông có chắc chắn không? Đó là một vật độc nhất vô nhị. Bất cứ ai chiếm hữu nó cũng không thể đưa nó ra công khai.”

    “Hắn chẳng định bán nó”, Rhyme nói. “Tôi nghĩ rằng hắn muốn có nó cho bản thân mình thôi.”

    Nhà hình sự học giải thích: Phong bì bị đánh cắp tại công ty chuyên phát bưu phẩm trong tòa nhà ở phố Ba mươi hai là từ một ông bầu nghệ thuật giàu có, được gửi tới bảo tàng Mỹ thuật Nó chứa đựng một danh mục lớn những món đổ cổ sẽ được tặng cho bộ sưu tập hiện vật của bảo tàng.

    Bảo tàng Mỹ thuật ư? Rhyme đã băn khoăn tự hỏi. Rồi anh nhớ ra các chương trình tham quan bảo tàng tìm thấy tại nhà thờ. Anh hỏi VincentReynolds và người chủ cửa hiệu đồng hồ, Victor Hellerstein, xem Duncan có nhắc nhở gì về bảo tàng Mỹ thuật không. Rõ ràng hắn có đề cập – dành nhiều thời gian đến dây – và bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đối với Đồng hồ Delphi.

    Lúc này. Rhyme bảo vị giám đốc: “Chúng tôi cho rằng hắn đánh cắp chiếc phong bì để đưa lén một cái gì đó vào bảo tàng. Có thể là dụng cụ, có thể là phần mềm vô hiệu hóa chuông báo động. Chúng tôi không biết. Tôi không thể xác định được ngay bây giờ. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải thận trọng”.

    “Trời ơi... Vâng. Chúng tôi phải làm gì?”

    Rhyme ngẩng nhìn Cooper, anh ta gõ bàn phím và giơ ngón tay cái lên tỏ ý đã thực hiện xong công việc. Nhà hình sự học nói vào mic: “Chúng tôi vừa email cho ông ảnh của hắn. Ông có thể in nó ra và phát cho tất cả các nhân viên, phòng theo dõi an ninh và phòng treo áo khoác, mỗi người một bản không? Xem họ có nhận ra hắn không”.

    “Tôi sẽ thực hiện việc ấy ngay bây giờ. Ông chờ cho vài phút được chứ?”

    “Chắc chắn rồi.”

    Vị giám đốc nhanh chóng quay lại cầm máy. “Thám tử Rhyme?”, ông ta nói giọng hổn hển. “Hắn đang ở đây! Chừng mười phút trước, hắn gửi một cái túi. Nhân viên giữ đồ nhận ra hắn.”

    “Cái túi vẫn ở đó?”

    “Vâng. Hắn chưa rời khỏi đây.”

    Rhyme gật đầu với Sellitto, ông ta nhấc điện thoại gọi cho Bo Haumann, chỉ huy Đơn vị Phản ứng nhanh – các nhóm của Haumann đang trên đường đến bảo tàng – và thông báo tin tức mới nhất

    “Nhân viên bảo vệ gian trưng bảy chiếc đồng hồ”, Rhyme hỏi. “Anh ta có vũ khí chứ?”

    Không. Ông nghĩ tên trộm thì có vũ khí à? Chúng tôi không đặt máy dò kim loại ở lối vào. Hắn chắc đã mang theo súng.”

    “Có thể.” Rhyme nhìn Sellitto, nhướn một bên mày.

    Viên thám tử hỏi: “Cho một nhóm vào từ từ nhé? Bí mật nhé?”.

    “Hắn gửi cái túi… và hắn biết về đồng hồ.” Rhyme hỏi giám đốc: “Có ai xem bên trong cái túi không?”.

    “Tôi sẽ kiểm tra. Xin chờ.” Lát sau, vị giám đốc quay lại. “Sách. Hắn bỏ trong túi những cuốn sách mỹ thuật. Nhưng nhân viên phòng treo áo khoác không kiểm tra những cuốn sách này.”

    “Bom để đánh lạc hướng à?”, Sellitto hỏi.

    “Có thể. Có thể chỉ là bom khói, nhưng thậm chí như thế dân tình cũng đã hoảng loạn rồi. Mà cũng có thể sẽ gây chết người . “

    Haumann gọi vào bộ đàm. Giọng ông ta nghe chói tai: “Chúng tôi đã bố trí các nhóm tiến vào theo tất cả các cửa”.

    Rhyme hỏi Dance: “Chị chắc chắn hắn sẵn sàng giết người chứ?”.

    “Vâng.”

    Rhyme đang cân nhắc kỹ năng xây dựng âm mưu của gã đàn ông kia. Liệu có kế hoạch giết người nào nữa mà gã sẽ thực hiện nếu gã nhận ra mình sắp sửa bị bắt trong bảo tàng? Rhyme quyết định: “Cho sơ tán”.

    Sellitto hỏi: “Toàn bộ bảo tàng à?”.

    “Tôi nghĩ là chúng ta phải làm vậy. Ưu tiên số một, bảo đảm tính mạng. Sơ tán phòng treo quần áo và tiền sảnh trước, rồi tất cả những người khác. Đề nghị quân của Haumann kiểm tra từng người đi ra. Đảm bảo cho các nhóm đều có ảnh hắn.”

    Vị giám đốc bảo tàng đã nghe thấy cuộc trao đổi.

    “Theo ông, cần thiết phải làm vậy à?”

    “Vâng. Hãy tiến hành ngay bây giờ đi.”

    “Được, tôi chỉ không biết một người bằng cách nào lại có thể đánh cắp nó”, vị giám đốc nói. “Chiếc đồng hồ nằm bên trong hộp kính chống đạn dày hai phân rưỡi. Và sẽ chẳng ai có thể mở hộp trước khi cuộc triển lãm kết thúc, tức thứ Ba tuần sau.”

    “Ông muốn nói gì?”, Rhyme hỏi.

    “Đó là một trong những hộp trưng bày loại đặc biệt của chúng tôi.”

    “Nhưng tại sao nó sẽ không mở ra trước thứ Ba?”

    “Bởi nó có một đồng hồ được lập trình về thời gian, kết nối qua vệ tinh với một đồng hồ nào đấy của chính phủ. Họ bảo tôi là chẳng ai có thể tự động mở nó. Chúng tôi sử dụng để trưng bày những hiện vật quý giá nhất.”

    Người đàn ông tiếp tục trình bày, nhưng Rhyme không tập trung nghe. Đầu óc anh cứ luẩn quẩn một cái gì đó. Rồi anh nhớ ra.

    “Vụ cố ý gây hỏa hoạn, cái vụ Fred Dellray muốn chúng ta giúp đỡ ấy. Nói lại xem nó ở đâu nhỉ?”

    Sachs cau mày. “Một cơ quan chính phủ. Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ hay đại khái thế. Sao cơ?”

    “Kiểm tra đi, Mel.”

    Người kỹ thuật viên vào mạng. Anh ta đọc từ website: “Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ là tên mới của Cơ quan Quốc gia về Tiêu chuẩn và…”

    “Cơ quan Quốc gia về Tiêu chuẩn?”, Rhyme ngắt lời. “Họ giữ đồng hồ nguyên tử để điều chinh giờ cho cả nước... Liệu có phải hắn nhắm vào đókhông? Chiếc đồng hồ ở bảo tàng Mỹ thuật có kết nối với Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ. Bằng cách nào đấy hắn sẽ thay đổi giờ, khiến nó tưởng rằng đã là thứ Ba tuần sau. Cái hộp tự động mở ra.”

    “Hắn làm được việc ấy à?”, Dance hỏi.

    “Tôi không biết. Nhưng nếu việc ấy là có thể, hắn sẽ tìm cách làm. Tôi cuộc rằng vụ hỏa hoạn ở Viện Quốc gia và Tiêu chuẩn nhằm che giấu hành vi đột nhập...” Rồi Rhyme ngừng lời, khi toàn bộ ý đồ của Thợ Đồng Hồ đã trở nên rõ ràng. “Ôi, không.”

    “Sao thế?”

    Rhyme đang suy nghĩ về sự đánh giá của Kathryn Dance: Rằng đối với Thợ Đồng Hồ, tính mạng con người là không đáng kể. Anh nói: “Giờ trên khắp cả nước được điều chỉnh theo đồng hồ nguyên tử. Máy bay, tàu hỏa, quốc phòng, lưới điện, máy vi tính... tất cả. Chị biết điều gì sẽ xảy ra nếu hắn cài đặt lại nó chứ?”.


    Tại một khách sạn rẻ tiền ở khu Midtown, một người đàn ông trung niên và một phụ nữ ngồi trên chiếc đi văng nhỏ bốc mùi mốc và thức ăn cũ. Họ đang chăm chú nhìn màn hình ti vi.

    Charlotte Allerton là người phụ nữ chắc nịch đã giả vờ làm em gái Theodore Adams, “nạn nhân” đầu tiên trong con hẻm hôm thứ Ba. Người đàn ông bên cạnh, Bud Allerton, chổng ả, là người đã đóng vai luật sư bào lãnh cho Gerald Duncan được thả khỏi phòng giam với lời hứa rằng khách hàng của gã sẽ là nhân chứng cho vụ bê bối của cảnh sát.

    Bud thực sự là luật sư, tuy gã đã không hành nghề vài năm. Gã sử dụng lại một số kỹ năng cũ để phục vụ cho kế hoạch của Duncan, giả vờ làm một luật sư về tội hình sự thuộc công ty luật Hoàng tử Reed, một công ty lớn, có uy tín. Ông trợ lý ủy viên công tố bang chấp nhận toàn bộ vở kịch, thậm chí chẳng buồn gọi điện đến công ty kia kiểm tra. Gerald Duncan đã tính toán một cách chính xác rằng ông công tố viên vì quá khao khát được nổi danh với một vụ tham nhũng trong lực lượng cảnh sát sẽ tin điều ông ta muốn tin. Hơn nữa, ai lại hỏi xem chứng minh thư một luật sư chứ?

    Vợ chồng nhà Allerton hầu như chỉ tập trung chú ý vào màn hình ti vi đang đưa các tin tức địa phương. Một chương trình về sự an toàn của cây thông Giáng sinh. Ánh mắt Charlotte thoáng lướt qua phòng ngủ lớn, nơi cô con gái mảnh khảnh, xinh xắn đang ngồi đọc sách. Cô bé nhìn mẹ và cha dượng qua khung cửa bằng cặp mắt sẫm màu, rầu rĩ tạo nên nét đặc trưng trên gương mặt cô những tháng gần đây.

    Cô be ấy...

    Cau mày, Charlotte quay lại nhìn màn hình ti vi. “Lâu quá nhỉ?”

    Bud không nói gì. Những ngón tay mập mạp của gã đan vào nhau và gã ngồi khom lưng về phía trước, chống khuỷu tay lên đầu gối. Charlotte tự hỏi liệu có phải gã đang cầu nguyện không.

    Lát sau, người phóng viên có nhiệm vụ cứu các gia đình khỏi tai họa cháy cây thông Giáng sinh biến mất và trên màn hình hiện dòng chữ Bản tin Đặc biệt.


  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 37

    Trong quá trình nghiên cứu việc chế tạo đồng hồ để có thể là một kẻ giết người báo thù đáng tin cậy, Charles Hale đã biết được cái khái niệm “chức năng phụ”.

    Một chức năng phụ là một chức năng của đồng hồ bên cạnh việc báo giờ. Chẳng hạn, những cái mặt nhỏ nằm trên cái mặt lớn một chiếc đồng hồ đắt tiền cung cấp những thông tin như thứ trong tuần, ngày trong tháng, giờ ở các địa điểm khác nhau, và chức năng điểm chuông định kỳ (chuông điểm giữa những khoảng thời gian nhất định). Thợ Đồng Hồ luôn luôn thích thú với nỗ lực của các hãng chế tạo nhằm đưa vào nhiều hết mức có thể các chức năng phụ. Một ví dụ điển hình là chiếc Patek Philippe Star Calibre 2000, chiếc đồng hồ bao gồm hơn nghìn bộ phận. Nỏ cung cấp cho người sở hữu những thông tin như thời gian mặt trời mọc và lặn, một lịch vạn niên, thứ, ngày, tháng, những kỳ trăng, quỹ đạo của mặt trăng, mức năng lượng dự trữ cả cho đồng hồ chạy lẫn cho một số cái chuông bên trong.

    Tuy nhiên, điều phiền phức với các chức năng phụ là chúng chỉ như thế thôi. Chúng có xu hướng làm xao lãng mục đích cơ bản của một chiếc đồng hồ: báo giờ. Hãng Breitling chế tạo được những chiếc đồng hồ tuyệt vời, nhưng một số mẫu chuyên nghiệp và dành cho phi công có quá nhiều các mặt nhỏ, các kim, các chức năng phụ, chẳng hạn thiết bị bấm giờ và bảng logo, tới nỗi người ta dễ dàng không nhìn thấy được kim dài, kim ngắn báo giờ.

    Dù sao các chức năng phụ cũng chính xác là cái mà Charles Hale cần để thực hiện kế hoạch của gã tại thành phố New York này, là cái để cảnh sát không tập trung vào ý đồ thực sự của gã. Vì rất có khả năng Lincoln Rhyme và nhóm của anh ta sẽ phát hiện ra gã chẳng còn bị giam giữ và gã thực sự chẳng phải Gerald Duncan, họ sẽ nhận ra gã còn đang toan tính chuyện nào đấy ngoải cái chuyên trả thù tay cảnh sát biến chất.

    Bởi vậy, gã cán một chúc năng phụ để hướng cảnh sát tập trung sang chỗ khác.

    Điện thoại di dộng của Hale rung. Gã liếc nhìn tin nhắn do Charlotte Allerton gửi. Thông báo Đặc biệt trên ti vi: Bảo tàng đóng cửa. Cảnh sát đang tìm kiếm anh ở đó.

    Hale cất lại điện thoại vào túi áo khoác.

    Và tận hưởng một khoảnh khắc thỏa mãn mãnh liệt, gần như sự thỏa mãn nhục dục.

    Tin nhắn cho gã biết rằng mặc dù Rhyme đã chạm đến sự thật lả gã chẳng phải kẻ như họ tưởng, cảnh sát vẫn đang bỏ qua việc báo giờ vả đang tập trung vào chức năng phụ là bảo tàng Mỹ thuật. Gã đang hướng cảnh sát sang cái dường như là kế hoạch đánh cắp Đồng hồ Delphi danh tiếng. Trong nhà thờ, gã cố ý để hai cuốn giới thiệu về triển lãm thời gian học ở Boston và Tampa. Gã hào hứng nói tới chiếc đồng hồ với Vincent Reynolds. Gã bóng gió nói tới niềm đam mê đồng hồ cổ với ông chủ cửa hiệu đồng hồ, đề cặp một cách đặc biệt đến Đồng hồ Delphi, và thể hiện rằng gã biết có cuộc triển lãm được tổ chức tại bảo tàng Mỹ thuật. Vụ hỏa hoạn nhỏ mà gã gây ra tại Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ ở Brooklyn sẽ khiến họ nghĩ hắn sắp sửa bằng cách nào đó cài đặt lại đồng hồ cesium[80] của cả nước, vô hiệu hóa hệ thống an ninh trong bảo tàng, và đánh cắp Đồng hồ Delphi.

    Một âm mưu đánh cắp chiếc đồng hồ, đối với cảnh sát, dường như là suy luận thật thông minh, khôn khéo về động cơ thực sự của Hale. Cảnh sát sẽ mất hàng tiếng rà soát bảo tàng và công viên Trung Tâm gần đấy để tìm kiếm gã và kiểm tra cái túi vải bạt gã bỏ lại. Nó đựng bốn cuốn sách rỗng ruột, bên trong bốn cuốn sách này là hai túi bột nổ, một thiết bị nhỏ dò sóng bộ đàm và, tất nhiên, một chiếc đồng hồ – một chiếc đồng hồ báo thức chỉgiờ bằng con số loại rẻ tiền. Chẳng thứ nào có ý nghĩa gì cả, nhưng mỗi thứ chắc chắn sẽ khiến cảnh sát bận bịu hàng tiếng đồng hồ.

    Chức năng phụ trong kế hoạch của Hale, nếu không nhiều, thì cũng tao nhã hệt những chức năng phụ trong chiếc đồng hồ đeo tay được ghi nhận là tinh vi nhất thế giới, chiếc đồng hồ được Gerald Genta chế tạo.

    Còn lúc này, Hale đã cách xa cái bảo tàng mà gã rời khỏi một tiếng trước. Ngay sau khi vào bảo tàng và gửi cái túi, gã bước vào một phòng vệ sinh, cởi áo khoác trên người gã thành ra bộ quân phục thiếu tá. Gã đeo kính và chụp lên đầu chiếc mũ quân đội – được giấu trong một cái túi áo khoác – nhanh chóng rời khỏi bảo tàng. Lúc này, gã đang có mặt tại trung tâm Manhattan, chậm rãi đi qua hàng rào an ninh dẫn vào tòa văn phòng của HUD.

    Một lát nữa, rất nhiều quân nhân và gia đình họ sẽ dự buổi lễ do Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và chính quyền thành phố tổ chức, trong tòa văn phòng của HUD. Các quan chức sẽ chào mừng những quân nhân vừa từ những khu vực chiến sự ở nước ngoài trở về và gia đình họ, trao cho họ thư tuyên dương vì thành tích chiến đấu và cảm ơn họ vì đã đăng ký tái ngũ. Tiếp theo sau phần lễ vả phần chụp ảnh, phần phát biểu những lời cũ rích với báo chí (không thể thiếu được), khách khứa sẽ ra về và các tướng lĩnh, các quan chức chính phú sẽ họp lại để bàn bạc về những nỗ lực trong tương lai, nhằm mở rộng nền dân chủ tới các khu vực khác trên thế giới.

    Các quan chức chính phủ này, cũng như những quân nhân, gia đình họ, cùng với bất cứ phóng viên nào có mặt tại buổi lễ, là đối tượng chính cho nhiệm vụ của Charles Hale ở New York.

    Gã dược thuê vì mục đích đơn giản là giết được càng nhiều người trong số đó càng tốt.


    Bob. vạm vỡ và luôn luôn mỉm cười, đang lái xe chở Lucy Richter đi qua khán đài duyệt binh bên ngoài tòa văn phòng HUD, nơi cuộc duyệt binh sắp sửa được tiến hành.

    Bàn tay đặt lên bắp đùi rắn chắc của chồng, Lucy ngồi im lặng.

    Chiếc Honda chậm chạp tiến trên đường phố đông đúc, trong lúc Bob nói những câu chuyện bâng quơ, về bữa liên hoan tối nay. Lucy lơ đãng đáp lời. Cô lại lo lắng nghĩ tới Cuộc Xung Đột Lớn – mà cô đã thú nhận với Kathryn Dance. Liệu cô có nên giữ quyết định tái ngũ không?

    Tự thẩm vấn...

    Khi Lucy đi đến quyết định ấy một tháng trước, đó là cô đã thành thật hay tự đánh lừa chính mình?

    Cô xem xét những gì Dance bảo cô: sự giận dữ, chán nản... Mình đang nói dối chăng?

    Lucy cố gắng gạt những ý nghĩ chồng chéo nhau ra khỏi đầu.

    Bây giờ, hai vợ chổng đã đến gần tòa văn phòng HUD và cô trông thấy bên kia phố những người chống chiến tranh. Họ phản đối những cuộc xung đột ở nước ngoài mà Mỹ dính líu vào. Bạn bè và đồng đội cô bực bội với bất cứ ai có thái độ phản đối, nhưng kỳ lạ là Lucy không nhìn nhận theo cách ấy. Cô tin tưởng vào cái sự thật rằng những người này được tự do biểu tình và không bị đi tù để công nhận giá trị của việc cô đang làm.

    Lucy và Bob đã đến gần hơn trạm kiểm soát ở ngã tư bên cạnh tòa văn phòng HUD. Hai quân nhân bước tới đề nghị họ xuất trình chứng minh thư và xem xét cốp xe.

    Lucy cứng người lại.

    “Sao thế?”, chồng cô hỏi.

    “Nhìn này”, Lucy nói.

    Bob liếc xuống. Bàn tay phải của cô đặt vào hông, nơi cô vốn vẫn đeo khẩu súng khi làm nhiệm vụ.

    “Em chuẩn bị rút súng à?”, Bob đùa.

    “Bản năng đây. Tại các trạm kiểm soát.” Lucy bật cười. Nhưng đó là tiếng cười không vui vẻ.

    Sương mù đắng nghét...

    Bob hất đầu chỉ các quân nhân và mỉm cười với vợ.

    “Anh nghĩ là chúng ta rất an toàn. Không giống như ở Baghdad hay Kabul.”

    Lucy siết chặt tay Bob và họ lái xe tiến đến bãi đỗ dành riêng cho những người dự buổi lễ.


    Charles Hale chẳng hoàn toàn là kẻ phi chính trị. Gã cũng có một số quan điểm chung về dân chủ so với chính trị thần quyền, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít. Nhưng gã biết rằng các quan điểm của gã rốt cuộc chỉ đại loại như các quan điểm tẻ nhạt vốn vẫn được đưa ra bởi những thính giả gọi điện cho Rush Limbaugh[81] hay Đài truyền thanh Quốc gia. Bởi vậy, tháng Mười năm ngoái, khi Charlotte và Bud Allerton thuê gã làm cáiviệc “gửi thông điệp” về sự can thiệp to lớn và sai lầm của Mỹ ở các quốc gia “tà giáo” khác trong thâm tâm Hale ngáp dài.

    Tuy nhiên, nhiệm vụ khó khăn khiến gã quan tâm.

    “Chúng tôi đã trao đổi với sáu người và không ai nhận lời cả”, Bud Allerton bảo gã. “Gần như là bất khả thi.”

    Charles Vespasian Hale thích từ này. Người ta chẳng bao giờ buồn chán khi làm một cái gì đó bất khả thi. Giống như đối với kẻ “bất khả xâm phạm” vậy.

    Charlotte và Bud – chồng thứ hai của ả – là thành viên một nhóm vũ trang cánh hữu đã tấn công các tòa nhà, các viên chức chính phủ và các cơ quan Liên hợp quốc nhiều năm nay. Bọn họ đã hoạt động bí mật một thời gian, nhưng gần đây, tức giận vì sự can thiệp của chính phủ vào chuyện nội bộ các nước, ả và những thành viên khác thuộc cái tổ chức vô danh tiểu tốt ấy quyết định rằng đã tới lúc thực hiện một cái gì đó to tát.

    Cuộc tấn công này sẽ không chỉ gửi đi thông điệp quý báu của bọn họ mà còn gây tổn hại thực sự cho kẻ thù: giết tướng lĩnh và quan chức chính phủ, những kẻ phản bội lại các nguyên tắc xây dựng nên nước Mỹ, đưa những đứa con trai và – lạy Chúa cứu vớt chúng ta – cả những đứa con gái sang chết ớ các xứ sở xa lạ vì lợi ích của đám người lạc hậu, độc ác, không theo Công giáo.

    Hale cố gắng thoát khỏi những khách hàng mê hùng biện và bắt đầu công việc. Vào dịp Halloween, gã đến New York, sống tại một ngôi nhà bí mật ở Brooklyn, và dành tháng rưỡi tiếp theo mải miết thiết kế chiếc đồng hồ của minh – thu thập những thứ cần thiết, tìm kiếm những kẻ tòng phạm vô tình (Dennis Baker và Vincent Reynold), thu thập mọi thông tin có thể về những người được cho là nạn nhân của Thợ Đồng Hồ và nghiên cứu tòa văn phòng HUD.

    Địa điểm gã giờ đây đang tiến đến trong bầu không khí buổi sáng buốt thấu xương.

    Tòa nhà được lựa chọn để tổ chức buổi lễ và cuộc họp chẳng phải vì đó là nhiệm vụ của cơ quan này, cái cơ quan tất nhiên chẳng liên quan gì đến quân đội, mả vì nó là tòa nhà đảm bảo an ninh nhất trong số các tòa nhà chính phủ khu Hạ Manhattan. Các bức tường bằng đá vôi dày, nếu một tên khủng bố bằng cách nào đấy vượt được dãy hàng rào vây xung quanh tòa nhà và cho nổ bom cài trên ô tô, thì thiệt hại sẽ đỡ nghiêm trọng hơn so với kiểu kiến trúc hiện đại, mặt tiền toàn kính. Tòa nhà HUD cũng thấp hơn hầu hết các tòa văn phòng khu trung tâm, nên sẽ là mục tiêu khó khăn đối với tên lửa hoặc máy bay cảm tử. Nó ít lối ra vào, bởi vậy việc kiểm soát người ra vào dễ dàng hơn, và căn phòng nơi tổ chức lễ tuyên dương cũng như cuộc họp tiếp theo đó hướng về bức tường không cửa sổ của tòa nhà đối diện bên kia con hẻm, nên không sợ trở thành mục tiêu của một tay bắn tỉa.

    Cùng với khoảng hai mươi quân nhân và cảnh sát trang bị súng tự động gác ở các phố và trên nóc các tòa nhà xung quanh, tòa nhà HUD hầu như bất khả xâm phạm.

    Tức là, từ bên ngoài.

    Nhưng chẳng ai nhận ra rằng mối đe dọa sẽ không đến từ bên ngoài.

    Charles Hale xuất trình ba thẻ chứng minh quân đội, hai trong số ba thẻ chỉ dành riêng cho sự kiện này và được phát tới khách tham dự hai ngày trước. Gã được hất đầu ra hiệu đi qua máy dò kim loại, rồi được vỗ khắp người bằng tay.

    Người lính gác cuối cùng, một hạ sĩ, kiểm tra chứng minh thư của gã lần thứ hai, và giơ tay chào. Hale chào lại, rồi bước vào bên trong.

    Tòa nhà HUD rắc rối như mê cung, nhưng gã nhanh chóng đi xuống tầng hầm. Gã thông thuộc cách bố trí của tòa nhà này vì người được cho là nạn nhân thứ năm của gã Thợ Đồng Hồ tâm thần, Sarah Stanton, là nhân viên dự toán thuộc công ty thiết kế sàn đã cung cấp thảm và gạch lát nền cho tòa nhà, thông tin gã biết được từ hồ sơ công cộng về các nhà thầu chính phủ. Gã tìm thấy trong tủ hồ sơ của Sarah những bản vê chính xác từng căn phòng và hành lang của tòa nhà HUD. (Công ty thiết kế sàn cũng nằm đối diện công ty chuyển phát bưu phẩm qua một cái sảnh. Gã đã gọi điện đến công ty chuyển phát bưu phẩm phàn nàn về chiếc phong bì thực ra chưa bao giờ được gửi tới bảo tàng Mỹ thuật, khiến âm mưu đánh cắp Đồng hồ Delphi trởnên đáng tin hơn.)

    Thực tế, tất cả các vụ “tấn công” trong tuần này, trừ vũng máu trên cầu tàu nhằm lôi kéo sự chú ý, đều là các bước quan trọng cho nhiệm vụ củaHale hôm nay: công ty thiết kế sàn, căn hộ của Lucy Richter, con hẻm phố Cedar và xưởng hoa.

    Gà đột nhập vào căn hộ của Lucy với mục đích chụp, và sau đó là làm giả, những tấm thẻ vào cửa dặc biệt mà các quân nhân cần phải xuất trình để dự lễ tuyên dương (gã đọc thấy tên cô trong một bài báo viết về sự kiện ấy). Gã cũng chụp, rồi ghi nhớ bản thông báo mật của Bộ Quốc Phòng được phát cho cô, liên quan đến chương trình và thủ tục an ninh hôm nay sẽ áp dụng tại tòa nhà HUD.

    Vụ sát hại nhân vật hư cấu Teddy Adams cũng có mục đích. Hale đã đặt các nạn nhân bị đâm xe ở Westchester trong con hẻm đằng sau chính tòa nhà này. Lúc Charlotte Allerton –sắm vai cô em gái quẫn trí – tới nơi, những nhân viên an ninh dẫn người phụ nữ cuồng loạn vào tòa nhà HUD qua cửa hậu và cho phép ả sử dụng phòng vệ sinh dưới gác. không khám xét gì. Vào bên trong rồi, ả đi giấu những thứ mà Hale bây giờ đang lôi ra từ đáymột thùng rác đặt trong hốc tường: một khẩu súng ngắn giảm thanh cỡ 22 va hai đĩa kim loại. Chẳng có cách nào khác để đưa những thứ này vào một tòa nhà được bảo vệ với một loạt máy dò kim loại, kèm theo vỗ kiểm tra bằng tay. Gã cất chúng vào các túi áo vã đi lên hội trường trên tầng sáu.

    Lên đến tầng sáu, Hale nhìn thấy cái gã cho là dây cót chính trong kế hoạch của gã: hai bình hoa lớn Joanne Harper thiết kế cho buổi lễ, một ởphía đầu và một ở phía cuối căn phòng. Hale tìm hiểu được rằng cô có hợp đồng cung cấp hoa và cây cảnh cho tòa nhà HUD. Gã đột nhập vào xưởng của cô ở phố Spring để giấu một vật trong mỗi chiếc bình, và gã hy vọng nếu nhân viên an ninh chỉ xem xét qua thôi thì chúng sẽ thoát, vì mấy năm nay Joanne đã là người cung cấp hoa đáng tin cậy. Khi Hale đột nhập vào xưởng của cô, gã mang, trong chiếc túi khoác vai, một thứ nữa bên cạnh chiếc đồng hồ mặt hình trăng và những dụng cụ: hai lọ thuốc nổ Astrolite. Với sức công phá mạnh hơn TNT hay notroglycerin, Astrolite là một chất lỏng trong suốt, vẫn phát nổ thậm chí khi ngấm vào chất khác. Hale tìm thấy những bình hoa sẽ được đưa đến tòa nhà HUD và đổ Astrolite xuống đáy bình.

    Hale, tất nhiên, có thể đơn giản đột nhập vào bốn địa điểm này mà chẳng cần nghĩ ra câu chuyện về Thợ Đồng Hồ, nhưng nếu ai đó xem xét một vụ trộm hoặc chú ý tới bất cứ thứ gi bị mất mát, lộn xộn, sẽ xuất hiện câu hỏi: Hắn thực sự đang toan tính gì? Bởi vậy, gã đã sáng tạo ra các lớp động cơ cho các vụ đột nhập. Kế hoạch ban đầu của gã chỉ đơn giản là giả vờ làm một kẻ giết người hàng loạt để tiếp cận bốn địa điểm gã cần, hy sinh kẻtrợ thủ bất hạnh, Vincent Reynolds, nhằm khiến cảnh sát tin tưởng rằng Thợ Đồng Hồ đúng là đối tượng như họ nghĩ. Nhưng rồi giữa tháng Mười một, một mối quan hệ thuộc giới tội phạm có tổ chức trong khu vực gọi điện, bảo gã rằng một sĩ quan của Sở Cảnh sát New York tên là Dennis Baker đang tìm kiếm sát thủ chuyên nghiệp để giết một thám tử của Sở Cảnh sát. Băng nhóm này không muốn dính dáng đến chuyện giết cảnh sát, tuy nhiên liệuHale có quan tâm chăng? Gã chẳng quan tâm, nhung gã ngay lập tức nhận ra rằng gã có thề sử dụng Baker như một chức năng phụ thứ hai cho kế hoạch: một công dân trả thù một cảnh sát biến chất. Cuối cùng, gã bổ sung chi tiết trang trí tuyệt vời là âm mưu đánh cắp Đồng hồ Delphi.

    Động cơ là yếu tố chắc chắn khiến mày bị tóm. Loại bỏ được vấn đề động cơ, tức mày loại bỏ được sự nghi ngờ...

    Hale bưóc tới chỗ bình hoa đặt ở phía đầu hội trường và sửa sang nó theo cái cách mà bất cứ người quân nhân siêng năng nào cũng sẽ làm –người quân nhân tự hào được tham gia vào buổi lễ quan trọng này. Khi không ai để ý, gã nhét một trong hai đĩa kim loại gã vừa lấy dưới gác – những ngòi nổ đã được lập trình – vào chỗ thuốc nổ, ấn nút cho nó sẵn sàng hoạt động và giũ rêu phủ lên trên che đi. Gã cũng làm như vậy với bình hoa đặt ở phía cuối hội trường, nó sẽ phát nổ thông qua một tín hiệu radio từ ngòi nổ thứ nhất.

    Hai bình hoa đẹp đẽ này bây giờ là hai quả bom giết người, chứa số lượng thuốc nổ đủ để phá tan tành toàn bộ căn phòng.


    Bầu không khí trong phòng thí nghiệm của Rhyme đang sôi sục.

    Tất cả mọi người, trừ Pulaski, phải thực hiện một nhiệm vụ do Rhyme yêu cầu, đang nhìn chằm chằm vào nhà hình sự học, bản thân anh thì đang trừng trừng nhìn những tấm bảng chứng cứ vây xung quanh trông giống như những tiểu đoàn lính đang chờ đợi mệnh lệnh anh đưa ra vậy.

    “Vẫn còn quá nhiều các câu hỏi”, Sellitto nói. “Anh biết chuyện sẽ xảy ra nếu chúng ta nhấn cái nút đó.”

    Rhyme liếc nhìn Amelia Sachs. “Em nghĩ sao?”, anh hỏi.

    Đôi môi mọng của Sachs mím chặt. “Em không nghĩ chúng ta có sự lựa chọn nào. Em đồng ý.”

    “Ôi chao”, Sellitto thốt lên.

    Rhyme bảo viên trung úy lôi thôi luộm thuộm: “Gọi đi”.

    Lon Sellitto bấm một số điện thoại rất ít người biết, kết nối trực tiếp với máy điện thoại trên bàn làm việc của ngài thị trưởng thành phố NewYork.


    Đứng trong phòng hội nghị của tòa nhà HUD đang đầy ắp các quân nhân và khách khứa, Charles Hale cảm thấy điện thoại di dộng rung. Gã rút điện thoại ra và liếc nhìn xuống dòng tin nhắn, một tin nhắn nữa từ Charlotte Allerton. Cơ quan Quản lý Hàng không Liên bang cho tất cả các máy bay hạ cánh. Các chuyến tàu dừng lại. Nhóm chuyên gia tại Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ đang kiểm tra chiếc đồng hồ của nước Mỹ. Thành công rồi. Ơn Chúa.

    Hoàn hảo, Charles tự nhủ thầm. Cảnh sát tin tưởng vào cái chức năng phụ là Đồng hồ Delphi và kế hoạch tấn công máy vi tính kiểm soát chiếc đồng hồ cesium của cả nước.

    Hale bước lùi lại, nhìn khắp căn phòng, và mang một vẻ thỏa mãn trên gương mặt. Gã rời khỏi đó, theo thang máy xuống sảnh chính. Gã bước ra bên ngoài, nơi những chiếc limo đang tới, dưới sự kiểm soát an ninh nghiêm ngặt. Gã chậm rãi bước vào đám đông tụ tập phía bên kia hàng rào bê tông, người vẫy cờ, người hoan hô.

    Gã cũng nhìn thấy những người phản đối, những thanh niên lôi thôi lếch thếch, những người hippy đứng tuổi, và những giáo sư hoạt động xã hội cùng vợ, chồng họ, gã nghĩ thế. Họ mang những tấm bảng cổ động và hét những câu Hale không nghe. Tuy nhiên, nội dung chính là sự bất mãn đối với chính sách ngoại giao của nước Mỹ.

    Đừng rời khỏi đây, gã thầm bảo họ.

    Đôi khi người ta nhận được những gì mà người ta đòi.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 38


    Bước vào hội trường trên tầng sáu cùng mười bảy quân nhân khác từ tất cả các đơn vị quân đội, trung sĩ lục quân Mỹ Lucy Richter thoáng mỉm cười với chồng cô. Cô cũng nháy mắt với các thành viên gia đinh – cha mẹ và bà dì – đang ngồi phía bên kia căn phòng.

    Lời cảm ơn có lẽ là hơi quá ngắn gọn, hơi xa cách. Nhưng Lucy không ở đây với tư cách vợ của Bob hay con gái, cháu gái. Cô ở đây với tư cách một quân nhân được tuyên dương, với sự có mặt của các sĩ quan cấp trên, các đồng đội nam cũng như nữ.

    Lúc này, khi gia đình và bạn bè đã lên hội trường, các quân nhân vẫn tụ tập dưới gác. Chờ đợi tới phút tiến vào đầy kiêu hãnh, Lucy nói chuyện phiếm với một chàng trai trẻ, lính phi công đến từ texas và trở về Mỹ để điều trị y tế (một quả lựu đạn rocket chết tiệt đã đập trúng ngực anh ta, trước khi nẩy bật ra phát nổ cách đó vài thước). Anh ta nói rất háo hức được trở về nhà.

    “Nhà à?”, Lucy hỏi. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ tái ngũ mà.”

    Anh ta nháy mắt. “Tôi sẽ tái ngũ. Tôi muốn nói tới đơn vị của tôi. Đó chính là nhà.”

    Băn khoăn đứng trước chiếc ghế của mình, Lucy liếc nhìn cánh phóng viên. Cái cách họ quan sát xung quanh, hau háu tìm kiếm cơ hội viết bài y như những tay bắn tỉa tim kiếm mục tiêu khiến cho cô cảm thấy căng thẳng. Rồi cô gạt họ ra khỏi đầu óc và chăm chú dồn ánh mắt vào các bức ảnh treo trên tường phục vụ buổi lễ. Những hình ảnh ái quốc. Cô xúc động trước hình ảnh lá cờ Mỹ, ảnh chụp tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại, các biểu ngữ và biểu trưng quân đội, các sĩ quan đeo huân, huy chương cùng những hàng vạch thể hiện những khoảng thời gian và địa điểm họ đi chiến đấu.

    Và suốt trong lúc đó, tâm trạng cân nhắc diễn ra dữ dội. Suy nghĩ về điều Kathryn Dance nói, Lucy tự hỏi: Vậy sự thật đối với mình là gì?

    Quay lại vùng đất đầy sương mù đắng nghét?

    Hay cứ ở đây ?

    Có hay không?

    Những cánh cửa phụ mở ra và hai người đàn ông ánh mắt linh lợi – người thuộc Cơ quan Mật vụ – bước vào, theo sau là sáu người cả nam lẫn nữ mặc com lê hoặc quân phục với phù hiệu nhân viên cao cấp, các dải băng màu, huân, huy chương phủ kín ngực. Lucy nhận ra mấy người này là những nhân vật quan trọng từ Washington và chính quyền thành phố New York, tuy nhiên, cô cảm thấy xáo động hơn trước sự hiện diện của những nhân vật quan trọng từ Lầu Năm góc, bởi họ đến từ cái thế giới mà cô đã biến nó trở thành một phần cuộc đời mình.

    Tâm trạng cân nhắc đầy mệt mỏi vẫn diễn ra trong cô.

    Có hay không...

    Sự thật… Sự thật là gì?

    Khi các quan chức đã ngồi xuống, một vị tướng từ New Jersey nói mấy câu bình luận và giới thiệu một người đàn ông đẹp trai, đĩnh đạc, mặc quân phục màu xanh lam thẫm. Tướng Roger Poulin, Tổng Tham mưu Trưởng Liên quân, đứng dậy và bước tới trước cái mic.

    Poulin gật đầu với người dẫn chương trình, rồi với những người ngồi trong căn phòng. Bằng một giọng trầm, ông nói: “Thưa các tướng lĩnh, các vị lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, và thành phố New York, các anh chị em binh sĩ, cùng các vị khách quý… Tôi vui mừng được chào đón các vị đã có mặt tại đây ngày hôm nay, dự buổi lễ long trọng này, tuyên dương mười tám cá nhân dũng cảm, những con người chấp nhận nguy hiểm tới tính mạng và thể hiện tinh thần sẵn sàng hy sinh cao nhất, để bảo vệ tự do cho đất nước chúng ta, và để đưa sự nghiệp dân chủ đến khắp nơi trên trái đất”.

    Khách khứa vỗ tay nhiệt liệt và đứng cả dậy.

    Tiếng ồn ào tắt dần. Tướng Poulin tiếp tục bài phát biểu. Đầu tiên, Lucy Richter lắng nghe, nhưng rồi cô dần dần mất tập trung. Cô nhìn những người dân thường trong căn phòng – gia đình và bạn bè các quân nhân. Những người như cha, mẹ, chồng, và dì cô, những người vợ, người chổng, con cái, cha mẹ, ông bà, bè bạn.

    Những con người này sẽ rời khỏi đây sau buổi lễ, trở về với công việc, với ngôi nhà của họ. Họ sẽ quay lại sống cuộc đời ngoài kia từng ngày, từng giờ, từng phút.

    Tất nhiên, nghi thức quân đội không cho phép cô mỉm cười, nhưng Lucy Richter có thể cảm thấy gương mặt cô đang giãn ra và sự căng thẳng trên đôi vai cô tan biến tựa sương mù đắng nghét tan biến theo một cơn gió nóng bỏng. Nỗi tức giận, chán nản, phủ nhận – tất cả những gì Kathryn Dancebảo cô hãy xem xét – đột ngột tan biến.

    Cô nhắm mắt lại chốc lát, rồi sự chú ý trở về với người đàn ông mà, sau Tổng thống Hợp chủng quốc, là vị chỉ huy cao nhất của cô, hiểu rõ ràng rằng, dù bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc đời cô, cô cũng đã quy định và cô bằng lòng với quyết định ấy.


    Charles Hale ở trong phòng vệ sinh nam một quán cà phê gần tòa nhà HUD. Trong cái ngăn bẩn thỉu, gã rút từ dưới áo lót ra một chiếc túi đựng rác. Gã cởi bộ quân phục, thay bằng quần bò, áo len, áo khoác ngắn, đeo găng tay, những thứ gã vừa mua xong. Gã nhét bộ quân phục, áo khoác dài và mũ vào chiếc túi đựng rác, giữ lại khẩu súng. Gã tháo pin và sim khỏi điện thoại di động, nhét cả vào chiếc túi. Rồi, đợi tới lúc khu vệ sinh không có ai, gã tống chiếc túi vào thùng rác, bước ra khỏi quán cà phê.

    Khi đã lại ở ngoài phố, Hale mua một thẻ điện thoại trả trước bằng tiền mặt, đi thơ thẩn dọc theo vỉa hè rợp bóng cây cho tới lúc cách tòa nhà HUD ba khối phố. Từ vị trí thuận lợi này, gã nhìn được một khoảng hẹp phía sau tòa nhà và con hẻm nơi người ta phát hiện “nạn nhân” đầu tiên của Thợ Đồng Hồ. Gã có thể quan sát một ô cửa sổ màu bạc của hội trường trên tầng sáu nơi buổi lễ đang diễn ra.

    Chiếc áo khoác mỏng và Hale nghĩ mình sẽ bị lạnh, nhưng lúc này trong tâm trạng phấn chấn, gã không cảm thấy khó chịu gì. Gã nhìn đồng hồ đeo tay hiện giờ bằng con số, nó đã được điều chinh cho khớp với thiết bị hẹn giờ của ngòi nổ hai quả bom.

    Bây giờ là 12:14:19. Buổi lễ bắt đầu lúc mười hai giờ. Một điều Hale rút ra được từ sự nghiên cứu kỹ lưỡng là khi đánh bom, hãy luôn luôn để cho người ta yên vị đã, để cho những người chậm trễ tới kịp, để cho những nhân viên bảo vệ bắt đầu lơ đễnh.

    12:14:29.

    Một khía cạnh thú vị của hai quả bom lần này, một cái gì đó ngẫu nhiên thôi, gã nghĩ thầm, là Joanne, cô thợ cắm hoa, đã đổ đầy hai chiếc bình bằng hàng trăm viên bi thủy tinh bé tí. Bất cứ ai nếu chưa chết hoặc chưa bị thương nặng vì chỗ thuốc nổ cũng sẽ bị găm những viên đạn thủy tinh đó.

    12:14.44.

    Hale thấy mình quỳ sụp xuống, cúi về phía trước. Luôn luôn có khả năng một cái gì đó gặp trục trặc – bộ phận an ninh tiến hành rà soát bom mìn vào phút cuối cùng hay ai đấy trông thấy gã trên camera đi vào tòa nhà rồi nhanh chóng đi ra rất đáng ngờ vực.

    12:14:52.

    Tuy nhiên, nguy cơ thất bại khiến thắng lợi trong cuộc chiến đấu với nỗi buồn chán thêm ngọt ngào. Cặp mắt Hale dán chặt vào con hẻm đằng sau tòa nhà HUD.

    12:14:55.

    12:14:56.

    12:14:57.

    12:14-58.

    12:14.59.

    12:15:00.

    Một nắm đấm khổng lồ của lửa và các mành vỡ im lìm phá tung cửa sổ hội trường. Nửa giây sau, mới đến tiếng nổ long trời lở đất.

    Những giọng nói lao xao xung quanh Hale. “Ôi, lạy Chúa. Cái gì...?” Những giọng la hét. “Nhìn kìa! Cái gì thế?”

    “Lạy Chúa, không!”

    “Gọi 911! Kẻ nào đó...”

    Người đi bộ túm tụm trên vỉa hè, nhìn chăm chăm.

    “Bom à? Máy bay à?”

    Vẻ lo lắng, Hale lắc đầu, nấn ná một chút thưởng thức hương vị của thành công. Vụ nổ xem chừng lớn hơn gã dự đoán tức người chết sẽ nhiều hơn số lượng mà Charlotte và Bud hy vọng. Hầu như không thấy được ai đó có thể sống sót bằng cách nào.

    Hale chậm rãi quay đi và tiếp tục bước ngược lên bên trên phố, nơi gã lại xuống ga tàu điện ngầm, bắt chuyên tàu tiếp theo đến khu Uptown. Gã lên khỏi ga và nhằm hướng khách sạn nhà Allerton đang ở. Tại đó, gã sẽ lấy nốt tiền công.

    Charles Hale cảm thấy thỏa mãn. Gã tạm thời ngăn chặn được nỗi buồn chán, đồng thời kiếm được một món lớn.

    Tuy nhiên, quan trọng nhất là sự tinh vi hết sức hấp dẫn của việc gã vừa làm. Gã đã nghĩ ra cái kế hoạch được thực hiện thật hoàn hảo – giống như chiếc đồng hồ, gã tự nhủ, thích thú với hình ảnh ví von đó.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 39
    “Ôi, cảm ơn”, Charlotte thì thầm, với cả Jesus lẫn gã đàn ông đã giúp đỡ bọn ả thực hiện thành công nhiệm vụ.

    Ả ngồi chúi về phía trước, nhìn chăm chăm màn hình ti vi. Phần tin tức đặc biệt thông báo về việc sơ tán bảo tàng Mỹ thuật và yêu cầu các phương tiện giao thông công cộng trong khu vực ngừng hoạt động được thay thế bằng một tin tức khác – vụ đánh bom tại tòa nhà HUD. Charlotte siết chịt bàn tay chồng. Bud vươn sang hôn ả. Gã mỉm cười như một thằng bé con.

    Nữ biên tập viên chương trình tin tức – mặc dù sung sướng vì vào đúng ca của mình lại xảy ra sự kiện to tát thế – trông nghiêm nghị khi cô tường thuật các chi tiết: Một quả bom phát nổ bên trong tòa văn phòng HUD, nơi nhiều quan chức cao cấp chính phủ và quân đội đang tham dự một buổi lễ. Một thứ trường Bộ Ngoại giao và Tổng Tham mưu Trường Liên quân cũng có mặt. Các máy camera cho thấy khói tuôn xuống từ những cửa sổ hội trường. Thông tin quan trọng – con số thương vong – chưa được báo cáo về, tuy nhiên ít nhất năm mươi người đang ở trong căn phòng nơi quả bom phát nổ.

    Một cái đầu xuất hiện trên màn hình. Mặc dù hoàn toàn chẳng nắm được mô tê gì về sự việc, anh ta vẫn kết luận rằng đây là hành động của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan.

    Họ sẽ sớm biết sự thật không phải như thế.

    “Xem này, cưng. Chúng ta đã thực hiện việc đó!” Charlotte gọi đứa con gái vẫn đang ở trong phòng ngủ, mê mải đọc một cuốn sách. (Cái cuốnHarry Potter vớ vẩn ấy. Charlotte đã vứt hai cuốn rồi. Con bé lại lấy đâu ra một cuốn nữa nhỉ?)

    Cô gái nhỏ bực bội thở dài và tiếp tục chăm chú đọc cuốn sách.

    Charlotte điên tiết. Ả những muốn xông vào phòng ngủ và vả thật mạnh vào mặt con bé. Bọn ả vừa đạt được một chiến thắng ngoạn mục mà con bé chẳng thèm bày tỏ gì ngoài sự vô lễ. Bud đã vài lần hỏi liệu gã có thể lột quần con bé ra để quật vào mông nó bằng cây gậy gỗ hồ đào không.Charlotte vốn vẫn ngần ngại, nhưng bây giờ ả đang tự hỏi phải chăng đó là ý tưởng không tồi.

    Dù sao, cơn giận dữ cũng nguôi dần và ả nghĩ tới chiến thắng hôm nay của bọn ả. Ả đứng dậy. “Chúng ta nên rời khỏi đây thôi.” Ả tắt ti vi và tiếp tục sắp xếp va li. Bud bước vào phòng ngủ cùng sửa soạn đồ lề. Bọn ả sẽ lái xe tới Philadelphia, tới đó bọn ả sẽ đi máy bay quay lại St. Louis –Duncan đã bảo bọn ả sau đây đừng đến các sân bay New York. Rồi bọn ả sẽ trở về các cánh rừng rậm bang Missouri, lại bí mật hoạt động – chờ đợi cơ hội tiếp theo củng cố sự nghiệp.

    Gerald Duncan sẽ tới đây sớm thôi. Gã sẽ lấy nốt tiền công và cũng rời khỏi thành phố. Charlotte tự hỏi liệu ả có thể thuyết phục gã tham gia vào sự nghiệp của bọn ả không. Ả đã nói với gã ý tường này nhưng gã chẳng thích thú, tuy nhiên gã bảo rằng gã hết sức vui vẻ được giúp đỡ bọn ả lần nữa nếu bọn ả nhằm đến bất cứ mục tiêu khó khăn nào và nếu thù lao hậu hĩnh.

    Một tiếng gõ cửa.

    Duncan tới rất đúng giờ.

    Vừa cười to, Charlotte vừa sải bước ra mở toang cánh cửa.

    “Anh đã thực hiện việc đó! Tôi…”

    Nhưng những lời của ả ngưng bặt, nụ cười tắt ngấm. Người cảnh sát, đội mũ sắt màu đen và mặc áo chống đạn, xông mạnh vào. Cùng với anh ta là Amelia Sachs, tay cầm khẩu súng ngắn lớn màu đen, gương mặt giận dữ, cặp mắt nheo lại trong lúc quét ánh nhìn xung quanh căn phòng.

    Năm, sáu cảnh sát khác ào theo. “Cảnh sát đây! Không động đậy, không động đậy!”

    “Không!”, Charlotte gào lên. Ả xoay người bỏ chạy, nhưng chỉ được một bước trước khi bị chặn cứng lại.


    Trong phòng ngủ, Bud Allerton choáng váng há hốc mồm khi nghe tiếng gào của vợ, những giọng nói gay gắt và những bước chân huỳnh huỵch. Gã đóng sầm cánh cửa, rút từ va li ra khẩu súng ngắn tự động, kéo chốt để nạp một băng đạn vào ổ.

    “Không!”, con gái riêng của vợ gã kêu lên, buông rơi cuốn sách và hoảng hốt đi ra cửa.

    “Im”, Bud thì thầm hằn học. Gã túm chặt cánh tay cô bé. Cô hét lên khi gã quẳng cô lên giường. Đầu cô đập vào tường và cô nằm bất tỉnh. Bud chưa bao giờ ưa con bé, chưa bao giờ ưa thái độ của nó, sự mỉa mai của nó, thói bất trị của nó. Trẻ con – đặc biệt con gái – sống trên đời này là để phục tùng hoặc nếu không phục tùng sẽ phải chịu hậu quả.

    Gã ghé tai vào cánh cửa lắng nghe. Có vẻ khoảng chục cảnh sát đang ở trong phòng khách. Bud không đủ thời giờ để cầu nguyện, nhưng đủ để gã nói với Chúa đôi lời.

    Chúa Jesus, Đấng Cứu thế. Chúa kính yêu của con. Cảm ơn Người vì vinh quang mà Người đã ban cho chúng con, những tín đồ chân chính. Xin hãy ban cho con sức mạnh kết liễu đời mình và mau mau bắt đầu cuộc hành trình vĩ đại với Người Xin cùng hãy để con gửi xuống địa ngục càng nhiều càng tốt những kẻ đã tới đây mạo phạm đến Người.

    Có mưởi lăm viên đạn trong khẩu súng ngắn của Bud. Gã còn mang được khối cảnh sát theo gã, nếu gã vẫn vững vàng và nếu Chúa ban cho gã sức mạnh quên đi những vết thương gã sẽ phải nhận. Nhưng dù sao bọn họ cũng có quá nhiều hỏa lực. Gã cần một lợi thế.

    Bud quay về phía cô bé đang khóc nức nở, ôm lấy cái đầu chảy máu. Gã bổ sung đoạn cuối vào lời cầu nguyện, với sự tử tế mà gã nghĩ là hết sức hào hiệp trong hoàn cảnh này.

    Và khi Người nhận đứa trẻ này vào thiên đàng, xin hãy tha thứ cho nó vì tội lỗi chống lại Người. Nó không biết việc nó làm.

    Bud đứng dậy, bước tới chỗ con gái riêng của vọ và túm tóc cô bé.


    “Allerton ở trong kia hả?”, Amelia Sachs hét to với Charlotte, hất đầu về phía cánh cửa phòng ngủ đóng chặt.

    Ả không nói gi.

    “Còn cô bé?*

    Dưới gác, nhân viên lễ tân chỉ cho cảnh sát dãy phòng Charlotte và Bud Allerton, cùng cô con gái, đang thuê, và mô tả cách bố trí dãy phòng này. Anh ta khá chắc chắn họ hiện ở trên gác. Anh ta nhận ra bức ảnh chụp Thợ Đồng Hồ và nói gã đàn ông đó đã đến đây vài lần nhưng như anh ta biết thì hôm nay gã chưa đến.

    “Allerton đâu?”, bây giờ thì Sachs quát. Cô những muốn túm lấy ả đàn bà mà lắc.

    Charlotte vẫn im lặng, trừng trừng nhìn nữ thám tử.

    “Đã kiểm tra buồng tắm”, một cảnh sát thuộc Đơn vị Phản ứng nhanh nói to.

    “Đã kiểm tra phòng ngủ thứ hai.”

    “Đã kiểm tra gian chứa đồ”, Ron Pulaski nói to, chàng sĩ quan mảnh khảnh trông khá tức cười trong bộ áo chống đạn kềnh càng và chiếc mũ sắt.

    Chỉ còn phòng ngủ với cánh cửa đóng chặt. Sachs bước tới, đứng tránh sang bên và ra hiệu cho các sĩ quan khác cũng đứng tránh sang bên để phòng luồng đạn.

    “Anh kia, ở trong phòng ngủ, nghe đây! Tôi là sĩ quan cảnh sát. Hãy mở cửa ra!”

    Chẳng động tĩnh gì.

    Sachs thử xoay tay nắm. Không khóa. Một hơi thở sâu, súng giơ lăm lăm.

    Sachs mở nhanh cửa và khom người xuống trong tư thế sẵn sàng bắn. Cô trông thấy cô bé – chính cô bé trên xe Charlotte tại hiện trường thứ nhất của Thợ Đồng Hồ. Hai tay cô bé bị trói vào nhau, mũi và miệng bị dán băng dính nhựa. Da cô bé tái xanh và cô quằn quại trên giường, sắp sửa chẳng còn oxy để thở. Chỉ một ít giây nữa cô sẽ chết ngạt.

    Ron Pulaski hét to: “Nhìn kìa, cửa sổ mở”. Anh hất đầu về phía ô cửa sổ phòng ngủ. “Hắn đang tẩu thoát.”

    Pulaski định nhào vào.

    Sachs chộp lấy áo chống đạn của anh.

    “Gì thế?”, Pulaski hỏi.

    “Chưa an toàn”, Sachs quát. Cô hất đầu về phía phòng khách. “Hãy kiểm tra cầu thang thoát hiểm từ đằng kia. Xem hắn có ở bên ngoài không. Và thận trọng đấy. Hắn có thể đang nhắm bắn qua cửa sổ.”

    Chàng cảnh sát trẻ chạy tới phía trước căn phòng và nhìn nhanh ra. Anh nói to: “Không có. Có lẽ đã tẩu thoát rồi”. Anh liên lạc qua bộ đàm yêu cầu các cảnh sát thuộc Đơn vị Phản ứng nhanh chốt bên ngoài kiểm tra con hẻm đằng sau khách sạn.

    Sachs cân nhắc. Nhưng cô chẳng thể chờ đợi thêm nữa. Cô phải cứu cô bé. Cô sắp sửa bước vào.

    Nhưng rồi Sachs dừng lại ngay. Bất chấp tình trạng ngạt thở đáng sợ, con gái của Charlotte đang gửi cho cô một thông điệp. Cô bé đang lắc đầu, mà Sachs hiểu rằng cô bé muốn nói đây là cái bẫy phục kích. Cô bé nhìn sang bên phải, ám chỉ nơi Allerton, hay ai đó, đang nấp, có thể là đang chờ đợi để nhà đạn.

    Sachs khom người.

    “Ai đang ở trong phòng ngủ, hãy buông vũ khí xuống. Nằm sấp xuống giữa phòng! Mau.”

    Im lặng.

    Cô bé tội nghiệp quằn quại, cặp mắt lồi ra.

    “Buông vũ khí ngay!”

    Chẳng động tĩnh gì.

    Mấy cảnh sát thuộc Đơn vị Phản ứng nhanh xuất hiện. Một trong số họ cầm một quả lựu đạn loại được chế tạo gây tiếng nổ và ánh sáng nhám làm kẻ tấn công mất phương hướng. Nhưng người ta vẫn có thể bắn khi mắt lóa tai ù. Sachs lo lắng rằng gã đàn ông sẽ bắn trúng cô bé nếu gã cứ quyết định bắn bừa. Cô lắc đầu ra hiệu không sử dụng quả lựu đạn và chĩa súng qua cửa phòng ngủ. cô phải xử lý gã kia ngay bây giò, cô bé chẳng còn thời gian nữa.

    Tuy nhiên cô bé lại lắc đầu. Cô bé vùng vẫy chiến đấu với cơn co giật, và nhìn sang bên tay phải Sachs, rồi đưa ánh mắt xuống.

    Mặc dù đang chết ngạt, cô bé vẫn chỉ cho Sachs hướng mục tiêu.

    Sachs điều chinh lại mũi súng – mục tiêu ở xa về bên tay phải hơn cô phỏng đoán lúc trước. Nếu cô bắn vào vị trí dự định, đối phương sẽ biết được vị trí cô đứng và có thể sẽ bắn trúng cô bằng loạt đạn đáp trả.

    Cô bé gật đầu.

    Tuy nhiên, Sachs do dự. Phải chăng cô bé đang thực sự muốn nói như thế? Cô bé đang bộc lộ cái khả năng kiềm chế mà hiếm người lớn nào huy động được, và Sachs không dám hiểu sai thông điệp cô gửi đi, nguy cơ làm hại một cá nhân vô tội quá lớn.

    Nhưng rồi cô nhớ lại ánh mắt cô bé cái lần đầu tiên cô trông thấy cô bé trên chiếc xe gần con hẻm phố Cedar. Ở đó, cô nhìn thấy nỗi hy vọng. Vàgiờ đây, cô nhìn thấy sự can đảm.

    Sachs nắm chặt khẩu súng ngắn và quét một loạt sáu viên đạn về phía cô bé chỉ. Chẳng chờ đợi xem mình bắn trúng gì, cô nhảy vào căn phòng, các cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh theo sau cô.

    “Cứu lấy cô bé!”, Sachs hét to, quét khẩu Glock qua khu vực bên tay phải cô – buồng tắm và tủ quần áo. Một cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh canh chừng bằng khẩu súng ngắn MP-5 trong lúc các cảnh sát khác kéo cô bé xuống vị trí an toàn trên sàn và bóc những miếng băng dính nhựa khỏi mặt cô. Sachs nghe thấy tiếng hổn hển hít vào của cô bé, rồi tiếng nức nở.

    Sachs mở tung cánh cửa tủ quần áo và bước tránh sang bên khi xác gã đàn ông – bị bắn bốn phát – đổ nhào ra ngoài. Cô đá khẩu súng văng sang bên và kiểm tra tủ, buồng tắm, rồi – không để sơ sẩy – ngăn tắm vòi hoa sen, gầm giường, cả cầu thang thoát hiểm nữa.

    Một phút sau, toàn bộ dãy phòng đã được kiểm tra. Charlotte, mặt đỏ bừng vì tức tối và khóc lóc, bị còng tay ngồi trên đi văng, còn cô gái nhỏ thì ở ngoài hàng lang, có các nhân viên y tế tiếp oxy, họ thông báo rằng cô bé không bị thương tích gì nghiêm trọng.

    Charlotte chẳng chịu khai một lời về Thợ Đồng Hồ, và việc lục soát sơ bộ các căn phòng chưa cho thấy nơi hắn có thể trú ngụ. Sachs phát hiện được chiếc phong bì đựng hai trăm năm mươi nghìn đô la tiền mặt, gợi ý khả năng gã sẽ tới lấy công. Cô liên lạc qua bộ đàm yêu cầu Sellitto giải tán tất cả các xe cảnh sát đang có mặt tại con phố và bố trí các nhóm bí mật phục kích.

    Rhyme đang đến bằng chiếc xe thùng của anh và Sachs gọi điện bảo anh vào theo lối cửa hậu. Rồi cô ra hành lang xem tình hình cô gái nhỏ thế nào.

    “Cháu cảm thấy sao?”

    “Cháu nghĩ là ổn. Mặt bị đau.”

    “Cô chắc chắn họ đã bóc băng dính ra rất nhanh.”

    “Vâng, rất nhanh ạ.”

    “Cảm ơn hành động của cháu. Cháu đã cứu tính mạng nhiều người. Cháu đã cứu tính mạng cô.” Cô bé đăm đăm nhìn Sachs bằng ánh mắt lạ lùng, rồi lại nhìn xuống. Nữ thám tử đưa cho cô bé cuốn Harry Potter cô tìm thấy trong phòng ngủ, và Sachs hỏi liệu cô bé có biết gì về gã đàn ông tự xưng danh là Gerald Duncan không.

    “Hắn đáng sợ. Nói chung là kẻ kỳ quái. Hắn nhìn cô như thể cô chỉ là một hòn đá hay chiếc xe ô tô hay cái bàn. Chứ chẳng phải một con người.”

    “Cháu có biết hắn ở đâu không?”

    Cô bé lắc đầu. “Tất cả những gì cháu biết là nghe thấy mẹ bảo hắn đang thuê ngôi nhả nào đó ở Brooklyn. Cháu không biết chỗ chính xác. Hắn không nói. Nhưng hắn sẽ tới lấy tiền.”

    Sachs kéo Pulaski ra, yêu cầu anh kiểm tra tất cả các cuộc gọi đến và điện thoại di động của Charlotte và Bud, cũng như các cuộc gọi bằng máy cố định trong phòng.

    “Máy ở sảnh thì sao? Tôi muốn nói cái máy phải trả tiền ấy. Và những máy ngoài phố xung quanh đây.”

    Sachs nhướn một bên mày. “Ý kiến hay đấy.”

    Chàng cảnh sát trẻ hăm hở đi thực hiện nhiệm vụ. Sachs lấy cho cô gái nhỏ lon soda. Cô bé bật nắp lon và uống hết rất nhanh một nửa. Cô bé nhìn Sachs vẻ lạ lùng. Rồi cô bé cười thành tiếng.

    Sachs hỏi: “Gì thế?”.

    “Cô thực sự không nhớ ra cháu, phải không? Cháu đã gặp cô rồi.”

    “Gần con hẻm hôm thứ Ba. Nhớ chứ.”

    “Không, không. Nói chung là trưóc đó một thời gian dài.”

    Sachs nheo mắt. Cô nhớ rằng cô đã cảm thấy nét gì đó quen quen khi cô trông thấy cô bé trên chiếc xe tại hiện trường thứ nhất trong con hẻm. Và bây giờ cô càng cảm thấy rõ ràng hơn. Nhưng cô không thể xác định được cô từng gặp cô bé ở đâu trước hôm thử Ba. “Cô e là cô không nhớ ra.”

    “Cô đã cứu sống cháu. Hồi ấy cháu vẫn còn nhỏ.”

    “Lâu rồi à...” Amelia Sachs nheo mắt, quay sang người mẹ và quan sát Charlotte kỹ lưỡng hơn. “Ôi, trời ơi”, cô há hốc miệng.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này