Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 30

    Ngồi trong cái ngăn nhỏ của mình, Sarah Stanton nghe thấy một tiếng uồm oàm nữa từ hệ thống truyền thanh gắn phía trên đầu cô.

    Trong văn phòng, mọi người không ngớt đùa cợt là công ty lắp bộ lọc vào các loa để âm thanh truyền đi trở nên hoàn toàn chẳng thể hiểu được. Cô quay lại với máy vi tính, hỏi to: “Họ đang nói cái gì vậy? Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào”.

    “Thông báo cái gì đấy”, một trong số các đồng nghiệp của Sarah trả lời.

    “Suốt ngày thông báo. Bực cả mình. Thực tập cứu hỏa à?”

    “Không biết nữa.”

    Một lát sau, Sarah nghe thấy tiếng chuông báo cháy réo.

    Biết ngay mà.

    Sau vụ 11 tháng Chín, cứ khoảng một tháng một lần chuông báo cháy lại réo. Mấy lần đầu tiên, Sarah cũng thực hiện đúng các thao tác và cùng với tất cả mọi người lũ lượt xuống gác. Nhưng hôm nay, trời lạnh đến hai mươi độ[69] và cô có quá nhiều việc phải làm. Hơn nữa nếu cháy thật và các cửa bị chặn, cô có thể nhảy ngay qua cửa sổ. Văn phòng của cô chỉ ở tầng hai.

    Sarah quay lại màn hình máy vi tính.

    Nhưng rồi Sarah nghe thấy những giọng nói từ đầu đằng kia dãy hành lang dẫn đến văn phòng của cô. Trong những giọng nói ấy có sự cấp bách. Và một cái gì đó nữa – tiếng kim loại va vào nhau kêu chói tai. Thiết bị cứu hỏa chăng? Cô tự hỏi.

    Có lẽ chuyện gì đó đang xảy ra thật.

    Những tiếng bước chân nặng nề vang lên sau lưng Sarah, tiến đến gần. Cô quay lại và nhìn thấy cảnh sát mặc đồng phục sẫm màu, mang súng, Cảnh sát à? Ôi, lạy Chúa, đã có một vụ tấn công khủng bố à? Toàn bộ ý nghĩ của cô là tới trường của đứa con trai để đón nó.

    “Chúng tôi đang sơ tán tòa nhà này”, người cảnh sát thông báo.

    “Khủng bố à?”, ai đó kêu to. “Một vụ tấn công nữa à?”

    “Không.” Anh ta không giải thích thêm. “Tất cả mọi người trật tự đi ra ngoài. Mang theo áo khoác, các thứ khác để lại.”

    Sarah cảm thấy nhẹ nhõm. Cô không phải lo lắng cho con trai.

    Một người cảnh sát khác nói to: “Chúng tôi đang tìm kiếm các bình xịt chữa cháy. Có cái nào ở khu vực này không? Đừng động đến chúng. Chỉ thông báo cho chúng tôi biết thôi. Tôi nhắc lại, đừng động đến chúng!”.

    Vậy là đã xảy ra một vụ hỏa hoạn, Sarah vừa nghĩ vừa mặc áo khoác.

    Rồi cô tự nhủ, thật kỳ lạ khi cơ quan cứu hỏa lại sử dụng bình chữa cháy của công ty. Họ không có ư? Và tại sao họ phải quan tâm quá thế, rằng chúng ta có sử dụng bình chữa cháy hay không?

    Tôi nhắc lại, đừng động đến chúng!...

    Người cảnh sát nhìn vào một văn phòng gần văn phòng của Sarah.

    “Ồ, anh sĩ quan. Anh muốn tìm một bình chữa cháy?”, Sarah hỏi. “Tôi có một chiếc ở ngay đây.”

    Và cô nhấc chiếc bình nặng hình trụ màu đỏ lên khỏi sàn.

    “Đừng!”, người đàn ông kêu to và anh ta nhảy về phía cô.


    Sach nhăn mặt khi bộ tai nghe phát ra tiếng lạo xạo.

    “Gọi nhóm cứu hỏa, đội tháo bom, tầng hai, văn phòng góc phía đông nam. Công ty thiết kế sàn và nội thất Lanam. Nào! Mau, mau, mau!'

    Khoảng chục lính cứu hỏa và cảnh sát thuộc đội tháo bom vác các thiết bị trên vai, guồng chân chạy về phía cửa hậu.

    “Tình trạng?”, Haumann hét vào mic.

    Họ chỉ có thể nghe thấy những giọng nói vội vã giữa tiếng rú của chuông báo cháy.

    “Có thấy nổ không?”, vị chỉ huy Đơn vị Phản ứng nhanh nhắc lại gấp gáp.

    “Tôi không trông thấy khói”, Pulaski trả lời.

    Dennis Baker nhìn chằm chằm lên tầng hai. Gã lắc đầu.

    Một trong số những người chỉ huy lính cứu hỏa nói: “Nếu là cồn thì sẽ không có khói cho tới lúc nào các chất liệu khác ở xung quanh bắt lửa”. Ông ta bổ sung bằng giọng đều đều: “Hoặc da và tóc cô ta”.

    Sachs tiếp tục quét ánh mắt qua các cửa sổ, hai bàn tay nắm chặt lại. Người phụ nữ ấy lúc này đang chết trong đau đớn chăng? Có cảnh sát và lính cứu hỏa bên cạnh cô ta không?

    “Cố gắng lên”, Baker thì thầm.

    Rồi một giọng oang oang phát ra từ bộ đàm: “Chúng tôi đã tìm thấy quả bom... Chúng tôi đã... Vâng, chúng tôi đã tìm thấy. Nó chưa nổ”.

    Sachs nhắm mắt lại.

    “Ơn Chúa”, Baker nói.

    Lúc này, mọi người đang nhanh chóng ra khỏi tòa văn phòng, dưới con mắt kiểm soát của các cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh và lực lượng tuần tra, họ tìm kiếm Duncan, so sánh gương mặt trên ảnh chắp ghép với những gương mặt nhân viên trong tòa văn phòng.

    Một cảnh sát dẫn người phụ nữ đến chỗ Sachs, Baker và Pulaski, đúng lúc Sellitto cũng đến chỗ họ.

    Người suýt nữa trở thành nạn nhân, Sarah Stanton, trình bày rằng cô phát hiện ra chiếc bình chữa cháy dưới gầm bàn của mình, lúc trước nó không có ở đây và cô cũng không nhìn thấy ai đã đặt nó vào. Một người trong văn phòng nhớ là có nhìn thấy một công nhân mặc đồng phục lảng vảng gần đó, nhưng không nhớ được chi tiết và không nhận ra gương mặt trên ảnh chắp ghép, cũng không nhớ được anh ta đi theo hướng nào.

    “Tình trạng quả bom?”, Haumann hỏi to.

    Một cảnh sát trả lời qua bộ đàm: “Không nhìn thấy thiết bị hẹn giờ, nhưng đồng hồ đo áp suất không chỉ gì. Có thể đó là ngòi nổ. Và tôi ngửi được mùi cồn. Đội tháo bom đã cho nó vào hộp thép. Họ đang đưa nó về Rodman’s Neck. Chúng tôi vẫn tiếp tục truy quét đối tượng”.

    “Có dấu hiệu nào của hắn không?”, Baker hỏi.

    “Không. Có hai cầu thang thoát hiểm và các cầu thang máy. Hắn chắc đã tẩu thoát qua những lối ấy. Và có bốn hay năm công ty trên tầng hai. Hắn có thể lẻn vào một trong các công ty này. Vài phút nữa chúng tôi sẽ khám xét tác công ty này ngay sau khi chúng tôi kiểm tra và chắc chắn rằng không còn quả bom nào.”

    Mười phút sau, cảnh sát báo cáo là không còn quả bom nào trong tòa nhà.

    Sachs phỏng vấn Sarah, rồi gọi cho Rhyme và trình bày với anh tình trạng của vụ án cho tới lúc bấy giờ. Người phụ nữ không biết về những nạn nhân khác, cũng chưa từng nghe nói về Gerald Duncan. Cô rất bối rối trước việc vợ gã có lẽ đã bị xe cán chết bên ngoài căn hộ cô ở, tuy nhiên cô chẳng nhớ ra đã xảy ra tai nạn chết người nào.

    Cuối cùng, Haumann thông báo rằng tất cả cảnh sát của ông ta đã kết thúc việc rà soát, Thợ Đồng Hồ đã trốn thoát.

    “Rõ khỉ”, Dennis Baker lẩm bẩm. “Chúng ta suýt tóm được hắn.”

    Chán nản, Rhyme nói: “Thôi, khám nghiệm hiện trường đi và cho anh biết em tìm thấy gì”.

    Họ kết thúc trao đổi. Haumann cử hai nhóm đến mai phục tại kho chứa hàng mà Duncan đã sử dụng làm nơi xây dựng các kế hoạch phòng trường hợp kẻ sát nhân quay lại đó, còn Sachs thì mặc bộ áo liền quần Tyvek màu trắng, xách chiếc va li kim loại đựng những thiết bị thu thập và bảo quản chứng cứ.

    “Để tôi phụ chị”, Pulaski nói, cũng mặc bộ áo liền quần màu trắng.

    Sachs đưa chiếc va li cho anh và xách một chiếc khác.

    Đến tầng hai, cô dừng lại xem xét dãy hành lang. Sau khi chụp ảnh dãy hành lang, cô bước vào công ty thiết kế sàn Lanam và tiến đến nơi làm việc của Sarah Stanton.

    Sachs và Pulaski mở va li, lấy ra những thiết bị thu thập chứng cứ cơ bản: túi, ống nghiệm, gạc, con lăn bôi chất dính, các tờ lấy dấu chân bằng tĩnh điện và hóa chất lấy dấu vân tay dạng ẩn.

    “Tôi có thể làm gì?”, Pulaski hỏi. “Chị muốn tôi xem xét các ô cầu thang không?”

    Sachs cân nhắc. Rốt cuộc thì họ sẽ phải xem xét các ô cầu thang, nhưng cô quyết định tốt hơn hết chính cô sẽ tự xem xét. Đó là những lối đột nhập và tẩu thoát hợp lý nhất đối với Thợ Đồng Hồ và cô muốn chắc chắn không bỏ qua bất kỳ chứng cứ nào. Sachs nhìn bao quát cách bố trí văn phòng của Sarah, rồi để ý thấy một ngăn trống bên cạnh cái ngăn Sarah ngồi. Có thể Thợ Đồng Hồ đã ở trong ấy đợi tới lúc gặp cơ hội đặt quả bom. Sachs bảo chàng cảnh sát trẻ: “Hãy xử lý cái ngăn đó”.

    “Rõ.” Anh bước vào cái ngăn trống, rút đèn pin ra và bắt đầu thực hiện công việc rất đúng cách. Sachs thấy anh ngửi cả không khí, một yêu cầu nữa của Lincoln Rhyme đối với các cảnh sát khám nghiệm hiện trường. Chàng trai này sẽ thành công trong nghề nghiệp, cô tự nhủ thầm.

    Sachs bước vào cái ngăn nơi quả bom đã được phát hiện. Cô nghe thấy một tiếng động và ngoái nhìn đằng sau. Chỉ là Dennis Baker. Gã bước dọc theo hàng lang và dừng lại cách khoảng bảy mét, đủ xa để không làm nhiễm bẩn hiện trường.

    Sachs không biết chính xác tại sao gã lên đây nhưng, vì họ vẫn chưa chắc chắn Thợ Đồng Hồ đang ở chỗ nào, cô biết ơn sự hiện diện của gã.

    Tập trung xem xét nhưng vẫn quan sát phía sau...


    * * *


    Đây là sự khác biệt.

    Thám tử Dennis Baker – cùng với một cảnh sát đồn 118 – đã sát hại Benjamin Creeley và Frank Sarkowki. Đó là việc khó khăn nhưng bọn gã đã tiến hành không do dự. Và gã xác định tinh thần sẽ giết bất cứ người dân thường nào đe dọa đường dây tống tiền. Chẳng vấn đề gì sất. Năm triệu đô la tiền mặt – một món tiền bọn gã kiếm được cho tới nay – che lấp hết cảm giác tội lỗi.

    Dù sao, Baker cũng chưa bao giờ giết một đồng đội.

    Cau mày, bồn chồn, gã quan sát Amelia Sachs và chàng thanh niên, Pulaski, người cũng có thể trở thành một mục tiêu dễ dàng.

    Một sự khác biệt lớn.

    Đây là giết những thành viên trong gia đình, là giết đồng đội.

    Nhưng sự thật đáng buồn là Sachs và cộng sự của Sachs, Pulaski, có thể hủy hoại cuộc đời gã.

    Và bởi vậy không cân nhắc nữa.

    Lúc này, Baker nghiên cứu hiện trường. Phải, Duncan đã lập kế hoạch một cách hoàn hảo. Đây là ô cửa sổ đó. Gã liếc nhìn ra ngoài. Con hẻm, cách chừng bốn mét rưỡi phía dưới, vắng tanh vắng ngắt. Và bên cạnh gã là chiếc ghế dựa bằng kim loại màu xám, gã sẽ sử dụng để ném vào ô kính cửa sổ sau khi giết chết đồng đội.

    Có cái hốc lớn đặt ống hút khí vào máy điều hòa nhiệt độ mà sau khi bắn gã sẽ tháo khung sắt ra, làm như thể Thợ Đồng Hồ đã trốn ở trong đó.

    Một hơi thở sâu.

    Được, tới lúc rồi. Baker phải nhanh chóng hành động, trước khi có bất kỳ ai khác lên hiện trường. Amelia Sachs phân công cho các cảnh sát còn lại khu vực hành lang chính nhưng một người nào đấy có thể quay lại đây bất cứ lúc nào.

    Gã lấy khẩu súng cỡ 32 và lặng lẽ kéo chốt để chắc chắn rằng viên đạn đang nằm trong ổ. Giấu khẩu súng sau lưng, gã rón rén tiến đến gần hơn. Gã nhìn chằm chằm vào Sachs, cô di chuyển xung quanh hiện trường gần như một diễn viên múa. Chính xác, uyển chuyển, tập trung tới mức không chú ý gì xung quanh. Hình ảnh ấy thật đẹp.

    Baker dứt mình khỏi sự mơ màng này.

    Người nào trước? Gã cân nhắc.

    Theo logic thì nên bắn Pulaski đầu tiên, vì ở gần hơn. Nhưng Baker đã được Lincoln Rhyme cho biết Sachs là tay thiện xạ. Cô có thể rút súng bắn trong tích tắc. Chàng trai trẻ thì chắc thậm chí chưa từng bắn khi giao tranh. Anh có lẽ sẽ đặt tay lên khẩu súng sau khi Baker hạ Sachs, tuy nhiên anh sẽ chết trước khi kịp rút súng ra.

    Hít lấy vài hơi.

    Amelia Sachs vô tình hợp tác với sát thủ. Cô đang cúi lom khom liền đứng thẳng dậy. Lưng cô làm thành một mục tiêu hoàn hảo. Baker chĩa súng vào gáy cô và siết cò.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 31

    Đối với hầu hết mọi người, âm thanh đó là tiếng cách rất khẽ khàng của kim khí, chìm lẫn giữa bao nhiêu tiếng ồn ào khác trong cái tòa văn phòng ở thành phố lớn này.

    Tuy nhiên, đối với Amelia Sachs, đó rõ ràng là tiếng lẫy đập vào ngòi nổ một viên đạn bị xịt, hoặc ai đấy đang bắn súng không có đạn. Cô nghe thấy cái âm thanh riêng biệt này đã hàng trăm lần – từ khẩu súng của bản thân cô và của đồng đội.

    Tiếp theo sau tiếng cách này thông thường sẽ là – xạ thủ kéo chốt để tháo viên đạn bị xịt ra và lắp viên đạn mới vào ổ. Trong nhiều trường hợp – cũng giống như lúc này – các thao tác phải đặc biệt gấp gáp, xạ thủ phải ngay lập tức tháo viên đạn bị xịt ra và lắp viên đạn mới mau lẹ. Nó có thể là vấn đề sinh tử.

    Toàn bộ điều này được nhận ra trong vòng một tích tắc. Sachs buông con lăn cô đang sử dụng để thu thập dấu vết. Bàn tay phải của cô đưa phắt sang hông – cô luôn luôn biết chính xác vị trí cái bao súng – và ngay giây tiếp theo cô xoay người, khom lưng ở tư thế sẵn sàng bắn, khẩu Glock trong tay, đối mặt với nơi âm thanh kia phát ra.

    Bằng khóe mắt, cô nhìn thấy phía tay phải mình, Ron Pulaski, đứng bật dậy trong ngăn bên cạnh, nhìn thứ vũ khí của cô, lo lắng, không biết cô đang làm gì.

    Cách đó chừng bảy mét là Dennis Baker, cặp mắt gã mở to. Trong bàn tay đeo găng, khẩu súng cỡ 32, Sachs nghĩ thế, chĩa vào cô và gã đang kéo chốt. Cô nhận ra nó là một khẩu Autauga Mk II, là loại súng Rhyme phỏng đoán Thợ Đồng Hồ sử dụng.

    Baker chớp mắt. Trong khoảnh khắc, gã không thể mở miệng. “Tôi nghe thấy tiếng gì đó”, gã nói vội vã. “Tôi nghĩ hắn quay lại, Thợ Đồng Hồ ấy mà.”

    “Anh đã siết cò.”

    “Không, tôi chỉ đang lắp đạn.”

    Sachs liếc nhìn xuống sàn, viên đạn bị xịt nằm đó. Lý do duy nhất để nó nằm đó là Baker đã bắn nhưng không được, rồi tháo nó ra. Chuyển khẩu súng cỡ 32 bé tí sang tay trái, Baker hạ tay phải. Nó lần đến hông gã. “Chúng ta phải cẩn thận. Tôi nghĩ rằng hắn quay lại.”

    Sachs chĩa súng thẳng vào ngực Baker.

    “Đừng làm thế, Dennis”, cô nói, hất đầu về phía hông gã, nơi đeo khẩu súng ngắn công vụ. “Tôi sẽ bắn đấy. Tôi đồ rằng bên dưới áo com lê anh mặc áo chống đạn. Phát thứ nhất tôi sẽ nhằm ngực anh, nhưng phát thứ hai và thứ ba sẽ nhằm vị trí cao hơn. Sẽ không dễ chịu đâu.”

    “Tôi... Cô không hiểu rồi.” Cặp mắt Baker mở to, hốt hoảng. “Cô phải tin tôi.”

    Phải chăng đó là một trong những câu then chốt bộc lộ sự gian dối, theo lý thuyết của Kathryn Dance?

    “Chuyện gì đang diễn ra vậy?”, Pulaski hỏi.

    “Ở nguyên đó, Ron”, Sachs ra lệnh. “Đừng chú ý đến một lời nào anh ta nói. Hãy rút súng ra.”

    “Pulaski”, Baker nói. “Cô ấy đang trở nên điên rồ. Có chuyện gì đó không ổn.”

    Nhưng bằng khóe mắt, Sachs nhìn thấy chàng cảnh sát trẻ rút súng và chĩa vào Baker.

    “Dennis, đặt khẩu 32 lên bàn. Rồi dùng tay trái lấy súng công vụ của anh ra, chỉ dùng ngón cái và ngón trỏ. Cũng đặt nó lên bàn. Sau đó lùi lại năm bước. Nằm úp mặt xuống sàn. Nào. Anh nghe rõ ràng chứ?”

    “Cô không hiểu rồi.”

    Sachs nói bình thản: “Tôi chẳng cần hiểu. Tôi cần anh làm những gì tôi đang yêu cầu”.

    “Nhưng…”

    “Và tôi cần anh làm ngay bây giờ.”

    “Cô thật điên rồ”, Baker quát. “Cô đã có tâm trạng ấy với tôi kể từ khi cô phát hiện ra tôi điều tra về cô và bạn trai cũ của cô. Cô đang cố gắng làm tôi mất danh dự... Pulaski, cô ta định giết tôi. Cô ta đã trở nên gian xảo. Đừng để cô ta kéo cả cậu xuống vũng bùn.”

    Pulaski nói: “Anh đã nghe yêu cầu của thám tử Sachs. Tôi sẽ tước vũ khí của anh nếu cần thiết. Nào, thưa ngài, ngài muốn sao đây?”

    Mấy giây trôi qua. Tưởng chừng như hàng tiếng đồng hồ. Không một ai cử động.

    “Mẹ kiếp.” Baker đặt hai khẩu súng ngắn vào vị trí được yêu cầu, rồi nằm xuống sàn. “Cả hai đứa chúng mày đều sẽ gặp rắc rối to.”

    “Còng hắn lại”, Sachs bảo Pulaski.

    Cô chĩa súng vào Baker trong khi chàng cảnh sát trẻ hoang mang kéo tay gã đàn ông quặt ra sau lưng, ấn còng vào.

    “Lục soát hắn.”

    Sachs chộp lấy chiếc Motorola, gọi: “Thám tử 5885 gọi Haumann. Xin trả lời”.

    “Báo cáo đi.”

    “Ở đây chúng tôi có diễn biến mới. Một kẻ đã bị tôi còng tay, tôi cần người áp giải hắn xuống gác.”

    “Chuyện gì vậy?”, vị chỉ huy Đơn vị Phản ứng nhanh hỏi. “Đối tượng à?”

    “Câu hỏi hay đấy”, Sachs vừa trả lời vừa nhét khẩu súng ngắn vào bao.


    Với diễn biến mới này của vụ án, một người nữa có mặt trước tòa văn phòng khu Midtown, nơi thám tử Dennis Baker có vẻ đã toan sát hại Amelia Sachs và Ron Pulaski.

    Sử dụng bộ điều khiển bằng bấm phím, Lincoln Rhyme di chuyển chiếc xe lăn Storm Arrow dọc theo vỉa hè đến cửa tòa văn phòng. Baker ngồi ở ghế sau một xe cảnh sát đỗ gần đó, bị còng tay và xích chân. Mặt gã trắng bệch. Gã trừng trừng nhìn về phía trước.

    Đầu tiên, Baker khẳng định rằng Sachs nhằm vào gã vì chuyện Nick Carelli. Rồi Rhyme quyết định kiểm tra. Anh hỏi nhân vật cao cấp của Sở Cảnh sát New York, người đã gửi email kia. Hóa ra chính Baker là kẻ nêu lên mối lo ngại về khả năng Sachs có liên hệ với tay cảnh sát biến chất và nhân vật này không hề gửi email, Baker tự soạn nó. Gã đã dựng lên toàn bộ sự việc để tạo vỏ bọc trong trường hợp Sachs phát hiện ra gã theo dõi, điều tra cô.

    Sử dụng bộ điều khiển, Rhyme từ từ tiến đến gần tòa nhà nơi Sellitto và Haumann lập trạm chỉ huy. Anh dừng xe và Sellitto trình bày về những gì vừa xảy ra trên gác. Nhưng nói thêm: “Tôi không hiểu nổi. Hoàn toàn không hiểu nổi”. Viên thám tử to béo xoa xoa hai bàn tay trần vào nhau. Ông ta liếc nhìn lên bầu trời trong trẻo đầy gió, như thể ông ta vừa nhận ra rằng đang là một trong những tháng rét mướt nhất từ trước tới nay. Khi ông ta giải quyết các vụ án, nóng hay lạnh thực sự chẳng đáng chú ý gì.

    “Tìm thấy gì trên người hắn không?”, Rhyme hỏi.

    “Chỉ có khẩu súng cỡ 32 và những đôi găng tay cao su”, Pulaski nói. “Kèm theo một số tài sản cá nhân.”

    Lát sau, Amelia Sachs đến chỗ họ, cầm một chiếc hộp bên trong là khoảng chục túi nhựa đựng chứng cứ. Cô vừa khám xét xe của Baker. “Tình hình khá lên nhanh chóng, Rhyme ạ. Hãy kiểm tra những thứ này.” Cô cho Rhyme và Sellitto xem từng túi nhựa một. Chúng đựng cocaine, năm mươi nghìn tiền mặt một vài món quần áo cũ, hóa đơn từ các câu lạc bộ và quán bar ở Manhattan, bao gồm cả quán Thánh James. Cô nhấc một cái túi dường như không đựng gì. Tuy nhiên, xem xét gần hơn, anh có thể nhìn thấy những sợi mảnh màu nâu.

    “Thảm à?”, Rhyme hỏi.

    “Vâng. Màu nâu.”

    “Chắc chắn chúng phù hợp với thảm của chiếc Explorer.”

    “Đó chính là điều em đang nghĩ.”

    Một sự liên hệ nữa tới Thợ Đồng Hồ.

    Rhyme gật đầu, đăm đăm nhìn chiếc túi nhựa lay động trong gió lạnh. Anh cảm thấy bùng lên nỗi mãn nguyện vốn vẫn xuất hiện khi những mảnh rời rạc của câu đố bắt đầu được ghép lại. Anh quay sang chiếc xe cảnh sát mà Baker đang ngồi, hỏi to qua cửa sổ xe mở nửa chừng: “Người ta phân công anh về 118 khi nào?”.

    Gã đàn ông trừng trừng nhìn lại nhà hình sự học. “Đ. mẹ mày. Mày tưởng ông sẽ nói bất cứ điều gì với lũ ngu ngốc chúng mày à? Chuyện này thật nhảm nhí. Đứa nào đó đã vu vạ tất cả cho ông.”

    Rhyme bảo Sollitto: “Gọi bộ phận Nhân sự. Tôi muốn biết những nhiệm vụ trước đây của hắn”.

    Sellitto thực hiện điều Rhyme yêu cầu và, sau cuộc trao đổi ngắn gọn, ngẩng nhìn lên, nói: “Ăn điểm rồi. Hắn từng ở 118 hai năm. Phòng Ma túy và Án mạng. Thăng tiến về Tòa nhà Lớn cách đây ba năm”.

    “Anh đã gặp Duncan như thế nào?”

    Baker xoay mông trên chiếc ghế sau và lại trừng trừng nhìn ra phía trước.

    “Chà, đây là cái ngã ba nhỏ quang quẻ nơi các vụ án của chúng ta nhập vào với nhau”, Rhyme hài hước nói.

    “Cái gì cơ?”, Sellitto hỏi giật giọng.

    “Ngã ba. Nơi hội tụ, Lon ạ. Sự hợp nhất. Anh có bao giờ chơi giải ô chữ không?”

    Sellitto càu nhàu: “Các vụ án nào?”.

    “Hiển nhiên là vụ của Sachs ở 118 và vụ Thợ Đồng Hồ. Chúng hoàn toàn không riêng rẽ. Hai mặt của cùng một lưỡi dao, anh có thể bảo vậy.” Rhyme thích thú với phép ẩn dụ ấy.

    Vụ Của Anh và Vụ Kia…

    “Anh có muốn trình bày gì không?”

    Liệu gã có thực sự cần phải trình bày không?

    Amelia Sachs nói: “Baker là một kẻ dính líu vào hoạt động tham nhũng ở 118. Hắn thuê Thợ Đồng Hồ, chà, Duncan, loại bỏ em, vì em đang tiến gần đến hắn”.

    “Điều gì chứng minh rằng có chuyện thực sự thối nát ở Đan Mạch?”

    Bây giờ tới lượt Pulaski không hiểu được. “Đan Mạch? Cái nước ở châu Âu ấy à?”

    “Trong kịch của Shakespeare, Ron”, nhà hình sự học sốt ruột nói. Và khi chàng cảnh sát trẻ nhe răng cười ngu ngơ thì Rhyme chịu thua.

    Sachs tiếp quản câu hỏi. “Anh ấy muốn nói tới bằng chứng về tình hình tham nhũng nghiêm trọng ở 118. Hiển nhiên là bọn chúng không chỉ bỏ quên những cuộc điều tra về băng nhóm nào đó ở Baltimore hay Bay Ridge.”

    Lơ đãng ngẩng nhìn tòa văn phòng, Rhyme gật đầu, quên bẵng gió và cái giá lạnh. Tất nhiên, vẫn còn một số câu hỏi chưa được trả lời. Ví dụ, Rhyme không chắc chắn liệu Vincent Reynolds có thực sự là kẻ đồng lõa không hay đã bị lợi dụng.

    Rồi vấn đề tiền bọn chúng chiếm đoạt đang ở đâu. Và Rhyme hỏi: “Kẻ ở Maryland là ai? Anh làm việc với ai? Giới tội phạm có tổ chức hay đối tượng nào khác?”.

    “Mày điếc hả?”, Baker quát. “Tao đếch thèm khai một lời.”

    “Đưa hắn đến trung tâm tạm giam”, Sellitto nói với những cảnh sát tuần tra đang đứng bên cạnh xe. “Hiện tại cứ ghi vào biên bản là có ý đồ tấn công. Chúng ta sẽ tô điểm thêm sau.” Trong lúc họ dõi theo chiếc xe cảnh sát được lái đi, Sellitto lắc đầu. “Lạy Chúa”, viên thám tử lẩm bẩm. “Chúng ta đã thật may mắn.”

    “May mắn à?”, Rhyme cáu kỉnh, nhớ lại rằng lúc trước anh cũng nói câu tương tự.

    “Phải, Duncan chưa giết thêm ai. Và ở đây nữa, Amelia đã là một mục tiêu dễ dàng. Nếu viên đạn đó không bị xịt...” Giọng Rhyme nhỏ dần đi trước khi anh mô tả cái bi kịch suýt xảy ra.

    Lincoln Rhyme vốn vẫn tin vào sự may rủi cũng chẳng hơn gì tin vào ma quỷ hay đĩa bay.

    May mắn...

    Bỗng nhiên, hàng chục ý nghĩ, tựa như những con ong thoát khỏi cái tổ đông nghịt, bay vù vù xung quanh anh. Anh cau mày. “Thật kỳ quặc...” Giọng anh nhỏ dần đi. Cuối cùng, anh thì thầm: “Duncan”.

    “Có chuyện gì à, Linc? Anh ổn chứ?”

    “Rhyme?”, Sachs hỏi.

    “Suỵt.”

    Sử dụng bộ điều khiển bằng bấm phím, anh cho chiếc xe lăn xoay từ từ, liếc nhìn vào một con hẻm gần đó, rồi những chiếc túi và hộp đựng chứng cứ Sachs đã thu thập được. Anh cười thành tiếng khe khẽ, ra lệnh: “Tôi muốn khẩu súng của Baker”.

    “Khẩu súng công vụ của hắn ấy à?”, Pulaski hỏi.

    Tất nhiên là không. Khẩu kia cơ. Khẩu cỡ 32. Nó đâu rồi? Nào, mau lên!”

    Pulaski tìm thấy khẩu cỡ 32 trong một cái túi nhựa. Anh mang theo nó quay lại.

    “Tháo súng tại chỗ.”

    “Tôi ấy à?”, chàng cảnh sát trẻ hỏi.

    “Cô ấy”, Rhyme hất đầu chỉ Sachs.

    Sachs trải một mảnh nhựa trên vỉa hè, thay đôi găng tay da bằng đôi găng cao su, trong vòng vài giây đã dỡ tung và bày ra các bộ phận của khẩu súng.

    “Cầm từng bộ phận giơ lên.”

    Sachs làm theo yêu cầu. Ánh mắt họ gặp nhau. Cô nói: “Thú vị đấy”.

    “Này. Cậu tân binh.”

    “Vâng, thưa sếp.”

    “Tôi phải trao đổi với nhân viên y tế. Tìm anh ta cho tôi.”

    “Rõ. Tôi phải gọi điện à?”

    Tiếng thở dài cùng một luồng hơi tỏa ra từ miệng Rhyme. “Cậu có thể đánh điện, cậu có thể chạy đến gõ, gõ, gõ cửa nhà anh ta. Nhưng tôi cuộc rằng cách tốt nhất là sử dụng... điện thoại... của cậu. Và đừng chấp nhận câu trả lời phủ định. Tôi cần anh ta.”

    Chàng thanh niên rút điện thoại di động và bắt đầu bấm các con số.

    “Linc”, Sellitto nói. “Chuyện này là...”

    “Và tôi cũng cần anh làm một việc, Lon ạ.”

    “Ờ, việc gì?”

    “Có gã đàn ông đang đứng bên kia phố quan sát chúng ta. Ở đầu con hẻm.”

    Sellitto ngoảnh nhìn. “Thấy rồi.” Gã đàn ông vóc dáng rắn chắc, đeo kính râm mặc dù trời tối, đội mũ, mặc quần bò và áo khoác ngắn bằng da. “Trông quen quen.”

    “Hãy mời hắn sang đây. Tôi muốn hỏi hắn vài câu.”

    Sellitto bật cười. “Kathryn Dance thực sự đã có ảnh hưởng tới anh, Linc ạ. Trước tôi cứ nghĩ anh không tin tưởng các nhân chứng.”

    “Ồ, theo tôi, một ngoại lệ trong trường hợp này sẽ hay đây.”

    Nhún vai, viên thám tử to béo hỏi: “Hắn là ai vậy?”

    “Tôi có thể nhầm”, Rhyme nói với giọng của một người tin tưởng rằng mình hiếm khi nhầm. “Nhưng tôi có cảm giác hắn là Thợ Đồng Hồ.”
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 32

    Gerald Duncan ngồi trên lề đường, bên cạnh Sachs và Sellitto. Gã bị còng tay, bị lột mũ, kính râm, mấy đôi găng tay màu be, ví và một dụng cụ cắt hộp vấy máu.

    Khác với Dennis Baker, gã có thái độ dễ chịu, hợp tác – mặc dù gã bị đẩy ngã xuống đất, bị lục soát và còng tay bởi ba sĩ quan cảnh sát, trong đó có Sachs, một cô gái vốn không được đánh giá là có phong cách dịu dàng khi hạ gục các đối tượng, đặc biệt các đối tượng như thế này.

    Bằng lái xe cấp tại bang Missouri khẳng định nhân dạng gã và đưa ra một địa chỉ ở St. Louis.

    “Lạy Chúa”, Sellitto nói. “Bằng cách quái nào mà anh nhận ra hắn?”

    Kết luận của Rhyme về nhân dạng vị khán giả kia chẳng phi thường như nó có vẻ thế. Ý nghĩ rằng Thợ Đồng Hồ chưa chuồn khỏi hiện trường xuất hiện trước khi anh phát hiện ra gã đàn ông trong con hẻm.

    Pulaski báo cáo. “Tôi đã tìm thấy anh ta. Nhân viên y tế.”

    Rhyme vươn người về phía chiếc điện thoại mà chàng cảnh sát trẻ giơ ra trong bàn tay đeo găng và trao đổi ngắn gọn với bác sĩ. Anh ta cung cấp một số thông tin rất thú vị. Rhyme cảm ơn anh ta và gật đầu, Pulaski ngắt kết nối. Nhà hình sự học di chuyển chiếc xe lăn Storm Arrow đến gần Duncan.

    “Ông là Lincoln Rhyme”, tù nhân nói, y như hắn cảm thấy hân hạnh được gặp nhà hình sự học.

    “Đúng vậy. Và anh là kẻ tự xưng danh Thợ Đồng Hồ.”

    Gã đàn ông bật tiếng cười hiểu biết.

    Rhyme quan sát gã thận trọng. Gã xem chừng mệt mỏi nhưng thể hiện một vẻ hài lòng – thậm chí là thanh thản.

    Với nụ cười hiếm hoi, Rhyme hỏi đối tượng: “Vậy. Anh ta thực sự là ai? Nạn nhân trong con hẻm ấy. Chúng tôi có thể tìm kiếm thông tin ở hồ sơ lưu trữ công cộng về Theodore Adams, nhưng như thế sẽ lãng phí thời gian đúng không?”

    Duncan nghiêng nghiêng đầu. “Ông cũng xác định được điều đó.”

    “Adams thì sao?”, Sellitto hỏi. Rồi nhận ra có những câu hỏi bao quát hơn cần hỏi. “Chuyện gì đang diễn ra ở đây vây, Linc?”

    “Tôi đang hỏi kẻ bị tình nghi của chúng ta về người đàn ông chúng ta tìm thấy trong con hẻm sáng hôm qua, cổ bị đè vỡ. Tôi muốn biết anh ta là ai và anh ta đã chết như thế nào?”

    “Con lừa này giết anh ta”, Sellitto nói.

    “Không, anh ta không giết. Tôi vừa trao đổi với nhân viên y tế. Anh ta chưa mang đến cho chúng ta kết quả cuối cùng của việc mổ khám nghiệm tử thi, nhưng anh ta vừa cung cấp cho tôi kết quả sơ bộ. Nạn nhân chết lúc năm hoặc sáu giờ chiều thứ Hai, không phải lúc mười một giờ khuya. Và anh ta chết ngay lập tức bởi những tổn thương nghiêm trọng bên trong cơ thể phù hợp với một tai nạn ô tô hay một cú ngã. Cái họng bị đè vỡ chẳng liên quan gì. Xác chết đã đóng băng cứng lại khi chúng ta phát hiện ra nó vào buổi sáng hôm sau, nên bác sĩ không thể tiến hành làm thực nghiệm chính xác về nguyên nhân và thời gian tử vong.” Rhyme nhướn một bên mày. “Vậy, ngài Duncan. Ai và tại sao?”

    Duncan trình bày: “Chỉ là một tay tội nghiệp bị chết trong một tai nạn ô tô trên mạn Westchester. Tên anh ta là James Pickering”.

    Rhyme thúc giục: “Cứ tiếp tục. Và hãy nhớ, chúng tôi thiết tha muốn biết các câu trả lời”.

    “Tôi nghe được về vụ tai nạn qua thiết bị dò sóng bộ đàm của cảnh sát. Xe cấp cứu đưa cái xác đến nhà xác bệnh viện của hạt. Tôi đã đánh cắp cái xác tại đó.”

    Rhyme nói với Sachs: “Gọi cho bệnh viện đi”.

    Cô thực hiện mệnh lệnh. Sau một cuộc trao đổi ngắn gọn, cô báo cáo: “Một người đàn ông ba mươi mốt tuổi chạy xe trên đường cao tốc Sông Bronx khoảng năm giờ chiều thứ Hai. Mất lái vì trượt vào băng. Chết ngay lập tức, tổn thương bên trong. Tên là James Pickering. Xác được đưa đến bệnh viện nhưng rồi đã biến mất. Họ nghĩ chắc nó đã được chuyển sang bệnh viện khác do nhầm lẫn, tuy nhiên không thể tìm thấy. Như anh cũng hình dung ra được, thân nhân người chết chưa nhận được xác”.

    “Tôi rất tiếc vì việc đó”, Duncan nói, và trông gã đúng là có vẻ bối rối. “Nhưng tôi chẳng có sự lựa chọn nào. Tôi giữ tất cả tài sản cá nhân của anh ta và tôi sẽ trả lại họ. Bản thân tôi sẽ chịu phí tổn tang lễ.”

    “Chứng minh thư và những thứ trong ví mà chúng ta tìm thấy trên cái xác thì sao?”, Sachs hỏi.

    “Giấy tờ giả mạo”, Duncan gật đầu. “Sẽ không qua được việc xem xét kỹ lưỡng, nhưng tôi chỉ cần người ta bị lừa trong vài ngày.”

    “Anh đánh cắp cái xác, lái xe đưa nó đến con hẻm và bố trí nó với thanh sắt nén xuống cổ, nhằm làm cho người ta tưởng nạn đã chết từ từ.”

    Duncan gật đầu.

    “Rồi anh cũng để lại chiếc đồng hồ và lời ghi chú.”

    “Đúng thế.”

    Lon Sellitto hỏi: “Nhưng cái cầu tàu, ở phố Hai mươi hai? Người đàn ông anh giết tại đó thì sao?”.

    Rhyme liếc nhìn Duncan. “Máu của anh thuộc nhóm AB phải không?”

    Duncan cười thành tiếng. “Ông giỏi đấy.”

    “Không hề có một nạn nhân trên cầu tàu, Lon ạ. Đó là máu của chính anh ta.” Quan sát kẻ bị tình nghi, Rhyme nói: “Anh để lại lời ghi chú và chiếc đồng hồ trên cầu tàu, đổ máu của anh ra xung quanh đấy và bôi lên chiếc vét tông rồi ném xuống sông. Anh tự tạo nên những vết móng tay cào. Anh lấy máu mình ở đâu? Anh tự lấy ra à?”

    “Không, tôi lấy ở một bệnh viện bên New Jersey. Tôi bảo họ là tôi muốn dự trữ nó vì tôi đang có kế hoạch làm phẫu thuật.”

    “Đó là lý do tại sao xuất hiện chất chống đông.” Máu để dự trữ thông thường được pha chất làm loãng nhằm ngăn chặn quá trình đặc lại.

    Duncan gật đầu. “Tôi tự hỏi liệu ông đã kiểm tra chưa mà biết điều ấy.”

    Rhyme hỏi: “Còn cái móng tay?”.

    Duncan giơ ngón đeo nhẫn lên. Nửa trên móng bị mất. Gã đã tự tước nó ra. Gã nói thêm: “Và tôi chắc chắn rằng Vincent nói với các ông về cậu thanh niên tưởng là bị tôi giết chết gần nhà thờ. Tôi chưa từng động đến cậu ta. Máu trên cái cắt hộp cũng như trên tờ báo nằm trong thùng rác gần đó, nếu nó vẫn còn nằm đó, là của tôi”.

    “Việc ấy xảy ra như thế nào?”, Rhyme hỏi.

    “Đó là một thời điểm rất bất tiện. Vincent nghĩ cậu thanh niên trông thấy con dao của gã. Bởi vậy tôi phải giả vờ là tôi đã giết cậu ta. Nếu không Vincent có thể ngờ vực tôi. Tôi đi theo cậu ta qua góc phố, rồi rẽ vào một con hẻm, tự cứa cánh tay mình và bôi ít máu của chính mình lên cái cắt hộp.” Duncan chìa ra vết thương còn mới trên cẳng tay. “Các ông có thể xét nghiệm ADN.”

    “Ồ, yên tâm. Chúng tôi sẽ làm...” Một ý nghĩ nữa xuất hiện. “Còn vụ cướp xe, anh chưa hề giết ai để đánh cắp chiếc Buick?” Họ chẳng nhận được báo cáo gì về trường hợp sinh viên mất tích ở Chelsea hay về lái xe bị giết để cướp xe ở bất cứ địa điểm nào trong thành phố.

    Lon Sellitto không cầm lòng được đành một lần nữa ngắt lời. “Chuyện quái quỷ gì đang diễn ra vậy?”

    “Anh ta không phải là kẻ giết người hàng loạt”, Rhyme đáp. “Anh ta không phải là kẻ giết người thuộc bất cứ thể loại nào. Anh ta dựng lên toàn bộ sự việc để anh ta trông giống như một kẻ giết người mà thôi.”

    Sellitto hỏi: “Không có vợ bị chết vì tai nạn à?”.

    “Chưa từng kết hôn.”

    “Làm sao sếp xác định được tình hình?”, Pulaski hỏi Rhyme.

    “Vì một điều Lon nói.”

    “Tôi ấy à?”

    “Thứ nhất, anh nhắc đến tên anh ta, Duncan.”

    “Thế thì sao? Chúng ta đã biết cái tên đó.”

    “Chính xác. Vì Vincent Reynolds nói cho chúng ta. Nhưng ngài Duncan là người đeo găng tay 24/24 nhằm không để lại dấu vân tay. Cái cung cách quá thận trọng ấy mà lại khai họ tên với một kẻ như Vincent, trừ phi anh ta bất cần chuyện chúng ta có phát hiện ra anh ta là ai hay không. Rồi anh bảo thật may mắn vì anh ta chưa giết thêm nạn nhân nào và chưa giết Amelia. Nghe điều này, đầu tiên tôi cảm thấy bực bội. Nhưng tôi phải suy nghĩ về nó. Anh đã đúng. Chúng ta không thực sự cứu được nạn nhân nào. Cô thợ cắm hoa ấy à? Joanne ấy à? Tôi đồ rằng anh ta có nhằm vào cô ấy, chắc chắn rồi, nhưng cô ấy là người gọi 911 sau khi nghe được một tiếng động trong xưởng, một tiếng động có lẽ anh ta cố ý gây ra.”

    “Đúng thế,” Duncan tán thành. “Và tôi để lại cuộn dây kẽm trên sàn nhằm cảnh báo với cô ấy rằng có người đã đột nhập.”

    Sachs nói: “Về Lucy, nữ quân nhân ở khu Greenwich Village, chúng ta nhận được cú điện thoại từ một nhân chứng không xưng danh thông báo vụ đột nhập. Nhưng đó hoàn toàn chẳng phải một nhân chứng, đúng không? Chính anh đã thực hiện cú điện thoại ấy”.

    “Tôi bảo Vincent là một người nào đấy dưới phố đã gọi 911. Nhưng, không, tôi đã gọi từ máy điện thoại công cộng và tự trình báo mình.”

    Rhyme hất đầu chỉ tòa văn phòng đằng sau lưng họ. “Và ở đây, tôi đồ rằng chiếc bình xịt chữa cháy là thứ vô dụng.”

    “Vô hại. Tôi tưới một ít cồn lên bên ngoài, còn bên trong đổ đầy nước.”

    Sellitto đang gọi điện về đồn cảnh sát khu vực số Sáu, trụ sở của đội tháo bom Sở Cảnh sát New York. Lát sau, ông ta kết thúc cuộc gọi. “Nước máy.”

    “Hoàn toàn giống như khẩu súng anh đưa cho Baker, khẩu súng hắn sẽ sử dụng để giết Sachs tại đây.” Rhyme liếc nhìn khẩu súng cỡ 32 đã được dỡ tung các bộ phận. “Tôi vừa kiểm tra xong, kim hỏa bị bẻ gãy.”

    Duncan nói với Sachs: “Tôi cũng bịt cả nòng. Chị có thể kiểm tra. Và tôi biết hắn không sử dụng súng của chính hắn để bắn chị vì như thế hắn sẽ bị ràng buộc vào cái chết của chị”.

    “Được rồi”, Sellitto quát. “Thế đấy. Ai nào, hãy nói với tôi.”

    Rhyme nhún vai. “Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa chúng ta tới cái ga này thôi, Lon ạ. Việc đi trọn chuyến tàu phụ thuộc vào ông Duncan. Tôi ngờ rằng ông ấy đã lên kế hoạch khai sáng cho chúng ta. Đó là lý do tại sao ông ấy thích thú theo dõi buổi biểu diễn từ khán đài bên kia phố.”

    Duncan gật đầu và nói với Rhyme: “Ông đã đoán trúng, thám tử Rhyme ạ”.

    “Tôi bị tước vũ khí”, nhà hình sự học sửa lại.

    “Toàn bộ những gì tôi làm là những gì vừa xảy ra, và, phải, tôi hết sức thích thú, quan sát thằng con hoang Dennis Baker bị bắt và bị kéo lê vào tù.”

    “Tiếp tục đi.”

    Gương mặt Duncan trở nên phẳng lặng. “Một năm trước, tôi tới đây làm ăn. Tôi sở hữu một công ty cho thuê các thiết bị công nghiệp. Tôi hợp tác với một người bạn, một người bạn thân thiết. Anh ấy cứu sống tôi khi chúng tôi đang trong quân ngũ cách đây hai mươi năm. Suốt ngày chúng tôi thảo các văn bản, rồi trở về khách sạn sắp xếp lại trước bữa tối. Nhưng một hôm chẳng còn thấy anh ấy đâu nữa. Tôi phát hiện ra rằng anh ấy đã bị bắn chết. Cảnh sát nói đó là một vụ cướp. Nhưng có điều xem chừng chẳng hợp lý. Ý tôi là, liệu lũ cướp giật có hay bắn thẳng vào trán nạn nhân, hai phát không?”

    “Ồ, những phát súng gây tử vong trong các vụ cướp là cực kỳ hãn hữu, căn cứ vào...” Giọng Pulaski nhỏ lại, dưới cái nhìn lạnh lẽo của Rhyme.

    Duncan tiếp tục: “Lần cuối cùng tôi gặp một người bạn, anh ấy nói với tôi một chuyện rất kỳ quặc. Anh ấy nói, đêm hôm trước, anh ấy tới một câu lạc bộ ở khu trung tâm. Khi anh ấy bước ra ngoài, hai cảnh sát kéo anh ấy sang bên, bảo rằng đã trông thấy anh ấy mua ma túy. Điều này thật nhảm nhí. Anh ấy không sử dụng ma túy. Tôi biết đấy là sự thực. Anh ấy biết mình bị tống tiền và đòi gặp một sĩ quan giám thị. Anh ấy sắp sửa gọi cho ai đó ở cấp lãnh đạo để trình bày thì đúng lúc có mấy người nữa bước ra ngoài và hai cảnh sát kia để cho anh ấy đi. Ngày hôm sau, anh ấy bị bắn chết. Quá trùng hợp. Tôi quay lại câu lạc bộ ấy nhiều lần, lân la dò hỏi. Tốn năm nghìn đô la, nhưng rốt cuộc tôi tìm thấy một người sẵn sàng kể cho tôi nghe rằng Dennis Baker và một số cảnh sát làm việc cùng hắn vốn vẫn thực hiện những âm mưu tống tiền trong thành phố”.

    Duncan trình bày về những âm mưu bí mật bỏ ma túy vào người các doanh nhân hoặc con cái họ, rồi đòi những khoản tiền khổng lồ để lờ đi tội trạng.

    “Chỗ ma túy bị mất ở 118”, Pulaski nói.

    Sachs gật đầu. “Không đủ để bán, tuy nhiên đủ để dàn dựng chứng cứ, chắc chắn thế rồi.”

    Duncan bổ sung: “Tôi nghe nói bọn chúng lấy địa điểm tụ tập tại một quán bar khu Hạ Manhattan”.

    “Quán Thánh James?”

    “Đúng đấy. Tất cả bọn chúng sẽ gặp nhau sau khi kết thúc các ca trực tại đồn.”

    Rhyme hỏi: “Bạn anh. Người bị giết. Anh ta tên gì?”.

    Duncan khai tên bạn và Sellitto gọi cho bộ phận Án mạng. Anh ta đã không khai man. Người đàn ông kia bị bắn trong trường hợp có vẻ là một vụ cướp và chẳng thấy đối tượng nào bị tóm cổ.

    “Tôi sử dụng mối quan hệ mà tôi thiết lập tại câu lạc bộ, phải trả anh ta rất nhiều tiền, để được giới thiệu với những người biết Baker. Tôi đóng vai sát thủ chuyên nghiệp và để nghị làm việc cho hắn. Tôi chẳng thấy động tĩnh gì một thời gian. Tôi nghĩ hắn đã bị giáng cấp hoặc hoàn lương rồi và tôi sẽ không bao giờ nhận được tin tức từ hắn. Thật đáng thất vọng. Nhưng cuối cùng, Baker gọi cho tôi và chúng tôi gặp nhau. Hóa ra hắn đã kiểm tra tôi để xem tôi có tin cậy được không. Rõ ràng là hắn hài lòng. Hắn không nói với tôi chi tiết lắm nhưng nói rằng hắn có một phi vụ đang lâm nguy. Hắn và một cảnh sát nữa đã giải quyết vài “vấn đề” bọn hắn gặp phải.”

    Sachs hỏi: “Creeley hay Sarkowski? Hắn có nhắc tới họ không?”.

    “Hắn không nói với tôi bất cứ cái tên nào, nhưng hiển nhiên là hắn nói đến chuyện giết người.”

    Sachs lắc đầu, ánh mắt đầy phiền muộn. “Nghĩ rằng một số cảnh sát ở 118 nhận lại quả từ các băng nhóm tội phạm tôi đã đủ cảm thấy lo lắng rồi. Rốt cuộc thì bọn chúng lại thực sự là những kẻ giết người.”

    Rhyme liếc nhìn Sachs. Anh biết cô sẽ nghĩ về Nick Carelli. Sẽ nghĩ về cha cô nữa.

    Duncan tiếp tục: “Rồi Baker nói có rắc rối mới. Hắn cần loại bỏ một người khác, một nữ thám tử. Nhưng bọn hắn không thể tự sát hại cô ta, nếu cô ta chết tất cả mọi người sẽ biết nguyên nhân là vì cuộc điều tra cô ta đang tiến hành và sẽ theo đuổi điều tra thậm chí còn quyết liệt hơn. Tôi đi đến cái ý tưởng giả vờ làm một kẻ giết người hàng loạt. Và tôi bịa ra một cái tên, Thợ Đồng Hồ”.

    Sellitto nói: “Đó là lý do tại sao không có kết quả gì khi kiểm tra các hiệp hội thợ đồng hồ”. Họ chẳng thu thập được tí thông tin tích cực nào về một người mang tên Gerald Duncan.

    “Phải. Toàn bộ nhân vật này là sự sáng tạo của tôi. Và tôi cần ai đó cung cấp thông tin cho các ông, khiến các ông nghĩ rằng thực sự có một kẻ tâm thần, bởi vậy tôi đã tìm thấy Vincent Reynolds. Rồi chúng tôi bắt đầu các vụ tấn công. Tôi làm giả hai trường hợp đầu tiên, khi Vincent chưa xuất hiện. Những trường hợp sau, khi gã đã đi cùng tôi, tôi cố ý để thất bại.”

    “Tôi phải làm sao cho các ông chắc chắn phát hiện ra hộp đạn sẽ trở thành mắt xích nối Thợ Đồng Hồ và Baker. Tôi định đánh rơi nó ở chỗ nào đó cho các ông tìm thấy. Nhưng...” Duncan bật cười. “Hóa ra tôi đã chẳng phải làm vậy. Các ông tìm thấy chiếc SUV và suýt bắt được chúng tôi.”

    “Đấy là lý do tại sao anh bỏ hộp đạn lại xe.”

    “Vâng. Cả cuốn sách nữa.”

    Thêm một ý nghĩ khác xuất hiện trong Rhyme. “Và người sĩ quan khám xét ga ra nói thật lạ lùng khi anh đỗ nó khá lộ liễu, không phải ở lối ra vào. Đó là vì anh phải đảm bảo rằng chúng tôi sẽ tìm thấy chiếc Explorer.”

    “Chính xác. Và tất cả những vụ được coi như phạm tội kia chỉ để dẫn đến vụ này, để các ông có thể bắt quả tang Baker đang định sát hại cô ấy. Theo tôi tính toán, việc này sẽ cho các ông lý do khám xét xe và nhà hắn, phát hiện ra các bằng chứng tống khứ hắn đi.”

    “Còn bài thơ thì sao? Vầng Trăng Lạnh tròn vành vạnh…

    “Tôi tự sáng tác.” Duncan mỉm cười. “Tôi làm kinh doanh giỏi hơn làm thơ. Nhưng có vẻ nó đủ đáng sợ để đạt được những điều tôi cần.”

    “Tại sao anh lựa chọn những người ấy làm nạn nhân?”

    “Tôi không lựa chọn những người ấy. Tôi lựa chọn địa điểm vì những địa điểm ấy cho phép chúng tôi chạy trốn nhanh chóng. Người cuối cùng này, người phụ nữ ở đây, được lựa chọn vì tôi cần một sự bố trí thích hợp để lôi Baker ra ánh sáng.”

    “Để trả thù cho bạn anh?”, Sachs hỏi. “Nhiều người đã có thể bị hắn giết thẳng tay.”

    Duncan nói chân thành: “Tôi chưa bao giờ làm hại bất cứ ai. Tôi chẳng thể nào làm được việc đó. Tôi có lẽ đã hơi uốn cong pháp luật một tí, tôi thừa nhận rằng tôi đã phạm tội. Nhưng họ không hề là nạn nhân. Tôi thậm chí cũng không đánh cắp hai chiếc xe, Baker tự lấy chúng, từ một khu vực giam giữ xe của cảnh sát”.

    “Người phụ nữ được coi như em gái nạn nhân đầu tiên?”, Sachs hỏi. “Chị ta là ai?”

    “Một người bạn tôi nhờ giúp đỡ. Mấy năm trước tôi cho cô ta vay rất nhiều tiền nhưng cô ta không có cách nào trả được. Bởi vậy cô ta đồng ý giúp đỡ tôi.”

    “Còn cô bé trong xe chị ta?”, Sachs hỏi.

    “Con gái cô ta thật.”

    “Người phụ nữ đó tên gì?”

    Một cái mỉm cười vẻ lấy làm tiếc. “Tôi sẽ giữ nó cho tôi thôi. Đã hứa với cô ta như thế rồi. Hoàn toàn giống như cái tay tại câu lạc bộ giới thiệu tôi cho Baker. Đó là một phần của thỏa thuận và tôi phải dứt khoát tuân thủ.”

    “Còn ai nữa dính líu tới vụ tống tiền ở 118, ngoài Baker?”

    Duncan lắc đầu tỏ vẻ lấy làm tiếc. “Tôi ước gì tôi có thể nói với các vị. Tôi cũng muốn bọn chúng bị tống khứ y như Baker. Tôi đã cố gắng tìm hiểu. Hắn không tiết lộ. Nhưng tôi có cảm nhận là còn một người nào đó nữa ngoài những sĩ quan ở cái đồn cảnh sát khu vực ấy.”

    “Một người nào đó nữa?”

    “Đúng thế. Ở trên cao.”

    “Từ Maryland hay nơi nào?”, Sachs hỏi.

    “Tôi chưa bao giờ nghe hắn đề cập tới. Hắn tin tưởng tôi nhưng chỉ ở một khía cạnh thôi. Tôi không nghĩ hắn e ngại tôi báo cảnh sát, có vẻ hắn sợ tôi sẽ nổi máu tham và sẽ tự giành lấy số tiền. Xem chừng rất nhiều tiền.”

    Một chiếc xe loại để chạy trong thành phố màu sẫm chạm đến dải băng đánh dấu hiện trường của cảnh sát, và một người đàn ông dáng thanh mảnh, hói đầu, mặc áo choàng mỏng bước ra. Ông ta đến chỗ Rhyme và mọi người. Ông ta là trợ lý cao cấp cho ủy viên công tố bang. Rhyme từng làm chứng tại mấy phiên tòa do người đàn ông này đứng ra khởi kiện. Nhà hình sự học gật đầu chào và Sellitto trình bày những diễn biến mới nhất.

    Vị công tố viên lắng nghe về chiều hướng kỳ lạ của vụ án. Hầu hết các đối tượng ông ta vốn vẫn xử lý thuộc loại ngu xuẩn tham gia băng nhóm kiểu Tony Soprano hoặc bọn nghiện ngập, du côn thậm chí còn ngu xuẩn hơn thế. Ông ta xem chừng thích thú thấy mình gặp được một kẻ tội phạm xuất sắc – kẻ gây những tội ác hóa ra còn lâu mới nghiêm trọng như vẻ bề ngoài. Điều khiến ông ta phấn chấn hơn nữa so với một trường hợp giết người hàng loạt là một vụ khởi tố làm nên sự nghiệp liên quan đến đường dây tham nhũng quá nghiêm trọng trong Sở Cảnh sát.

    “Chuyện này đã có gì đi qua Sở Nội vụ chưa?”, ông ta hỏi Sachs.

    “Chưa. Tôi vẫn đang tự giải quyết.”

    “Ai duyệt?”

    “Flaherty.”

    “Bà thanh tra ấy à? Người phụ trách Phòng Tác chiến?”

    “Phải.”

    Ông ta bắt đầu đặt các câu hỏi và ghi chép lại. Sau đấy, nắn nót viết, ông ta ngừng hỏi năm phút “Được rồi, chúng ta có tội xâm nhập trái phép... nhưng không phải đột nhập.”

    Đột nhập là vào một khu vực với mục đích phạm các tội nặng như đạo tặc hay giết người. Duncan không có mục đích nào khác ngoài việc xâm nhập.

    Vị công tố viên tiếp tục: “Tội đánh cắp xác chết...”.

    “Mượn thôi. Tôi không hề có ý định giữ cái xác”, Duncan nhắc nhở.

    “Chà, tùy thuộc vào quyết định ở Westchester. Nhưng ở đây chúng ta cũng gặp một cản trở đối với công lý, sự can thiệp của các thủ tục cảnh sát.”

    Duncan cau mày. “Tôi cứ nghĩ ông có thể nói rằng bởi trước không xảy ra vụ án mạng nào, các thủ tục cảnh sát là không cần thiết, nên sự can thiệp về phía họ là vấn đề còn phải bàn bạc.”

    Rhyme tủm tỉm cười.

    Tuy nhiên, trợ lý ủy viên công tố bang phớt lờ lời bình luận.

    “Tội sở hữu một khẩu súng...”

    “Nòng đã bị bịt”, Duncan phản bác. “Nó không thể bắn được.”

    “Còn những chiếc xe bị đánh cắp thì sao? Xuất xứ của chúng?”

    Duncan trình bày về việc Baker đã lấy chúng từ nơi giam giữ xe của cảnh sát ở Queens. Anh ta hất đầu chỉ đống tài sản cá nhân của mình, bao gồm bộ chìa khóa xe ô tô. “Chiếc Buick được đỗ trên phố. Phố Ba mươi mốt. Baker lấy nó và chiếc SUV cùng một chỗ.”

    “Làm sao anh nhận được xe? Còn ai dính líu vào nữa không?”

    “Baker và tôi cùng nhau đi lấy. Chúng được đỗ ở bãi đỗ xe của một nhà hàng. Baker nói hắn biết mấy người làm việc tại đó.”

    “Anh có tên họ không?”

    “Không.”

    “Nhà hàng gì?”

    “Một quán ăn Hy Lạp nào đấy. Tôi không nhớ tên. Chúng đi cái tuyến tàu điện ngầm số 495. Tôi không nhớ lối ra nhưng sau khi lên khỏi đường hầm Midtown và rẽ trái chúng tôi chỉ mất chừng mười phút là tới được xa lộ.”

    “Phía bắc”, Sellitto nói. “Chúng tôi sẽ cho người kiểm tra. Có thể Baker đã buôn bán cả các xe bị tịch thu nữa.”

    Vị công tố viên lắc đầu. “Tôi hy vọng anh hiểu hậu quả của chuyện này. Đâu chỉ đơn giản là phạm tội, anh sẽ phải nộp phạt dân sự cho việc huy động xe cộ và các nhân viên thực thi pháp luật. Tôi đang nói tới hàng chục, hàng trăm nghìn đô la.”

    “Đối với tôi không có vấn đề gì. Trước khi bắt đầu tôi đã nghiên cứu luật và các quy định về kết án rồi. Tôi quyết định rằng vạch mặt được Baker thì vào ngồi tù cũng đáng. Nhưng tôi sẽ không hành động như thế nếu có bất cứ nguy cơ nào khiến người vô tội bị làm hại.”

    “Dù sao anh vẫn đặt người ta vào chỗ nguy hiểm”, Sellitto lẩm bẩm. “Pulaski bị tấn công trong cái ga ra đỗ xe mà anh bỏ chiếc SUV lại. Cậu ấy có thể bị giết chết.”

    Duncan bật cười.

    “Không, không, tôi là người đã cứu anh ta. Sau khi chúng tôi bỏ chiếc Explorer lại và đang chạy khỏi ga ra, tôi phát hiện ra gã vô gia cư đó. Tôi không thích bộ dạng của gã. Gã cầm trong tay một cái gậy tày hay một cái móc lốp bằng sắt hay đại loại vậy. Sau khi Vincent và tôi mỗi người đi một hướng, tôi quay lại ga ra để chắc chắn rằng gã kia không làm hại ai. Khi gã bắt đầu tiến về phía anh – Duncan liếc nhìn Pulaski – tôi tìm thấy một nắp trục bánh xe trong thùng rác và ném nó vào tường để làm anh quay lại, nhìn thấy gã.”

    Chàng cảnh sát trẻ gật đầu. “Sự việc xảy ra như thế thật. Tôi cứ nghĩ gã đàn ông trượt chân và tự gây ra tiếng động. Nhưng dù sao chăng nữa, tôi cũng đã sẵn sàng chiến đấu khi gã tiến đến tôi. Và có một nắp trục bánh xe ở gần đấy thật.”

    “Còn Vincent?”, Duncan tiếp tục. “Tôi đã đảm bảo rằng hắn không bao giờ tiếp cận gần bất cứ phụ nữ nào đủ để làm hại họ. Tôi luôn luôn là người gọi 911 và trình báo về hắn. Tôi có thể chứng minh điều này.” Anh ta khai chi tiết thời gian và địa điểm những lần kẻ hiếp dâm bị bắt – khẳng định rằng anh ta là người đã gọi cảnh sát.

    Vị công tố viên trông như thể cần nghỉ giải lao. Ông ta liếc nhìn các ghi chép, rồi Duncan, xoa xoa cái đầu hói bóng loáng. Đôi tai ông ta đỏ ửng lên vì lạnh. “Tôi phải trao đổi với ủy viên công tố bang về vụ này.” Ông ta ngoảnh sang hai thám tử của Sở Cảnh sát New York đã gặp ông ta ở đây. Vị công tố viên hất đầu chỉ Duncan và nói: “Đưa anh ta vào trung tâm. Và cử một người canh chừng anh ta cho sát sao, hãy nhớ rằng anh ta đang tố cáo những cảnh sát biến chất. Bọn họ có thể muốn bắn gục anh ta”.

    Duncan được kéo đứng dậy.

    Amelia Sachs hỏi: “Tại sao anh không đơn giản là đến chỗ chúng tôi và nói với chúng tôi những gì đã xảy ra? Hoặc ghi âm lời Baker thừa nhận những việc hắn đã làm? Như thế thì anh đã có thể tránh được toàn bộ trò đố chữ này”.

    Duncan bật tiếng cười gằn. “Và ai tôi có thể tin tưởng? Ai tôi có thể gửi băng ghi âm? Làm sao tôi biết ai trung thực và ai đang hợp tác với Baker?... Đó là một thực tế của cuộc đời, chị biết đấy.”

    “Cái gì cơ?”

    “Những cảnh sát biến chất.”

    Rhyme để ý thấy Sachs không hề bộc lộ phản ứng nào trước lời bình luận này, trong lúc hai sĩ quan mặc đồng phục dẫn đối tượng của họ ra xe cảnh sát.


    * * *


    Họ lại là, ít nhất cũng tạm thời, một nhóm.

    Anh và em, Sachs...

    Vụ của Lincoln Rhyme đã trở thành vụ của Amelia Sachs và nếu Thợ Đồng Hồ hóa ra vô hại, vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Vụ bê bối tham nhũng ở đồn 118 bây giờ trở thành “ưu tiên số một”, theo lời của Sellitto. Kẻ hoặc những kẻ giết Benjamin Creeley và Frank Sarkowski phải được xác định danh tính, đặc biệt trong số các cảnh sát bị tình nghi mắc tội đồng lõa. Và vụ Baker phải được điều tra ghép vào với vụ này, cũng như mối liên hệ ở Maryland – cùng đường dây tống tiền – phải được khám phá.

    Kathryn Dance tình nguyện phỏng vấn Baker, nhưng gã không chịu nói một lời nên cả nhóm lại phải dựa vào công việc khám nghiệm hiện trường và điều tra kiểu truyền thống.

    Theo chỉ đạo của Rhyme, Pulaski đang kiểm tra các cuộc điện thoại của Baker, nghiên cứu sổ sách ghi chép và thiết bị Palm Pilot[70] của gã, cố gắng tìm hiểu xem gã hay gặp gỡ ai nhất, và hay gặp gỡ ai nhất ở đồn 118, nhưng không phát hiện được gì hữu ích. Mel Cooper và Sachs thì phân tích các chứng cứ từ xe, ngôi nhà ở Long Island và văn phòng ở Sở Cảnh sát New York của Baker, cũng như nơi ở của vài cô bạn gái gã đang hẹn hò gần đây (hóa ra chẳng cô nào biết cô nào). Sachs đã khám xét tất cả bằng sự cần mẫn đặc trưng của cô và quay lại chỗ Rhyme với một đống hộp đựng quần áo, dụng cụ, sổ séc, tài liệu, ảnh, vũ khí và dấu vết từ ta lông bánh xe.

    Sau một tiếng đồng hồ nghiên cứu kỹ lưỡng toàn bộ những thứ đó, Cooper tuyên bố: “A! Có một cái gì đây”.

    “Cái gì?”, Rhyme hỏi.

    Sachs nói với anh: “Tìm thấy ít tro trong mớ quần áo lấy từ xe của Baker .

    “Và?”, Sellitto hỏi.

    Cooper nói thêm: “Giống hệt tro tìm thấy ở lò sưởi nhà Creeley. Hắn bị đặt vào hiện trường rồi”.

    Họ cũng phát hiện ra một sợi vải vương trong ga ra của Baker phù hợp với đoạn dây được sử dụng vào vụ “tự tử” của Creeley.

    “Tôi muốn liên hệ Baker với cả cái chết của Sarkowski nữa”, Rhyme nói. “Hãy cử Nancy Simpson và Frank Rettig sang Queens, nơi họ đã phát hiện ra xác anh ta. Lấy mấy mẫu đất. Chúng ta có thể cũng sẽ đặt được Baker hoặc một trong số các chiến hữu của hắn vào đó.”

    Sachs giải thích: “Chỗ đất tôi tìm thấy tại nhà Creeley, phía trước lò sưởi, chứa các hóa chất, giống như đất từ một khu công nghiệp. Nó có thể phù hợp”.

    “Tốt.”

    Sellitto gọi cho Đơn vị Khám nghiệm hiện trường ở Queens và yêu cầu lấy mẫu đất.

    Sachs và Cooper cũng tìm thấy những mẫu cát và một loại thực vật mà rốt cuộc hóa ra là rong biển. Chúng được tìm thấy trong xe của Baker.

    “Cát và rong biển”, Rhyme bình luận. “Có thể là một ngôi nhà nghỉ mùa hè, lại liên quan đến Maryland. Có thể Baker có một ngôi nhà như thế hoặc bạn gái của hắn.”

    Nhưng kiểm tra cơ sở dữ liệu về nhà đất thì không phải vậy.

    Sachs kéo chiếc bảng gắn bánh xe từ phòng tập thể dục của Rhyme sang, ghi lên những chứng cứ mới nhất. Rõ ràng là thất vọng, cô đứng lùi lại và đăm đăm nhìn các ký hiệu.

    “Mối liên hệ ở Maryland”, Sachs nói. “Chúng ta phải khám phá ra. Nếu bọn chúng đã giết hai người, và suýt giết cả em lẫn Ron, bọn chúng sẽ sẵn sàng hành động tiếp. Bọn chúng biết rằng chúng ta đang siết chặt vòng vây và không muốn có nhân chứng đâu. Và có thể ngay bây giờ bọn chúng đang hủy các chứng cứ.”

    Sachs im lặng. Cô trông bối rối.

    Thật khó khăn khi người tình cũng lại là người cộng sự trong công việc. Nhưng Lincoln Rhyme chẳng thể ngăn cản, thậm chí – đặc biệt – với Amelia Sachs. Anh nói bằng giọng trầm, đều đều: “Đây là vụ của em, Sachs ạ. Em đã duy trì nó. Không phải anh. Nó hướng đến đâu?”.

    “Em không biết.” Sachs bấm ngón cái vào một ngón tay khác. Miệng mím chặt cô lắc đầu, đăm đăm nhìn bảng chứng cứ. Những đầu mối lỏng lẻo. “Chưa có đủ bằng chứng.”

    Không bao giờ có đủ bằng chứng”, Rhyme nhắc nhở cô. “Nhưng đó đâu phải một câu xin lỗi. Đó là lý do chúng ta ở đây, Sachs ạ. Chúng ta là những người xem xét vài viên gạch bẩn thỉu và xác định toàn bộ tòa lâu đài trông ra sao.”

    “Em không biết.”

    “Anh không thể giúp đỡ em, Sachs. Em phải tự tìm hiểu điều này. Hãy suy nghĩ về những gì chúng ta đã có. Một kẻ nào đó với một mối liên hệ ở Maryland... Một kẻ nào đó bám theo em trong một chiếc Mercedes... nước mặn và rong biển... tiền mặt, rất nhiều tiền mặt. Những cảnh sát biến chất.”

    “Em không biết”, Sachs nhắc lại gay gắt.

    Nhưng Rhyme không hề lùi một phân. “Đó không phải một sự lựa chọn. Em phải biết.”

    Sachs nhìn chằm chằm vào Rhyme – và vào cái thông điệp cứng rắn bên dưới những lời lẽ kia: Ngày mai em có thể bước qua cánh cửa này và quăng nghề nghiệp đi nếu muốn. Nhưng bây giờ thì em vẫn là một cảnh sát với công việc em phải làm.

    Những móng tay Sachs lo lắng gãi đầu.

    “Có một điều nữa, một điều em đang bỏ qua”, Rhyme lẩm bẩm trong lúc anh cũng đăm đăm nhìn các bảng chứng cứ.

    “Nghĩa là, sếp đang bảo chúng tôi phải suy nghĩ vượt ra bên ngoài cái hộp[71]”, Ron Pulaski nói.

    “A, câu cách ngôn sáo rỗng”, Rhyme quát. “Chà, được, nếu cậu ở trong một cái hộp, có thể cậu có lý do để ở trong đó. Tôi bảo đừng có nghĩ vượt ra bên ngoài, tôi bảo hãy nhìn gần hơn những gì cũng đang ở trong đó với cậu... Sao, Sachs, em nhìn thấy gì?”

    Cô đăm đăm nhìn các bảng chứng cứ một lúc.

    Rồi cô mỉm cười thì thầm: “Maryland”.


    VỤ ÁN MẠNG BENJAMIN CREELEY

    - Creeley, 56 tuổi, có vẻ đã treo cổ tự tử. Bằng dây phơi. Nhưng bị gãy một ngón cái. Không thể buộc nút thòng lọng được.

    - Thư tuyệt mệnh soạn trên máy vi tính nói tới tâm trạng chán nản. Tuy nhiên, xem ra không chán nản đến nỗi phải tự tử. Không có tiền sử về các vấn đề tâm thần/tình cảm.

    - Khoảng dịp lễ Tạ ơn, hai gã đàn ông đã đột nhập nhà Creeley và có lẽ đã đốt hết chứng cứ. Hai gã đàn ông da trắng, nhưng không bị nhận diện. Một gã to lớn hơn gã kia. Bọn họ vào nhà trong khoảng một tiếng đồng hồ.

    - Chứng cứ tại ngôi nhà ở Westchester:

    + Khóa bị bẻ, một cách khéo léo.

    + Dấu vết của chất liệu da trên dụng cụ lò sưởi và bàn làm việc của Creeley.

    + Đất bám phía trước lò sưởi có nồng độ acid cao hơn đất ở xung quanh ngôi nhà và chứa chất ô nhiễm. Từ một khu công nghiệp chăng?

    + Dấu vết của cocaine bị đốt cháy trong lò sưởi.

    - Chỗ tro trong lò sưởi.

    + Là sổ sách tài chính, các bảng quyết toán, liên quan đến hàng triệu đô la.

    + Đang kiểm tra logo trên văn bản, gửi số liệu cho nhân viên giám định kế toán.

    + Về đoạn nhật ký: thay dấu xe, hẹn cắt tóc, và tới Tửu quán Thánh James.

    - Phân tích chỗ tro do phòng thí nghiệm ở Queens tiến hành:

    + Logo phần mềm được sử dụng trong kế toán doanh nghiệp.

    + Ý kiến của nhân viên giám định kế toán: con số phụ cấp cho các giám đốc điều hành theo dung tiêu chuẩn.

    + Bị đốt vì thong tin chúng chứa đựng, hay để đánh lạc hướng điều tra?

    - Tửu quán Thánh James.

    + Creeley đã tới đây vài lần.

    + Có vẻ không sử dụng ma túy ở đây.

    + Không chắc chắn về những đối tượng ông ta gặp, tuy nhiên có thể là những cảnh sát đồn 118 thuộc Sở Cảnh sát New York đóng gần đó.

    + Lần cuối cùng tới đây – ngay trước khi chết – ông ta cãi nhau với những người chưa xác định được danh tính.

    + Đã kiểm tra tiền do những cảnh sát trả tại quán Thánh James, số sê–ri không bị đánh dấu, nhưng phát hiện thấy dấu vết cocaine và heroin. Ma túy ăn cắp từ đồn chăng?

    + Ma túy thất thoát không nhiều, chỉ gần 200 gr cần sa và hơn 100 gr cocaine.

    - Một số vụ tội phạm có tổ chức được xử lý bất thường ở đồn 118, nhưng không phát hiện thấy chứng cứ của việc cố ý trì hoãn.

    - Hai băng tại East Village có thể đã tiến hành giết Creeley, tuy nhiên không phải là đối tượng tình nghi đặc biệt.

    - Phỏng vấn Jordan Kessler, đối tác của Creeley, tiếp theo phỏng vấn bà vợ.

    + Khẳng định là không trông thấy ông ta sử dụng ma túy.

    + Tỏ ra không liên quan tới các đối tượng tội phạm.

    + Uống rượu nhiều hơn bình thường, bắt đầu đánh bạc. Có những chuyến đi đến Vegas và Atlantic City. Thua lớn, nhưng không đáng kể đối với Creeley.

    + Không xác định được tại sao ông ta chán nản.

    + Kessler không nhận ra các sổ sách bị đốt.

    + Đang chờ đợi danh sách khách hàng.

    + Kessler có vẻ không được lợi gì từ cái chết của Creeley.

    - Sachs và Pulaski bị một chiếc Mercedes AMG bám theo.


    VỤ ÁN MẠNG FRANK SARKOWSKI

    - Sarkowski, 57 tuổi, không có tên trong hồ sơ của cảnh sát, bị giết ngày 4 tháng Mười một năm nay, để lại vợ và hai con đang tuổi thiếu niên.

    - Nạn nhân là chủ sở hữu một tòa nhà và công ty ở khu Manhattan. Chuyên bảo trì các công ty và cơ sở dịch vụ khác.

    - Thám tử Art Snyder chịu trách nhiệm vụ này.

    - Không có đối tượng tình nghi.

    - Giết người/cướp của?

    + Bị bắn chết trong một tình huống có vẻ là một vụ cướp của. Vũ khí thu được tại hiện trường – một khẩu súng làm nhái kiểu Smith & Wesson, cỡ 38, không dấu vân tay, không sổ đăng ký. Thám tử chịu trách nhiệm vụ này cho rằng đây là một vụ giết người thuê chuyên nghiệp.

    - Chuyện kinh doanh đi xuống?

    - Bị giết ở Queens – chưa biết chắc chắn ông ta sang đó làm gì.

    + Tại một khu vực hoang vắng, gần các bể chứa khí tự nhiên.

    - Hồ sơ và chứng cứ thất lạc.

    + Hồ sơ được chuyển đến đồn 158 vào/gần ngày 28 tháng Mười một. Không được trả lại. Không xác định được sĩ quan yêu cầu.

    + Không xác định được nơi hồ sơ đến tại 158.

    + Phó Thanh tra Jefferies không hợp tác.

    - Tỏ ra không có quan hệ với Creeley.

    - Không có tiền án tiền sự – bản thân Sarkowski cũng như công ty.

    - Tin đồn – tiền được chuyển cho cảnh sát đồn 118. Dừng lại ở một ai đó/một chỗ nào đó lien quan đến Maryland. Băng nhóm Baltimore có dính líu?

    + Không manh mối.

    + Không có dấu hiệu băng nhóm dính líu vào.

    + Chưa tìm thấy các mối liên hệ khác với Maryland.


    THỢ ĐỒNG HỒ


    HIỆN TRƯỜNG NĂM

    Địa điểm:

    - Tòa văn phòng, góc phố Ba mươi bảy và đại lộ Bảy.

    Nạn nhân:

    - Amelia Sachs/ Ron Pulaski.

    Đối tượng:

    - Dennis Baker, Sở Cảnh sát New York.

    Phương thức hành động:

    - Sử dụng súng (mưu sát).

    Chứng cứ:

    - Súng ngắn Autauga Mk II cỡ 32.

    - Găng tay cao su.

    - Thu được từ xe, nhà và văn phòng của Baker:

    + Cocaine.

    + 50.000 đô la tiền mặt.

    + Quần áo.

    + Hóa đơn từ các câu lạc bộ và quán bar, bao gồm cả quán Thánh James.

    + Những sợi thảm từ chiếc Explorer.

    + Sợi vải phù hợp với đoạn dây được sử dụng trong cái chết của Creeley.

    + Tro tìm thấy tại nhà Baker giống hệt tro tìm thấy trong lò sưởi nhà Creeley.

    + Hiện đang lấy mẫu đất tại khu vực Sarkowski bị giết.

    + Cát và rong biển. Mối liên hệ với vùng ven biển Maryland chăng?

    Các chi tiết khác:

    - Gerald Duncan dựng lên toàn bộ sự việc để vạch mặt Dennis Baker và những kẻ khác đã giết bạn Duncan. Tám hay mười sĩ quan khác đồn 118 có liên quan, chưa biết chắc chắn những người nào. Một người nữa, ngoài các cảnh sát đồn 118, cũng dính líu vào. Duncan không còn là đối tượng tình nghi giết người nữa.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 33

    Amelia Sachs bước vào một cửa hiệu thực phẩm bé tí bị bỏ hoang trong khu Tiểu Ý[72], phía nam Greenwich Village. Các ô kính cửa sổ được quét sơn kín và duy nhất một bóng đèn không chao chiếu sáng bên trong. Cánh cửa thông sang căn phòng đằng sau hé mở, để lộ một đống rác lớn, những chiếc giá cũ và những hộp xốt cà chua bụi bặm.

    Cái chốn trông giống như chốn vốn là câu lạc bộ của một băng nhóm tội phạm có tổ chức loại tẹp nhẹp, và thực tế cũng đúng vậy cho tới khi nó bị khám xét và đóng cửa cách đây một năm. Chính quyền thành phố tạm thời sở hữu nó và đang muốn bán rẻ đi, nhưng đến nay chưa có ai mua. Sellitto nói nó sẽ là địa điểm tốt, an toàn đối với một cuộc gặp gỡ nhạy cảm kiểu này.

    Ngồi bên chiếc bàn ọp ẹp là Phó thị trưởng Robert Wallace và một cảnh sát trẻ mày râu nhẵn nhụi, một thám tử của Sở Nội vụ. Viên sĩ quan của Sở Nội vụ, Toby Henson, chào Sachs bằng một cái bắt tay rất chặt và một ánh mắt cho thấy nếu cô chấp nhận lời mời đi chơi với anh ta, anh ta sẽ đem đến cho cô buổi tối đáng nhớ cả đời.

    Cô nghiêm nghị gật đầu, chỉ tập trung vào cái công việc khó khăn đang ở trước mặt. Cô đã suy nghĩ lại, nhìn bên trong cái hộp, như ý kiến thúc giục của Rhyme, và kết quả hóa ra là cực kỳ khó chịu.

    “Cô bảo có một tình thế phức tạp à?”, Wallace hỏi, “Cô không muốn trao đổi trên điện thoại.”

    Sachs trình bày với hai người đàn ông về Gerald Duncan và Dennis Baker. Wallace đã được nghe cơ bản câu chuyện, nhưng Henson ngạc nhiên cười thành tiếng. “Cái tay Duncan này, anh ta chỉ là một công dân? Và anh ta muốn gạt bỏ một cảnh sát biến chất? Đó là lý do tại sao anh ta đã hành động?”

    “Phải.”

    “Anh ta có những cái tên chứ?”

    “Chỉ của Baker. Có khoảng tám hay mười người khác ở 118, tuy nhiên có một người nữa, một người chơi chính.”

    “Một người nữa à?”, Wallace hỏi.

    “Phải. Chúng tôi đang tìm kiếm một người với một mối liên hệ ở Maryland… Liệu chúng tôi có sai lầm không?”

    “Maryland à?”, viên sĩ quan của Sở Nội vụ hỏi.

    Sachs bật tiếng cười nghiêm trang. “Anh biết trò điện thoại chứ?”

    “Chị muốn nói tới một trò của bọn trẻ con trong những bữa liên hoan? Một đứa thì thầm điều gì đó với đứa bên cạnh và khi thông tin truyền đi xung quanh bàn, nó trở nên sai lệch?”

    “Phải. Nguồn tin của tôi nghe được là Maryland. Tôi thì nghĩ đó là Marilyn.”

    “Một tên người?” Khi Sachs gật đầu, cặp mắt Wallace nheo lại. “Hẵng hượm, cô không muốn nói là…”

    “Thanh tra Marilyn Flaherty.”

    “Chẳng thể nào.”

    Thám tử Henson lắc đầu. “Đâu có nhẽ.”

    “Tôi ước gì tôi nhầm. Nhưng chúng tôi nắm trong tay một số bằng chứng. Chúng tôi tìm thấy cát và dấu vết nước biển trong xe của Baker. Bà ta có ngôi nhà ở Connecticut, bên bãi biển.Và tôi đã bị ai đó đi một chiếc Mercedes AMG bám đuôi. Đầu tiên, tôi nghĩ đó là một băng nhóm từ Jersey hay Baltimore. Nhưng hóa ra Flaherty có sở hữu một chiếc Mercedes.”

    “Một cảnh sát sở hữu một chiếc AMG?”, viên sĩ quan của Sở Nội vụ hỏi với vẻ không tin được.

    “Đừng quên Flaherty là một cảnh sát kiếm mỗi năm vài trăm nghìn bất hợp pháp”, Sachs nghiêm khắc nói. “Và chúng tôi tìm thấy vài món tóc màu muối tiêu dài khoảng bằng tóc bà ta trong chiếc Explorer Baker đánh cắp từ nơi giam giữ xe của cảnh sát. Ồ, và hãy nhớ, bà ta dứt khoát không muốn Sở Nội vụ giải quyết vụ việc.”

    “Đúng, điều ấy rất lạ lùng”, Wallace tán thành.

    “Vì bà ta dự định sẽ vùi lấp tất cả. Giao nó cho một người của bà ta “giải quyết”. Nhưng rồi nó sẽ tan biến đi.”

    “Tệ hại quá, một thanh tra”, anh chàng đẹp trai của Sở Nội vụ thì thào.

    “Bà ta đang bị giam à?” Wallace hỏi.

    Sachs lắc đầu: “Vấn đề là chúng tôi không thể tìm thấy số tiền. Chúng tôi không có lý do chắc chắn để gửi trát yêu cầu được xem xét tài khoản ngân hàng của bà ta hay giấy tờ để khám nhà bà ta. Bởi vậy chúng tôi cần ông.”

    Wallace hỏi: “Tôi có thể làm gì?”

    “Tôi đã đề nghị bà ta gặp chúng ta tại đây. Tôi sẽ tường thuật với bà ta những sự việc đã xảy ra, chỉ là tường thuật sơ qua thôi. Tôi muốn ông cho bà ta biết là chúng ta đã khám phá ra được là Baker có một kẻ cộng tác. Ông thị trưởng đã triệu tập một ủy ban đặc biệt và ông ấy sẽ dốc hết sức để lần đến bọn họ. Hãy nói với bà ta rằng Sở Nội vụ đảm nhận toàn bộ vụ này.”

    “Cô nghĩ bà ta sẽ ngay lập tức xử lý số tiền đó và cô sẽ tóm cổ bà ta?”

    “Đấy là điều chúng tôi hy vọng. Cộng sự của tôi sẽ cài một thiết bị theo dõi lộ trình trên xe bà ta khi bà ta ở trong này tối hôm nay. Và sau khi bà ta rời khỏi đây, chúng tôi sẽ bám đuôi… Nào; ông thấy việc nói dối bà ta có ổn không?”

    “Không, tôi thấy không ổn.” Wallace nhìn xuống mặt bàn xù xì, bị khắc đầy các hình vẽ và chữ viết. “Nhưng tôi sẽ thực hiện được.”

    Thám tử Toby Henson rõ ràng đã mất hết sự quan tâm đến chuyện hẹn hò trong tương lai với Sachs. Anh ta thở dài và đưa ra một đánh giá mà cô không thể nào không đồng tình. “Việc này sẽ tồi tệ đây.”



    Nào, chúng ta đã học được gì?

    Ron Pulaski, quen nghĩ là chúng ta vì có người anh em sinh đôi, tự hỏi.

    Tức, ta đã học được gì khi giải quyết vụ này cùng Rhyme và Sachs?

    Anh quyết tâm trở thành một cảnh sát giỏi nhất trong phạm vi khả năng của mình và anh dành rất nhiều thời gian đánh giá những gì mình đã làm đúng, những gì mình đã làm sai. Bây giờ, bước xuôi theo con phố về phía cái của hiệu thực phẩm cũ nơi Sachs đang gặp Wallace, anh thực sự không thể thấy mình đã làm hỏng bét việc gì ở vụ này. Ồ, chắc chắn rồi, anh đáng lẽ đã có thể khám nghiệm hiện trường chiếc Explorer tốt hơn. Và từ nay dứt khoát anh sẽ đeo vũ khí ra bên ngoài bộ áo liền quần Tyvek – và không sử dụng các thế khóa họng, trừ phi hết sức cần thiết.

    Nhưng về tổng thể? Pulaski đã thực hiện nhiệm vụ khá tốt.

    Tuy nhiên, anh vẫn chưa hài lòng. Anh cho rằng cảm giác này xuất phát từ chỗ làm việc cho thám tử Sachs. Cô gái ấy yêu cầu cao. Luôn luôn có một cái gì đó nữa cần kiểm tra, một manh mối nữa cần tìm thấy, thêm một tiếng đồng hồ nữa trên hiện trường.

    Có thể khiến người ta phát điên.

    Cũng có thể dạy người ta trở thành một cảnh sát xuất sắc.

    Bây giờ, Pulaski sẽ thực sự phải tiến lên, với việc Sachs rời lực lượng. Pulaski đã nghe tin đồn về việc này, tất nhiên, và nó khiến anh cảm thấy không vui. Nhưng anh sẽ làm những gì cần thiết. Dù sao, anh cũng không biết liệu có bao giờ anh có được lòng quyết tâm và nỗ lực như cô không. Suy cho cùng, lúc này, vội vã bước xuôi theo con phố lạnh băng, anh đang nghĩ về gia đình mình. Anh thật lòng chỉ muốn về nhà ngay. Nói chuyện với Jenny về ngày hôm nay của cô – không phải của anh, không không – và rồi chơi cùng bọn trẻ. Thích thú làm sao, khi quan sát ánh mắt cậu con trai. Nó thay đổi hoàn toàn và rất nhanh chóng – khi cu cậu nhận ra cái gì đó cu cậu chưa nhìn thấy bao giờ, khi cu cậu làm quen, khi cu cậu cười thành tiếng. Anh và Jenny cứ ngồi trên sàn với bé Brad bò tới bò lui ở giữa, những ngón tay bé tí của cu cậu túm lấy ngón tay cái của Pulaski.

    Còn cô con gái mới sinh của họ? Cô bé tròn trĩnh và nhăn nheo như một quả bưởi già, nằm trong chiếc nôi mây SpongeBob gần đó, vui vẻ, hoàn hảo.

    Nhưng niềm vui gia đình của Pulaski phải đợi. Sau những gì sắp sửa xảy ra, sẽ là một đêm dài.

    Anh kiểm tra số phố. Hai khối phố nữa là anh tới cái cửa hiệu nơi anh chuẩn bị gặp Amelia Sachs. Anh đang nghĩ: Ta đã học thêm được gì?

    Một điều: Người ta dứt khoát nên tránh những con hẻm.

    Một năm trước, Pulaski suýt nữa bị đánh chết vì đi quá sát một bức tường và có một đối tượng nấp ở góc tòa nhà. Gã đàn ông đã bước ra, vụt vào đầu anh bằng một cây côn.

    Bất cẩn và ngu ngốc.

    Như thám tử Sachs nói: “Trước đây anh chưa biết. Bây giờ thì anh biết rồi”.

    Lúc này, đang tiến đến gần một con hẻm. Pulaski rẽ ngoặt sang phía tay trái, bước dọc theo lề đường – phòng trường hợp không chắc đã xảy ra là một kẻ nào đó, một tên trấn lột hoặc một gã nghiện, nấp trong con hẻm.

    Anh ngoái lại và nhìn vào, thấy cái dải sỏi không bóng người. Nhưng ít nhất anh cũng khôn ngoan rồi. Làm cảnh sát là như thế, rút kinh nghiệm từ những bài học nhỏ và biến chúng thành một phần của…

    Bàn tay túm lấy Pulaski từ đằng sau.

    “Lạy chúa”, anh thở hổn hển trong lúc bị đẩy qua cửa một chiếc xe thùng đỗ bên lề đường, mà anh đã không trông thấy vì đang mải nhìn vào con hẻm. Anh thở hổn hển và bắt đầu cất tiếng kêu cứu.

    Nhưng kẻ tấn công Pulaski – Phó thanh tra Halston Jeffreries, cặp mắt ông ta lạnh lẽo như vầng trăng trên đầu họ, lấy bàn tay bịt miệng chàng cảnh sát trẻ. Một người khác giật khẩu súng ngắn của anh và trong vòng vài giây anh biến mất vào phía sau chiếc xe thùng.

    Cánh cửa đóng sầm lại.


    * * *


    Cửa trước cửa hiệu thực phẩm cũ mở ra và Marilyn Flaherty bước vào, đóng cánh cửa lại đằng sau, cài chốt.

    Không mỉm cười, bà ta nhìn xung quanh cái cửa hiệu hoang tàn, gật đầu chào các sĩ quan khác và Wallace. Sachs nghĩ bà ta trông thậm chí còn căng thẳng hơn bình thường.

    Ông phó thị trưởng, giữ vẻ điềm tĩnh, giới thiệu Flaherty với viên thám tử của Sở Nội vụ. Bà ta bắt tay viên thám tử và ngồi xuống chiếc bàn méo mó, bên cạnh Sachs.

    “Tuyệt mật, hả?”

    Sachs nói: “Vụ này hóa ra là việc chọc vào tổ ông bắp cày.”

    Sachs thận trọng quan sát gương mặt người đàn bà trong khi cô trình bày các chi tiết. Bà thanh tra giữ gương mặt lạnh lùng, không biểu cảm. Sachs tự hỏi liệu Kathryn Dance sẽ nhìn thấy gì trong tư thế cứng ngắc của bà ta, cặp môi mím chặt, ánh mắt tinh tường, lạnh lùng. Người đàn bà hầu như bất động.

    Nữ thám tử nói với bà ta về kẻ cộng tác với Baker. Rồi thêm: “Tôi biết bà cảm thấy thế nào về Sở Nội vụ, nhưng, với tất cả sự tôn trọng bà, tôi đã quyết định rằng chúng ta cần đưa họ vào cuộc”.

    “Tôi…”

    “Tôi xin lỗi, bà thanh tra.” Sachs quay về phía Wallace.

    Nhưng viên phó thị trưởng không nói gì. Ông ta đơn giản là lắc đầu, thở dài, rồi liếc nhìn viên sĩ quan Sở Nội vụ. Viên sĩ quan trẻ tuổi rút vũ khí ra.

    Sachs chớp mắt. “Sao… Này, anh đang làm gì thế?”

    Anh ta chĩa súng vào giữa cô và Flaherty.

    “Chuyện này là sao?”, bà thanh tra hổn hển nói.

    “Đó là một mớ bòng bong”, Wallace trả lời, nghe giọng gần như hối tiếc. “Đó thực sự là một mớ bòng bong. Cả hai người, đặt tay lên trên bàn.”


    Viên phó thị trưởng quan sát họ, trong lúc Toby Henson đưa súng của mình cho Wallace chĩa vào hai người phụ nữ.

    Henson hoàn toàn chẳng phải từ Sở Nội vụ, mà gã là một thám tử thuộc đồn 118, tham gia vào vòng trong của đường dây tống tiền, kẻ đã hỗ trợ Dennis Baker giết Sarkowski và Creeley. Bây giờ, gã xỏ vào đôi găng tay da và rút khẩu Glock của Sachs ra khỏi bao. Gã vỗ vỗ người cô xem còn khẩu súng dự trữ nào không. Không có. Gã lục soát cái sắc của bà thanh tra và tước lấy khẩu súng lục công vụ.

    “Cô gọi tên sự việc đúng đấy, thám tử”, Wallace nói với Sachs đang choáng váng nhìn ông ta chằm chằm. “Chúng ta có một tình thế phức tạp… một tình thế phức tạp.” Ông ta rút điện thoại di động gọi cho một trong những cảnh sát canh chừng đằng trước cửa hiệu, cũng tham gia vào trong đường dây tống tiền, “Tất cả xong chưa?”

    “Rồi.”

    Wallace ngắt máy.

    Sachs nói: “Ông à? Là ông à? Nhưng…”. Cô quay đầu sang Flaherty.

    Bà thanh tra hỏi: “Toàn bộ chuyện này là sao?”.

    Viên phó thị trưởng hất đầu chỉ bà thanh tra và nói với Sachs: “Sai lầm lớn. Bà ta chẳng liên quan gì. Dennis Baker và tôi từng là đối tác, tuy nhiên là đối tác làm ăn. Ở Long Island. Chúng tôi đã lớn lên ở đó. Cùng nhau mở một công ty tái chế. Bị phá sản và hắn vào học viện, trở thành cảnh sát. Tôi gây dựng chuyện làm ăn khác. Rồi tôi tham gia vào thể chế chính trị của thành phố và chúng tôi giữ liên lạc với nhau. Tôi trở thành người liên lạc cho cảnh sát và thanh tra viên, cảm nhận được những mưu đồ kiểu nào có thể thực hiện, những mưu đồ kiểu nào thì không. Dennis và tôi tìm thấy một mưu đồ có thể thực hiện.”

    “Robert!”, Flaherty quát. “Không, không…”

    “A. Marilyn…” là tất cả những gì gã đầu bạc có thể thốt lên.

    “Vậy”, Amelia Sachs nói, đôi vai rũ xuống, “kịch bản ở đây là gì?”. Cô bật tiếng cười chán nản. “Bà thanh tra giết tôi rồi tự sát. Ông giấu một ít tiền vào nhà bà ta. Và…”

    “Và Dennis sẽ chết trong tù, hắn dây vào với đám bạn tù bất hảo, ngã lộn cổ trên cầu thang, ai biết đâu đấy? Quá tệ. Nhưng hắn đáng lẽ đã phải thận trọng hơn. Không nhân chứng. Đó là cái kết thúc của vụ án.”

    “Ông nghĩ bất cứ ai cũng có thể mua chuộc được? Một người nào đó ở đồn 118 sẽ rẽ hướng khác. Họ sẽ tóm cổ ông, sớm hay muộn.”

    “Chà, xin lỗi cô, thám tử, nhưng chúng tôi phải dập tắt những đám cháy mà chúng tôi vướng vào, cô có nghĩ vậy không? Và cô là đám cháy lớn nhất mà chúng tôi vướng vào lúc này.”

    “Nghe đây, Robert”, Flaherty nói, giọng gay gắt. “Ông đang gặp rắc rồi, nhưng chưa quá muộn đâu.”

    Wallace xỏ vào đôi găng tay. “Kiểm tra lại ngoài phố đi, bảo chúng nó chuẩn bị xe sẵn sàng.” Viên phó thị trưởng cầm khẩu Glock của Sachs lên.

    Gã đàn ông bước ra cửa.

    Ánh mắt Wallace trở nên lạnh lùng trong lúc ông ta quan sát Sachs và nắm chắc khẩu súng ngắn trong tay.

    Sachs chằm chằm nhìn thẳng vào ông ta. “Hẵng khoan.”

    Wallace cau mày.

    Sachs quan sát ông ta. Bình thản một cách bí hiểm trong hoàn cảnh như thế này, ông ta nghĩ. Rồi cô gọi. “Nhóm phản ứng nhanh số Một, vào đi.”

    Wallace chớp mắt. “Cái gì?”

    Trước sự bàng hoàng của viên Phó thị trưởng, một giọng đàn ông hét to từ căn phòng đằng sau tối om: “Không ai được động đậy! Không tôi sẽ bắn!”

    Thế này là thế nào?

    Thở hổn hển, Wallace nhìn vào, thấy một cảnh sát thuộc đơn vị Phản ứng nhanh đang đứng trên ngưỡng cửa thông giữa hai căn phòng, họng súng máy H&K của anh ta lia từ vị chính trị gia sang gã Henson đang đứng ở cửa trước.

    Sachs thò tay xuống lấy cái gì đó dưới gầm bàn. Bàn tay cô đưa lên kèm theo một khẩu Glock. Cô hẳn đã bố trí nó ở đấy từ trước! Cô xoay người về phía trước, chĩa súng vào Henson. “Buông vũ khí! Nằm xuống sàn!” Người cảnh sát thuộc đơn vị Phản ứng nhanh lại hướng họng súng vào viên phó thị trưởng.

    Wallace, nghĩ trong nỗi khiếp sợ: Ôi, lạy Chúa, đó là một cái bẫy…Một sự dàn dựng hoàn toàn.

    “Nào!”, Sachs thét to nhắc lại.

    Henson lẩm bẩm: “Như cứt”. Gã thực hiện mệnh lệnh.

    Wallace vẫn cầm khẩu Glock của Sachs. Ông ta liếc nhìn xuống nó.

    Mắt trông chừng Henson, Sachs hơi quay về phía Wallace.

    “Khẩu súng ông đang cầm không nạp đạn. Ông sẽ chết chẳng vì lý do gì.”

    Chán nản, Wallace buông khẩu súng xuống bàn và giơ hai tay lên.

    Vẻ hoang mang, thanh tra Flaherty đẩy mạnh chiếc ghế dựa ra đằng sau, đứng bật dậy.

    Sachs nói vào mic cài ở ve áo: “Các nhóm tập kích, bắt đầu”.

    Cửa trước bị đẩy tung và sáu cảnh sát ập vào – các cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh. Theo sau họ là Phó thanh tra Halston Jefferies và Giám đốc Sở Nội vụ. Đại úy Ron Scott. Một sĩ quan tuần tra trẻ tuổi cũng bước vào.

    Các cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh dùng sức mạnh ấn Wallace xuống sàn. Ông ta cảm thấy đau ở hông và các khớp xương. Henson cũng bị còng. Viên phó thị trưởng nhìn ra ngoài và thấy hai cảnh sát khác thuộc đồn 118, những kẻ đã đứng gác đằng trước. Bọn chúng đang nằm trên vỉa hè giá lạnh, bị còng.

    “Một cách rất khó khăn để khám phá”. Amelia Sachs nói nhưng không với ai cả, trong lúc nạp đạn lại cho khẩu Glock và nhét nó vào bao. “Tuy nhiên, chắc chắn cách này sẽ trả lời các câu hỏi của chúng ta.”


    Câu hỏi mà cô đề cập chẳng phải là về tội lỗi của Robert Wallace – họ đã biết trước ông ta là một trong những kẻ hợp tác với Baker, nó là câu hỏi liệu cả Marilyn Flaherty có liên quan không.

    Họ dàn dựng toàn bộ sự việc để biết được điều đó, đồng thời để ghi âm lời thú nhận của Wallace.

    Lon Sellitto, Ron Scott, Halston Jefferies đã lập một trạm chỉ huy trong chiếc xe thùng đỗ phía bên trên con phố, đồng thời cũng đã bố trí một tay bắn tỉa của Đơn vị Phản ứng nhanh nấp ở căn phòng đằng sau nhằm đảm bảo rằng Wallace và gã cảnh sát kia chưa nhả đạn trước khi Sachs có cơ hội ghi âm cuộc đối thoại. Họ dự định Pulaski sẽ cùng một nhóm kiểm soát cửa trước, và một nhóm khác kiểm soát cửa hậu. Nhưng đến phút cuối cùng, họ phát hiện ra Wallace đem theo cảnh sát thuộc đồn 118, những người có thể đã bị mua chuộc hoặc có thể chưa, vì thế họ phải thay đổi kế hoạch một chút.

    Thực tế là Pulaski suýt nữa đã chạm trán đám cảnh sát của Wallace gác bên ngoài cửa hiệu và làm hỏng bét tất cả.

    Chàng cảnh sát trẻ nói: “Thanh tra Jefferies đẩy tôi vào chiếc xe chỉ huy ngay trước khi mấy gã đó kịp nhìn thấy tôi.”

    Jefferies quát: “Bước đi ngoài phố cứ như là một chú bé Hướng đạo sinh. Cậu chàng, giương to mắt lên, nếu muốn sống sót ngoài phố”.

    Sự giận dữ của viên thanh tra có vẻ nhẹ nhàng so với cơn thịnh nộ ngày hôm qua, Sachs tự nhủ. Ít nhất thì ông ta cũng không phun nước bọt.

    “Vâng, thưa sếp. Tôi sẽ thận trọng hơn trong tương lai.”

    “Lạy Chúa, bây giờ bạ ai người ta cũng cho vào học viện được.”

    Sachs cố gắng không mỉm cười. Cô quay sang Flaherty. “Xin lỗi, bà thanh tra. Chỉ là chúng tôi muốn biết chắc chắn rằng bà không phải một người tham gia vào cuộc chơi với bọn họ.” Cô giải thích sự ngờ vực của mình và những manh mối khiến cô nghĩ bà thanh tra có thể đã hợp tác cùng Baker.

    “Chiếc Mercedes à?”, Flaherty hỏi. “Chắc chắn rồi, nó là của tôi. Và, chắc chắn, cô đã bị bám đuôi. Tôi yêu cầu một sĩ quan Sở Nội vụ để mắt tới cô và Pulaski. Cả hai đều trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm. Hai người có thể hành động quá mức cần thiết. Tôi đưa xe tôi cho anh ta sử dụng vì nếu một chiếc xe công vụ thì ngay lập tức hai người sẽ chú ý tới.”

    Chiếc xe đắt tiền thực tế đã khiến Sachs bắt đầu suy nghĩ theo hướng khác. Cô tự hỏi, nếu các băng nhóm không dính líu vào, phải chăng Pulaski đánh giá sai đối tác của Creeley, Jordan Kessler, và vị doanh nhân có thể đã phần nào dính líu vào những cái chết ấy. Cô phỏng đoán có thể Creeley và Sarkowsky vướng vào một trong những cuộc điều tra kiểu công ty Enron gần đây và bị thủ tiêu vì họ biết gì đó về chuyện lừa đảo doanh nghiệp tại một công ty khách hàng. Kessler xem chừng là người chơi duy nhất trong cuộc chơi này có khả năng mua một chiếc xe như chiếc AMG Mers.

    Nhưng bây giờ thì Sachs nhận ra rằng toàn bộ vụ án liên quan đến những cảnh sát biến chất, và chỗ tro ở lò sưởi nhà Creeley chẳng phải từ các sổ sách kế toán bị sửa chữa, mà đơn giản là chứng cứ mà bọn chúng đốt đi để chắc chắn đã hủy mọi ghi chép về khoản tiền được nộp cho bọn chúng, như cô phỏng đoán lúc đầu.

    Sự chú ý của bà thanh tra chuyển sang Robert Wallace. Bà ta hỏi Sachs: “Làm sao cô phát hiện ra ông ta?”

    “Cho ông ta biết đi, Ron” , Sachs yêu cầu Pulaski.

    Chàng cảnh sát trẻ gật đầu: “Thám tử Sachs đây đã xác minh…” Anh ngừng lại. “Thám tử Sachs đã tìm thấy một loạt dấu vết trong xe và nhà Baker khiến chúng tôi có ý nghĩ là, chà, khiến thám tử Sachs và thám tử Rhyme có ý nghĩ là có thể cái người thứ hai có dính líu sống gần một bãi biển hay một bến cảng.”

    Sachs tiếp tục: “Tôi không nghĩ Phó thanh tra Jefferies có dính líu bởi ông ấy sẽ không yêu cầu gửi một hồ sơ tới chính đồn mình phụ trách nếu ông ấy muốn hủy nó. Một người khác đã yêu cầu gửi nó tới đó và lấy nó đi trước khi nó được vào sổ. Tôi quay lại gặp ông ấy và hỏi liệu có người nào đấy gần đây đã tới phòng hồ sơ không, người nào đấy có thể có mối liên quan đến vụ án. Có một người. Là ông.” Một cái liếc nhìn sang Wallace. “Rồi tôi đặt ra câu hỏi hợp logic tiếp theo. Ông có mối liên hệ nào với Maryland không? Và chắc chắn ông có. Chỉ có điều không phải một mối liên hệ lộ liễu”.

    Tư duy bên trong chiếc hộp.

    “Ôi, lạy chúa”, Wallace lẩm bẩm. “Baker bảo tôi rằng cô đã nhắc tới Maryland. Nhưng tôi không bao giờ nghĩ cô sẽ phát hiện ra được.”

    Ron Scott, Giám đốc Sở Nội vụ, nói với Flaherty: “Wallace có một con thuyền đậu ở khu bờ nam Long Island. Đăng ký ở New York nhưng đóng ở Annapolis. Nó tên là Maryland Monroe”. Scott nhìn Wallace và bật tiếng cười lạnh lùng “Những người chơi thuyền các ông thực sự thích chơi chữ.”

    Sachs nói: “Cát, rong biển, dấu vết nước mặn trong xe và nhà Baker phù hợp với những thứ đó ở bến tàu của ông ta. Chúng tôi xin một lệnh khám xét và lục soát con thuyền. Có một số bằng chứng xác đáng. Các số điện thoại, tài liệu, dấu vết. Hơn bốn triệu tiền mặt, ồ, và rất nhiều ma túy nữa. Rất nhiều rượu, có lẽ là bất hợp pháp. Nhưng tôi xin nói rằng rượu sẽ là vấn đề ít nghiêm trọng nhất đối với ông.”

    Ron Scott gật đầu ra hiệu cho hai cảnh sát Đơn vị Phản ứng nhanh. “Đưa ông ta vào thành phố. Trung tâm tạm giam.”

    Trong khi bị dẫn ra ngoài, Wallace nói vọng lại: “Tôi sẽ im lặng. Nếu các người nghĩ là tôi sẽ nêu vài cái tên, các người có thể quên chuyện đó đi. Tôi sẽ không thú nhận”.

    Flaherty bật tiếng cười đầu tiên Sachs nghe thấy: “Ông điên à Robert? Nghe như họ đã tập hợp được đầy đủ bằng chứ để tống khứ ông vĩnh viễn rồi. Ông chẳng cần nói một lời đâu.”
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ

    PHẦN III

    8:32 SÁNG THỨ NĂM

    Thời gian là một ông thầy vĩ đại,nhưng bất hạnh thay ông thầy này giết chết mọi học trò của mình

    LOUIS- HECTOR BERLIOZ




    Chương 34

    CHƯƠNG 34

    Chỉ còn lại hai người, Rhyme và Sachs nhìn các bảng chứng cứ – những thứ được thu thập trong cả vụ bê bối tham nhũng quán Thánh James lẫn vụ Thợ Đồng Hồ.

    Sachs đang rất cố gắng tập trung, nhưng Rhyme biết cô như phát điên lên. Họ thức khuya và trao đổi về những gì vừa xảy ra. Chuyện tham nhũng cũng đủ tồi tệ rồi, tuy nhiên cái thực tế là chính cảnh sát giết cảnh sát khiến cô thậm chí thêm chấn động.

    Sachs tuyên bố cô vẫn chưa quyết định việc rời khỏi lực lượng, nhưng một vẻ trên gương mặt cô nói cho Rhyme biết rằng cô sẽ ra đi. Rhyme còn biết cô đã có vài cuộc trao đổi trên điện thoại với công ty Argyle.

    Chẳng nghi ngờ gì nữa.

    Lúc này, Rhyme liếc nhìn tờ giấy nhỏ hình chữ nhật màu trắng nằm bên trong chiếc cặp tài liệu đang mở: cái phong bì đựng lá thư xin thôi việc của Sachs. Tựa ánh sáng chói lọi của vầng trăng tròn đẩy trên bầu trời tối thẫm, màu trắng của cái phong bì khiến người ta lóa mắt. Hầu như không thể nhìn thấy nó rõ ràng, hầu như không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì khác.

    Rhyme ép buộc bản thân mình không nghĩ về nó và quay lại nhìn các bảng chứng cứ.

    Gerald Duncan đang đợi bị buộc tội bởi những hành vi vi phạm pháp luật của anh ta, tất cả chỉ là những vi phạm nhỏ (Phân tích ADN cho thấy máu ở dụng cụ cắt hộp, ở chiếc veston vớt được dưới cảng và máu đọng trên cầu tàu là của chính Duncan, mảnh móng tay bị tước ra cũng hoàn toàn phù hợp).

    Vụ án tham nhũng đồn cảnh sát khu vực 118 đang tiến triển chậm chạp.

    Đã có đầy đủ bằng chứng để truy tố Baker và Wallace, cũng như Toby Henson. Đất lấy tạo hiện trường vụ Sarkowski và các mẫu Sachs thu thập từ ngôi biệt thự ở Westchester của Creeley phù hợp với các dấu vết được tìm thấy trong nhà Baker và Henson. Tất nhiên, họ phát hiện ra sợi vải khiến Baker liên quan đến cái chết của Creeleey, nhưng họ còn phát hiện ra những sợi vải tương tự trên con thuyền của Wallace. Henson sở hữu đôi găng tay da mà đặc điểm bề mặt phù hợp với các dấu vết được tìm thấy ở Westchester.

    Nhưng bộ ba đối tượng này không hợp tác. Bọn họ không chấp nhận bất cứ đề nghị thương lượng nào, và chẳng chứng cứ nào cho thấy còn ai khác dính líu vào nữa, kể cả hai cảnh sát gác bên ngoài cái câu lạc bộ khu East Village kia, hai người này khẳng định rằng mình vô tội. Rhyme thử để Kathryn Dance tấn công bọn họ, nhưng bọn họ không chịu nói bất cứ điều gì.

    Rhyme tự tin là rốt cuộc thì anh sẽ có thể phát hiện ra tất cả các đối tượng ở đồn 118 và khởi tố bọn chúng. Tuy nhiên, anh không muốn chờ đợi tới cái lúc “rốt cuộc thì”, anh muốn đạt được điều ấy ngay bây giờ. Như Sachs đã nhận xét, những cảnh sát khác thuộc đám tụ tập tại quán Thánh James có thể đang lên kế hoạch thủ tiêu thêm nhân chứng – có thể thậm chí mưu sát lần nữa cô và Pulaski. Cũng có khả năng một hoặc một số kẻ đang ép buộc Baker, Henson và Wallace giữ im lặng bằng cách đe dọa gia đình bọn họ.

    Bên cạnh đó, Rhyme còn được đề nghị tham gia các vụ án khác nữa. Anh đã nhận một cuộc điện thoại thông báo về một vụ việc – nhân viên mật vụ FBI Fed Dellray (tạm thời thoát khỏi địa ngục của các vụ tội phạm tài chính) trình bày rằng vừa xảy ra một vụ đột nhập và cố ý gây hỏa hoạn ở Viện Quốc gia và tiêu chuẩn và công nghệ ở Brooklyn. Thiệt hại không nghiêm trọng nhưng với ý nghĩa thường trực về khủng bố trong đầu óc hết thảy mọi người, bất cứ vụ đột nhập cơ quan chính phủ nào đều được quan tâm. Các nhân viên FBI muốn Rhyme hỗ trợ về mặt giám định vật chứng. Anh muốn nhận lời, tuy nhiên muốn hoàn thành vụ đường dây tống tiền Baker – Wallace trước.

    Một liên lạc viên đem đến hồ sơ về vụ nhà doanh nghiệp bạn Duncan bị giết, do sự sắp đặt của Baker vì người đàn ông này không chịu nộp tiền. Hồ sơ vẫn đang được mở – không có thời hiệu cho việc điều tra – nhưng không có tiến triển gì suốt một năm qua. Rhyme hy vọng tìm thấy manh mối nào đó trong vụ án có thể giúp đỡ họ xác định những đối tượng ở đồn cảnh sát khu vực 118.

    Đầu tiên, Rhyme đến bộ phận lưu trữ của tờ Thời báo New York và đọc bài mô tả ngắn về cái chết của nạn nhân, Andrew Culbert. Nó chẳng cung cấp thông tin gì khác ngoài việc anh ta là một nhà doanh nghiệp tới từ Duluth và bị giết trong một trường hợp có vẻ là cướp của ở khu Midtown. Không phát hiện ra đối tượng tình nghi nào. Không thấy tiếp tục đưa tin.

    Rhyme bảo Thom đặt bản báo cáo điều tra vào chiếc giá có chức năng giở trang và nhà hình sự học bắt đầu đọc. Như lệ thường, đối với một vụ án chưa giải quyết xong, các đoạn ghi chú được viết tay bởi một vài người, vì cuộc điều tra cứ được chuyển từ người này sang người khác – với nhiệt tình càng ngày càng giảm đi. Theo báo cáo khám nghiệm hiện trường, hầu như không có dấu vết, không có vỏ đạn (nạn nhân chết do hai phát súng bắn vào trán, đạn cỡ 38, nhưng khảo sát đường đạn những khẩu súng tịch thu của Baker và các cảnh sát khác đồn 118 thì thấy không phù hợp).

    “Em đọc danh mục khám nghiệm hiện trường chưa?”, Rhyme hỏi Sachs.

    “Để xem nào. Đây”, cô nói, nhấc tờ giấy lên. “Em sẽ đọc.”

    Rhyme nhắm mắt lại để có hình dung rõ hơn về mỗi vật.

    “Ví”, Sachs đọc. “Một chìa khóa phòng khách sạn St.Regis, một chìa khóa quầy bar mini, một chiếc bút hiệu Cross, một máy PDA[73], một hộp kẹo gôm, một tập giấy nhỏ với những chữ Phòng vệ sinh nam ở tờ trên cùng. Tờ thứ hai ghi Chardonnay. Chấm hết. Thám tử chính thuộc bộ phận Án mạng là Ron Repetti.”


    Phát điên lên được.

    Vừa lắng nghe ca sĩ hát nhạc blue Blind Lemon Jefferson hát ca khúc See That My Grave Is Kept Clean qua máy iPod, Kathryn Dance vừa chằm chằm nhìn chiếc vali của mình, căng phồng, không chịu đóng hẳn lại.

    Tất cả những gì mình mua là hai đôi giày, mấy món quà giáng sinh… ơ, ba đôi giày, một đôi gót thấp. Đôi này coi như không chiếm chỗ. Ôi, rồi lại chiếc áo len. Chiếc áo len là cả vấn đề.

    Dance rút nó ra. Và thử lại. Những cái móc chỉ bập vào nhau nửa chừng, khoảng dăm bảy phân.

    Điên lên được…

    Mình phải làm sao trông cho thanh lịch. Dance tìm thấy chiếc túi dùng đựng đồ để người phục vụ phòng khách đem đi giặt, trút vào đấy quần bò, một bộ vét, những cái cuốn tóc, lũ bít tất dài và chiếc áo len to đùng, xấu xí. Cô thử đóng vali một lần nữa.

    Tách.

    Chẳng cần đến thấy phù thủy nào cả.

    Máy điện thoại trong phòng đổ chuông và nhân viên lễ tân thông báo rằng Dance có khách.

    Vừa kịp.

    “Mời họ lên”, Dance nói, và năm phút sau, Lucy Richter đã ngồi trên chiếc đi văng nhỏ trong phòng cô.

    “Chị muốn uống gì không?”

    “Không, cảm ơn. Tôi không ở lâu được.”

    Dance hất đầu chỉ chiếc tủ lạnh nhỏ. “Ai nghĩ ra quầy bar mini thật tệ. Những thanh kẹo và khoai tây chiên. Những thứ khiến tôi sa sút. Chà, tất cả đều khiến tôi sa sút. Và miệng nói tay đấm, xốt sansa[74] giá tận mười đô la.”

    Lucy, trông có vẻ như chưa bao giờ phải tính toán đến một ca-lo hay gam mỡ thừa nào trong đời, bật cười. Rồi cô nói: “Tôi nghe nói họ đã bắt được hắn. Người gác cửa tòa nhà tôi ở bảo tôi thế. Nhưng ông ta không có thông tin chi tiết.”

    Nữ nhân viên mật vụ trình bày về Gerald Duncan, về việc anh ta hoàn toàn vô tội, và về vụ bê bối tại một đồn cảnh sát khu vực thuộc Sở cảnh sát New York.

    Lucy lắc đầu trước thông tin này. Rồi cô nhìn xung quanh căn phòng nhỏ. Cô nêu vài bình luận vu vơ về những bức tranh đóng khung treo trên tường, về quang cảnh bên ngoài cửa sổ. Bồ hóng, tuyết và một đường ống thông khí, đó là những chi tiết chủ yếu.

    “Tôi đến chỉ để nói lời cảm ơn.”

    Không, không phải thế, Dance tự nhủ thầm, nhưng cô đáp: “Chị không cần cám ơn tôi. Đó là công việc của chúng tôi mà”.

    Dance để ý thấy hai cánh tay Lucy không còn khoanh trước ngực và người phụ nữ lúc này đang ngồi vẻ thoải mái, hơi ngả ra đằng sau, vai buông lỏng, nhưng không rũ xuống. Một sự thú nhận, hoặc cái gì đại loại thế, đang đến.

    Dance chờ đợi sự im lặng kết thúc. Lucy hỏi: “Chị là một nhà tư vấn tâm lý à?”

    “Không. Chỉ là một cảnh sát.”

    Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn, các đối tượng cũng thường xuyên giãi bày sau khi đã thú nhận, chia sẻ những lầm lỗi khác về đạo đức, những ông bố bà mẹ bị căm ghét, sự ghen tức với các anh chị em, những người vợ, người chồng không chung thủy, những nỗi giận dữ, những niềm vui, hy vọng. Tâm sự, tìm kiếm lời khuyên. Không, Dance không phải một nhà tư vấn tâm lý. Nhưng cô là một cảnh sát, một người mẹ, một chuyên gia về ngôn ngữ hình thể và cả ba vai trò này đều đòi hỏi cô trở thành chuyên gia về thứ nghệ thuật nhiều khi cứ bị quên lãng đi, nghệ thuật lắng nghe.

    “Chà, trò chuyện với chị thực sự rất thoải mái. Tôi nghĩ chắc tôi có thể hỏi ý kiến chị về một việc.”

    “Vâng, xin mời chị”, Dance khuyến khích.

    Người phụ nữ quân nhân nói: “Tôi không biết phải làm gì. Hôm nay tôi sẽ nhận tuyên dương, như tôi đã kể cho chị. Nhưng có một vấn đề”, cô giải thích thêm về công việc của cô ở nước ngoài, quản lý các xe tải chở nguyên liệu và hàng hóa tiếp tế.

    Dance mở quầy bar mini, lấy hai chai Perrier sáu đô la. Cô nhướn một bên lông mày ra ý hỏi.

    Người nữ quân nhân ngập ngừng, “Ồ, vâng.”

    Dance mở nắp và đưa một chai cho Lucy. Để cho đôi bàn tay bận rộn thì đầu óc tự do suy nghĩ hơn và giọng nói cất lên thoải mái hơn.

    “Vâng, cậu hạ sĩ này thuộc nhóm của tôi, Pete. Lính dự bị tới từ Nam Dakota. Hài hước. Rất hài hước. Hồi ở trong nước là huấn luyện viên bóng đá, làm việc trong ngành xây dựng. Cậu ý giúp đỡ tôi nhiều khi tôi mới sang đó. Một hôm, cách đây độ một tháng, cậu ấy và tôi phải đi kiểm tra các xe bị hư hại. Một số sẽ được đưa theo đường biển về Fort Hood để sửa chữa, một số chúng tôi có thể tự xử lý, một số chỉ xây xước thôi.

    Tôi ở trong văn phòng còn cậu ấy đã đến quán ăn tự phục vụ của doanh trại. Tôi sẽ đón cậu ấy lúc một giờ chiều và chúng tôi sẽ đi ôtô tới bãi xe. Tôi qua đón cậu ấy trên một chiếc Humvee[75]. Tôi nhìn thấy cậu ấy ở đó, đợi tôi. Đúng lúc một quả bom tự chế phát nổ. Đó là một quả bom.”

    Tất nhiên, Dance biết thứ này.

    “Khi quả bom nổ, tôi ở cách đấy chừng mười mét. Pete đang vẫy tay và rồi ngọn lửa bùng lên, toàn bộ quang cảnh thay đổi. Giống như khi người ta chớp mắt một cái, cả quảng trường bỗng biến thành chốn khác.” Lucy nhìn ra bên ngoài cửa sổ. “Phần phía trước quán ăn bay mất, những cây cọ chẳng còn thấy đâu. Mấy quân nhân và dân thường đang đứng đó… Một phút trước đứng đó, rồi tan tành luôn.”

    Giọng Lucy bình thản đến khó hiểu. Dance nhận ra giọng nói ấy, cô thường xuyên nghe nó ở các nhân chứng bị mất những người thân yêu. (Những cuộc phỏng vấn khó khăn nhất, khó khăn hơn cả việc ngồi đối diện một kẻ sát nhân vô luân nhất).

    “Thân thể Pete nát bét. Đó là cách duy nhất để mô tả.” Giọng Lucy tắc lại. “Tất cả chỉ còn là hai màu đen và đỏ, gãy nát… Ở đó, tôi từng chứng kiến rất nhiều. Nhưng lần này khủng khiếp quá.” Cô hớp một ngụm nước, rồi giữ chặt cái chai tựa đứa trẻ giữ chặt con búp bê vậy.

    Dance không nói lời thông cảm nào – chúng sẽ là vô ích. Cô gật đầu để người phụ nữ tiếp tục. Một hơi thở sâu. Những ngón tay Lucy đan chặt lại. Trong công việc, Dance xác định tính chất của cử chỉ này – một cử chỉ phổ biến – là để cố gắng kiềm chế sự căng thẳng không thể chịu đựng nổi xuất hiện do cảm giác tội lỗi hay đau đớn, xấu hổ.

    “Vấn đề là… tôi đã đến muộn. Tôi ở trong văn phòng. Tôi ngẩng nhìn đồng hồ. Lúc đó chừng một giờ kém năm, nhưng tôi còn một chút soda chưa uống hết. Tôi cũng định vứt nó đi và rời khỏi văn phòng, từ văn phòng tới quán ăn sẽ mất năm phút, nhưng tôi muốn uống nốt chỗ soda. Tôi muốn ngồi lại và uống nốt. Tôi đã đến nơi muộn. Nếu tôi đến đúng giờ, cậu ấy đã không chết. Tôi đã đón được cậu ấy và chúng tôi đã ở cách đấy nửa dặm khi quả bom tự chế phát nổ.”

    “Chị có bị thương không?”

    “Nhẹ thôi.” Lucy kéo ống tay áo lên để lộ vết sẹo lớn trên cẳng tay. “Chẳng có gì nghiêm trọng.” Cô nhìn chằm chằm vết sẹo, rồi lại uống nhiều hơn. Cặp mắt cô trống rỗng. “Thậm chí nếu tôi chỉ chậm một phút thôi thì ít nhất cậu ấy đã kịp vào xe. Cậu ấy có thể đã sống sót. Sáu mươi giây… Khoảng thời gian ấy có thể đã tạo nên sự khác biệt, giữa cái sống và cái chết. Và tất cả vì một lon soda. Tất cả những gì tôi muốn là uống nốt chỗ soda chết tiệt.” Một tiếng cười buồn bã bật ra từ đôi môi khô của cô. “Và rồi kẻ nào đã xuất hiện định giết tôi? Cái kẻ tự xưng danh Thợ Đồng Hồ, bỏ chiếc đồng hồ khốn kiếp trong buồng tắm. Suốt nhiều tuần, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là làm sao chỉ một phút, cách này hay cách khác, lại tạo nên sự khác biệt giữa cái sống và cái chết như thế. Và ở đây, kẻ điên rồ này đem ném nó vào mặt tôi.”

    Dance hỏi: “Còn điều gì nữa? Vẫn còn điều gì nữa, phải không?”.

    Một tiếng cười yếu ớt. “Vâng, đây là vấn đề. Chị thấy đấy, chuyến du lịch của tôi được lên lịch vào tháng sau. Nhưng tôi cảm thấy tội lỗi vì chuyện Pete tới mức tôi đã đến Sở chỉ huy nói tôi sẽ tái ngũ.”

    Dance gật đầu.

    “Đó là nội dung lần tuyên dương này. Nó không phải về việc bị thương. Ngày nào chúng tôi chả bị thương. Nó là về việc tái ngũ. Quân đội đang gặp nhiều khó khăn trong tuyển quân. Họ sẽ sử dụng những người xin tái ngũ làm một thứ áp phích cổ động. Rằng chúng tôi thích cuộc sống quân ngũ tới mức chúng tôi muốn tiếp tục. Đại khái thế.”

    “Và chị đang suy nghĩ lại?”

    Lucy gật đầu. “Việc này đang khiến tôi phát điên. Tôi không thể ngủ được. Tôi không thể làm chuyện ấy với chồng tôi. Tôi không thể làm gì… Tôi cô đơn, tôi sợ hãi. Tôi nhớ gia đình. Nhưng tôi cũng biết chúng tôi đang làm một việc quan trọng ở đó, một việc tốt đẹp cho nhiều người. Tôi không thể quyết định nổi. Đơn giản là tôi không thể quyết định.”

    “Điều gì sẽ xảy ra nếu chị nói với họ rằng chị đã suy nghĩ lại?”

    “Tôi không biết. Họ có lẽ sẽ bực bội. Tuy nhiên chúng ta sẽ không nói tới tòa án binh. Nó là vấn đề của tôi nhiều hơn. Tôi sẽ khiến mọi người thất vọng. Tôi sẽ từ bỏ một cái gì đó. Điều tôi chưa từng làm trong đời. Tôi sẽ không giữ được lời hứa.”

    Dance suy nghĩ một lát, nhấm nháp chút nước. “Tôi không thể bảo chị nên hành động như thế nào. Nhưng tôi sẽ nói điều này: Công việc của tôi là tìm kiếm sự thật. Hầu hết những người tôi tiếp xúc là các đối tượng, những kẻ tội phạm. Bọn họ biết sự thật và bọn họ nói dối để giữ thân. Tuy nhiên, cũng có nhiều người tôi gặp tự nói dối chính mình. Và thông thường họ thậm chí không biết điều ấy.

    Nhưng dù chị lừa dối cảnh sát hay mẹ mình, hay chồng mình, hay bạn bè, hay chính bản thân chị, các dấu hiệu luôn luôn giống nhau. Chị bị căng thẳng, giận dữ, chán nản. Sự lừa dối khiến người ta xấu xa đi. Sự thật khiến người ta tốt đẹp… Tất nhiên, đôi khi xem chừng sự thật là cái cuối cùng người ta mong muốn. Nhưng tôi không thể nói với chị đã bao nhiêu lần tôi khiến một đối tượng tự thú và anh ta cho tôi thấy vẻ mặt này, nó giống như sự nhẹ nhõm hoàn toàn vậy. Điều kỳ lạ nhất là đôi khi họ thậm chí còn cảm ơn.”

    “Chị muốn nói tôi biết sự thật?”

    “Ồ, vâng. Chị biết. Nó ở đó. Được che giấu kỹ. Và chị có thể không thích nó khi chị tìm thấy nó. Nhưng nó ở đó.”

    “Làm sao tôi tìm thấy nó? Tự thẩm vấn chính mình?”

    “Chị biết đấy, đó là một cách rất hay. Chắc chắn rồi, việc chị làm là xem xét những thứ mà tôi cũng xem xét: sự giận dữ, chán nản, phủ nhận, những lời bào chữa, ngụy biện. Khi nào chị cảm thấy như thế và tại sao? Đằng sau tình cảm này hay tình cảm kia là gì? Và đừng để cho bản thân chị trốn tránh bất kỳ điều gì. Hãy kiên trì xem xét. Chị sẽ tìm thấy cái chị thực sự mong muốn.”

    Lucy Richter vươn người về phía trước và ôm lấy Dance – một việc hầu như chưa đối tượng nào từng làm.

    Người nữ quân nhân mỉm cười. “Này, tôi có một ý tưởng. Chúng ta hãy viết một cuốn sách dạy cách rèn luyện bản thân. Hướng dẫn của một phụ nữ trẻ về việc tự thẩm vấn[76]. Nó sẽ là một cuốn sách bán chạy.

    “Bằng tất cả thời gian rảnh rỗi của chúng ta nhé”, Dance bật cười.

    Họ chạm hai chai nước vào nhau kêu keng một tiếng.

    Mười lăm phút sau, họ đang thưởng thức cà phê và món bánh nướng nhân việt quất gọi từ bộ phận phục vụ phòng thì chuông điện thoại di động của Dance cất lên lanh lảnh. Cô nhìn số máy hiển thị, lắc đầu và bật cười.


    Chuông cửa nhà Rhyme kêu. Một lát sau, Thom bước vào phòng thí nghiệm cùng với Kathryn Dance. Tóc cô bỏ xõa, chứ không tết chặt như trước, và bộ tai nghe máy iPod đung đưa quanh cổ. Cô cởi chiếc áo choàng mỏng, chào Sachs và Mel Cooper cũng mới tới.

    Dance cúi xuống nựng chú chó Jackson.

    Thom nói: “Hừm, chị thích một món quà chia tay như thế nào?”. Và hất đầu chỉ chú chó giống Havanese.

    Dance bật cười. “Nó rất đáng yêu, nhưng ở nhà tôi số lượng động vật đã đến mức tối đa rồi, đều thuộc loài hai chân và bốn chân cả”.

    Đó là Rhyme gọi điện, hỏi liệu cô có thể giúp đỡ họ một lần nữa không? “Tôi xin hứa đây sẽ là lần cuối cùng”, anh nói khi cô đang ngồi cạnh bên anh lúc này.

    Cô hỏi: “Vậy có chuyện gì thế?”

    “Xuất hiện một lỗi virus trong vụ án này. Và tôi cần sự giúp đỡ của chị.”

    “Tôi có thể làm gì?”

    “Tôi nhớ chị kể cho tôi nghe về vụ Hanson ở California, việc xem xét bản ghi lời khai của hắn khiến chị nhận ra một số điều hắn toan tính.”

    Dance gật đầu.

    “Tôi muốn chị cũng làm như thế hộ chúng tôi.”

    Rhyme trình bày với cô về vụ người bạn của Duncan, Andrew Culbert, bị giết, sự việc đã khiến Duncan quyết định sẽ tiêu diệt Baker và Wallace.

    “Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện ra một số chi tiết kỳ lạ trong hồ sơ. Culbert có máy PDA nhưng không có điện thoại di động. Điều ấy bất bình thường. Tất cả những ai làm ăn kinh doanh bây giờ đều có điện thoại di động. Và anh ta có một tập giấy với hai tờ giấy có ghi chữ. Một làChardonnay. Có thể nó có nghĩa anh ta viết để nhắc nhở mình mua loại rượu vang nào đấy. Nhưng tờ kia là Phòng vệ sinh nam. Tại sao ai đó lại viết thế? Tôi suy nghĩ về nó và đi đến giả thiết là ai đó đã viết thế nếu họ có vấn đề về chức năng nói hoặc nghe. Gọi rượu trong một nhà hàng, rồi hỏi phòng vệ sinh ở đâu. Và cũng chẳng cần điện thoại di động. Tôi tự hỏi phải chăng anh ta bị điếc.”

    “Vậy”, Dance nói. “Người bạn của Duncan bị giết vì tên cướp tức giận khi nạn nhân không thể hiểu hắn hoặc không đưa ví ra nhanh chóng. Anh ta tưởng rằng Baker đã sát hại bạn mình, nhưng đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.”

    Sachs nói: “Vấn đề phức tạp hơn thế.”

    Rhyme tiếp lời: “Tôi truy tìm được người vợ góa của Culbert ở Duluth. Chị ta nói với tôi rằng anh ta bị câm điếc bẩm sinh.”

    Sachs bổ sung: “Nhưng Duncan bảo Culbert đã cứu sống anh ta khi hai người đang trong quân ngũ. Nếu anh ta bị điếc, anh ta không thể tham gia quân đội được.”

    Rhyme nói: “Tôi nghĩ rằng Duncan chỉ đọc bài viết về nạn nhân một vụ cướp và tuyên bố đó là bạn anh ta, để tạo tính tin cậy đối với cái kế hoạch đưa Baker vào tròng.” Nhà hình sự học nhún vai. “Nó có thể chẳng thành vấn đề. Suy cho cùng, chúng ta đã tóm cổ được một cảnh sát thoái hóa biến chất. Nhưng vụ việc còn để lại một số câu hỏi. Liệu chị có thể xem xét băng ghi âm cuộc phỏng vấn Duncan và nói với chúng tôi suy nghĩ của chị?”

    “Tất nhiên là được rồi”.

    Cooper gõ bàn phím.

    Lát sau, một đoạn video quay Duncan với ống kính góc rộng hiện ra trên màn hình. Anh ta ngồi thoải mái tại phòng phỏng vấn ở khu trung tâm trong khi giọng Lon Sellitto đang nêu các thông tin: anh ta là ai, ngày tháng và vụ án. Rồi phần lấy lời khai chính thức bắt đầu. Về cơ bản, Duncan trình bày lại đúng những điều mà anh ta đã nói với Rhyme lúc ngồi trên lề đường bên ngoài hiện trường cuối cùng của “kẻ giết người hàng loạt”.

    Dance quan sát, chậm rãi gật đầu trong khi lắng nghe chi tiết kế hoạch anh ta đặt ra.

    Khi đoạn băng kết thúc, Cooper ấn phím tạm dừng, giữ khuôn mặt Duncan ở nguyên trên màn hình.

    Dance quay sang Rhyme.

    “Tất cả đấy à?”

    “Vâng.” Anh để ý thấy gương mặt cô bất động. Nhà hình sự học hỏi: “Chị nghĩ thế nào?”

    Dance ngập ngừng và rồi nói: “Tôi phải nói rằng… Cảm giác của tôi là không riêng câu chuyện về người bạn anh ta bị giết mới là vấn đề. Tôi cho là hầu như mọi điều anh ta nói với các anh trong đoạn băng đều hoàn toàn dối trá”.


    Sự im lặng xâm chiếm ngôi nhà của Rhyme.

    Sự im lặng tuyệt đối.

    Cuối cùng, Rhyme ngước mắt lên khỏi gương mặt Duncan đang bất động trên màn hình, và nói: “Tiếp tục đi”.

    “Tôi có xuất phát điểm của anh ta khi anh ta đề cập tới kế hoạch để Baker bị bắt. Chúng ta biết một số khía cạnh nhất định của kế hoạch này là thật. Bởi vậy lúc mức độ căng thẳng thay đổi, tôi nghĩ rằng anh ta đang gian dối. Tôi nhận ra những sai chệch lớn lúc anh ta nói về người bạn. Và tôi không nghĩ tên anh ta là Duncan. Hay anh ta sống ở vùng Midwest. Ồ, và anh ta quá quan tâm đến Baker. Anh ta có mối quan tâm mang tính tình cảm đối với việc gã đàn ông đó bị bắt. Còn một điều nữa”.

    Dance liếc nhìn màn hình.

    “Anh cho chạy về quãng giữa được chứ? Có một chỗ anh ta sờ má mình.”

    Cooper cho đoạn video tua ngược lại.

    “Đấy. Chiếu chỗ ấy đi.”

    “Tôi chưa bao giờ làm hại bất cứ ai. Tôi chẳng thể nào làm được việc đó. Tôi có lẽ đã hơi uốn cong pháp luật một tí…”

    Dance lắc đầu, cau mày.

    “Sao?”, Sachs hỏi.

    “Cặp mắt anh ta…”, Dance thì thào, “Ôi, đây là một vấn đề”.

    “Tại sao?”

    “Tôi cho rằng anh ta nguy hiểm, rất nguy hiểm. Tôi đã dành hàng tháng trời nghiên cứu các băng phỏng vấn Ted Bundy, kẻ giết người hàng loạt. Hắn thuộc loại bệnh hoạn xã hội thuần túy, có nghĩa hắn đánh lừa ta mà chẳng bộc lộ một chút dấu hiệu bề ngoài nào. Nhưng một điều tôi nhận ra được ở Bundy là phản ứng mơ hồ trong ánh mắt hắn khi hắn khẳng định rằng chưa bao giờ sát hại ai. Phản ứng ấy không phải phản ứng đặc trưng cho sự gian dối, nó thể hiện nỗi thất vọng và bị phản bội. Vì hắn đang phủ nhận cái gì đó thuộc về trung tâm bản ngã của mình.”

    “Chị chắc chắn chứ?”, Sachs hỏi.

    “Không chắc chắn, không. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta phải phỏng vấn anh ta thêm.”

    “Dù anh ta đang toan tính làm gì, chúng ta cũng nên chuyển anh ta sang phòng giam cấp ba cho tới lúc chúng ta tìm hiểu được sự việc.”

    Bị bắt do chỉ phạm các tội nhẹ và không mang tính bạo lực, Gerald Duncan sẽ được bố trí trong một phòng giam canh phòng ít nghiêm ngặt ở phố Trung Tâm. Chuyện trốn thoát không nhiều khả năng xảy ra, tuy nhiên không phải là không thể. Rhyme yêu cầu đưa điện thoại để gọi cho giám thị trại giam trung tâm Manhattan.

    Anh xưng danh và đề nghị chuyển Duncan sang phòng giam đảm bảo an ninh hơn.

    Viên giám thị không nói gì. Rhyme nghĩ vì anh ta không muốn nhận mệnh lệnh từ một người ở ngoài lực lượng cảnh sát.

    Cái cơ chế chính trị chán chết…

    Rhyme nhăn mặt rồi liếc nhìn Sachs, ý bảo cô phải yêu cầu việc chuyển phòng giam này. Đúng lúc ấy, lý do đích thực cho việc yên lặng của viên giám thị trở nên rõ ràng.

    “Chà, thưa thám tử Rhyme”, người đàn ông nói vẻ lo lắng. “Anh ta chỉ ở đây vài phút. Chúng tôi thậm chí chưa kịp ghi biên bản.”

    “Cái gì?”

    “Ông công tố viên, ông ta đã có những thỏa thuận nào đó và thả Duncan ra đêm hôm qua rồi. Tôi cứ nghĩ ông biết.”
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này