Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    [IMG]

    Tên truyện: The Cold Moon
    Tác giả: Jeffery Deaver
    Series: Lincoln Rhyme – Book 7
    Dịch giả: Đinh Minh Hương
    NXB: Nhà xuất bản Văn Học liên kết Công ty Cổ phần Sách Bách Việt
    Type: Jude602; nhv1409; timson1991
    Đóng ebook: Jude602
    Nguồn: thuvien-ebook

    Giới thiệu:
    Vầng Trăng Lạnh tròn vành vạnh trên bầu trời,
    chiếu ánh sáng lên thi thể này dưới mặt đất,
    cho biết thời điểm cái chết đến
    và kết thúc cuộc hành trình bắt đầu từ khi chào đời.
    THỢ ĐỒNG HỒ
    Xin chào các bạn đến với ebook thứ ba trong series trinh thám của tác giả Jeffery Deaver. Sau Kẻ Tầm Xương, Vũ Điệu Thần Chết, Cái Ghế Trống, ở Trăng Lạnh, Lincoln Rhyme và Amelia Sachs tiếp tục bước vào cuộc hành trình khám phá tội ác được dựng nên sau rất nhiều lớp động cơ. Hy vọng tác phẩm này sẽ làm hài lòng fan hâm mộ của Jeffery Deaver ;)
    ---------------------------------------------------------------
    Các người không thể trông thấy ta,
    nhưng ta luôn luôn hiện diện.
    Cứ chạy hết tốc lực đi,
    các người sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi tay ta đâu.
    Hãy chiến đấu với ta bằng tất cả sức mạnh các người có,
    các người sẽ chẳng bao giờ đánh bại nổi ta đâu.
    Ta sẽ giết chết các người khi ta muốn, nhưng chẳng bao giờ bị xét xử.
    Ta là ai?
    Tuổi già đó.

    Mời các bạn đón đọc!
    CHỦ ĐỀ NGẪU NHIÊN CÙNG CHUYÊN MỤC
    CHIA SẺ Share






    Chia sẻ trang này

  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    PHẦN 1

    12:02 SÁNG THỨ BA

    Thời gian chết, nếu nó cứ qua đi theo tiếng tích tắc của những bánh xe bé tí; chỉ khi chiếc đồng hồ ngừng chạy, thời gian mới tồn tại.

    WILLIAM FAULKNER



    Chương 1

    CHƯƠNG 1

    “Mất bao lâu bọn chúng mới chết nhỉ?”

    Gã đàn ông được hỏi câu đó có vẻ như không nghe thấy câu hoi. Gã lại nhìn gương chiếu hậu và tập trung lái xe. Vừa qua nửa đêm, các con phố khu Hạ Manhattan đã đóng băng. Một frông[1] khí lạnh lẽo quét quang đãng bầu trời, thổi cho những bông tuyết rơi lúc trước kết thành một lớp bóng láng trên mặt đường nhựa. Hai gã đàn ông đang ngồi trong chiếc Band-Aid-di động[2] chạy rất tít – đó là cách Vincent Láu gọi chiếc SUV màu nâu vàng. Nó chạy đã mấy năm, đã đến lúc cần kiểm tra phanh và thay lốp. Nhưng mang một chiếc xe ăn cắp đi bảo dưỡng đâu phải ý tưởng không ngoan, nhất là khi hai hành khách mới đây của nó lại là hai nạn nhân của một vụ án mạng.

    Tay tài xế - vóc dáng rắn chắc ở tuổi năm mươi, với mái tóc cắt gọn gàng – cẩn thận rẽ vào một con phố phụ và tiếp xúc cuộc hành trình, không tăng tốc, thực hiện những lần cua xe chính xác, giữ cho xe chạy chính giữa làn đường của mình. Gã sẽ lái xe y như thế, dù cho các con phố có khô khao hay trơn trượt, dù cho chiếc xe có vừa dính dáng đến án mạng hay chẳng hề gì.

    Cẩn thận, tỉ mỉ.

    Mất bao lâu?

    Vincent Bự – Vincent với những ngón tay dài, mập mạp, lúc nào cũng ướt át, và chiếc thắt lưng màu nâu kéo ra đến nấc cuối cùng vẫn chật căng quanh bụng – run lập cập. Gã đã phải đứng đợi nơi góc phố sau ca làm ban đêm của mình – một nhân viên xử lý văn bản. Trời lạnh thấu xương, nhưng Vincent không thích dãy hành lang nơi gã làm việc. Ánh đèn thì xanh nhợt nhạt và các bức tường gắn những tấm gương lớn khiến gã có thể tự soi lấy tấm thân hình chum từ mọi góc độ. Vì thế mà gã đã bước ra bầu không khí tháng Mười hai giá lạnh, thoáng đãng, đi tới đi lui, chén một thanh kẹo. Chà, chén luôn hai thanh.

    Khi Vincent đang liếc nhìn lên mặt trăng tròn vành vạnh – chiếc đĩa trắng toát hiện ra chốc lát giữa hai tòa nhà – Thợ Đồng Hồ nói to ý nghĩ của mình: “Mất bao lâu bọn chúng mới chết nhỉ? Thật thú vị”.

    Vincent chỉ vừa quen Thợ Đồng Hồ – tên thật là Gerald Duncan – nhưng gã đã biết rằng người nào đặt ra cho Duncan một câu hỏi là người ấy phải gánh lấy mọi bất trắc. Thậm chí một câu hỏi đơn giản cũng có thể mở cánh cửa vào một mạch độc thoại dài dằng dặc. Và gã trả lời lúc nào cũng đâu ra đấy, hệt như một vị giáo sư đại học. Vincent biết rằng mấy phút im lặng nãy giờ là do Duncan đang cân nhắc câu trả lời.

    Vincent bật nắp một lon Pepsi. Gã thấy lạnh nhưng muốn thứ gì đó ngòn ngọt. Gã uống ừng ực rồi đút cái vỏ lon vào túi áo khoác. Gã chén một gói bích quy bơ lạc. Duncan nhìn sang để chắc chắn rằng Vincent đang đeo găng tay. Bọn gã luôn luôn đeo găng tay trong chiếc Band-Aid-di động.

    Thận trọng, tỉ mỉ…

    “Theo tao thì câu hỏi ấy có vài câu trả lời”, Duncan nói với giọng thờ ơ, nhẹ nhàng. “Giả dụ, kẻ thứ nhất tao giết hai mươi tư tuổi, vậy mày có thể bảo là y mất hai mươi tư năm trên đời này mới chết.”

    Giả dụ, ôi dào… Vincent Láu nghĩ với sự mỉa mai của một gã thiếu niên, mặc dù gã phải thừa nhận câu trả lời hiển nhiên này đã chẳng xuất hiện trong đầu óc mình.

    “Kẻ kia ba mươi hai, tao cho là thế.”

    Một chiếc xe cảnh sát phóng qua, theo hướng ngược lại. Mạch máu ở thái dương Vincent đập thình thịch nhưng Duncan không phản ứng gì. Toán cảnh sát không tỏ ra chú ý đến chiếc Explorer ăn cắp.

    Duncan tiếp tục. “Một cách khác để trả lời câu hỏi ấy là xem xét khoảng thời gian kể từ lúc tao bắt đầu hành động tới lúc tim bọn chúng ngừng đập. Có lẽ mày nghĩ về điều này. Thấy không, người ta cứ muốn đặt thời gian vào cái khung quy chiếu dễ hiểu. Nó hợp lý chừng nào nó ích lợi. Ích lợi khi biết rằng người vận động viên chạy mỗi dặm mất ba phút năm mươi tám giây, và thế là anh ta chiến thắng. Cụ thể thì đêm nay mất bao lâu bọn chúng mới chết… ờ, việc ấy không quan trọng, miễn nó đừng diễn ra nhanh chóng”. Một cái liếc nhìn sang Vincent. “Tao không định phê phán câu hỏi của mày.”

    “Có sao đâu”, Vincent đáp, chẳng bận tâm mình bị phê phán hay không. Vincent Reynolds ít bạn và chịu đựng được Gerald Duncan. “Tôi chỉ tò mò thôi.”

    “Tao hiểu. Có điều tao đã quên bấm giờ. Nhưng kẻ tiếp theo, tao sẽ nhớ.”

    “Cô gái ấy à? Ngày mai à?” Trái tim Vincent đập gấp gáp hơn một chút.

    Duncan gật đầu. “Mày muốn nói là hôm nay đấy.”

    Đã qua nửa đêm. Đối với Gerald Duncan, người ta phải thật chính xác, đặc biệt khi đề cập tới thời gian.

    “Ừ.”

    Vincent Đói Khát bấy giờ đã đánh hơi thấy Vincent Láu đang nghĩ về Joanne, cô gái sẽ là người kế tiếp kết thúc mạng sống.

    Hôm nay…

    Sát thủ lái xe đi theo một tuyến phức tạp để trở về chỗ ở tạm thời của hai gã tại quận Chelsea, khu Manhattan, phía nam Midtown[3], gần sông. Ngoài đường vắng tanh. Trời lạnh chừng mười mấy độ[4] và dọc các con phố hẹp gió thổi miệt mài.

    Duncan đỗ xe vào lề đường, tắt máy, cài phanh. Hai gã bước ra khỏi xe, đi bộ chừng nửa khối phố trong gió lạnh băng. Duncan liếc nhìn bóng mình đổ xuống vỉa hè, dưới ánh trăng. “Tao vừa có một câu trả lời khác. Về chuyện mất bao lâu bọn chúng mới chết.”

    Vincent lại rùng mình – chủ yếu vì lạnh, nhưng không hẳn vì thế.

    “Nếu mày xem xét vấn đề theo quan điểm của bọn chúng”, tên sát thủ nói, “mày có thể bảo là cực kỳ lâu”.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 2
    Đó cái gì?

    Từ chiếc ghế dựa kêu cọt kẹt trong văn phòng ấm áp, người đàn ông to lớn nhấm nháp cà phê và nheo mắt dưới ánh nắng chói buổi sáng nhìn về đầu đằng kia của cầu tàu. Ông ta là nhân viên giám sát buổi sáng công ty sửa chữa tàu kéo trên sông Hudson, phía bắc khu Greenwich Village. Bốn mươi phút nữa sẽ có một chiếc Moran chạy loại động cơ diesel hạng bét cập bến, còn lúc này cầu tàu không bóng thuyền bè và ông ta đang tận hưởng sự ấm áp trong căn phòng, nơi ông ta ngồi gác chân lên bàn, ấp tách cà phê trước ngực. Ông ta lau chút hơi nước đọng ở cửa sổ và lại nhìn ra.

    Đó là cái gì?

    Một chiếc hộp nhỏ màu đen nằm bên mép cầu tàu, mép đối diện với Jersey. Nó không ở đó khi cầu tàu đóng lúc sáu giờ hôm qua, và sau khi cầu tàu đóng thì không ai cập bến được. Phải từ phía bờ. Một hàng rào mắt cáo ngăn người đi bộ và khách qua đường, nhưng, từ trường hợp những dụng cụ và thùng rác thất lạc, người đàn ông biết rằng, nếu ai đó muốn, họ có thể đột nhập được.

    Nhưng tại sao bỏ lại cái gì thế?

    Người đàn ông nhìn chằm chặp một lúc, nghĩ ngợi. Bên ngoài trời lạnh, gió thổi ù ù, tách cà phê là thứ hoàn toàn thích hợp. Rồi ông ta quyết định. Rõ khỉ, đi kiểm tra thì hơn. Ông ta khoác chiếc vét tông dày màu xám, mang găng tay và mũ, tợp ngụm cà phê cuối cùng, bước ra bầu không khí lạnh ngợp thở.

    Người nhân viên giám sát đi xuyên qua những cơn gió dọc theo cầu tàu, cặp mắt chảy nước tập trung vào chiếc hộp màu đen.

    Nó là cái thứ chết tiệt gì? Chiếc hộp hình chữ nhật, cao chưa tới ba mươi centimét, và ánh mặt trời yếu ớt phản chiếu rõ rệt một cái gì đó ở phía trước. Ông ta nheo mắt tránh ánh chói. Làn nước bạc của sông Hudson vỗ ì oạp dưới chân cầu.

    Cách chiếc hộp khoảng ba mét, ông ta dừng lại, nhận ra nó là cái gì.

    Một cái đồng hồ treo tường. Một cái đồng hồ kiểu cổ, với những con số ngộ nghĩnh – những con số La Mã – và một hình trăng ở phía trước. Trông đắt tiền. Ông ta liếc nhìn đồng hồ đeo tay, thấy cái đồng hồ đang chạy,, giờ giấc chính xác. Ai mà để một vật đẹp đẽ thế này ở đây? Thôi được, coi như ta vớ được một món quà.

    Ông ta tiến bước định cầm cái đồng hồ lên thì trượt chân và một thoáng chốc trong ông ta chỉ còn nỗi hoảng sợ rằng ông ta sẽ ngã nhào xuống sông. Nhưng ông ta ngã xuống một mảng băng lúc trước ông ta không trông thấy và không bị trượt thêm nữa.

    Nhăn mặt vì đau, thở hổn hà hổn hển, ông ta gượng đứng dậy. Ông ta liếc nhìn xuống, nhận ra mảng băng này khác thường. Nó có màu nâu đỏ.

    “Ôi, lạy Chúa”, ông ta thì thầm khi nhìn chằm chằm vũng máu lớn đọng gần cái đồng hồ và đã đóng băng bóng loáng. Ông ta cúi về phía trước và càng kinh hoàng hơn bởi những vết máu ở đó – tựa như những vết móng tay vấy máu cào trên sàn gỗ của cầu tàu, tựa như ai đó với những ngón tay hay cổ tay bị cứa đứt đã bám vào để khỏi rơi xuống dòng sông chảy rất xiết.

    Ông ta rón rén đi ra mép cầu tàu, nhìn xuống. Không có ai nổi giữa những lớp sóng bập bềnh. Ông ta không ngạc nhiên, nếu điều ông ta hình dung là sự thực, vũng máu đã đóng băng có nghĩa kẻ tội nghiệp ấy đã ở đây lâu rồi, nếu không được cứu, cái xác lúc này đã nửa đường đến đảo Tự Do[5].

    Vừa sờ soạng tìm điện thoại di động, ông ta vừa quay bước và dùng răng tháo găng. Liếc nhìn cái đồng hồ lần cuối cùng, ông ta vội vã trở về văn phòng, bấm phím gọi cảnh sát bằng ngón tay múp míp run rẩy.


    * * *


    Trước và Sau.

    Thành phố giờ đã khác, sau buổi sáng tháng Chín ấy, sau vụ nổ, cái đuôi khói khổng lồ, và những tòa nhà biến mất.

    Bạn không thể phủ nhận điều đó. Bạn có thể nói tới tính kiên cường, dũng khí, thái độ trở-lại-với-công-việc của người New York và đó là sự thực. Nhưng người ta vẫn thoáng ngừng lại khi những chiếc máy bay lượn vòng lần cuối cùng để đáp xuống sân bay LaGuardia[6] và chúng dường như bay thấp hơn bình thường một chút. Bạn băng ngang con phố, tránh xa cái túi mua hàng bị bỏ rơi trên đường. Bạn chẳng ngạc nhiên nhìn thấy binh lính hay cảnh sát mặc đồng phục sẫm màu mang súng máy đen sì kiểu quân sự.

    Đám rước lễ Tạ ơn đến rồi lại đi không sự kiện và giờ kỳ Giáng sinh đang vào lúc sôi nổi nhất, người ta tụ tập khắp nơi. Nhưng lơ lửng bên trên cảnh hội hè, tựa như bóng phản chiếu nơi cửa kính hiệu bách hóa, là hình ảnh dai dẳng của tòa tháp đôi không còn ở đó nữa, những con người không còn bên cạnh chúng ta nữa. Và, lẽ dĩ nhiên, câu hỏi lớn là: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

    Lincoln Rhyme có cái Trước và Sau của riêng mình và anh rất hiểu khái niệm này. Đã có khoảng thời gian anh có thể đi bộ và vận động, rồi thì đến khoảng thời gian anh không thể nữa. Vừa đó, anh còn mạnh khỏe như bao người, khám nghiệm một hiện trường vụ án, chỉ một phút sau một thanh rầm làm cổ anh gẫy rắc và để lại cho anh chứng liệt tứ chi mức độ C4, từ vai trở xuống gần như liệt hoàn toàn.

    Trước và Sau…

    Có những khoảnh khắc biến đổi bạn vĩnh viễn.

    Tuy nhiên, Lincoln Rhyme tin rằng, nếu bạn coi những khoảnh khắc ấy như những bức tranh thánh quá linh thiêng, chúng sẽ càng có tác dụng mạnh mẽ hon. Và những kẻ xấu xa sẽ chiến thắng.

    Lúc này đây, trong buổi sáng sớm của một ngày thứ Ba lạnh lẽo, những ý nghĩ đó xuất hiện trong đầu Rhyme khi anh lắng nghe cô phát thanh viên đài Truyền thanh Quốc gia[7], bằng cái giọng đanh thép trên sóng FM, thông báo về một buổi diễu hành sẽ diễn ra vào ngày kia, tiếp theo là những lễ lạt và họp hành của các quan chức chính phủ, tất cả nếu hợp lẽ thì phải được tổ chức ở thủ đô. Nhưng thái độ sát-cánh-với-New York đã trở nên thịnh hành và các khán giả, cũng như những người phản đối, sẽ đổ đến, gây tắc nghẽn phố xá, khiến cuộc sống phố Wall càng khó khăn hơn nhiều. Tương tự chính trị là thể thao. Những trận đấu quyết định đáng lẽ được tổ chức ở New Jersey nay được lên lịch cho Madison – như một sự phô bày, vì lý do nào đấy, lòng ái quốc. Rhyme hoài nghi tự hỏi liệu sang năm giải đua marathon Boston có được tổ chức ở New York hay không.

    Trước và Sau…

    Rhyme đã đi tới chỗ tin tưởng rằng bản thân anh chẳng đổi khác lắm ở giai đoạn Sau này. Thể chất của anh hay như bạn có thể nói, hình dáng của anh, đã thay đổi. Nhưng bản chất anh vẫn là con người ở giai đoạn Trước: một cảnh sát và một nhà khoa học nôn nóng, tính khí thất thường (vâng, đôi khi đáng ghét), nghiêm khắc và không dung thứ cho sự bất tài cùng thói lười biếng. Anh không ỷ mình què quặt, không rên rỉ, không quan trọng hóa tình trạng của mình (mặc dù giờ hồn cho chủ những tòa nhà nào không thực hiện đúng các quy định căn cứ theo Luật Người Khuyết tật về chiều rộng cửa ra vào và đoạn dốc dẫn lên bậc thềm, nếu anh có mặt tại hiện trường vụ án xảy ra trong những tòa nhà đó).

    Khi Rhyme lắng nghe bản thông báo, cái thực tế là một số người dân thành phố dường như đang không vượt qua được sự tự thương hại mình làm anh phát cáu. “Tôi sẽ viết một bức thư”, anh bảo Thom.

    Anh chàng phụ tá trẻ tuổi mảnh khảnh, mặc chiếc quần sẫm màu, áo sơ mi trắng và áo len dày (ngôi nhà ở đường Tây Công viên Trung Tâm của Rhyme phải chịu đựng hệ thống sưởi tồi tệ và vật liệu cách nhiệt cũ kỹ) đang trang trí cho lễ Giáng sinh ngẩng nhìn lên. Rhyme thích thú với nét châm biếm anh đã tạo ra khi đặt một cây thường xanh bé tí trên bàn, bên dưới nó đã có một món quà, tuy không được bọc lại, đợi sẵn: một chiếc hộp đựng bỉm loại dùng một lần dành cho người lớn.

    “Thư ạ?”

    Rhyme trình bày cái lý thuyết của anh rằng nếu cứ đề cập đến chuyện buôn bán thương mại như mọi khi thì tinh thần ái quốc lại cao hơn. “Tôi sẽ xạc cho bọn họ một trận. Tôi nghĩ là tờ Thời báo.”

    “Tại sao không?”, anh chàng phụ tá hỏi. Công việc của anh ta được gọi là “điều dưỡng viên” (tuy vậy theo anh ta thì, làm cho Lincoln Rhyme, anh ta phải được mô tả thực sự là “ông thánh”).

    “Tôi sẽ làm”, Rhyme đáp cứng rắn.

    “Tốt đấy… thế nhưng, một vấn đề.”

    Rhyme nhướn một bên mày. Nhà hình sự học có thể – và đã – diễn đạt được rất nhiều, nhờ những phần cơ thể còn hoạt động: vai, mặt và đầu.

    “Hầu hết những người nói sẽ viết thư rốt cuộc đều không viết. Những người viết thật thì chỉ đơn giản là bắt tay vào việc và viết thôi. Họ chẳng cần thông báo. Anh có bao giờ nhận ra điều ấy không?”

    “Cảm ơn cậu vì sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý học, Thom ạ. Cậu biết rằng lúc này không gì ngăn cản nổi tôi đâu.”

    “Tốt”, anh chàng phụ tá nhắc lại.

    Sử dụng cái điều khiển bằng cảm ứng, nhà hình sự học lái chiếc xe lăn Storm Arrow[8] đến gần hơn một trong sáu màn hình phẳng lớn đặt trong căn phòng.

    “Lệnh”, anh nói vào hệ thống nhận giọng, qua chiếc mic gắn ở xe. “Soạn thảo văn bản.”

    Tuân theo câu lệnh, cửa sổ WordPerfect mở ra trên màn hình.

    “Lệnh, gõ. Thưa các vị. Lệnh, phẩy. Lệnh, xuống dòng. Lệnh, gõ. Tôi đã để ý thấy là…”

    Chuông cửa reo và Thom đi ra xem ai tới.

    Rhyme nhắm mắt lại và đang soạn thảo lời mắng mỏ thế giới thì một giọng nói đột ngột vang lên. “Này, Linc. Chúc Giáng sinh vui vẻ!”

    “Ừm, cũng chúc anh như thế”, Rhyme lầu bầu với Lon Sellitto bụng phệ đang bước vào. Viên thám tử to béo phải thận trọng di chuyển. Căn phòng vốn dĩ là một phòng khách cổ lỗ kiểu thời Victoria nhưng nay đầy ắp các dụng cụ khám nghiệm: các kính hiển vi quang học, một kính hiển vi điện tử, một máy tách hợp chất, các giá và cốc thủy tinh phòng thí nghiệm, ống hút, đĩa nuôi cấy tế bào, máy ly tâm, hóa chất, sách, tạp chí, máy tính – rồi dây điện dày chạy khắp nơi trong căn phòng. (Khi Rhyme bắt đầu tiến hành công việc tư vấn khám nghiệm hiện trường tại ngôi nhà này, đám thiết bị ngốn điện ấy thường xuyên gây nổ cái ngắt điện. Lượng điện tiêu thụ ở đây có lẽ bằng tổng lượng điện tiêu thụ của tất cả những người khác trong cùng tòa nhà.)

    “Lệnh, âm lượng, mức ba.” Thiết bị điều khiển môi trường lập tức hạ âm lượng đài Truyền thanh Quốc gia.

    “Bây giờ chúng ta không có tâm trạng hội hè, nhỉ?”, viên thám tử hỏi.

    Rhyme chẳng trả lời. Anh lại nhìn màn hình.

    “Này, Jackson.” Sellitto cúi xuống nựng chú chó nhỏ lông dài nằm cuộn tròn trong chiếc hộp đựng chứng cứ của Sở Cảnh sát New York. Chú ta đang tạm thời ở đây. Người chủ trước của chú, bà bác già của Thom, mới mất ở Westport, Connecticut, sau một thời gian dài đau ốm. Trong số các món anh thanh niên được thừa kế có Jackson, chú chó giống Havanese. Giống chó này, là bà con với giống Bichon Frise, gốc gác từ Cuba. Jackson ở đây tới chừng nào Thom tìm được cho chú ta một chỗ ở tử tế.

    “Chúng ta có một vụ nghiêm trọng, Linc ạ”, Sellitto nói và đứng dậy. Ông ta định cởi áo khoác rồi lại thôi. “Lạy chúa, trời lạnh quá. Đây là đợt lạnh nhất à?”

    “Không biết nữa. Không xem kênh thời tiết mấy.” Rhyme suy nghĩ về một đoạn mở đầu hay ho cho bức thư anh gửi ban biên tập.

    “Nghiêm trọng”, Sellitto nhắc lại.

    Rhyme nhướn mày liếc nhìn Sellitto.

    “Hai người chết, cùng một kiểu gây án. Ít nhiều là thế.”

    “Khối vụ nghiêm trọng ở ngoài kia, Lon. Sao những vụ này lại có gì nghiêm trọng hơn cơ chứ?” Như vẫn thường xảy ra vào những ngày tẻ nhạt giữa các vụ án, tâm trạng của Rhyme rất tồi tệ. Trong tất cả các đối tượng anh từng gặp, đối tượng tồi tệ nhất là cảnh buồn chán.

    Nhưng Sellitto đã làm việc với Rhyme bao nhiêu năm nay và đã miễn dịch trước thái độ của nhà hình sự học. “Một cú điện thoại từ Tòa nhà Lớn[9]. Các cốp muốn anh và Amelia đảm nhận vụ này. Họ báo rằng họ yêu cầu đấy.”

    “Ồ, yêu cầu ấy à?”

    “Tôi cam đoan tôi sẽ không nhắc lại với anh là họ bảo vậy. Anh không thích bị yêu cầu.”

    “Chúng ta đi đến phần nghiêm trọng được chăng, Lon? Hay như thế là đòi hỏi nhiều quá?”

    “Amelia đâu?”

    “Ở Westchester[10], đang làm một vụ. Cô ấy chắc sắp về.”

    Viên thám tử giơ ngón tay lên ra hiệu chờ vì điện thoại di động của ông ta đổ chuông. Ông ta trao đổi, gật đầu và ghi chép. Rồi ông ta kết thúc cuộc gọi, liếc nhìn Rhyme. “Được lắm, chúng ta có thông tin đây. Vào đêm hôm qua đối tượng của chúng ta, hắn đã chộp lấy…”

    “Hắn?”, Rhyme nhấn mạnh.

    “Vâng. Chúng ta chưa chắc chắn giống đực hay giống cái.”

    “Giới tính.”

    “Cái gì?”

    Rhyme nói: “Giống là một khái niệm ngôn ngữ. Nó đề cập những từ chỉ nam và nữ trong từng ngôn ngữ nhất định. Giới tính là một khái niệm sinh học, phân biệt các bộ phận cơ thể của nam và nữ.”

    “Cảm ơn bài học ngữ pháp”, viên thám tử lẩm bẩm. “Nó sẽ hữu ích chăng nếu tôi lên chương trình Jeopardy[11]! Dù sao, hắn cũng đã chộp lấy kẻ tội nghiệp nào đấy và đưa đến cái cầu tàu trên sông Hudson. Chúng ta không chắc chắn làm về cách hắn hành động, nhưng hắn đã buộc người đàn ông, hoặc phụ nữ, đó treo mình lơ lửng bên trên sông, rồi cứa đứt cổ tay người này. Nạn nhân đã cố gắng bám một lúc lâu, xem chừng đủ lâu để mất cả vũng máu, tuy nhiên cuối cùng đành buông tay ra.”

    “Xác?”

    “Chưa thấy. Lực lượng Tuần tra Bờ biển và Đơn vị Phản ứng nhanh đang tìm kiếm.”

    “Lúc nãy tôi nghe là số nhiều.”

    “Phải. Vài phút sau chúng tôi nhận được cú điện thoại nữa. Tới kiểm tra một con hẻm ở khu trung tâm, gần đường Broadway. Đối tượng có thêmnạn nhân. Một đội dân phòng phát hiện ra người thanh niên bị trói bằng băng dính nhựa trong tu thế nằm ngửa. Đối tượng treo một thanh kim loại, nặng cỡ ba mươi lăm ki-lô, bên trên cổ anh ta. Nạn nhân đã phải giữ cho nó không nén xuống để khỏi bị vỡ họng.”

    “Ba mươi lăm ki-lô? Được, xét về sức lực, tôi công nhận giới tính của đối tượng hẳn là nam.”

    Thom bước vào phòng với cà phê và bánh nướng. Sellitto, mà trọng lượng cơ thể luôn luôn là một vấn đề, nhặt chiếc bánh hạnh nhân mặt phết kem và rắc lạc trước hết, chế độ ăn kiêng của ông ta được bỏ qua trong các dịp lễ. Ông ta chén xong nửa chiếc bánh, vừa lau miệng vừa tiếp tục. “Vậy, nạn nhân đã đỡ thanh kim loại lên. Có lẽ anh ta đã đỡ một lúc lâu, nhưng cuối cùng đành chịu.”

    “Nạn nhân là ai?”

    “Tên là Theodore Adams. Sống gần công viên Battery. Đêm hôm qua một phụ nữ gọi cho 911 nói rằng anh trai chị ta đáng lẽ đã đến ăn tối với em mình nhưng lại không thấy đâu. Đó là cái tên do chị ta cung cấp. Sáng nay cảnh sát khu vực sẽ gọi cho chị ta.”

    Lincoln Rhyme thường không thấy những mô tả nhẹ nhàng là hữu ích. Tuy nhiên, anh thừa nhận từ nghiêm trọng phù hợp với tình hình này.

    Cả từ hấp dẫn nữa. Rhyme hỏi: “Tại sao anh bảo cùng một kiểu gây án?”.

    “Đối tượng để lại một danh thiếp ở cả hai hiện trường. Những chiếc đồng hồ treo tường.”

    “Đang chạy?”

    “Phải. Chiếc thứ nhất gần vũng máu trên cầu tàu. Chiếc còn lại bên cạnh đầu nạn nhân. Có vẻ như kẻ thực hiện muốn nạn nhân nhìn thấy đồng hồ. Và, tôi cho là, nghe thấy tiếng nó chạy.”

    “Mô tả chúng xem nào. Những chiếc đồng hồ ấy.”

    “Trông cổ lỗ. Tôi chỉ biết đến thế.”

    “Không phải bom chứ?” Giờ đây – trong thời buổi của cái giai đoạn Hậu 11 tháng Chín này – mọi vật chứng kêu tích tắc thông thường đều được kiểm tra xem có phải là thiết bị phát nổ không.

    “Không. Chúng sẽ không nổ đánh đùng đâu. Nhưng chúng sẽ được chuyển tới Rodman’s Neck[12] để kiểm tra các tác nhân sinh học hay hóa học. Có vẻ như cùng một kiểu đồng hồ. Lạ lùng và đáng sợ, một trong số các nhân viên Đơn vị Phản ứng nhanh nhận xét vậy. Một hình trăng trên mặt đồng hồ. Ồ, và phòng trường hợp chúng ta chậm hiểu, đối tượng để lại một lời ghi chú dưới mỗi chiếc đồng hồ. In ra từ máy vi tính. Không phải viết tay.”

    “Lời ghi chú là…?”

    Sellitto liếc nhìn xuống cuốn sổ, không dựa dẫm vào trí nhớ. Rhyme đánh giá cao điều này ở viên thám tử. Ông chẳng phải thuộc loại xuất sắc nhưng ông ta loài chó bull[13], tiến hành mọi việc một cách từ từ và hoàn hảo. Ông ta đọc: “Vầng Trăng Lạnh tròn vành vạnh trên bầu trời, chiếu ánh sáng lên thi thể này dưới mặt đất, cho biết thời điểm cái chết đến và kết thúc cuộc hành trình bắt đầu từ khi chào đời”. Ông ta ngẩng nhìn Rhyme. “Nó được ký tên Thợ Đồng Hồ.”

    “Chúng ta đã có hai nạn nhân và một chủ đề nguyệt cầu.” Thông thường, sự ám chỉ về thiên văn có nghĩa là sát thủ lập kế hoạch hành động nhiều lần. “Hắn sẽ còn có thêm nạn nhân.”

    “Linc này, anh nghĩ tại sao tôi lại ở đây chứ?”

    Rhyme liếc nhìn đoạn mở đầu bức thư gửi tờ Thời báo. Anh đóng chương trình soạn thảo văn bản lại. Bài luận về hai giai đoạn Trước và Sau sẽ phải đợi.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 3

    Một âm thanh khẽ khàng bên ngoài cửa sổ. Một tiếng lạo xạo của tuyết.

    Amelia Sachs dừng cử động. Cô liếc nhìn ra khoảng sân sau yên tĩnh, trắng xóa. Cô không nhìn thấy ai cả.

    Sachs đang ở cách thành phố nửa tiếng đồng hồ xe chạy về phía bắc, một mình trong ngôi nhà vùng ngoại ô theo kiểu kiến trúc Tudor cổ xưa im lìm tựa một nấm mồ. Một sự liên tưởng phù hợp, cô nghĩ, vì chủ ngôi nhà này chẳng còn tồn tại nơi thế giới những người sống nữa.

    Lại âm thanh đó. Sachs là một cô gái thành phố, quen với những tiếng động hỗn tạp của thị thành – vừa đầy đe dọa vừa dễ chịu. Sự xâm phạm vào cái yên tĩnh quá mức ở vùng ngoại ô này khiến cô bối rối.

    Có phải do một bước chân không?

    Nữ thám tử có vóc người cao, mái tóc đỏ, mặc chiếc quần bò màu đen, chiếc áo khoác da ngắn máu đen và áo len màu xanh lính thủy. Cô thận trọng lắng nghe một lát, lơ đễnh gãi đầu. Cô nghe được một tiếng lạo xạo nữa. Kéo khóa chiếc áo khoác xuống để có thể dễ dàng rút khẩu Glock. Thu mình. Cô nhìn nhanh ra bên ngoài. Không nhìn thấy gì cả.

    Và quay lại với nhiệm vụ. Sachs ngồi xuống chiếc ghế dựa kiểu văn phòng bằng da sang trọng, bắt đầu lục soát chiếc bàn làm việc khổng lồ. Đây là một nhiệm vụ đáng nản, vì vấn đề là cô không biết chính xác cô đang tìm kiếm cái gì. Thực tế, khó có thể gọi nơi này là hiện trường vụ án. Không có khả năng thủ phạm từng tới đây, không thi thể nào được phát hiện ra ở đây, không chút tài sản ăn cướp nào được cất giấu. Nó đơn giản là ngôi nhà hầu như bỏ không của người đàn ông mang tên Benjamin Creeley, người đã chết cách đó hàng dặm và cả một tuần lễ trước khi chết đã không có mặt tại ngôi nhà này.

    Nhưng cô vẫn phải lục soát, và lục soát rất kỹ lưỡng – bởi Amelia Sachs không tới đây trong vai trò cô hay đảm nhận: cảnh sát khám nghiệm hiện trường. Cô đang là thám tử chính điều tra vụ án mạng đầu tiên của mình.

    Thêm một tiếng động nữa bên ngoài. Băng tuyết, cành cây, nai, sóc… Sachs lờ đi và tiếp tục cuộc lục soát đã bắt đầu từ vài tuần trước, tất cả là vì một nút thắt trên một đoạn dây vải bông.

    Đoạn dây phơi dài chừng ấy đã kết thúc cuộc đời Ben Creeley, năm mươi sáu tuổi. Ông ta được phát hiện ra trong tình trạng treo lủng lẳng từ lan can ban công ngôi nhà của ông ta ở khu Upper East Side[14]. Một bức thư tuyệt mệnh nằm trên bàn, không có dấu hiệu là hiện trường giả.

    Tuy vậy, ngay sau cái chết của người đàn ông này, Suzanne Creeley, bà quả phụ, đã đến Sở Cảnh sát New York. Đơn giản là bà ta không tin chồng mình tự tử. Đúng, viên kế toán kiêm doanh nhân giàu có gần đây tính khí thất thường. Nhưng bà ta cho rằng chỉ vì ông ta làm việc quá nhiều với mấy dự án đặc biệt khó khăn mà thôi. Tâm trạng ủ rũ thi thoảng xuất hiện của ông ta rất khác chứng trầm cảm dẫn tới ý muốn tự tử. Ông ta không có tiền sử về sức khỏa tâm thần hoặc các vấn đề tình cảm, và không sử dụng thuốc chống suy nhược thần kinh. Tình hình tài chính của Creeley vững chắc. Không có những thay đổi mới về di chúc hay hợp đồng bảo hiểm của ông ta. Đối tác của ông ta, Jordon Kessler, đang đi làm việc với một khách hàng ở Pennsylvania. Tuy nhiên, Kessler và Sachs đã có trao đổi ngắn gọn và ông ta khẳng định trong giai đoạn gần đây, mặc dù Creeley dường như chán nản thì, ông ta tin chắc, người bạn làm ăn của ông ta cũng không hề đả động tới ý muốn tự tử.

    Sachs thường xuyên được chỉ định giúp đỡ Lincoln Rhyme trong công việc điều tra hiện trường, nhưng cô không muốn chỉ thực hiện cái công việc khám nghiệm đơn thuần ấy. Cô đã vận động bộ phận Các vụ trọng án để giành một cơ hội trở thành thám tử chính điều tra một vụ án mạng hoặc một vụ khủng bố. Ai đó tại Tòa nhà Lớn đã quyết định rằng cái chết của Creeley chắc chắn cần điều tra thêm và giao cho cô. Tuy vậy, bên cạnh sự nhất trí ý kiến là Creeley không tự tử, đầu tiên Sachs chẳng thể tìm thấy chứng cứ nào của hiện trường giả. Nhưng rồi cô đã có một phát hiện. Nhân viên khám nghiệm y tế báo cáo là Creeley khi chết bị gãy một ngón tay cái, toàn bộ bàn tay phải bị bó bột.

    Điều này khiến Creeley không thắt được nút thòng lọng treo cổ, cũng không buộc được sợi dây vào lan can ban công.

    Sachs biết thế vì cô đã thử hàng chục lần. Không sử dụng ngón tay cái thì không thực hiện được. Có thể Creeley chuẩn bị nó trước tai nạn xe đạp, một tuần trước khi chết, nhưng lẽ nào người ta lại thắt sẵn một nút thòng lọng treo cổ, để đấy và chờ đợi một ngày nào đó tự kết liễu cuộc đời mình.

    Sachs quyết định tuyên bố là cái chết đáng ngờ và mở một hồ sơ vụ án mạng.

    Tuy nhiên vụ án tiến triển theo chiều hướng khó khăn. Quy luật đối với vụ án mạng là hoặc chúng được giải quyết trong hai mươi tư tiếng đầu tiên hoặc sẽ mất hàng tháng mới có thể đóng hồ sơ lại. Chứng cứ quá ít ỏi (chai rượu ông ta uống trước khi chết, bức thư tuyệt mệnh và sợi dây) không mang lại điều gì. Không nhân chứng. Báo cáo của Sở Cảnh sát New York chỉ vỏn vẹn nửa trang giấy. Viên thám tử lúc trước đảm nhận vụ này hầu như không dành chút thời gian nào để điều tra, phong cách điển hình cho các trường hợp tự tử, và không cung cấp thêm cho Sachs thông tin gì.

    Chẳng còn dấu vết để lần theo bất cứ đối tượng nào ở thành phố, nơi Creeley từng làm việc và nơi gia đình ông ta sống phần lớn thời gian. Tất cả những việc còn làm được ở Manhattan là thẩm vấn sâu hơn Kessler, đối tác của người đã chết. Lúc này, Sachs đang khám xét một trong số quá ít ỏi các nguồn manh mối còn lại: ngôi nhà vùng ngoại ô của gia đình Creeley, nơi gia đình họ thảng hoặc mới đến sống.

    Nhưng Sachs không tìm thấy gì. Cô ngồi ngả người trên ghế, đăm đăm nhìn tấm ảnh mới chụp Creeley bắt tay một người trông có vẻ là doanh nhân. Họ đứng trên đường băng sân bay, phía trước là chiếc máy bay riêng của một công ty nào đấy. Mờ mờ đằng sau là những giàn khoan và ống dẫn dầu. Ông ta đang mỉm cười. Ông ta trông không có vẻ gì là chán nản – nhưng liệu có ai trông chán nản khi chụp ảnh nhỉ?

    Đúng lúc ấy có một tiếng lạo xạo nữa, rất gần, bên ngoài ô cửa sổ đằng sau Sachs. Rồi một tiếng lạo xạo nữa, thậm chí gần hơn.

    Đó không phải là sóc.

    Khẩu Glock được rút ra, một viên đạn tròn chín ly sáng bóng nằm trong ổ và bên dưới nó còn mười ba viên. Sachs lặng lẽ bước ra ngoài qua cửa chính, đi vòng sang hông ngôi nhà. Cô cầm súng bằng cả hai tay, nhưng áp sát mạng sườn (không bao giờ giơ súng ra phía trước khi đi vòng qua một góc tường vì súng có thể bị đánh bay từ phía bên cạnh, các vị đạo diễn phim ảnh luôn luôn thể hiện sai cảnh này). Một cái nhìn nhanh. Hông nhà không có bóng dáng ai. Thế là cô di chuyển về đằng sau nhà, thận trọng đặt từng bước chân trong đôi giày cao cổ màu đen lên lối đi bộ phủ băng dày.

    Dùng một chút, lắng nghe.

    Phải, dứt khoát đó là những bước chân. Người nào đó đang di chuyển một cách ngập ngừng, có lẽ về phía cửa hậu.

    Sẵn sàng, Sachs tự nhủ.

    Cô thận trọng lần về góc tường phía sau của ngôi nhà.

    Đúng lúc ấy chân cô trượt khỏi một mảng băng. Cô buột một hơi thở dốc yếu ớt, bất tụ giác. Cô nghĩ khó mà nghe thấy được.

    Nhưng nó đủ to đối với kẻ đột nhập.

    Sachs nghe thấy tiếng chân bỏ chạy nện trên sân sau, sục vào tuyết kêu lạo xạo.

    Chết tiệt…

    Thu mình lại – phòng trường hợp đó là động tác giả kéo mình lại gần mục tiêu, cô quan sát xung quanh góc tường và nâng nhanh khẩu Glock lên. Cô nhìn thấy một người đàn ông cao lêu khêu mặc quần bò và áo khoác dày sụ đang guồng chân hết tốc lực trong tuyết.

    Rõ khỉ… Thật đáng ghét khi có kẻ bỏ chạy. Sachs vốn phải chịu thua chiều cao và các khớp xương tồi tệ của mình – tức chứng viêm khớp – và sự kết hợp này khiến việc chạy là cả một nỗi khốn khổ.

    “Cảnh sát đây. Dừng lại!” Sachs cũng bắt đầu guồng chân đuổi theo người đàn ông.

    Sachs phải đuổi theo một mình. Cô không hề thông báo với Cơ quan Cảnh sát hạt Westchester rằng cô đang ở đây. Nếu cần hỗ trợ cô sẽ gọi 911 nhưng cô đã chẳng kịp gọi.

    “Tôi yêu cầu lần cuối cùng. Dừng lại!”

    Không một lời đáp.

    Họ đuổi nhau qua khoảng sân rộng rồi vào khu rừng đằng sau ngôi nhà. Thở mạnh, cơn đau phía dưới các xương sườn phụ họa với cảm giác buốt nhói nơi đầu gối, Sachs cố gắng chạy nhanh hết mức có thể nhưng người đàn ông vẫn đang vượt lên bỏ xa cô.

    Như cứt, mình sẽ tuột mất hắn.

    Nhưng thiên nhiên đã can thiệp. Một cành cây trồi lên khỏi tuyết vướng vào giày của anh ta và làm anh ta ngã dúi dụi, thốt lên một tiếng kêu to đến nỗi Sachs nghe thấy từ cách đó hơn mười mét. Cô chạy tới, hít một hơi dài, gí khẩu Glock vào cổ anh ta. Anh ta thôi không quằn quại nữa.

    “Đừng làm tôi đau! Xin cô!”

    “Suỵt.”

    Còng tay được rút ra.

    “Đưa tay ra đằng sau.”

    Anh ta hé nhìn. “Nhưng tôi chẳng làm gì cả!”

    “Tay.”

    Anh ta đành đưa tay ra theo yêu cầu, tuy nhiên bằng một động tác vụng về khiến Sachs thấy là anh ta chưa bao giờ bị cảnh sát tóm. Anh ta trẻ hơn lúc trước cô tưởng – một thiếu niên, mặt lấm tấm trứng cá.

    “Đừng làm tôi đau, xin cô!”

    Sachs lấy lại hơi thở và khám xét cậu ta. Không chứng minh thư, không vũ khí, không ma túy. Tiền và một bộ chìa khóa.

    “Tên cậu là gì?”

    “Greg.”

    “Họ?”

    Một chút chần chừ.

    “Witherspoon.”

    “Cậu sống gần đây à?”

    Cậu ta lấy hơi, gật đầu xác nhận.

    “Ngôi nhà đằng kia, ngay bên cạnh ngôi nhà của gia đình Creeley.”

    “Cậu bao nhiêu tuổi?”

    “Mười sáu.”

    “Tại sao cậu bỏ chạy?”

    “Tôi không biết. Tôi sợ.”

    “Cậu không nghe thấy tôi bảo tôi là cảnh sát à?”

    “Có, nhưng cô trông không giống một cảnh sát… một nữ cảnh sát. Cô thực sự là cảnh sát à?”

    Sachs cho cậu ta xem thẻ. “Cậu đang làm gì tại ngôi nhà đó?”

    “Tôi sống ngay bên cạnh.”

    “Cậu đã nói điều này rồi. Cậu đang làm gì lúc ấy?” Sachs lôi cậu ta ngồi dậy. Trông cậu ta có vẻ rất khiếp sợ.

    “Tôi nhìn thấy ai đó ở trong nhà. Tôi tưởng là bà Creeley hoặc có thể một người nào đấy trong gia đình hoặc đại loại vậy. Tôi chỉ muốn nói với họ chuyện này. Rồi thì tôi nhìn vào và thấy cô mang súng. Tôi hoảng sợ. Tôi nghĩ cô đi cùng bọn họ.”

    “Ai là bọn họ?”

    “Những người đàn ông đã đột nhập vào nhà. Đó là chuyện tôi định nói với bà Creeley.”

    “Đột nhập?”

    “Tôi nhìn thấy hai người đàn ông đột nhập vào nhà. Vài tuần trước. Khoảng dịp lễ Tạ ơn.”

    “Cậu có gọi cảnh sát không?”

    “Không. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi đã phải gọi. Nhưng tôi lại chẳng muốn dính líu tới. Bọn họ trông hung bạo.”

    “Hãy cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì.”

    “Tôi đang đứng bên ngoài, trên sân sau của nhà tôi, và tôi nhìn thấy bọn họ đi đến chỗ cửa hậu, ngó nghiêng xung quanh rồi nói chung, cô biết đấy, bẻ khóa và vào bên trong.”

    “Da đen hay da trắng?”

    “Tôi nghĩ là da trắng. Nhưng tôi không ở gần. Tôi không thể nhìn thấy mặt bọn họ. Bọn họ, cô biết đấy, chắc chắn là đàn ông. Quần bò và áo khoác ngắn. Một người to lớn hơn người kia.”

    “Màu tóc của bọn họ?”

    “Tôi không biết.”

    “Bọn họ ở bên trong bao lâu?”

    “Tôi nghĩ là một tiếng.”

    “Cậu nhìn thấy xe của bọn họ chứ?”

    “Không.”

    “Bọn họ có lấy cái gì không?”

    “Có. Một máy stereo, một ti vi, đĩa CD. Một vài trò chơi, tôi nghĩ thế. Tôi đứng dậy được chứ?”

    Sachs kéo cậu ta dậy và dẫn cậu ta đi về phía ngôi nhà. Cô để ý thấy cửa hậu đã bị nạy. Cũng là một việc khá dễ dàng.

    Sachs nhìn xung quanh. Chiếc ti vi màn hình lớn vẫn còn trong phòng khách. Rất nhiều đồ sứ đẹp đẽ trong tủ đựng cốc chén bát đĩa. Các thứ đồ bạc cũng ở đó. Và là bạc thật. Vụ trộm không có nghĩa gì. Phải chăng chúng lấy đi dăm ba món đồ để che giấu một cái khác?

    Sachs xem xét tầng trệt. Ngôi nhà sạch bong, trừ lò sưởi. Nó là kiểu lò sưởi ga, nhưng bên trong rất nhiều tàn tro. Với bộ phận châm lửa bằng ga, không cần thiết phải sử dụng giấy hay đóm. Phải chăng bọn trộm đã đốt cái gì?

    Không động vào bất cứ thứ gì, Sachs chiếu đèn pin lên các đồ vật.

    “Cậu có để ý thấy những kẻ đó đốt lửa khi ở đây không?”

    “Tôi không biết. Có thể.”

    Cũng có những vệt bùn phía trước lò sưởi. Sachs mang theo các thiết bị khám nghiệm hiện trường căn bản trong cốp xe. Cô sẽ lấy dấu vết xung quanh lò sưởi và bàn làm việc, thu chỗ tàn tro, bùn và bất cứ vật chứng nào có thể hữu ích.

    Đúng lúc ấy điện thoại di động của cô rung lên. Cô liếc nhìn màn hình. Một tin nhắn khẩn từ Lincoln Rhyme. Cô được yêu cầu trở về càng sớm càng tốt. Cô nhắn tin thông báo đã nhận tin.

    Cái gì đã bị đốt? Sachs tự nhủ, nhìn chằm chằm vào lò sưởi.

    “Vậy…”, Greg nói. “Bây giờ tôi đi được chưa?”

    Sachs nhìn cậu ta vẻ dò xét.

    “Tôi không biết cậu có ý thức được việc này không. Nhưng sau bất cứ cái chết nào, cảnh sát cũng tiến hành kiểm kê toàn bộ các đồ vật trong ngôi nhà vào ngày mà chủ nhà qua đời.”

    “Thì sao ạ?” Greg nhìn xuống.

    “Một tiếng nữa tôi sẽ gọi cho Cơ quan Cảnh sát hạt Westchester và đề nghị họ đối chiếu danh sách kiểm kê với các đồ vật hiện có ở đây. Nếu thiếu bất cứ thứ gì họ sẽ gọi cho tôi, tôi sẽ đưa cho họ tên cậu và gọi cho cha mẹ cậu.”

    “Nhưng…”

    “Những kẻ đó đã không lấy gì cả, phải không? Sau khi bọn họ đi khỏi, cậu vào bên trong qua cửa hậu và tự tiện lấy… những gì?”

    “Tôi chỉ mượn tạm vài thứ. Từ phòng Todd.”

    “Con trai ông Creeley à?”

    “Vâng. Và một trong những cái đĩa Nintendo là của tôi. Nó đã không trả lại.”

    “Còn hai kẻ kia? Bọn họ có lấy gì không?”

    Một chút ngập ngừng. “Có vẻ là không.”

    Sachs tháo còng tay. Cô nói: “Từ nay tới lúc ấy, cậu mang tất cả trả lại đây. Bỏ vào ga ra nhé. Tôi sẽ để cửa mở.”

    “Ồ, vâng. Tôi xin hứa”, Greg đáp không kịp thở. “Dứt khoát thế… Có điều…” Cậu ta bắt đầu khóc. “Có điều tôi đã ăn mất ít bánh ngọt. Bánh cất trong tủ lạnh. Tôi không… Tôi sẽ mua đền.”

    Sachs nói: “Họ không kiểm kê thực phẩm.”

    “Không à?”

    “Chỉ cần mang tất cả các thứ khác trả lại đây.”

    “Tôi xin hứa. Thật đấy.” Greg dùng ống tay áo lau mặt.

    Cậu ta bắt đầu bước đi. Sachs hỏi: “Còn điều này. Khi cậu nghe nói ông Creeley tự tử, cậu có ngạc nhiên không?”.

    “Ôi, có.”

    “Tại sao?”

    Cậu bé bật cười.

    “Ông ta có một chiếc 740. Tôi muốn nói chiếc xe dài ấy. Ai lại tự tử khi có một chiếc BMW, phải không?”
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 4

    Đó là những cái chết thật khủng khiếp.

    Amelia Sachs từng chứng kiến rất nhiều, hay ít ra cô cũng nghĩ thế. Nhưng đó là những biện pháp giết người độc ác nhất mà giờ đây cô có thể nhớ lại.

    Từ Westchester, cô đã trao đổi với Rhyme và anh yêu cầu cô nhanh chóng đến khu Hạ Manhattan, nơi cô sẽ khám nghiệm hiện trường hai vụ án mạng được thực hiện dường như vào hai giờ khác nhau bởi một kẻ tự xưng danh là Thợ Đồng Hồ.

    Sachs khám nghiệm hiện trường đơn giản hơn trước – cái cầu tàu trên sông Hudson. Hiện trường này không mất nhiều thời gian khám nghiệm, không có ai và hầu hết dấu vết đã bị những cơn gió bạo liệt thổi dọc con sông quét đi hoặc làm bẩn. Cô chụp ảnh và quay video quang cảnh hiện trường từ mọi góc độ. Cô chú ý chỗ lúc trước đặt chiếc đồng hồ – điều phiền phức là hiện trường đã bị đội tháo bom làm xáo trộn khi họ lấy nó đi kiểm tra. Nhưng không có sự lựa chọn khác đối với một thứ có thể là một thiết bị phát nổ.

    Sachs cũng thu lấy tờ ghi chú của sát thủ, một phần bám máu khô cứng lại. Sau đấy, cô lấy mẫu máu đã đóng băng. Cô chú ý vết móng tay trên cầu tàu nơi nạn nhân bám vào, treo người lủng lẳng bên trên mặt nước, rồi tuột xuống. Cô thu lấy một chiếc móng tay bị tước ra – nó to bè, ngắn và không sơn, cho thấy khả năng nạn nhân là nam giới.

    Sát thủ lọt vào bằng cách cắt đứt dây hàng rào mắt cáo bảo vệ cầu tàu. Sachs lấy mẫu dây kẽm để kiểm tra dấu vết dụng cụ cắt. Cô không tìm thấy dấu vân tay, dấu chân hay vết bánh xe gần lối vào cũng như gần vũng máu đã đóng băng.

    Chưa xác định được nhân chứng nào.

    Nhân viên kiểm tra y tế báo cáo rằng nếu nạn nhân thực sự rơi xuống sông Hudson, theo như những chi tiết thấy ở hiện trường, anh ta sẽ chết trong vòng khoảng mười phút do giảm thể nhiệt. Các thợ lặn của Sở Cảnh sát New York cùng lực lượng Tuần tra Bờ biển vẫn đang tìm kiếm cái xác và bất cứ chứng cứ nào còn dưới nước.

    Bây giờ, Sachs có mặt tại hiện trường thứ hai, con hẻm phố Cedar, gần Broadway. Theodore Adams, trạc ba mươi lăm tuổi, nằm ngửa, bị bịt miệng và trói hai chân hai tay vào với nhau bằng băng dính nhựa. Sát thủ đã tròng một sợi dây thừng vào một cầu thang thoát hiểm cách đất ba mét, và buộc một đầu sợi dây vào một thanh kim loại nặng gần hai mét có hai lỗ ở hai đầu trông giống lỗ kim. Thanh kim loại này được treo lơ lửng bên trên họng nạn nhân. Đầu kia sợi dây được đặt vào tay anh ta. Bị trói, Adams không thể trườn ra khỏi vị trí thanh kim loại buông xuống. Anh ta chỉ có thể hy vọng sẽ sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình để giữ cho cái trọng lượng kia cứ treo lơ lửng cho tới khi ai đó tình cờ đi qua cứu.

    Nhưng đã không có ai.

    Adams chết đã khá lâu và thanh kim loại tiếp tục nén xuống họng anh ta cho tới khi thân thể đóng băng cứng lại trong cái giá lạnh tháng Mười hai. Cổ anh ta bị đè bẹp gí chỉ còn dày chừng 2,5 centimét bên dưới thanh kim loại. Trên gương mặt anh ta là vẻ bợt bạt, không biểu cảm của cái chết, nhưng Sachs hình dung được gương mặt anh ta trông như thế nào trong – bao lâu? – mười hoặc mười lăm phút vật lộn để sống, nó đỏ lên vì nỗ lực, rồi tím bầm lại, cặp mắt lồi ra.

    Kẻ nào trên đời này giết người bằng những cách ấy, những cách rõ ràng được lựa chọn để đạt cái chết dai dẳng?

    Mặc bộ đồ bảo hộ Tyvek[15] màu trắng phòng trường hợp dấu vết từ quần áo và tóc cô làm ảnh hưởng đến hiện trường, Sachs chuẩn bị sẵn sàng các thiết bị thu thập chứng cứ trong khi bàn bạc về quang cảnh hiện trường với hai đồng nghiệp thuộc Sở Cảnh sát New York, Nancy Simpson và Frank Rettig, sĩ quan Đơn vị Khám nghiệm hiện trường đặt trụ sở tại Queens. Gần đó là chiếc xe phản ứng nhanh của đơn vị họ – một chiếc xe thùng lớn chất đầy các thiết bị cốt yếu phục vụ cho việc khám nghiệm hiện trường.

    Sachs xỏ chân vào hai đai cao su để phân biệt dấu chân cô với dấu chân đối tượng. (Một ý tưởng khác trong số rất nhiều ý tưởng của Rhyme. “Nhưng tại sao phải phiền phức thế? Em mặc bộ đồ Tyvek có bao chân mà, chứ có đi giày bình thường đâu”, Sachs từng một lần lưu ý như vậy. Anh nhìn cô vẻ chán ngán. “Ồ, xin lỗi. Anh đoán rằng một đối tượng không bao giờ nghĩ tới việc mua bộ đồ bảo hộ Tyvek. Bao nhiêu tiền hả Sachs? Bốn mươi chín đô la chín mươi lăm xu à?”)

    Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu cô là những vụ giết người này hoặc là kiểu hợp đồng thanh toán nhau của tội phạm có tổ chức hoặc là tác phẩm của một kẻ tâm thần. Kiểu hợp đồng thanh toán của tội phạm có tổ chức thông thường được dàn dựng như thế để gửi thông điệp đến các nhóm đối địch. Mặt khác, một kẻ tâm thần có thể sẽ tiến hành một vụ giết người cầu kỳ như thế vì chứng hoang tưởng hoặc vì cảm giác thích thú, cái cảm giác có thể mang tính chất bạo dâm – nếu nó có động cơ tình dục – hoặc đơn giản là sự độc ác. Sau những năm tháng trải qua thực tế nghề nghiệp, cô biết rằng bản thân việc gây ra nỗi đau đớn chính là một nguồn sức mạnh và có thể làm người ta nghiện.

    Ron Pulaski trong bộ đồng phục và áo khoác da ngắn tiến đến. Chàng sĩ quan tuần tra tóc vàng của Sở Cảnh sát New York, thanh mảnh, trẻ trung, đã giúp đỡ Sachs trong vụ Creeley và được đề nghị hỗ trợ trong những vụ Lincoln Rhyme đang phải giải quyết. Sau thời gian dài điều trị ở bệnh viện do lần kkịch chiến với một đối tượng, anh được đề nghị nghỉ việc theo chế độ thương tật.

    Chàng trai kể cho Sachs nghe rằng anh đã ngồi xuống với Jenny, cô vợ trẻ, và bàn bạc về vấn đề này. Liệu anh có nên quay lại làm việc không? Người anh em sinh đôi của Pulaski, cũng là một cảnh sát, góp thêm ý kiến. Cuối cùng, chàng thanh niên lựa chọn việc trải qua trị liệu và quay lại với lực lượng. Sachs và Rhyme rất ấn tượng trước nhiệt tâm tuổi trẻ của anh và gây sức ép để anh được phân công hỗ trợ cho mình bất cứ khi nào có thể. Sau này, anh thú nhận với Sachs (tất nhiên không bao giờ với Rhyme) rằng thái độ không chấp nhận để chứng liệt tứ chi loại bỏ mình khỏi đời sống và sự hăng hái tuân thủ chế độ trị liệu hàng ngày của Rhyme là nguồn cổ vũ lớn lao cho anh quay lại với nghề nghiệp đầy tính hoạt động.

    Pulaski không mặc bộ đồ Tyvek nên dừng lại phía ngoài dải băng vàng căng đánh dấu hiện trường. “Lạy Chúa”, anh lẩm bẩm trong khi nhìn chằm chằm cảnh tượng đáng sợ.

    Pulaski nói với Sachs rằng Sellitto và các sĩ quan khác đang thẩm tra những nhân viên bảo vệ và quản lý văn phòng ở các tòa nhà xung quanh con hẻm để xem liệu có ai nhìn thấy hay nghe thấy gì liên quan đến vụ tấn công, hoặc có biết Theodore Adams không. Anh bổ sung: “Đội dỡ bom vẫn đang kiểm tra mấy chiếc đồng hồ và sẽ chuyển chúng cho Rhyme sau. Còn tôi sẽ đi lấy tất cả các biển đăng ký của các xe đỗ xung quanh đây. Thám tử Sellitto bảo tôi làm việc này.”

    Vẫn quay lưng lại với Pulaski, Sachs gật đầu. Nhưng cô thực sự không chú ý lắm đến thông tin ấy, bây giờ nó không hữu ích cho cô. Cô sắp sửa khám nghiệm hiện trường và đang cố gắng tập trung suy nghĩ. Mặc dù theo định nghĩa thì công việc khám nghiệm hiện trường liên quan đến những vật vô tri vô giác, vẫn có một mối quan hệ gần gũi kỳ lạ giữa chúng với người thực hiện công việc. Người cảnh sát khám nghiệm hiện trường, để đạt kết quả như mong muốn, phải trở thành đối tượng về mặt tinh thần và tình cảm. Toàn bộ kịch bản khủng khiếp tự nó diễn ra trong trí tưởng tượng của họ: kẻ sát nhân lúc đó đang nghĩ gì, hắn đứng chỗ nào khi giơ khẩu súng hay con dao hay chiếc gậy tày lên, hắn điều chỉnh tư thế ra sao, hắn còn nấn ná quan sát cơn giãy chết của nạn nhân hay bỏ trốn ngay lập tức, cái gì tại hiện trường khiến hắn chú ý, cái gì xúi giục hoặc đẩy lùi hắn, lộ trình bỏ trốn của hắn. Đây không phải sự mô tả tâm lý sơ lược – kiểu vẽ chân dung đối tượng đặc trưng trên các phương tiện thông tin đại chúng, thi thoảng hữu ích – đây là nghệ thuật khai thác trong biết bao nhiêu thứ ngổn ngang trên hiện trường lấy được chút ít những manh mối quan trọng có thể dẫn đến cửa nhà của đối tượng.

    Sachs giờ đây đang thực hiện điều này, trở thành một người khác – kẻ sát nhân đã sắp đặt cái kết thúc khủng khiếp đối với một đồng loại.

    Cặp mắt quét xung quanh hiện trường, lên trên, xuống dưới, sang ngang: những viên sỏi, các bức tường, cái xác, thanh kim loại…

    Mình là hắn… Mình là hắn… Những gì đã đến trong đầu óc mình? Tại sao mình muốn giết những người này? Tại sao bằng những cách thức này? Tại sao ở cầu tàu, tại sao ở đây?

    Nhưng nguyên nhân của cái chết quá khác thường, những ý nghĩ của kẻ sát nhân quá cách xa những ý nghĩ của Sachs, tới nỗi cô không có câu trả lời cho các câu hỏi này, chưa có. Cô nhét tai nghe vào tai. “Rhyme, anh ở đó chứ?”

    “Thế anh còn ở đâu nữa?”, anh hỏi, giọng có vẻ hơi buồn cười. “Anh đang chờ đợi đây. Em ở đâu? Hiện trường thứ hai hả?”

    “Vâng.”

    “Em đang kiểm tra cái gì, Sachs?”

    Mình là hắn…

    “Con hẻm, Rhyme ạ”, Sachs nói vào mic. “Nó là một con hẻm cụt để giao hàng. Nó không thông hai đầu. Nạn nhân nằm gần mặt phố.”

    “Gần chừng nào?”

    “Cách mặt phố chừng bốn mét rưỡi trong một con hẻm dài chừng ba mươi mét.”

    “Làm sao anh ta ở đó được?”

    “Không thấy vết bánh xe nhưng anh ta dứt khoát đã bị kéo lên đến chỗ bị giết, có muối và chất nhầy bám trên lưng áo vét tông cũng như mặt dưới quần anh ta.”

    “Có những cửa ra vào gần cái xác chứ?”

    “Có. Anh ta gần như nằm phía trước một trong những cửa ấy.”

    “Anh ta vốn làm việc trong tòa nhà đó à?”

    “Không ạ. Em có danh thiếp của anh ta. Anh ta là nhà văn tự do. Địa chỉ nơi làm việc của anh ta cũng chính là địa chỉ căn hộ.”

    “Anh ta có thể đã có khách hàng ở tòa nhà đó hoặc ở một trong những tòa nhà kia.”

    “Lon đang kiểm tra.”

    “Tốt. Cánh cửa gần nhất ấy, xem liệu có phải là vị trí đối tượng đã chờ anh ta không?”

    “Vâng”, Sachs đáp.

    “Hãy đề nghị một nhân viên bảo vệ mở cánh cửa ấy và anh muốn em khám xét phía bên trong.”

    Lon Sellitto gọi từ phía ngoài dải băng vàng căng đánh dấu hiện trường: “Không nhân chứng. Tất cả mọi người đều mù tịt hết cả. Ôi chà, và điếc nữa… Và phải tới bốn, năm mươi văn phòng xung quanh con hẻm. Nếu có ai biết anh ta, chắc phải lâu mới phát hiện ra được”.

    Sachs truyền đạt lại yêu cầu của nhà hình sự họ là mở cánh cửa hậu gần cái xác.

    “Sẽ thực hiện đúng như vậy.” Sellitto vừa xăm xăm bước đi vừa hà hơi ấm vào hai bàn tay khum lại.

    Sachs quay video và chụp ảnh hiện trường. Cô tìm kiếm và không phát hiện ra chứng cứ nào về hành động tình dục trên cái xác hoặc gần đó. Cô bắt đầu bước đi theo đường bàn cờ – bước đi qua mỗi phân vuông của hiện trường hai lần, tìm kiếm các vật chứng. Không giống như nhiều chuyên gia khám nghiệm hiện trường, Rhyme khăng khăng đòi chỉ một người khám nghiệm – trừ trường hợp thảm họa lớn, tất nhiên – và Sachs luôn luôn bước đi ngang dọc hiện trường một mình.

    Nhưng kẻ nào thực hiện tội ác này đã hết sức cẩn thận chẳng để lại đằng sau dấu vết gì rõ ràng, ngoài lời ghi chú, chiếc đồng hồ, thanh kim loại, những đoạn băng dính nhựa và sợi dây thừng.

    Cô nói với Rhyme điều đó. Anh nói: “Những thứ thuộc loại ấy không khiến chúng ta thấy dễ dàng hơn, phải không Sachs?”

    Tâm trạng vui vẻ của anh làm cô khó chịu. Anh đâu ở ngay bên cạnh một nạn nhân đã phải chịu một cái chết tàn tệ như thế này. Cô phớt lờ lời bịnh luận và tiếp tục công việc tại hiện trường: tiến hành xử lý cơ bản cái xác để nó có thể được chuyển cho nhân viên kiểm tra y tế, thu nhặt tài sản cá nhân của người chết, lấy dấu vân tay, in tĩnh điện dấu giày, thu thập dấu vết bằng một con lăn có bôi chất dính, giống loại dùng để nhặt lông chó, mèo bám vào quần áo.

    Xét theo trọng lượng của thanh kim loại, có khả năng là đối tượng đã lái xe đến đây, nhưng không thấy vết bánh xe. Khoảng giữa con hẻm được rải đầy muối mỏ để làm tan băng và các hạt muối khiến người chết không tiếp xúc hẳn xuống lớp sỏi.

    Rồi Sachs nheo mắt nhìn. “Rhyme, chỗ này có cái gì lạ lùng lắm. Xung quanh cái xác, gần một mét xung quanh cái xác, có cái gì đó trên mặt đất.”

    “Em nghĩ nó là cái gì?”

    Sachs cúi xuống kiểm tra bằng kính lúp một thứ có vẻ như cát mịn. Cô nói vậy với Rhyme.

    “Để rắc lên băng chăng?”

    “Không. Chỉ có xung quanh anh ta thôi. Những chỗ khác trong con hẻm không có. Người ta sẽ sử dụng muối cho băng, tuyết.” Rồi Sachs bước lùi lại. “Nhưng chỉ còn một ít hạt mịn thôi. Trông giống như… vâng, Rhyme. Hắn đã quét. Bằng một cái chổi.”

    “Quét ấy à?”

    “Em có thể nhìn thấy những cọng rơm. Trông giống như hắn đã vãi hàng vốc cát ra và rồi quét đi… Nhưng có thể hắn không làm vậy. Không có gì giống như thế này ở hiện trường thứ nhất, trên cầu tàu.”

    “Có cát trên nạn nhân hay trên thanh kim loại không?”

    “Em không biết… Khoan, có đấy.”

    “Vậy thì hắn đã làm việc ấy sau khi giết chết nạn nhân”, Rhyme kết luận. “Nó có thể là một cách xóa dấu vết.”

    Những đối tượng cẩn thận đôi khi sử dụng các chất dạng bột hoặc dạng hạt – cát, vật liệu lót ổ cho mèo con hoặc thậm chí bột mì – rắc trên mặt đất sau khi thực hiện tội ác. Rồi chúng quét đi hoặc dùng máy hút bụi để hút, xóa hầu hết các dấu vết.

    “Nhưng tại sao nhỉ?”, Rhyme tự nói với mình.

    Sachs đăm đăm nhìn cái xác, đăm đăm nhìn con hẻm rải sỏi.

    Mình là hắn…

    Tại sao mình phải quét hiện trường?

    Đối tượng thường lau dấu vân tay và mang đi những chứng cứ rõ ràng nhưng hãn hữu mới có kẻ mất công xóa dấu vết bằng cách này. Sachs nhắm mắt lại và, thật là khó khăn, hình dung ra bản thân mình đứng nhìn xuống chàng trai trẻ đang cố gắng giữ cho thanh kim loại khỏi nén xuống họng.

    “Có thể hắn đánh đổ cái gì đó.”

    Nhưng Rhyme nói: “Điều ấy không có khả năng xảy ra. Hắn không thiếu thận trọng đến thế.”

    Sachs tiếp tục suy nghĩ: Mình thận trọng, chắc chắn rồi. Nhưng tại sao mình lại phải quét?

    Mình là hắn…

    “Tại sao?”, Rhyme thầm thì.

    “Hắn…”

    “Không phải hắn”, nhà hình sự học sửa lại. “Em là hắn đấy, Sachs ạ. Nhớ nhé. Em.”

    Em là một kẻ cầu toàn. Em muốn rõ bỏ chứng cứ hết mức có thể.”

    “Chính xác, nhưng em được gì bằng cách quét?”, Rhyme nhận xét. “Em chẳng được gì vì phải lưu lại hiện trường lâu hơn. Theo anh có một lý do khác.”

    Tư duy sâu hơn, cảm giác được mình nâng thanh kim loại lên, đặt sợi dây thừng vào bàn tay chàng trai, cúi nhìn chằm chằm gương mặt anh ta trong cơn nỗ lực, cặp mắt anh ta lồi ra. Mình đặt chiếc đồng hồ bên cạnh đầu anh ta. Nó đang kêu tích tắc, tích tắc… Mình quan sát anh ta chết.

    Mình chẳng để lại chứng cứ nào, mình quét…

    “Hãy suy nghĩ, Sachs. Hắn phụ thuộc vào cái gì?”

    Mình là hắn…

    Rồi Sachs buột thốt lên: “Em sẽ quay lại, Rhyme.”

    “Cái gì?”

    “Em sẽ quay lại hiện trường. Ý em nói hắn sẽ quay lại. Đó là lý do tại sao hắn phải quét. Bởi vì hắn tuyệt nhiên không muốn để lại bất cứ thứ gì khiến chúng ta mô tả được hắn: không một sợi vải, không một sợi tóc, dấu giày, bụi bẩn bám dưới đế giày. Hắn không sợ chúng ta sẽ sử dụng những dấu vết ấy để lần đến hang ổ của hắn – hắn quá cao thủ nên không đời nào để lại những dấu vết như vậy. Không, hắn sợ chúng ta sẽ tìm thấy thứ gì khiến chúng ta nhận ra hắn khi hắn quay lại.”

    “Được, đó có thể là lý do đấy. Hắn có thể là kẻ thích rình rập quan sát người khác, thích quan sát người ta chết, thích nhìn cảnh sát làm việc. Hay có thể hắn muốn xem ai sẽ săn đuổi hắn… để chính hắn có thể bắt đầu một cuộc săn đuổi.

    Sachs cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Cô nhìn xung quanh. Như thường lệ, một đám những kẻ hiếu kỳ đang đứng giương mắt lên bên kia phố. Kẻ sát nhân đang ở giữa bọn họ, theo dõi cô ngay lúc này chăng?

    Rồi Rhyme nói thêm: “Hay có thể hắn đã quay lại. Hắn đến từ sáng sớm xem nạn nhân đã chết thật chưa. Điều đó có nghĩa là…”

    “Là hắn hẳn để lại chứng cứ nào đấy ở chỗ khác, bên ngoài hiện trường. Trên vỉa hè, trên phố.”

    “Chính xác.”

    Sachs chui qua dải băng vàng ra bên ngoài khu vực được đánh dấu là hiện trường và nhìn sang bên kia phố. Rồi đoạn vỉa hè phía trước tòa nhà. Ở đó cô tìm thấy nửa tá dấu giày in trên tuyết. Cô chẳng làm sao biết được liệu trong số ấy có dấu giày của Thợ Đồng Hồ không, nhưng mấy dấu giày – loại giày cao cổ đế rộng dùng khi đi bộ địa hình – cho thấy khả năng một người nào đấy, có lẽ là một người đàn ông, đã đứng ở đầu hẻm vài phút, chốc chốc lại đổi chân. Cô ngó nghiêng xung quanh và đi đến kết luận là không có lý do gì để ai đứng đó – không có điện thoại công cộng, hòm thư hay cửa sổ nào ở gần.

    “Có mấy dấu giày cao cổ khác thường ở đầu hẻm, gần lề đường phố Cedar”, Sachs nói với Rhyme. “Dấu giày to.” Cô cũng xem xét khu vực này, đào vào một đống tuyết. “Có cái gì nữa ấy.”

    “Cái gì?”

    “Một cái kẹp tiền bằng kim loại màu vàng.” Những ngón tay Sachs buốt nhói vì lạnh bên dưới đôi găng cao su, cô đếm số tiền mặt trong cái kẹp. “Ba trăm bốn mươi đô la, tiền hai mươi đô la còn mới. Ngay bên cạnh các dấu giày.”

    “Trên người nạn nhân có tiền không?”

    “Sáu mươi đô la, cũng còn khá mới.”

    “Có thể đối tượng đã rút cái kẹp tiền ra rồi đánh rơi nó khi bỏ đi.”

    Sachs cho cái kẹp tiền vào một cái túi đựng chứng cứ, và kết thúc việc lục soát các khu vực khác của hiện trường mà không tìm thêm được gì nữa.

    Cửa hậu của tòa nhà văn phòng mở ra. Sellitto và một người bảo vệ mặc đồng phục thuộc số nhân viên an ninh của tòa nhà đứng đó. Họ đứng lùi lại trong khi Sachs xử lý chính cánh cửa – chụp ảnh cái mà cô mô tả cho Rhyme là hàng triệu dấu vân tay (anh chỉ cười thầm) và dãy hành lang tối lờ mờ đằng sau cánh cửa. Cô chẳng tìm thấy cái gì có liên quan rõ ràng đến vụ án mạng.

    Bỗng nhiên, một giọng phụ nữ hốt hoảng xé qua bầu không khí giá lạnh. “Ôi, lạy Chúa, không!”

    Một người phụ nữ tóc nâu chắc nịch ở tuổi ba mươi chạy nhào đến dải băng vàng, ở đó chị ta bị một cảnh sát tuần tra chặn lại. Chị ta lấy hai bàn tay ôm mặt và khóc nức nở. Sellitto bước tới. Sachs cũng đến chỗ họ. “Thưa chị, chị có biết anh ta không?”, viên thám tử to béo hỏi.

    “Chuyện gì đã xảy ra, chuyện gì đã xảy ra? Không… ôi, Chúa ơi…”

    “Chị có biết anh ta không?”, viên thám tử nhắc lại.

    Rũ rượi vì khóc lóc, người phụ nữ quay đi khỏi cảnh tượng khủng khiếp. “Anh trai tôi… Không, có phải anh ấy đấy không… ôi, Chúa ơi, không, anh ấy không thể…” Chị ta quỳ sụp xuống trên mặt băng.

    Đây là người phụ nữ đã thông báo việc anh trai mất tích đêm hôm qua, Sachs hiểu ra thế.

    Lon Sellitto có tính cách của một chú chó bull khi tiếp cận những kẻ bị tình nghi. Nhưng đối với các nạn nhân và người nhà họ, ông ta bày tỏ sự dịu dàng đáng ngạc nhiên. Bằng giọng nhẹ nhàng, hơi lè nhè do lối kéo dài các nguyên âm của người Brooklyn, ông ta nói: “Tôi rất lấy làm tiếc. Anh ấy đã mất, phải.”

    Ông ta giúp người phụ nữ đứng dậy và chị ta tựa vào bờ tường của con hẻm.

    “Kẻ nào làm việc này? Tại sao?” Chị ta kêu lên thất thanh khi chị ta nhìn chằm chằm cái chết khủng khiếp của người anh trai. “Kẻ nào làm một việc thế này? Kẻ nào?”

    “Chúng tôi không biết, thưa chị”, Sachs nói. “Tôi rất tiếc. Nhưng chúng tôi sẽ tìm ra hắn. Tôi hứa với chị.”

    Chị ta vừa thở hổn hển vừa quay sang. “Xin đừng để con gái tôi nhìn thấy.”

    Sachs nhìn qua chị ta đến chỗ một chiếc ô tô đỗ một nửa lên lề đường, nơi chị ta bỏ nó trong cơn hoảng hốt. Một cô bé độ mười mấy tuổi ngồi trên xe đang nghiêm trang nhìn chằm chằm vào Sachs, đầu nghểnh sang bên. Nữ thám tử bước đến đằng trước cái xác, không cho cô bé nhìn thấy bác cô.

    Người em gái, tên là Barbara Eckhart, nhảy khỏi xe mà không mặc áo khoác và giờ đang co ro vì lạnh. Sachs dẫn chị ta đi qua cánh cửa mở vào bên trong dãy hành lang cô vừa kiểm tra. Người phụ nữ trong cơn cuồng loạn xin phép vào nhà vệ sinh, khi trở ra vẫn run rẩy và tái nhợt, tuy đã nén khóc.

    Barbara không biết động cơ của kẻ sát nhân có thể là gì. Anh trai chị ta, sống độc thân, là nhà văn tự do, chuyên viết bài cho các đoạn phim quảng cáo. Anh ta được nhiều người yêu quý, và theo như chị ta biết thì không có kẻ thù. Anh ta chẳng dính dáng tới bất cứ chuyện tình tay ba nào – tức là không có những đức ông chồng nổi máu ghen – và chưa từng sử dụng ma túy, cũng chưa từng làm gì phạm pháp. Anh ta chuyển đến thành phố này cách đây hai năm.

    Thực tế là anh ta không có mối liên hệ rõ ràng nào với loại tội phạm có tổ chức khiến Sachs lo lắng. Nó đẩy yếu tố tâm thần lên hàng đầu, nguy hiểm cho cộng đồng hơn một băng nhóm tội phạm chuyên nghiệp nhiều.

    Sachs trình bay quá trình xử lý cái xác. Thi thể sẽ được nhân viên khám nghiệm y tế chuyển cho thân nhân trong vòng hai mươi tư đến bốn mươi tám tiếng. Gương mặt Barbara trở nên sắt đá. “Tại sao hắn lại giết Teddy như thế? Lúc đó hắn nghĩ gì?”

    Nhưng đấy là một câu hỏi mà Amelia Sachs không có câu trả lời.

    Dõi theo người phụ nữ với sự giúp đỡ của Sellitto, đang chậm chạp bước trở về xe mình, Sachs chẳng thể nào rời mắt khỏi cô con gái, cô bé cũng đăm đăm nhìn lại Sachs. Ánh mắt khó mà chịu đựng nổi. Cô bé tới bấy giờ hẳn đã biết người đàn ông kia thực tế là bác cô và ông chết rồi, nhưng Sachs có thể thấy dường như là một chút hy vọng mong manh trên gương mặt trẻ thơ ấy.

    Hy vọng để sắp sửa thất vọng.


    * * *


    Đói khát.

    Vincent Reynolds nằm trên chiếc giường mốc meo trong căn nhà tạm thời của bọn gã, vốn là một nhà thờ, và cảm thấy cơn đói khát nơi tâm hồn, nó đang lặng lẽ bắt chước tiếng sôi réo của cái bụng phệ.

    Ngôi nhà thờ Cơ Đốc giáo cũ kỹ này, tại một khu vực hoang vắng của Manhattan gần sông Hudson, chính là đại bản doanh cho các hoạt động giết người sẽ tiến hành. Gerald Duncan từ vùng khác đến, còn Vincent thì có căn hộ ở New Jersey. Vincent đã bảo rằng có thể ở chỗ gã nhưng Duncan nói không, bọn gã không đời nào lại làm thế. Bọn gã không nên giữ bất cứ liên hệ gì với chỗ ở thật của mình. Nghe như gã đang lên lớp vậy. Nhưng theo một cách chấp nhận được. Kiểu một người cha dạy dỗ đứa con trai.

    “Một nhà thờ à?”, Vincent đã hỏi. “Tại sao?”

    “Tại vì nó được rao bán mười bốn tháng rưỡi rồi. Không phải là tin mới rao. Và sẽ chả ai dẫn khách tới xem vào thời gian này trong năm.” Một cái nhìn nhanh sang Vincent. “Yên tâm. Nó chẳng còn là thánh đường nữa.”

    “Thế hả?”, Vincent hỏi, trong thâm tâm nghĩ mình đã phạm đủ tội lỗi để đảm bảo được đưa thẳng xuống địa ngục rồi, nếu có một lối dẫn xuống đấy. Việc xâm nhập một nhà thờ, là thánh đường hay chẳng còn là thánh đường nữa, đối với gã dù sao cũng là sự xúc phạm nhẹ nhàng nhất.

    Đại lý nhà đất khóa hết các cửa, tất nhiên, nhưng kỹ năng của một thợ đồng hồ về bản chất là kỹ năng của một thợ khóa (theo Duncan thì những người thợ đồng hồ đầu tiên chính là những người thợ khóa) và gã đàn ông này dễ dàng tháo khóa một cánh cửa hậu rồi tự thay vào đó chiếc khóa móc, thế là bọn gã có thể đi đi về về, không bị người đi trên phố hay người đi trên vỉa hè nhìn thấy. Gã cũng thay chiếc khóa ở cửa trước và bôi lên nó ít sáp để phòng trường hợp cả bọn đi vắng mà có ai vào sẽ biết ngay.

    Nơi nay tối tăm, gió lùa thông thống và đầy mùi nước tẩy rửa rẻ tiền.

    Phòng Duncan vốn là phòng ngủ của linh mục ở tầng hai, trong khu vực được dành riêng cho linh mục. Đối diện bên kia sảnh là phòng Vincent, nơi lúc này gã đang nằm – cái văn phòng cũ. Trong phòng có một cái võng, một cái bàn, bếp nấu, lò vi sóng và tủ lạnh (tất nhiên, Vincent Đói Khát chiếm căn bếp với các vật dụng như vậy). Nhà thờ vẫn còn điện phòng trường hợp những người môi giới cần bật đèn, và hơi nóng vẫn còn nên các ống nước không bị nổ, tuy bộ ổn nhiệt đặt ở mức rất thấp.

    Khi lần đầu tiên đến xem xét nơi này, biết nỗi ám ảnh về thời gian của Duncan, Vincent nói: “Tệ quá, chẳng có cái tháp đồng hồ. Giống Big Ben ấy.”

    “Đó là tên cái chuông, không phải tên cái đồng hồ.”

    “Trên Tháp London à?”

    “Trong cái tháp đồng hồ”, gã đàn ông lớn tuổi hơn sửa lại lần nữa. “Ở điện Westminster, nơi họp Quốc hội. Đặt theo tên ngài Benjain Hall. Vào cuối những năm 1850 nó là cái chuông lớn nhất nước Anh. Trong những cái đồng hồ thuở ban đầu, những cái chuông là thứ duy nhất cho người ta biết giờ. Lúc đó đồng hồ chưa có mặt hay kim chỉ giờ.”

    “Ồ.”

    “Từ clock (đồng hồ) xuất phát từ từ clocca trong tiếng Latin, có nghĩa là cái chuông.”

    Gã đàn ông này biết mọi thứ.

    Vincent thích điều đó. Gã thích rất nhiều điều ở Gerald Duncan. Gã cứ tự nhủ không biết hai kẻ lạc lõng với xã hội này có thể trở thành bạn bè thực sự hay không. Vincent không có nhiều bạn bè. Thi thoảng gã đi uống cùng với phụ tá luật sư và những nhân viên xử lý văn bản khác. Nhưng thậm chí Vincent Láu cũng có xu hướng không nói quá nhiều bởi vì gã e rằng sẽ lỡ lời nói điều gì không phải với một cô phục vụ hoặc một cô gái ngồi bàn gần bên. Cái đói khát khiến người ta thiếu thận trọng (hãy nhìn chuyện đã xảy ra với Sally Anne).

    Vincent và Duncan đối lập nhau ở nhiều điểm nhưng bọn gã có một điểm chung: những bí mật đen tối trong trái tim. Và bất cứ ai chia sẻ những điều ấy đều biết nó bù đắp cho những khác biệt to lớn về phong cách sống và chính trị.

    Ồ, phải. Vincent dứt khoát sẽ nỗ lực vì tình bạn của bọn gã.

    Gã lúc này đang rửa bát đĩa và lại nghĩ đến Joanne, cô gái tóc nâu bọn gã chuẩn bị tới thăm hôm nay: cô gái bán hoa ở chợ, nạn nhân tiếp theo.

    Vincent mở chiếc tủ lạnh nhỏ. Gã lấy ra một ổ bánh mì vòng cứng, cắt làm đôi bằng con dao săn của mình. Nó có cái lưỡi dài khoảng hai mươi phân và rất sắc. Gã phết kem pho mát trắng lên ổ bánh và ăn kèm hai lon Coke[16]. Mũi gã nhoi nhói vì lạnh. Gerald Duncan thận trọng khăng khăng đòi phải đi găng tay cả ở đây, thật là cái của nợ, nhưng hôm nay, vì trời lạnh quá thế này, Vincent chẳng buồn đi găng tay nữa.

    Gã lại nằm xuống giường, hình dung xem thân thể Joanne trông ra sao.

    Cuối ngày hôm nay…

    Cảm thấy thèm khát, thèm khát đến chết đi được. Bụng Vincent đang cạn kiệt vì sự thèm khát. Nếu gã không sớm có thể “tâm tình” chút ít với Joanne gã sẽ hết tất cả hơi sức.

    Gã lại uống một lon Dr Pepper, chén một túi khoai tây chiên. Rồi bánh quy xoắn.

    Đói khổ đói sở…

    Đói…

    Tự Vincent Reynolds sẽ không thể đi đến cái ý kiến rằng mỗi ham muốn tấn công phụ nữ về tình dục là một cơn đói. Ý kiến ấy do bác sĩ đã trị liệu cho gã, Tiến sĩ Jenkins, đưa ra.

    Khi gã bị giam vì vụ Sally Anne – lần duy nhất gã bị cảnh sát bắt giữ – ông bác sĩ đã bảo gã phải chấp nhận việc những nỗi thôi thúc gã cảm thấy đó sẽ không bao giờ ngưng.

    “Anh không thể rũ bỏ chúng. Ở một khía cạnh nào đấy, chúng là một cơn đói… Chúng ta biết gì về cái đói? Nó rất tự nhiên thôi. Chúng ta không thể không cảm thấy đói. Anh có đồng ý như vậy không?”

    “Thưa vâng.”

    Ông bác sĩ nói thêm rằng mặc dù người ta không thể chặn cảm giác đói lại hoàn toàn, người ta có thể “thỏa mãn nó một cách đúng đắn. Anh hiểu ý tôi chứ? Với thức ăn, anh sẽ có một bữa ngon miệng khi tới giờ ăn, anh không thể nào lại chỉ suốt ngày ăn vặt được. Với con người, anh có một mối quan hệ lành mạnh, có cam kết, dẫn đến hôn nhân và cuộc sống gia đình”.

    “Tôi hiểu ạ.”

    “Tốt. Tôi cho là chúng ta đang có tiến bộ. Anh có đồng ý như thế không?”

    Và gã thanh niên đã vô cùng tin tưởng vào thông điệp của ông bác sĩ, tuy nó được hiểu hơi khác so với ý của con người tốt bụng kia. Vincent đi đến lập luận là gã sẽ sử dụng sự so sánh về hai cái đói như một lời hướng dẫn hữu ích. Từ nay gã sẽ chỉ ăn, có nghĩa sẽ chỉ “tâm tình” chút ít với một cô gái, khi thấy thực sự cần thiết. Theo cách ấy, gã sẽ không trở nên liều lĩnh – và bất cẩn, cái cách gã làm đối với Sally Anne.

    Thật thông minh.

    Ông có đồng ý như thế không, Tiến sĩ Jenkins?

    Vincent xơi hết chỗ bánh quy xoắn và soda, rồi viết một lá thư cho em gái. Vincent Láu vẽ vài cái hình biếm họa ở lề giấy. Những cái hình mà gã nghĩ em gái chắc sẽ thích. Vincent không phải một họa sĩ tồi.

    Có tiếng gõ cửa.

    “Vào đi.”

    Gerald Duncan đẩy cửa bước vào. Hai gã chào nhau. Vincent liếc nhìn sang phòng Duncan, nó ngăn nắp đến hoàn hảo. Mọi vật dụng trên bàn đều được sắp xếp đối xứng. Quần áo được là phẳng và treo trong tủ cái nọ cách cái kia chính xác năm phân. Đây có thể là trở ngại cho tình bạn giữa bọn gã. Vincent thì lười biếng, nhếch nhác.

    “Anh ăn cái gì nhé?”, Vincent hỏi.

    “Không, cảm ơn.”

    Đó là lý do tại sao Thợ Đồng Hồ gầy nhẳng. Gã hãn hữu mới ăn, gã chẳng bao giờ đói. Đây có thể là một trở ngại nữa. Nhưng Vincent đã quyết định phớt lờ khuyết điểm này. Suy cho cùng, em gái Vincent cũng chẳng bao giờ ăn nhiều và gã vẫn yêu em.

    Kẻ sát nhân tự pha cà phê. Trong lúc đun nước, gã lấy lọ cà phê ra khỏi tủ lạnh và đong chính xác hai thìa. Những hạt cà phê kêu lách tách khi gã đổ chúng vào cối xay tay và quay cối mười hai vòng cho tới khi không còn âm thanh ấy nữa. Gã thận trọng đổ bột cà phê vào cái lọc bằng giấy hình chóp đặt bên trong một cái phễu nhỏ giọt. Gã vỗ vỗ để chắc chắn là bột cà phê được dàn đều. Vincent cực kỳ thích quan sát Gerald Duncan pha cà phê.

    Cẩn thận, tỉ mỉ…

    Duncan nhìn chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng của mình. Gã xoay cái ví nén rất cẩn thận. Gã uống hết chỗ cà phê – uống nhanh như uống thuốc vậy – rồi nhìn Vincent. “Con bé bán hoa của chúng ta”, gã nói. “Joanne ấy. Mày sẽ đi kiểm tra con bé nhé?”

    Một cái gì nện đánh thịch trong bụng Vincent. Tạm biệt, Vincent Láu.

    “Tất nhiên rồi.”

    “Tao sẽ đến con hẻm ở phố Cedar. Cảnh sát lúc này đã có mặt tại đó. Tao muốn xem chúng ta sắp sửa phải đương đầu với ai.”

    Ai…

    Duncan mặc áo khoác và đeo túi lên vai. “Mày sẵn sàng rồi chứ?”

    Vincent vừa gật đầu vừa mặc chiếc áo khoác da có mũ trùm màu kem, đội mũ và đeo kính râm.

    Duncan đang nói: “Hãy cho tao biết người ta sẽ đến xưởng hoa lấy đơn đặt hàng hay con bé sẽ làm việc một mình.”

    Thợ Đồng Hồ biết rằng Joanne thường xuyên ở xưởng hoa, cách cửa hiệu bán lẻ của cô mấy khối phố. Xưởng yên tĩnh và tối. Hình dung ra cô gái, mái tóc quăn màu nâu, khuôn mặt dài nhưng xinh xắn. Vincent Đói Khát không thể gạt cô ra khỏi tâm trí.

    Bọn gã xuống gác và đứng trong con hẻm đằng sau nhà thờ.

    Duncan móc khóa. Gã nói: “Ồ, tao có chuyện này. Mục tiêu cho ngày mai ấy hả? Con bé cũng là một phụ nữ. Sẽ là hai phụ nữ liên tiếp. Tao không biết bao lâu thì mày lại thích… mày gọi việc đó như thế nào nhỉ? Một chút tâm tình?”

    “Phải.”

    “Tại sao mày gọi như thế”, Duncan hỏi.

    Kẻ giết người này, Vincent nhận ra, có một trí tò mò không biết mệt mỏi.

    Những từ ấy cũng là của Tiến sĩ Jenkins, ông bác sĩ thân thiết ở trung tâm giam giữ, người đã bảo gã có thể đến văn phòng mình bất cứ khi nào gã muốn để nói về những cảm xúc trong lòng. Chính họ từng có một cuộc tâm tình tốt đẹp.

    Vì sao đó mà Vincent thích những từ ấy. Nghe cũng hay hơn từ “cưỡng hiếp” nhiều.

    “Tôi không biết. Chỉ là tôi gọi như thế thôi.” Vincent nói thêm rằng đối với gã hai phụ nữ liên tiếp chẳng thành vấn đề gì cả.

    Đôi khi ăn vào làm người ta thậm chí càng đói hơn, Tiến sĩ Jenkins ạ.

    Ông có đồng ý như thế không?

    Trong lúc thận trọng bước qua những mảng băng đóng trên vỉa hè, Vincent hỏi: “Ờ, anh sẽ làm gì với Joanne?”

    Khi giết người, Duncan có một nguyên tắc. Cái chết không thể diễn ra nhanh chóng được. Điều này nghe có vẻ dễ dàng nhưng thực ra khá khó khăn, gã giải thích bằng giọng rõ ràng, không xúc động. Duncan có một cuốn sách mang tựa đề Những kỹ thuật thẩm vấn cao nhất[17]. Nó viết về các cách làm cho tù nhân khiếp sợ mà cung khai, đó là các biện pháp tra tấn cuối cùng sẽ kết liễu họ nếu họ không thú nhận: nén vật nặng xuống họng, cứa cổ tay để máu chảy dần dần và hàng chục cách khác.

    Duncan trình bày: “Trong trường hợp con bé này, tao không muốn lâu quá. Tao sẽ bịt mồm và trói tay nó ra đằng sau. Rồi cho nó nằm sấp xuống, quấn một sợi dây thừng xung quanh cổ và mắt cá chân nó.”

    “Đầu gối cô ta sẽ phải gập lại?” Vincent có thể hình dung cảnh tượng ấy.

    “Đúng. Nó được mô tả trong cuốn sách. Mày đã xem hình minh họa chưa?”

    Vincent lắc đầu.

    “Con bé sẽ không thể giữ chân gập lại như thế lâu. Khi chúng bắt đầu duỗi ra, chúng thít sợi dây thừng quấn xung quanh cổ và con bé tự thắt cổ mình. Tao nghĩ mất chừng tám đến mười phút.” Duncan mỉm cười. “Tao sẽ bấm giờ. Như mày gợi ý. Khi việc đã xong xuôi, tao sẽ gọi mày và con bé sẽ là của mày tất.”

    Một cuộc tâm tình tốt đẹp xa xưa…

    Bước ra khỏi con hẻm, một cơn gió mạnh lạnh cóng quất vào bọn gã. Chiếc áo khoác da có mũ trùm của Vincent không kéo khóa bị thổi phanh.

    Gã dừng lại, sợ hãi. Trên vỉa hè, cách chỉ độ một mét, là một chàng trai trẻ. Cậu ta có bộ râu quai nón thưa thớt và mặc chiếc áo khoác ngắn đã sờn. Một cái ba lô đeo lủng lẳng ở vai. Một sinh viên, Vincent nghĩ. Cúi đầu, cậu ta vẫn không ngừng rảo bước.

    Duncan liếc nhìn kẻ đồng lõa. “Sao thế?”

    Vincent hất đầu về bên thân mình, phía có con dao săn bỏ trong bao đang giắt cạp quần. “Tôi nghĩ cậu ta trông thấy nó. Tôi… tôi xin lỗi. Đáng lẽ tôi đã phải kéo áo khoác lên, nhưng…”

    Đôi môi Duncan mím chặt.

    Đừng, đừng… Vincent hy vọng mình không làm Duncan bực bội.

    “Tôi sẽ đi giải quyết cậu ta, nếu anh muốn. Tôi sẽ…”

    Kẻ sát nhân nhìn về phía cậu sinh viên đang rảo bước xa khỏi bọn gã.

    Gã quay sang Vincent. “Mày đã giết người bao giờ chưa?”

    Vincent không chịu đựng được ánh mắt màu xanh lơ sắc lạnh. “Chưa.”

    “Chờ đây.” Gerald Duncan xem xét con phố vắng tanh vắng ngắt, không có ai ngoài cậu sinh viên kia. Gã lấy ra khỏi túi áo khoác cái cắt hộp mà gã đã sử dụng để cứa cổ tay người đàn ông trên cầu tàu đêm hôm qua. Duncan rảo bước theo sau cậu sinh viên. Vincent quan sát cho tới lúc gã chỉ còn cách cậu sinh viên độ một mét. Họ rẽ ở góc phố, sang phía Đông.

    Việc này thật khủng khiếp… Vincent đã không thận trọng. Gã đã đưa tất cả vào chỗ nguy hiểm: cơ hội cho tình bạn với Duncan, cơ hội cho những cuộc “tâm tình”. Tất cả vì gã đã bất cẩn. Gã muốn thét lên, gã muốn khóc.

    Vincent thò tay vào túi áo khoác, tìm thấy một thanh KitKat, ăn ngấu nghiến, nuốt cả một ít giấy gói cùng với kẹo.

    Duncan quay lại sau năm phút căng thẳng nặng nề, cầm một tờ báo nhăn nhúm.

    “Tôi xin lỗi”, Vincent nói.

    “Không sao. Ổn rồi.” Giọng Duncan nhẹ nhàng. Bên trong tờ báo là cái cắt hộp nhuốm máu. Gã dùng tờ báo lau lưỡi dao và bấm cho lưỡi dao thụt vào. Gã ném tờ báo dính máu và đôi găng tay đi. Gã xỏ đôi găng tay mới. Gã khăng khăng rằng bọn gã lúc nào cũng phải mang theo hai hay ba đôi găng.

    Duncan nói: “Cái xác nằm trong một thùng Dumpster[18]. Tao đã lấy rác phủ lên nó. Nếu chúng ta may mắn, nó sẽ được đổ vào bãi chôn rác hoặc đổ ra biển trước khi ai đó chú ý đến chỗ máu chảy.”

    “Anh không sao chứ?” Vincent cho rằng có một vết đỏ trên má Duncan.

    Gã đàn ông nhún vai. “Tao đã bất cẩn. Hắn chống trả. Tao phải rạch mắt hắn. Hãy nhớ điều ấy. Nếu ai đó kháng cự, phải rạch mắt nó. Như thế sẽ khiến nó ngừng kháng cự ngay tức khắc và mày có thể kiềm chế nó theo bất cứ cách nào mày muốn.”

    Rạch mắt…

    Vincent chậm chạp gật đầu.

    Duncan hỏi: “Mày sẽ cẩn thận hơn chứ?”.

    “Ồ, vâng. Xin hứa. Thật đấy.”

    “Bây giờ hãy đi kiểm tra con bé bán hoa và gặp tao ở bảo tàng lúc bốn giờ mười lăm phút.”

    “Được, chắc chắn rồi.”

    Duncan quay ánh mắt màu xanh lơ nhạt sang Vincent. Gã nở nụ cười hiếm hoi. “Đừng bối rối. Đã có một vấn đề. Và nó đã được giải quyết. Cứ cái đà tốt đẹp này, chuyện đó chả nhằm nhò gì.”
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này