Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 40

    Reginald Eliopolos hiện ra ở ngưỡng cửa, theo sau anh ta là hai đặc vụ cao lớn.

    Từ trước đến giờ Rhyme cứ đinh ninh tay công tố viên trạc tuổi trung niên. Nhưng lần này trong ánh sáng ban ngày hình như anh ta cũng chỉ ngoài ba mươi một chút. Hai viên đặc vụ cũng còn trẻ măng và ăn mặc lịch sự không khác gì anh ta, nhưng nhìn họ chỉ khiến Rhyme liên tưởng đến mấy tay phu khuân vác trên bến tàu.

    Chính xác thì anh ta cần họ làm gì nhỉ? Đê khống chế một người đàn ông tàn phế nằm bẹp trên giường à?

    “Chà, Lincoln, tôi đoán là anh đã không tin tôi khi tôi cảnh báo anh là sẽ có hậu quả xảy ra mà. Ừ hứ. Rõ ràng anh đã không tin tôi.”

    “Anh đang lải nhải cái quái quỷ gì nữa, Reggie?”, Sellitto hỏi. “Chúng tôi đã tóm được hắn.”

    “Ừ hứ... ừ hứ. Tôi sẽ cho các vị biết tôi đang...”, anh ta giơ tay lên và bắt đầu vẽ những dấu chấm hỏi tưởng tượng trong không khí, “... lải nhải cái gì nhé. Vụ án chống lại Hansen phăng teo rồi. Không có bằng chứng gì trong mấy cái túi bạt kia”.

    “Đó không phải là lỗi của chúng tôi”, Sachs nói. “Chúng tôi đã giữ cho nhân chứng còn sống. Và còn bắt được tên giết người thuê của Hansen.”

    “À”, Rhyme thốt lên, “nhưng đằng sau chuyện này còn nhiều vấn đề khác, đúng không, Reggie?”.

    Tay trợ lý chưởng lý Mỹ lạnh lùng nhìn anh.

    Rhyme nói tiếp,” Hiểu rồi, Jodie – ý tôi là tên Vũ công – là cơ hội duy nhất để họ có thể tiến hành truy tố Hansen lúc này. Hoặc ít nhất là anh bạn đây cũng nghĩ thế. Nhưng tên Vũ công sẽ không bao giờ bán đứng khách hàng”.

    “Ôi, thật vậy sao? Chậc, thế thì anh không hiểu rõ hắn như anh vẫn tưởng đâu. Tôi vừa mới có cuộc nói chuyện dài với hắn. Hắn rất sẵn lòng khai ra Hansen. Chỉ có điều lúc này hắn đang cố tình chây lỳ. Vì anh đấy.”

    “Tôi sao?” Rhyme hỏi.

    “Hắn nói anh đã đe doạ hắn. Trong cuộc gặp trái phép do anh bố trí cách đây vài tiếng đồng hồ. Ừ hứ. Sẽ có nhiều cái đầu sắp rụng chỉ vì chuyện đó. Xin cứ yên tâm.”

    “Ôi, vì Chúa”, Rhyme gầm lên, rồi bật cười phẫn nộ.”Chẳng lẽ anh không thấy hắn đang giở trò gì sao? Để tôi đoán nhé… anh nói với hắn là anh sẽ bắt tôi đúng không? Và hắn nói sẽ đồng ý ra làm chứng nếu anh làm thế.”

    Ánh mắt lảng tránh của Eliopolos cho Rhyme biết là sự việc đã xảy ra chính xác như những gì anh vừa nói.

    “Anh không hiểu sao?”

    Nhưng Eliopolos chẳng hiểu quái gì hết.

    Rhyme nói, “Chẳng lẽ anh không thấy là hắn muốn tôi cũng bị tống giam, xem nào, có thể là cách chỗ hắn chỉ 50, 60 feet?”.

    “Rhyme”, Sachs thốt lên, mặt sa sầm vì lo sợ.

    “Anh đang nói chuyện quái gì vậy?”, tay công tố viên hỏi.

    “Hắn chỉ muốn giết tôi, Reggie. Đó là ý đồ của hắn. Tôi là người duy nhất từng ngăn chặn được hắn. Hắn sẽ không thể tiếp tục ra ngoài giết người nếu biết tôi còn đang ở đây.”

    “Nhưng hắn sẽ không đi đâu. Không bao giờ.”

    Ừ hứ.

    Rhyme nói, “Sau khi tôi chết hắn sẽ phản cung. Hắn sẽ không bao giờ làm chứng chống lại Hansen. Và các anh định gây áp lực với hắn bằng cách nào đây? Doạ hắn bằng mũi kim tiêm thuốc độc à? Hắn sẽ không quan tâm. Hắn không sợ gì hết. Không sợ bất kỳ thứ gì”.

    Cái gì đang khiến anh bồn chồn thế nhỉ? Rhyme tự hỏi. Trong chuyện này có gì đó không ổn. Rất không ổn.

    Anh nhận ra đó chính là vì những quyển danh bạ điện thoại.

    Danh bạ điện thoại và những hòn đá...

    Rhyme đắm chìm trong suy nghĩ, mắt đăm đăm nhìn bảng sơ đồ bằng chứng trên tường. Anh nghe thấy tiếng lách cách và ngẩng đầu lên. Một trong hai viên đặc vụ đi cùng Eliopolos vừa rút phắt cái còng tay của mình ra và đang tiến về phía chiếc giường Clinitron. Rhyme bật cười với chính mình. Tốt nhất là cùm luôn cả đôi chân này đi. Không chúng lại chạy mất.

    “Thôi đi, Reggie”, Sellitto nói.

    Những sợi màu xanh, danh bạ điện thoại và mấy hòn đá.

    Anh chợt nhớ đến điều gì đó tên Vũ công đã cho anh biết. Khi hắn ngồi trong đúng chiếc ghế Eliopolos đang đứng cạnh lúc này.

    Một triệu đô la.

    Rhyme cũng lờ mờ nhận ra viên đặc vụ đang cố nghĩ xem đâu là cách tốt nhất để khống chế một người tàn tật. Và anh cũng lờ mờ nhận ra Sachs đang bước lên phía trước cố nghĩ cách nào để khống chế tay đặc vụ. Bất thình lình anh quát, “Khoan đã”, bằng một giọng oai vệ làm tất cả mọi người trong phòng đứng ngây ra.

    Những sợi màu xanh…

    Anh trừng trừng nhìn chúng trên bảng sơ đồ.

    Mọi người đang nói gì đó với anh. Viên đặc vụ vẫn đang dán mắt vào hai tay Rhyme, tay vung vẩy chiếc còng sáng loáng. Nhưng Rhyme phớt lờ tất cả. Anh nói với Eliopolos, “Hãy cho tôi nửa giờ”.

    “Tại sao tôi phải làm thế?”

    “Thôi đi, làm thế thì có hại gì chứ? Chẳng lẽ tôi còn trốn đi đâu được sao?” Và trước khi tay công tố viên kịp đồng ý, hay phản đối, Rhyme đã gào lên, “Thom! Thom, tôi cần gọi một cú điện thoại. Cậu có định giúp tôi hay không thì bảo? Nhiều lúc thật không biết là cậu ta đi đâu nữa. Lon, anh gọi giúp tôi nhé?”.



    Percey Clay vừa mới quay về sau lễ mai táng chồng mình thì Lon Sellitto liên lạc với cô. Mặc đồ tang màu đen cô lặng lẽ ngồi trong chiếc ghế cầu kỳ đang bằng cành liễu gai bên cạnh giường Rhyme. Đứng gần đó là Roland Bell, mặc một bộ com lê màu nâu nhạt được cắt may rất tệ – do hai khẩu súng ngắn to đùng mà anh đeo trong người. Mái tóc nâu lơ thơ được anh chải lật ngược lên đỉnh đầu.

    Elipolos đã bỏ đi, hai gã bặm trợn đi cùng anh ta đang đứng bên ngoài, canh gác hành lang. Hình như họ thực sự tin rằng, nếu có cơ hội, Thom sẽ tìm cách đẩy Rhyme ra ngoài cửa và anh sẽ thực hiện một cú đào tẩu trên chiếc xe lăn Storm Arrow, với tốc độ tối đa 7,5 dặm một giờ.

    Chiếc váy dài của Percey thắt lại ở cổ và phần eo, Rhyme dám cá rằng đây là chiếc váy duy nhất mà cô từng sở hữu. Vừa ngồi xuống cô đã định vắt chân này lên đầu gối chân kia nhưng rồi kịp nhận ra một chiếc váy sẽ không thích hợp cho tư thế này nên cô đành ngồi thẳng dậy, hai đầu gối ngay ngắn đặt cạnh nhau.

    Cô chằm chằm nhìn anh với một vẻ tò mò sốt ruột và Rhyme chợt nhận ra chưa một ai – Sellitto và Sachs, những người đưa cô đến đây – thông báo qua tình hình mới cho cô biết.

    Lũ hèn nhát, Rhyme thầm càu nhàu.

    “Percey… Họ sẽ không đặt vấn đề truy tố Hansen ra trước bồi thẩm đoàn.”

    Thoạt đầu cô vụt thấy nhẹ hẳn người. Nhưng rồi cô chợt nhận ra ý nghĩa thật sự của thông tin đó. “Không!”, cô há hốc miệng.

    “Chuyến bay của Hansen ấy? Để phi tang mấy cái túi bạt? Mấy cái túi chỉ là đồ giả. Bên trong không có gì hết.”

    Mặt cô tái nhợt đi như một tàu lá héo. “Họ sẽ thả hắn sao?”

    “Họ không tìm được mối liên hệ nào giữa tên vũ công và Hansen cả. Chừng nào chúng ta chưa tìm được, hắn vẫn sẽ tự do.”

    Cô đưa hai tay lên ôm mặt. “Nếu vậy tất cả đều vô ích sao? Ed… Và Brit? Họ đã chết chẳng vì cái gì hết.”

    Anh hỏi cô, “Bây giờ thì chuyện gì sẽ xảy ra với công ty của cô?”.

    Percey không ngờ lại nhận được câu hỏi này. Cô không chắc là mình vừa nghe đúng. “Tôi xin lỗi?”

    “Công ty của cô? Bây giờ thì chuyện gì sẽ xảy ra với Hudson Air?”

    “Có lẽ chúng tôi sẽ bán nó. Chúng tôi vừa nhận được đề nghị mua lại của một công ty khác. Họ có thể đảm đương những khoản nợ. Chúng tôi thì không. Hoặc không thì chúng tôi chỉ cần bán thanh lý là xong.” Đó là lần đầu tiên anh nghe thấy giọng buông xuôi của cô. Một cô nàng Gypsy đầu hàng.

    “Công ty nào thế?”

    “Thực tình tôi cũng không nhớ nữa. Ron vẫn đang đàm phán với họ.”

    “Đó là Ron Talbot, đúng không?”

    “Vâng.”

    “Liệu ông ta có biết rõ tình hình tài chính của công ty không?”

    “Chắc chắn rồi. Cũng như các luật sư và kế toán. Nói chung là biết nhiều hơn tôi.”

    “Cô có thể gọi cho ông ta, và yêu cầu ông ta tới đây càng sớm càng tốt được không?”

    “Tôi nghĩ chắc là được. Lúc nãy anh ta vẫn đang ở ngoài nghĩa trang. Có lẽ bây giờ anh ta về nhà rồi. Để tôi gọi điện cho anh ta!”

    “Còn Sachs này?”, anh nói, quay mặt về phía cô, “chúng ta vừa có thêm một hiện trường vụ án. Tôi cần cô kiểm tra. Càng nhanh càng tốt”.



    Rhyme ngước nhìn người đàn ông to béo đang bước qua ngưỡng cửa, ông ta mặc một bộ com lê màu xanh thẫm. Bộ quần áo bóng loáng với màu sắc và cách may làm người ta liên tưởng đến một bộ đồng phục. Rhyme đoán đó là bộ đồ ông ta vẫn mặc khi còn được bay.

    Percey giới thiệu hai người với nhau.

    “Vậy là các vị đã tóm được thằng chó đẻ đó”, Talbot gầm gừ. “Hắn sẽ phải lên ghế điện chứ?”

    “Tôi chỉ gom rác thôi”, Rhyme nói, thầm hài lòng hệt như mỗi lần anh nghĩ ra câu ví von thật cay độc nào đó. “Còn Chưởng lý quận muốn làm gì với nó là việc của ông ta. Percey đã kể với ông về việc chúng tôi đang gặp trục trặc với những bằng chứng buộc tội Hansen chưa?”

    “Có, cô ấy có nói qua về chuyện đó. Những bằng chứng mà hắn phi tang là đồ giả sao? Tại sao hắn lại làm thế?”

    “Tôi nghĩ tôi có thể trả lời câu hỏi đó, nhưng tôi cần thêm một số thông tin. Percey cho tôi biết là ông nắm rất rõ tình hình của Công ty. Ông cũng là đồng sở hữu, đúng không?”

    Talbot gật đầu, rút ra một bao thuốc lá, nhìn quanh thấy trong phòng không có ai hút thuốc nên ông ta lại nhét nó vào túi áo. Ông ta thậm chí còn có vẻ to béo hơn Sellitto và có vẻ như đã khá lâu kể từ lần ông ta có thể đóng cúc áo khoác quanh cái bụng vĩ đại của mình.

    “Tôi xin phép được hỏi ông điều này”, Rhyme nói. “Điều gì sẽ xảy ra nếu Hansen không muốn giết Ed và Percey bởi vì họ là nhân chứng?”

    “Nhưng tại sao lại thế?”, Percey thốt lên.

    Talbot hỏi, “Ý anh là hắn có động cơ khác sao? Như thế nào?”.

    Rhyme không trả lời thẳng. “Percey cho tôi biết là thời gian qua Công ty làm ăn không được thuận lợi.”

    Talbot nhún vai. “Hai năm vừa rồi cũng khó khăn. Sau khi Chính phủ bãi bỏ quy định đối với rất nhiều loại máy bay cỡ nhỏ. Chúng tôi phải cạnh tranh với các công ty UPS rồi FedEx. Cả ngành Bưu chính nữa. Thị phần thu hẹp dần.”

    “Nhưng các vị vẫn có – từ gì ấy nhỉ, Fred? Anh đã từng điều tra một số vụ án kinh tế đúng không? Lượng tiền đổ về ấy. Thuật ngữ hay dùng là gì nhỉ?”

    Dellray cười phá lên, “D-o-a-n-h thu, trời ạ Lincoln”.

    “À. Các vị vẫn có doanh thu rất khá.”

    Talbot gật đầu. “Ồ, dòng tiền mặt ra vào chưa bao giờ là vấn đề cả. Chỉ có điều lượng tiền bỏ ra lớn hơn lượng tiền thu về.”

    “Vậy ông nghĩ thế nào về giả thuyết là tên vũ công được thuê giết hại Percey và Ed để kẻ chủ mưu có thể mua lại công ty với giá ưu đãi?”

    “Công ty nào? Của chúng tôi ấy à?”, Percey cau mày hỏi.

    “Tại sao Hansen lại làm thế?”, Talbot hỏi, và lại thở khò khè.

    Percey nói thêm, “Vậy tại sao hắn không đến gặp thẳng chúng tôi với một tờ séc lớn? Thậm chí hắn còn chưa bao giờ tiếp cận chúng tôi”.

    “Tôi không hề nói đó là Hansen”, Rhyme nói thẳng. “Câu hỏi mà tôi vừa đặt ra lúc trước là giả sử Hansen không muốn giết Ed và Carney thì sao? Giả sử đó là một người khác?”

    “Ai”, Percey hỏi.

    “Tôi không chắc lắm. Chỉ là... hừm, cái sợi màu xanh kia.”

    “Sợi màu xanh?” Talbot nhìn theo ánh mắt của Rhyme về phía bảng sơ đồ bằng chứng.

    “Có vẻ như mọi người đều đã quên mất nó. Trừ tôi.”

    “Chẳng lẽ có người không bao giờ quên điều gì à? Anh thì sao, Lincoln?”

    “Không quá thường xuyên đâu, Fred. Không quá thường xuyên. Mẫu sợi kia. Sachs – cộng sự của tôi.”

    “Tôi nhớ cô rồi”, Talbot nói, gật đầu về phía cô.

    “Cô ấy tìm thấy nó trong chiếc hangar mà Hansen thuê. Nó nằm lẫn trong một số vật chất vi lượng gần cửa sổ nơi Stephen Kall đã mai phục trước khi hắn gài quả bom lên máy bay của Ed Carney. Cô ấy còn tìm thấy những mẩu đồng vụn cùng với ít sợi màu trắng và hồ dán phong bì. Điều đó cho chúng ta biết là có kẻ đã để chìa khóa mở cửa vào hangar trong một chiếc phong bì ở đâu đó cho Kall. Nhưng rồi tôi chợt đặt câu hỏi – tại sao Kall phải cần đến chìa khóa để đột nhập vào một chiếc hangar trống trơn? Hắn là dân chuyên nghiệp. Ngay cả lúc ngủ hắn cũng có thể phá được cửa vào bên trong. Lý do duy nhất cho chiếc chìa khóa là khiến mọi người nghĩ chính Hansen để nó lại. Để đổ tội cho hắn.”

    “Nhưng còn vụ cướp xe”, Talbot nói, “lần hắn giết mấy quân nhân và cướp số vũ khí đó. Mọi người đều biết hắn là kẻ giết người”.

    “Ồ, có lẽ thế”, Rhyme đồng tình. “Nhưng hắn không phải là kẻ lái chiếc máy bay ra ngoài khơi Long Island và chơi trò thả bom bằng những quyển danh bạ điện thoại đó. Có kẻ khác đã làm.”

    Percey sốt ruột ngọ nguậy.

    Rhyme nói tiếp, “Kẻ này đã không nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm thấy những chiếc túi bị phi tang”.

    “Ai?”, Talbot gặng hỏi.

    “Sachs?”

    Cô rút ba cái phong bì lớn đựng bằng chứng từ trong túi vải ra và đặt chúng lên mặt bàn.

    Bên trong hai phong bì là những sổ sách kế toán. Chiếc thứ ba chứa một tập phong bì màu trắng.

    “Những thứ này được lấy từ văn phòng của ông, Talbot.”

    Ông ta gượng cười. “Tôi không nghĩ các người có thể tự tiện lấy chúng mà chưa có lệnh khám.”

    Percey Clay cau mày. “Chính tôi đã cho phép họ. Tôi vẫn còn là chủ tịch của công ty, Ron. Nhưng anh định nói gì vậy, Lincoln?”

    Rhyme rất tiếc vì đã không chia sẻ mối nghi ngờ của mình với Percey từ trước; chuyện này đang xảy ra như một cú sốc khủng khiếp đối với cô. Nhưng anh không thể mạo hiểm với khả năng cô sẽ để lộ chuyện cho Talbot biết. Cho đến tận lúc này ông ta vẫn che đậy dấu vết của mình mới kỹ càng làm sao.

    Rhyme liếc nhìn Mel Cooper, người kỹ thuật viên này nói, “Mẫu sợi màu xanh mà chúng tôi tìm thấy cùng những hạt bụi đồng của chiếc chìa khóa là từ một trang sổ kế toán. Còn những sợi màu trắng là của một cái phong bì. Không phải nghi ngờ gì nữa, chúng hoàn toàn trùng khớp”.

    Rhyme nói tiếp, “Và tất cả đều từ văn phòng của ông, Talbot”.

    “Ý anh là sao cơ, Lincoln?”, Percey há hốc miệng.

    Rhyme nói với Talbot, “Tất cả mọi người ở sân bay đều biết là Hansen đang bị điều tra. Ông đã nảy ra ý nghĩ là có thể lợi dụng điều này. Vì thế ông đã đợi đến một đêm khi Percey và Ed cùng với Brit Hale ở lại làm việc muộn. Ông ăn trộm máy bay của Hansen để thực hiện chuyến bay kia, ông phi tang những chiếc túi bằng chứng giả. Ông thuê tên Vũ công. Tôi đoán ông đã nghe nói về hắn trong những lần ông làm việc ở châu Phi hoặc vùng Viễn Đông. Tôi đã gọi vài cuộc điện thoại. Ông từng làm việc cho lực lượng không quân Botswana và cho cả chính phủ Mianma, tư vấn cho họ về việc mua lại những chiếc máy bay quân sự đã qua sử dụng. Tên Vũ công cho tôi biết hắn được trả một triệu đô cho phi vụ này”. Rhyme lắc đầu. “Lẽ ra nghe như vậy là tôi phải đoán ra ngay. Hansen hoàn toàn có thể cho thủ tiêu cả ba nhân chứng mà chỉ mất có hai trăm nghìn đô la là cùng. Thời buổi này giết người chuyên nghiệp chắc chắn là một thị trường thừa hàng thiếu khách. Một triệu đô la cho tôi biết người chủ mưu vụ này là một kẻ nghiệp dư. Và hắn có rất nhiều tiền để tha hồ vung tay.”

    Tiếng thét bật ra từ miệng Percey Clay và cô nhảy xổ vào ông ta. Talbot đứng bật dậy, và bước lùi lại. “Làm sao anh có thể”, cô gào lên. “Tại sao?”

    Dellray nói, “Người của tôi ở bộ phận tội phạm tài chính đang tiến hành điều tra sổ sách của Công ty cô. Và chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ tìm ra nhiều và rất rất nhiều tiền không có ở nơi cần phải có”.

    Rhyme nói tiếp, “Hudson Air làm ăn thành công hơn rất nhiều so với những gì cô nghĩ, Percey. Phần lớn lợi nhuận đó đều chảy vào túi của Talbot. Ông ta biết sớm muộn gì cũng sẽ có ngày ông ta bị phát hiện và ông ta cần phải loại bỏ cô cùng với Ed để tự mình mua lại Công ty”.

    “Quyền mua lại cổ phần”, cô nhắc lại. “Với tư cách là một cổ đông, anh ta có quyền mua lại cổ phần của chúng tôi với giá ưu đãi trong trường hợp chúng tôi chết.”

    “Chuyện này thật vớ vẩn. Tên đó còn bắn cả tôi nữa mà, xin nhớ cho.”

    “Nhưng ông đâu có thuê Kall”, Rhyme nhắc ông ta. “Ông đã thuê Jodie – tên Vũ công Quan tài – và hắn lại thuê Kall làm thay mình. Mà tên Kall thì không hề biết ông.”

    “Làm sao anh có thể?”, Percey lặp lại bằng giọng nói trống rỗng. “Tại sao? Tại sao?

    Talbot gầm lên, “Bởi vì tôi yêu em!”.

    “Sao cơ?” Percey chết lặng.

    Talbot nói tiếp. “Em đã phá lên cười khi tôi nói tôi muốn cưới em.”

    “Ron, không. Tôi...”

    “Và em quay lại với hắn.” Ông ta cười khẩy. “Ed Carney, chàng phi công lái máy bay chiến đấu đẹp trai. Phi công siêu đẳng[128]... Hắn đối xử với em không ra gì vậy mà em vẫn muốn hắn. Rồi…” Mặt ông ta tím bầm vì căm hận. “Rồi… tôi mất nốt điều cuối cùng tôi có – tôi bị đẩy xuống mặt đất. Tôi không còn được bay nữa. Tôi phải đứng nhìn hai người bổ sung vào nhật ký bay của mình hàng trăm giờ mỗi tháng trong khi tất cả những gì tôi có thể làm là ngồi ở bàn và cạo giấy. Hai người còn có nhau, còn được bay… Em hoàn toàn không biết cảm giác đánh mất tất cả những gì mình yêu quý là như thế nào đâu. Đơn giản là em chẳng biết gì hết!”

    Sachs và Sellitto nhìn thấy ông ta căng người lên. Họ đã đoán ông ta đang định liều lĩnh làm gì đó nhưng không thể ngờ được Talbot lại khỏe đến thế. Đúng lúc Sachs vừa bước lên phía trước, chực rút súng ra khỏi bao, Talbot đã nhấc bổng cô nàng cảnh sát cao ngồng lên khỏi mặt đất và quăng cô vào chiếc bàn để bằng chứng, làm đổ tung tóe những chiếc kính hiển vi và thiết bị xung quanh, đẩy Mel Cooper bắn vào tường. Talbot giật khẩu Glock ra khỏi tay cô.

    Ông ta vung khẩu súng về phía Bell, Sellitto và Dellray. “Được rồi, ném súng của các người xuống sàn. Làm ngay đi. Ngay lập tức!”

    “Thôi nào, ông bạn”, Dellray nói và nheo mắt lại. “Ông định làm gì bây giờ? Trèo ra ngoài cửa sổ à? Ông sẽ không trốn được đâu.”

    Ông ta gí khẩu súng vào sát mặt Dellray. “Tôi sẽ không nhắc lại lần nữa.”

    Mắt ông ta long lên tuyệt vọng. Ông ta khiến Rhyme liên tưởng đến một con gấu bị dồn vào góc. Người đặc vụ và hai viên cảnh sát liệng súng của họ xuống sàn nhà. Bell vứt ra cả hai khẩu súng.

    “Cánh cửa kia dẫn đi đâu?” Ông ta hất đầu về phía một bên tường. Ông ta đã thấy người của Eliopolos đứng gác bên ngoài và biết thừa mình không thể nào thoát được qua lối đó.

    “Đó là một tủ để đồ”, Rhyeme nói nhanh.

    Ông ta mở toang cửa và trừng trừng nhìn chiếc thang máy bé tí.

    “Đồ khốn kiếp”, Talbot thì thầm, chĩa khẩu súng vào Rhyme.

    “Không”, Sachs hét lên.

    Talbot lại vung khẩu súng về phía cô.

    “Ron”, Percey khấn nài, “Hãy nghĩ mà xem. Xin anh…”.

    Sachs, hổ thẹn nhưng không bị thương, đã đứng dậy được và đưa mắt nhìn những khẩu súng ngắn nằm trên sàn nhà cách đó 10 feet.

    Không, Sachs, Rhyme thầm nghĩ. Đừng!

    Cô đã hạ được tên sát thủ chuyên nghiệp máu lạnh nhất nước Mỹ vậy mà giờ đây lại sắp bị bắn bởi một kẻ nghiệp dư đang hoảng sợ.

    Mắt Talbot đảo lia lịa từ Dellray và Sellitto tới cửa thang máy, trong đầu suy tính xem bảng nút điểu khiển đặt ở đâu.

    Không, Sachs, đừng làm thế.

    Rhyme đang cố thu hút sự chú ý của cô nhưng mắt cô còn mải tập trung ước lượng khoảng cách và góc bắn. Cô sẽ không bao giờ hành động kịp.

    Sellitto nói, “Chúng ta nói chuyện đã, Talbot. Thôi đi, hạ súng xuống”.

    Xin cô, Sachs, đừng làm thế… Hắn sẽ nhìn thấy cô. Hắn sẽ nhắm bắn vào đầu – dân nghiệp dư luôn làm vậy – và cô sẽ chết.

    Cô căng người, mắt dán chặt vào khẩu Sig-Sauer của Dellray.

    Không…

    Đúng lúc Talbot liếc mắt về phía chiếc thang máy Sachs nhào xuống sàn nhà và lăn người chộp lấy khẩu súng của Dellray. Nhưng Talbot đã nhìn thấy cô. Trước khi cô kịp cầm khẩu súng tự động nặng trịch lên, ông ta đã chĩa khẩu Glock vào mặt cô, nheo mắt lại và cuống cuồng bóp cò trong cơn hoảng loạn.

    “Không!”, Rhyme thét lên.

    Phát súng nổ đanh đến chói tai. Những ô cửa kính rung lên và hai con chim ưng bay vụt lên trời.

    Sellitto nhào về phía trước chộp lấy vũ khí của mình. Cánh cửa vụt mở toang và hai đặc vụ của Eliopolos lao vào trong phòng, súng lăm lăm trên tay.

    Ron Talbot, với một cái lỗ nhỏ tí màu đỏ trên thái dương, đứng khựng lại trong giây lát rồi lảo đảo đổ phịch xuống sàn.

    “Ôi, chúa ơi”, Mel Cooper thì thầm, người anh như đông cứng tại chỗ, tay vẫn cầm khư khư một chiếc túi bằng chứng, mắt bàng hoàng nhìn xuống khẩu .38 Smith & Wesson bóng loáng và nhỏ xíu của mình đang nằm gọn trong bàn tay vững vàng của Roland Bell, nòng súng thò ra từ bên cạnh khuỷu tay người kỹ thuật viên. “Ôi, chúa ơi.” Viên thám tử đã lẻn ra sau lưng Cooper và khẽ khàng rút khẩu súng ra khỏi chiếc bao nhỏ cài đằng sau thắt lưng người kỹ thuật viên từ lúc nào. Bell đã nổ súng từ bên hông – chính xác là từ bên hông Cooper.

    Sachs đứng dậy và gỡ khẩu Glock của mình ra khỏi tay Talbot. Cô thử kiểm tra mạch, rồi lắc đầu.

    Tiếng khóc đau đớn vang lên khắp căn phòng khi Percey Clay đổ gục xuống bên cạnh cái xác và vừa nức nở vừa giáng nắm đấm thùm thụp lên bờ vai lực lượng của Talbot. Không ai nhúc nhích suốt một lúc lâu. Rồi cả Amelia Sachs và Roland Bell cùng dợm bước tới gần cô. Họ ngập ngừng dừng lại và cuối cùng Sachs là người lùi ra để cho viên thám tử cao gầy choàng tay quanh người phụ nữ mảnh dẻ và đỡ cô đứng lên rời khỏi cái xác của kẻ từng là bạn, từng là kẻ thù của mình.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 41

    Một tiếng sấm ầm ì vọng lại, một làn mưa mỏng mùa xuân lất phất giữa đêm khuya. Cánh cửa sổ vẫn mở toang – tất nhiên không phải là khung cửa sổ có tổ chim ưng; Rhyme không muốn chúng bị quấy rầy – và căn phòng tràn ngập không khí ban đêm mát mẻ.

    Amelia Sachs rút phựt nút chai ra rồi rót rượu vang trắng Cakebread vào cốc hút của Rhyme và ly của cô.

    Cô nhìn xuống và khẽ bật cười.

    “Em không thể tin được.”

    Trên màn hình máy tính cạnh chiếc giường Clinitron là một chương trình chơi cờ vua.

    “Anh không bao giờ chơi game”, cô nói. “Ý em là, em chưa bao giờ thấy anh chơi game cả.”

    “Trật tự nào”, anh khẽ nạt cô.

    Trên màn hình: Tôi không hiểu những gì bạn nói. Xin vui lòng thử lại.

    Bằng giọng nói rất rành rọt anh ra lệnh, “Xe bắt tượng ở ô f4. Chiếu bí”.

    Sau một lát chờ đợi, máy tính trả lời: “Chúc mừng bạn!”. Tiếp theo là phiên bản số hóa của bản hành khúc Washington Post của Sousa[129] được cất lên.

    “Không phải là để giải trí đâu”, anh nói với giọng rất tinh vi. “Chủ yếu là để rèn cách suy nghĩ nhạy bén. Nó là cỗ máy Nautilus[130] của anh đấy. Em có muốn lúc nào đó chơi thử không, Sachs?”

    “Em không chơi cờ vua”, cô nói sau khi đã nhấp một ngụm rượu vang. “Giả sử như con vua của em bị một con mã khốn kiếp nào đó tấn công, em thà bắn cho nó một phát còn hơn phải vắt óc nghĩ làm thế nào để tỏ ra khôn ngoan hơn nó. Mà họ tìm được bao nhiêu vậy?”

    “Tiền à? Chỗ mà Talbot đã biển thủ? Hơn năm triệu.”

    Sau khi các kiểm toán viên đã kiểm tra xong bộ sổ sách kế toán thứ hai, bộ sổ sách kế toán thực sự, họ mới phát hiện ra rằng Hudson Air là một công ty cực kỳ sinh lợi. Mất thêm chiếc máy bay cùng hợp đồng của TậpđoànU.S. Medical quả là một cú đau nhưng vẫn còn rất nhiều tiền mặt để giữ cho công ty, nói theo cách mà Percey đã bảo anh, “lơ lửng”.

    “Tên vũ công đang ở đâu?”

    “Trong khu SD.”

    SD, Giam giữ Đặc biệt, một cơ sở ít người biết đến trong hệ thống nhà giam của tòa án dành cho tội phạm hình sự. Rhyme chưa bao giờ nhìn thấy nơi đó – cũng không có nhiều cảnh sát từng thấy – nhưng trong vòng ba mươi lăm năm qua chưa một ai từng trốn được ra ngoài.

    “Rút hết móng vuốt của hắn đi”, Percey Clay đã nói vậy khi Rhyme cho cô biết chuyện này. Điều đó cũng giống như, cô giải thích, phải giũa cùn bớt hết móng vuốt sắc nhọn của một con chim ưng săn mồi.

    Rhyme – xuất phát từ mối quan tâm đặc biệt đối với vụ án này – đã kiên quyết đề nghị được thông báo thường xuyên về nhiệm kỳ của tên Vũ công trong khu biệt giam. Anh đã nghe những cảnh sát bảo vệ ở đó kể rằng hắn suốt ngày hỏi về những cửa sổ ở trong trại giam, về việc họ đang ở tầng mấy của tòa nhà, rồi thì khu trại giam được bố trí ở khu vực nào trong thành phố.

    “Hình như tôi ngửi thấy mùi một trạm bảo dưỡng xe ở đây thì phải?”, hắn hỏi đầy vẻ bí hiểm.

    Khi nghe báo cáo lại chuyện này, Rhyme đã ngay lập tức gọi cho Lon Sellitto và yêu cầu anh gọi cho người phụ trách trung tâm giam giữ và tăng gấp đôi số cảnh sát bảo vệ.

    Amelia Sachs tu ực thêm một hớp lớn rượu vang để thêm dũng khí và rồi cái gì phải đến cũng đã đến.

    Cô hít một hơi rất sâu rồi buột miệng, “Rhyme, anh nên bày tỏ thẳng đi”. Thêm hớp rượu nữa. “Em cũng không biết là em lại nói chuyện này ra nữa.”

    “Em bảo gì cơ?”

    “Chị ấy rất hợp với anh. Mọi chuyện có thể sẽ thực sự tốt đẹp.”

    Họ hầu như chưa bao giờ thấy khó khăn khi nhìn thẳng vào mắt nhau. Nhưng lần này, mắt ầng ậc nước đang trào lên, Sachs cúi mặt nhìn xuống sàn nhà.

    Tất cả chuyện này là thế nào.

    Khi ngẩng lên và nhận ra anh hoàn toàn không hiểu cô đang định nói gì, cô bèn nói thêm, “Em hiểu cảm xúc mà anh dành cho chị ấy. Và chị ấy không thừa nhận nhưng em cũng biết chị ấy cảm thấy như thế nào về anh”.

    Ai cơ?

    “Anh biết là ai. Percey Clay. Anh đang nghĩ chị ấy là một góa phụ, ngay lúc này chị ấy sẽ không cần bất kỳ ai trong cuộc sống của mình. Nhưng… anh nghe thấy Talbot nói gì rồi đấy – Carney có nhân tình. Một người phụ nữ làm việc trong văn phòng. Percey biết chuyện này. Họ vẫn sống chung với nhau vì họ là bạn thân. Và cũng vì công ty.”

    “Anh không bao giờ…”

    “Tiến tới đi, Rhyme. Thôi nào. Em thực sự nghĩ thế mà. Chắc anh nghĩ là sẽ không ăn thua. Nhưng chị ấy không hề quan tâm đến hoàn cảnh của anh. Khỉ thật, cứ nghe những gì chị ấy nói hôm trước mà xem. Chị ấy nói đúng – hai người thật giống nhau.”

    Có những lần mà con người ta cần phải giơ hai tay lên đầu rồi để mặc cho chúng rơi phịch xuống đùi vì bó tay. Về phần mình, Rhyme ngọ nguậy để ngả đầu xuống chiếc gối xa xỉ và êm ái của mình. “Sachs, em lấy đâu ra ý nghĩ quái quỷ đó vậy?”

    “Ôi, xin anh. Rõ như ban ngày còn gì nữa. Em đã chứng kiến thái độ của anh như thế nào khi chị ấy xuất hiện. Cách anh nhìn chị ấy. Rồi anh bị ám ảnh về việc bảo vệ chị ấy nữa. Em biết có chuyện gì đang xảy ra mà.”

    “Ừ, thế thì có chuyện gì đang xảy ra nào?”

    “Chị ấy cũng giống như Claire Trilling, người phụ nữ đã rời bỏ anh cách đây mấy năm. Đó mới là người anh muốn.”

    Ôi… Anh gục gặc đầu. Hóa ra chuyện là vậy.

    Anh mỉm cười. Và nói, “Đúng vậy, Sachs, anh đã suy nghĩ rất nhiều về Claire trong mấy ngày qua. Anh đã nói dối khi bảo em rằng anh không hề nghĩ đến cô ấy”.

    “Bất kể lần nào anh nhắc đến chị ấy em đều có thể nói với anh rằng anh vẫn còn yêu chị ấy. Em biết là sau vụ tai nạn chị ấy không bao giờ gặp lại anh nữa. Em nghĩ đó chắc vẫn là một quyển sách để mở đối với anh. Cũng giống như em và Nick sau khi anh ấy bỏ em. Anh gặp Percey và chị ấy làm anh nhớ lại tất cả những gì liên quan đến Claire. Anh chợt nhận ra anh lại hoàn toàn có thể ở bên một người khác. Ý em là ở bên chị ấy. Không phải… không phải là ở bên em. Hây, đời là vậy mà.”

    “Sachs”, anh khẽ khàng lên tiếng, “Percey không phải là người có thể khiến em phải ghen đâu. Cô ấy cũng không phải là người đã đẩy em ra khỏi giường đêm hôm trước”.

    “Không ư?”

    “Đó chính là tên Vũ công.”

    Rượu vang sóng sánh lại được rót tràn vào ly của cô. Cô lắc lắc cho nó cuộn xoáy lên rồi chăm chú nhìn thứ dung dịch màu trắng nhờ nhờ. “Em không hiểu.”

    “Cái đêm hôm trước ấy?” Anh thở dài. “Anh đã phải vạch ra đường ranh giới giữa hai chúng ta, Sachs. Bình thường thì tự anh cũng đã muốn gần gũi em rồi. Nếu chúng ta vẫn sẽ tiếp tục làm việc cùng nhau, anh buộc phải dựng tấm rào chắn đó lên. Em không hiểu sao? Anh không thể nào gần gũi em, không thể gần gũi đến mức đó, mà vẫn đẩy em vào những nơi nguy hiểm. Anh không thể để cho điều đó lặp lại được.”

    Lặp lại?” Cô cau mày, rồi khuôn mặt đột nhiên dãn ra với vẻ thấu hiểu.

    A, đây mới đúng là Amelia của mình, anh tự nhủ. Một nhà hình sự học xuất sắc. Một tay súng thiện xạ. Và cô lại còn tinh nhanh như một con cáo.

    “Ôi, không, Lincoln, Claire là…”

    Anh gật đầu. “Cô ấy chính là người kỹ thuật viên được anh giao nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường ở phố Wall sau khi tên Vũ công ra tay năm năm trước. Cô ấy cũng là người đã thò tay vào thùng rác và lấy ra tập giấy làm kích nổ quả bom.”

    Đó là lý do tại sao anh bị ám ảnh bởi tên giết người này đến thế. Tại sao anh lại khăng khăng đòi – làm một việc không giống anh chút nào – thẩm vấn hắn. Anh muốn tóm được kẻ đã giết hại người yêu của mình. Muốn biết tất cả những gì có thể về con người hắn.

    Đó là sự trả thù, sự trả thù trọn vẹn. Khi Lon Sellitto – người cũng biết về chuyện xảy ra với Claire – đặt câu hỏi phải chăng sẽ tốt hơn nếu đưa Percey và Hale rời khỏi thành phố, ý viên cảnh sát muốn biết liệu Rhyme có đang để những cảm xúc riêng tư của mình xen vào vụ án không.

    Hừm, có, thực sự là có. Nhưng Lincoln Rhyme, dù cuộc sống hiện tại dường như đã ngưng trệ hoàn toàn, về bản chất vẫn là một người đi săn chẳng khác gì những con chim ưng làm tổ trên gờ cửa sổ phòng anh. Tất cả những nhà hình sự học đều như vậy. Và một khi đã đánh hơi thấy con mồi, sẽ không điều gì có thể ngăn anh lại.

    “Đấy, tất cả là như vậy, Sachs. Nó chẳng liên quan gì đến Percey cả. Và cho dù anh rất muốn em ở lại đây đêm đó – tất cả các đêm – anh cũng không thể mạo hiểm yêu em nhiều hơn anh đã yêu em.”

    Đó là một cảm giác kỳ lạ – đến bàng hoàng – đối với Lincoln Rhyme khi anh nói ra những lời này. Sau vụ tai nạn anh dần dần đi đến chỗ tin rằng cái rầm bằng gỗ sồi kia không chỉ làm dập xương sống mà còn thực sự hủy hoại trái tim anh, giết chết tất cả những cảm xúc từng có trong nó. Và khả năng yêu và được yêu của anh cũng đã vỡ vụn như sợi dây thần kinh mỏng manh chạy dọc cột sống. Nhưng đêm hôm đó, khi ở bên Sachs, anh đã nhận ra mình sai lầm đến mức nào.

    “Em hiểu tất cả, đúng không Amelia?”, Rhyme thì thầm.

    “Chỉ được dùng họ thôi”, cô nói, và mỉm cười bước lại bên giường anh.

    Cô cúi xuống và hôn lên môi anh. Bất giác Rhyme ghì ngửa đầu ra sau gối trong giây lát nhưng rồi cũng đáp lại nụ hôn của cô.

    “Không, không”, anh hối hả phản đối. Nhưng một lần nữa anh lại hôn cô đắm đuối.

    Đầu tiên là chiếc ví của cô rơi bịch xuống sàn nhà. Đến lượt chiếc áo khoác và đồng hồ của cô được thả xuống mặt bàn cạnh giường. Và rồi là món cuối cùng trong số những phụ tùng thời trang – khẩu Glock 9 ly của Sachs.

    Họ lại hôn nhau.

    Nhưng anh cố giằng ra. “Sachs… Nguy hiểm lắm!”

    “Chúa đâu có tạo ra điều gì chắc chắn”, cô nói, ánh mắt nồng nàn của họ đan chặt vào nhau. Rồi cô đứng dậy và bước qua bên kia phòng để tới chỗ công tắc điện.

    “Chờ đã”, anh nói.

    Cô dừng lại, ngoái đầu nhìn anh. Mái tóc đỏ của cô xõa xuống trên gương mặt, che khuất một bên mắt.

    Rhyme rành rọt ra lệnh vào chiếc mic thò ra trên thành giường, “Tắt điện!”.

    Căn phòng vụt chìm trong bóng tối.

    **THE END**
    ------------------------------------------------
    LỜI TÁC GIẢ
    Tất cả các nhà văn đều biết rằng những tác phẩm mà họ viết ra cũng chỉ phần nào là sản phẩm của sự nỗ lực của riêng họ. Tiểu thuyết thường được xây dựng nên từ những người ta yêu quý và bạn bè của chúng ta, có khi là trực tiếp, có khi là bằng những cách kín đáo hơn nhưng cũng không hề kém phần quan trọng. Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp tôi hoàn thành cuốn sách này:MadelynWarcholik, người đã giữ cho các nhân vật của tôi sống động như thể họ là những con người thực, đã kiểm soát không để cho cốt truyện của tác phẩm chạy lung tung đến mức bị ách lại vì phóng nhanh vượt ẩu (!), và đã luôn là nguồn cảm hứng bất tận; các biên tập viên David Rosenthal, Marysue Rucci và Carolyn Mays vì đã bền bỉ thực hiện tất cả những công việc khó khăn một cách xuất sắc; đặc vụ Deborah Scheider, người giỏi nhất trong lĩnh vực này; và tới người chị gái của tôi, nhà văn Julie Reece Deaver, vì đã luôn ở bên tôi.


    [1] Con đường mang tên Franklin Delano Roosevelt – Tổng thống thứ 32 của Mỹ (1933-1945). (Các chú thích của người dịch).
    [2] Tức là ghế phi công chính trong chuyến bay.
    [3] Dặm: Đơn vị đo khoảng cách phổ biến ở các nước nói tiếng Anh. Tương đương 1,6km.
    [4] Nhà để máy bay trong sân bay.
    [5] Feet (số nhiều của foot): Đơn vị đo lường khoảng cách phổ biến ở Anh, Mỹ. Một foot tương đương 0,3048 mét.
    [6] Thiết bị chỉ độ cao so với mực nước biển, thường gắn trên máy bay, xác định độ cao thông qua chênh lệch áp suất không khí.
    [7] Trong khi bay, phi công thường sử dụng sóng radio với tần số chung, để liên lạc với Đài Kiểm soát Không lưu hoặc các máy bay chung quanh, khi muốn liên lạc riêng phải chuyển qua tần số khác.
    [8] Knot: Hải lý, đơn vị đo vận tốc dùng trong hàng hải và hàng không để đo tốc độ của tàu, máy bay hoặc gió, tương đương với 1,85 kilomét.
    [9] Great Lakes: Hay còn gọi là vùng Ngũ Hồ ở miến Bắc nước Mỹ, nhóm hồ lớn nhất thế giới gồm: Superior (Hồ Lớn), Michigan, Huron, Erie, Ontario.
    [10] FBI (viết tắt của Federal Bueau of Investigation) : Cục Điều Tra Liên Bang Mỹ.
    [11] NYPD (viết tắt của New York Police Department): Sở Cảnh sát New York.
    [12] Dagwood Bumstead” Một nhân vật truyện tranh rất nổi tiếng ở Mỹ, thường được thể hiện với hai chỏm tóc vểnh lên trên.
    [13] ECU (viết tắt của Enviroment Control Unit): Thiết bị Điều khiển Môi trường.
    [14] Harlem: Một quận thuộc thành phố New York, nơi tập trung chủ yếu người da đen.
    [15] Midtown (Trung), cùng với Uptown (Thượng) và Downtown (Hạ), là ba phân khu chính của quận Manhattan, New York.
    [16] PERT: Nhóm Phản ứng Vật chất.
    [17] FAA (viết tắt của Federal Aviation Agency): Cơ quan Hàng không Liên bang.
    [18] NYNEX: Công ty cung cấp dịch vụ điện thoại tại năm bang mạn New England của Mỹ (gồm Maine, Massachusettes, New Hampshire, Rhode Island, Vermont) và cả bang New York.
    [19] Ounce: Đơn vị đo lường phổ biến ở Anh, Mỹ, mỗi ounce tương đương 28,35 gam.
    [20] Lắc thân máy bay kiểu Hà Lan: Nguyên văn là “Dutch roll”: Một dạng chuyển động không ổn định ở máy bay do mất cân bằng ở phần đuôi và thân.
    [21] Đại lộ Madison được mệnh danh là “con đường thời trang” ở thành phố New York. Đây là nơi tập trung nhiều hãng thời trang danh tiếng.
    [22] CS: Đội khám nghiệm hiện trường.
    [23] PETN: Pentaerythritol tetranitrate, một loại thuốc nổ cực mạnh.
    [24] Vùng đất của Lincoln: Chicago, bang Illinois là nơi lớn lên và trưởng thành của Tổng thống Mỹ thứ 16 Abraham Lincoln.
    [25] Pound: Đơn vị đo lường phổ biến ở Anh, Mỹ, tương đương 0,454 kilogam.
    [26] Storm Arrow: Mũi tên bão táp.
    [27] NTSB (viết tắt của National Transportation Safety Board) : Ủy Ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia (Mỹ).
    [28] Thành phố Gió : Tên gọi khác của Chcago.
    [29] Yard: Đơn vị đo độ dài ở Anh, Mỹ, tương đương 0,914 mét.
    [30] ESU (viết tắt của Emergency Services Unit) : Đơn vị phản ứng nhanh.
    [31] Starbucks là một hệ thống quán cà phê và đồ giải khát nổi tiếng thế giới, có trụ sở tại thành phố Seattle, bang Washington (Mỹ). Thành phố này cũng là nơi thành lập cộng đồng của lesbian – những người đồng tính nữ đầu tiên của nước Mỹ cũng như trên thế giới vào năm 1971.
    [32] Một tạp chí nổi tiếng về thời trang.
    [33] Vị vua anh minh và dũng cảm trong những truyền thuyết của nước Anh thời Trung cổ.
    [34] Trong tiếng Anh, “worm” là từ dùng chung để chỉ “giòi”, “sán” hay “sâu”. Stephan bị ám ảnh bởi lũ giòi nên khi nghe Sheila nói “worm” theo nghĩa “sán”, hắn mới thấy chột dạ.
    [35] SWAT (viết tắt của Special Weapons anhd Tactics): Đội Chiến thuật và Vũ khí Đặc biệt.
    [36] IRD (viết tắt của Investigation and Resources Division): Bộ phận Điều tra và Nguồn lực thuộc NYPD.
    [37] Gypsy là từ dùng để chỉ chung những người sống lang thang, du mục tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại châu Âu và Bắc Mỹ, và chuyên làm nghề nhạc công, xem bói… Họ được coi là những người có cá tính phóng khoáng, nổi loạn.
    [38] Amelia Earhart (1897-1937): Nữ phi công Mỹ, nổi tiếng với những chuyến bay một mình vượt Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, cùng nỗ lực bay vòng quanh thế giới nhưng không thành công.
    [39] Christopher Reeve (1952-2004): Diễn viên điện ảnh người Mỹ, nổi tiếng với loạt phim Superman (Siêu nhân) trong giai đoạn 1978-1987. Ông bị tai nạn năm 1995, liệt toàn thân và phải ngồi xe lăn cho đến khi qua đời.
    [40] VFR (viết tắt của Visual Flight Rules): Quy tắc bay bằng mắt; IFR (viết tắt của Instrument Flight Rules): Quy tắt bay bằng thiết bị.
    [41] Nguyên văn là “Greek Row”, nghĩa đen là Dãy nhà Hy Lạp: Ký túc xá của các sinh viên học đại học. Ở các nước phương Tây (nhất là Mỹ) các đoàn thể sinh viên thường lấy các ký tự Hy Lạp như Beta, Pi, Gamma, Alpha… làm tên và khẩu hiệu cho hội sinh viên của họ.
    [42] Hiệu ứng mang tên nhà Vật lý người Áo Christian J. Doppler (1802-1853), diễn tả sự thay đổi tần số âm thanh do chuyển động.
    [43] Humpty-Dumpty: Nhân vật thường được miêu tả như quả trứng bị rơi từ trên bức tường rất cao xuống đất trong một bài đồng dao rất phổ biến ở Anh, Mỹ.
    [44]Cây guar: Một loại thực vật có nguồn gốc Ấn Độ, hạt được sử dụng làm chất dẻo.
    [45] ERC (viết tắt của Explosives Reference Collection): Cơ sở Dữ liệu Tham khảo về thuốc nổ của FBI.
    [46] Ngày 19 tháng 4 năm 1995, một quả bom khổng lồ giấu trong xe tải đã phát nổ trước tòa nhà liên bang ở thành phố Oklahoma làm 168 người thiệt mạng, phần lớn tòa nhà bị phá sập. Thủ phạm đánh bom là Timothy McVeigh, kẻ sau đó bị kết án tử hình.
    [47] Radio Shack: Hệ thống cửa hàng bán lẻ đồ điện và điện tử gia dụng rất nổi tiếng tại Bắc Mỹ và châu Âu.
    [48] Hoa liên kiều, hay còn gọi là hoa đầu xâu, tên khoa học là Forsythia suspensa Vahl, một loại cây thuộc họ Nhài (Oleaceae).
    [49] RRV (viết tắt của Rapid Response Vehicles): Những chiếc xe phản ứng nhanh.
    [50] Ninhydrin: Tên khoa học là triketohydrindene hydrate, một loại hóa chất dùng để xác định dấu vân tay.
    [51] Grain: Đơn vị đo trọng lượng, tương đương 0,065gam.
    [52] PPG: Một hãng sản xuất kính và vật liệu xây dựng nổi tiếng tại Mỹ.
    [53] AFIS (Viết tắt của Automated Fingerprint Identification Systems): Hệ thống nhận dạng dấu vân tay tự động.
    [54] Trong tiếng Anh “hair” là từ được dùng để chỉ “lông” và “tóc” nói chung. Nên khi Cooper nói “lông” thì cũng có thể hiểu là “tóc”.
    [55] FTC (viết tắt của Federal Trade Commission): Ủy ban Thương mại Liên bang.
    [56] Cellulite: Những ngấn mỡ thừa lồi lõm dưới da, nhất là ở phần đùi và mông của phụ nữ.
    [57] EastVillage: Một khu dân cư thuộc Manhattan ở thành phố New York, nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ và giới thanh niên mang tư tưởng cấp tiến, nổi loạn. Cũng là nơi sản sinh nhiều ban nhạc rock nổi tiếng mang phong cách punk.
    [58] Tarheel: Nghĩa là người quê ở bang North Carolina.
    [59] Cờ Sao và Vạch ngang: Lá cờ của các bang niền Nam ly khai trong Nội chiến Mỹ (1861-1865). North Carolia và Virginia (có thủ phủ là Richmond) đều là hai bang miền Nam ly khai, còn Michigan là bang tham gia vào phe niền Bắc.
    [60] One PolicePlaza: Tòa nhà Lớn – Sở chỉ huy của Sở Cảnh sát New York.
    [61] Trung tâm Sloan-Kettering: Một cơ sở nghiên cứu và điều trị ung thư nởi tiếng trên thế giới. Tên ban đầu khi thành lập năm 1884 là Bện viện Ung thư New York.
    [62] Silo (tháp cao hoặc hầm ủ tươi thức ăn hoặc cỏ cho gia súc trong trang trại). North Carolina là một bang có ngành nông nghiệp phát triển.
    [63] Vòng xuyến annular: Buồng đốt dạng annular gồm hai vành, phần ở giữa hai vành là buồng đốt. Hiệu suất/ thể tích đốt là rất lớn bởi trộn được tối ưu hóa, htận dụng tốt luồng khí đi vào làm mát cho buồng đốt và giảm nhiệt độ dòng khí sau khi ra khỏi buồng đốt. Buồng đốt dạng annular thường được lắp cho các động cơ công suất lớn.
    [64] S&S (viết tắt của Search and Surveillance): Đội Tìm kiếm và Giám sát.
    [65] Spenco: Một loại thiết bị y tế bọc chân được thiết kế đặc biệt cho những bệnh nhân nằm liệt giường, giúp lưu thông máu.
    [66] Trilling có nghĩa là “trẻ ranh”, hoặc đọc trệch đi thành chilling có nghĩa là “buốt lạnh”.
    [67] Họ của Amelia là Sachs, bị đọc trệch đi thành những từ tục tĩu như “sex” (tình dục) và “Sucks” (dở hơi).
    [68] Gallon: Đơn vị đo lường chất lỏng bằng 4,54 lít ở Anh, 3,78 lít ở Mỹ.
    [69] Bơi trong bát xúp: Nghĩa là gặp khó khăn, rắc rối.
    [70] Xin-rủ-lòng-thương: Nguyên văn là “Havaheart trap”: Kiểu bẫy lồng, dùng thức ăn làm mồi nhử chuột hay chó mèo hoang vào trong lồng. Không làm con vật bị thương hoặc chết.
    [71] Ủy ban đạn đạo: Ủy ban đánh giá tính hợp pháp của việc cảnh sát nổ súng trong quá trình truy bắt tội phạm.
    [72] Alec Guinness (1914-2000): Diễn viên điện ảnh người Anh, được đánh giá là một trong những diễn viên vĩ đại nhất thế giới trong thế kỷ XX.
    [73] Tiercel: Bản thân từ “tiercel” trong tiếng Anh đã là “chim ưng đực”, tiếng Việt không có từ tương đương nên người dịch để nguyên.
    [74] Con chưa ra ràng: Nguyên văn là “A eyas”, nghĩa là chim non
    [75] Out of Africa: Bộ phim thực hiện năm 1985 dựa trên câu chuyện cùng tên về cuộc đời nữ nam tước Isak Dinesen, người phụ nữ thượng lưu từng sống ở Châu Phi.
    [76] Charles Lindbergh (1902-1974): Phi công người Mỹ, người đầu tiên bay qua Đại Tây Dương.
    [77] Tốc độ tròng trành của máy bay: Hay còn gọi là vận tốc thất tốc, tốc độ ở đó dòng không khí không thể giữ máy bay ở trên cao. Trong trạng thái này, máy bay thường đột ngột chúi mũi xuống và không còn phản ứng trước những thiết bị điều khiển động lực học.
    [78] Mach: Đầy đủ là các thang số Mach, thuật ngữ hàng không chỉ các tốc độ của một vật thể bay so với vận tốc âm thanh. Mach 1 là tốc độ tương đương vận tốc âm thanh, Mach 2 là vận tốc gấp hai lần vận tốc âm thanh.
    [79] Mach buffet: Thuật ngữ chỉ sự lắc lư của máy bay khi vượt chỉ số Mach tối đa, tức là vận tốc của máy bay so với vận tốc âm thanh tại một cao độ nhất định.
    [80] Al Capone (1899-1947), biệt danh là “Mặt sẹo”, một trùm găngxtơ khét tiếng tại Chicago, Mỹ.
    [81] Tổng đài 69: Tại hầu hết các khu vực ở Mỹ, các công ty điện thoại thường có dịch vụ tổng đài *69. Nếu người sử dụng có một cuộc gọi nhỡ, hoặc nhận được cuộc gọi từ một người lạ, chỉ cần bấm số *69 trên điện thoại của mình, dịch vụ này sẽ cung cấp số điện thoại của người gọi đó.
    [82] Richard III (1452-1485): Vua nước Anh, vị vua cuối cùng của nhà York, thường được miêu tả là một vị vua có hình dung quái dị, lưng gù.
    [83] Jackson Pollock (1912-1954): Họa sĩ nổi tiếng người Mỹ, theo trường phái trừu tượng.
    [84] NCIC (viết tắt của NationalCrimeInformationCenter): Trung tâm Thông tin Tội phạm Quốc gia.
    [85] A&P: Một chuỗi siêu thị nổi tiếng ở Mỹ.
    [86] Semper fidelis: Mãi mãi trung thành (tiếng Latin) - Khẩu hiệu của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ.
    [87] Negro: Từ lóng chỉ người da đen ở Mỹ, với nghĩa miệt thị.
    [88] KenState: Vụ thảm sát xảy ra ngày 4 tháng 5 năm 1970 tại trường Đại học Kent, bang Ohio. Lực lượng Vệ binh quốc gia Mỹ đã nổ sung vào các sinh viên đang biểu tình việc Mỹ xâm lược Campuchia. Vụ thảm sát đã làm bốn sinh viên thiệt mạng, chín người khác bị thương nặng.
    [89] Dependent No More: Không còn lệ thuộc.
    [90] ChinaTown: Khu phố của người Trung Quốc ở New York.
    [91] Demmie: Từ lóng chỉ một loại thuốc an thần thường bị lạm dụng thành ma túy tổng hợp như ampetamine, meperidine, hydrochloride, dexamphetamine…
    [92] Thổi kèn: Từ lóng (rất tục tĩu) để chỉ hành động kích thích dương vật bằng miệng, khẩu dâm.
    [93] Trong câu nói của mình, Rhyme sử dụng cấu trúc “be far off” có nghĩa là “phạm sai lầm” hoặc “đi chệch hướng. Nhưng “off” cũng có nghĩa là “tắt”, “khóa” nên máy tính đã hiểu sai.
    [94] Số 8 trong tiếng Anh được phát âm hơi giống với khi đánh vần nguyên âm “A”. Vì Rhyme đọc khi hồi hộp nên máy tính nhận biết nhầm giọng nói anh.
    [95] Đạn .45: Một loại đạn cỡ lớn, tương đương đạn 11 milimét, có khả năng sát thương cực mạnh.
    [96] Lựu đạn choáng: Loại lựu đạn không sát thương nhưng gây tiếng nổ lớn và lóe sáng, làm đối phương bị ù tai và hoa mắt.
    [97] Đạn đầu khoét lõm: Loại đầu đạn không nhọn hoắt như thông thường, mà hơi lõm xuống, tăng khả năng sát thương.
    [98] ATIS (viết tắt của Automatic Terminal Information Service): Dịch vụ Thông tin Tự động khu vực sân bay.
    [99] Bingo: Một trò xổ số rất phổ biến ở Mỹ, được chơi với những tấm các có đánh số. Người chơi thường hô “Bingo” để báo mình là người trúng giải.
    [100] Trò chơi phổ biến ở Mỹ, thường là dưới hình thức thi thố những kỹ năng chăn bò như cưỡi bò dữ, quăng thòng lọng...
    [101] Rolling takeoff: Có nghĩa là máy bay cất cánh thẳng sau khi rời khỏi hangar và lăn bánh trên đường băng, không phải dừng ở vị trí xuất phát và chờ lệnh của trạm Kiểm soát không lưu sân bay.
    [102] Đài Kiểm soát Rời đi: Đài Kiểm soát không lưu ở sân bay vừa cất cánh.
    [103] VOR: Tức sóng radio cao tần có tác dụng theo mọi hướng.
    [104] Thánh Peter: Được coi là người gác cổng vào thiên đường, và sẽ căn cứ vào những việc tốt hoặc tội lỗi của các linh hồn rồi đưa ra quyết định liệu họ có xứng đáng được sống ở thiên đường hay không.
    [105] Nguyên văn là “lily-white”: Chỉ một người da trắng chủ trương phân biệt chủng tộc, loại người da đen ra khỏi đời sống chính trị.
    [106] Phillie: Cách gọi khác của thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania (Mỹ).
    [107] Nguyên văn là “yuppie”: Từ lóng chỉ những thanh niên thành phố được học hành chu đáo, thu nhập cao, tính cách thực dụng và hợm hĩnh.
    [108] Whiskey: Mật ngữ chỉ chữ “W” trong quy ước vô tuyến điện quốc tế, trong trường hợp này có nghĩa là “hướng tây”.
    [109] Đài Kiểm soát Tiếp cận: Trung tâm Kiểm soát Không lưu ở sân bay nơi máy bay đến.
    [110] Hạ cánh bằng mắt: Tức là máy bay hạ cánh dưới sự điều khiển bằng mắt thường của phi công do điều kiện thời tiết cho phép, không dùng chế độ hạ cánh tự động.
    [111] Dây đai Bungee: Một loại dây thừng đàn hồi, dùng trong môn nhảy bungee, một trò thể thao mạo hiểm - nhảy từ trên cao xuống với một sợi dây đàn hồi buộc vào người.
    [112] May-day: Tín hiệu cấp cứu trong vô tuyến điện quốc tế.
    [113] Denver: Thủ phủ tiểu bang Colarado của Mỹ, và nằm trên dải đồng bằng phía đông dãy núi Rocky, nên có độ cao tương đối so với mực nước biển. Đây là lý do tại sao Rhyme đã khuyên Percey lái máy bay đến Denver.
    [114] Phương pháp ước lượng hành trình: Phương pháp ước tính vị trí của máy bay hoặc tàu biển căn cứ vào tốc độ di chuyển sau khi xuất phát từ một vị trí đã xác định tọa độ.
    [115] Front: Thuật ngữ khí tượng chỉ đường biển giữa các khối không khí có mật độ hoặc nhiệt độ khác nhau.
    [116] Hệ số lượn: Thông số chỉ mối quan hệ giữa độ cao của máy bay và quãng đường máy bay lượn xa theo quán tính và sức nâng của không khí – tốc độ rơi càng thấp thì máy bay càng lượn được xa.
    [117] Feet: Khoảng hơn ba kilômét.
    [118] Nhiệt lưu: Luồng không khí nóng từ dưới mặt đất bốc lên, các tàu lượn thường lợi dụng luồng khí này để tăng độ cao (giống như cơ chế hoạt động của khinh khí cầu).
    [119] Giải Vô địch Wrestling Thế giới: Một giải đấu vật mang tính biểu diễn và giải trí rất phổ biến trên truyền hình Mỹ.
    [120] Nguyên văn là “ring like lead”: Ngân vang như chì.
    [121] Chim lặn gavia: Một giống chim ăn cá phổ biến ở Bắc Mỹ, giống như chim cốc, có đuôi ngắn, chân có màng, lông mượt màu đen và trắng, có tiếng kêu rất đặc trưng.
    [122] Tại Mỹ trong những dịp lễ lớn, nhất là ngày Quốc khánh (ngày 4 tháng 7), thường có các hoạt động diễu hành trên đường phố. Dẫn đầu đoàn diễu hành là một cô gái trẻ với cây gậy chỉ huy ngắn trên tay.
    [123] Rosebud: Nghĩa đen là “nụ hồng”. Xuất phát từ bộ phim Mỹ Citizen Kane(Công dân Kane), sản xuất năm 1941, do Orson Welles làm đạo diễn. Bộ phim kể về cuộc đời Charles Foster Kane, từ một đứa trẻ bị bỏ rơi trở thành một ông trùm quyền lực trong giới xuất bản và bào chí, nhờ vào những thủ đoạn tàn nhẫn. Bộ phim dựng lại cuộc điều tra, truy tìm của một phóng viên nhằm tìm ra ý nghĩa trong từ cuối cùng Kane thốt ra trước khi chết: “Rosebud”.
    [124] Kỵ sĩ không đầu: Nhân vật trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Anh Main Rid.
    [125] Beelzebub: Beelzebub là vị thần bảo trợ của người Philistine ở Palestine cổ đại, còn được gọi là thần Ekron, Baal-Zebub. Trong Kinh thánh, Beelzebub được coi là “Quỷ vương”, tức là quỷ Satan.
    [126] Nữ hoàng Mab: Một bà tiên thường được nhắc đến trong tác phẩm văn học Anh giai đoạn thế kỷ XVII, thường được coi là bà tiên của những giấc mơ.
    [127] Công ước Geneva: Các Công ước Geneva (hay Hiệp định Geneve, Hiệp định Geneva...) gồm bốn hiệp định được viết ở Genève (Thụy Sĩ) đặt tiêu chuẩn luật pháp quốc tế về vấn đề nhân đạo, nhất là trong điều kiện chiến tranh.
    [128] Nguyên văn là “Top gun”, xuất phát từ một bộ phim cùng tên của đạo diễn người Anh Tony Scott. Bộ phim xoay quanh quá trình huấn luyện những phi công chiến đấu của Hải quân Mỹ. Tất cả ganh đua, cạnh tranh với nhau vì danh hiệu “Top Gun”.
    [129] Washington Post là một bản hành khúc do nhạc sĩ John Phillip Sousa sáng tác năm 1899. Kể từ đó đến nay, nó được coi là một trong những bản hành khúc nổi tiếng nhất tại Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới.
    [130] Nautilus: Tên một loại máy tập thể dục đa năng.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này