Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    PHẦN NĂM

    VŨ ĐIỆU CỦA THẦN CHẾT


    Tôi ngước lên và nhận ra một chấm nhỏ đang rơi, hiện rõ dần thành hình một trái tim lộn ngược, một con chim đang bổ xuống. Gió gào thét qua những chiếc chuông của nó, tạo nên một âm thanh có một không hai trên Trái Đất này khi con chim lao xuống từ độ cao nửa dặm xuyên qua bầu trời mùa thu trong vắt. Đúng khoảnh khắc cuối cùng con chim ưng ngoặt ngang song song với đường bay của con gà gô và chộp lấy nó từ phía sau với tiếng “phập” chắc nịch của một viên đạn cỡ lớn đang xuyên vào da thịt.

    CƠN THỊNH NỘ CỦA CHIM ƯNG, STEPHEN BODIO


    Giờ thứ 42 của 45


    CHƯƠNG 35


    Đã hơn ba giờ sáng, Rhyme tự nhủ. Percey Clay đang bay trở về East Side trên một chiếc phản lực của FBI và chỉ vài tiếng nữa thôi cô sẽ trên đường tới tòa án để chuẩn bị sẵn sàng cho việc trình diện trước bồi thẩm đoàn.

    Vậy mà anh vẫn chưa có manh mối nào về việc tên Vũ công Quan tài đang ở đâu, hắn đang âm mưu điều gì, và về vỏ bọc của hắn lúc này.

    Điện thoại của Sellitto đổ chuông. Anh nghe máy. Mặt anh nhăn nhúm lại. “Lạy chúa. Tên Vũ công vừa giết thêm một người nào đó. Họ mới tìm thấy một xác chết – đã bị xóa đặc điểm nhận dạng – trong đường hầm đi bộ ở Công viên Trung tâm. Gần Đại lộ Năm.”

    “Các đặc điểm nhận dạng bị xóa bỏ hoàn toàn à?”

    “Có vẻ hắn làm bài bản lắm. Cắt mất hai bàn tay, bẻ răng, rạch cằm, và lột bỏ quần áo nạn nhân. Nam giới, da trắng. Còn khá trẻ. Khoảng ba mươi gì đó.” Viên thám tử lại chăm chú nghe máy. “Không phải người vô gia cư”, anh thông báo lại. “Anh ta rất sạch sẽ, thân hình khỏe mạnh. Lực lưỡng. Haumann cho rằng đó là một tay trí thức thời thượng bên khu Upper East Side.”

    “Được rồi”, Rhyme nói. “Đưa anh ta tới đây. Tôi muốn đích thân kiểm tra nó.”

    “Cái xác ư?”

    “Chính xác.”

    “Chậc, được thôi.”

    “Vậy là giờ đây tên Vũ công lại có một vỏ bọc mới”, Rhyme giận dữ lẩm bẩm. “Là cái chết tiệt gì mới được chứ? Tiếp sau đây hắn sẽ tấn công chúng ta như thế nào?”

    Rhyme thở dài, ngước lên nhìn ra phía cửa sổ. Anh nói với Dellray, “Các anh định đưa họ tới ngôi nhà an toàn nào bây giờ?”.

    “Tôi cũng đang nghĩ về điều đó”, viên đặc vụ cao lêu nghêu nói. “Theo như tôi nghĩ thì...”

    “Của chúng tôi”, một giọng nói khác vang lên.

    Mọi người quay ra nhìn người đàn ông béo ú đứng trên ngưỡng cửa.

    “Nhà an toàn của chúng tôi”, Reggie Eliopolos nói. “Chúng tôi sẽ phụ trách việc bảo vệ họ.”

    “Không bao giờ, trừ phi anh có...” Rhyme bắt đầu.

    Tay công tố viên tự đắc vẫy vẫy tờ giấy trước mặt Rhyme, anh ta vẫy quá nhanh nên không ai kịp đọc gì, nhưng tất cả đều biết chắc chắn lệnh tiếp quản bảo vệ nhân chứng lần này là hợp pháp.

    “Đó không phải là một ý hay đâu”, Rhyme nói.

    “Dù sao cũng còn hay hơn ý tưởng của anh về việc cố làm cho nhân chứng cuối cùng của chúng tôi bị giết bằng bất kỳ cách nào có thể.”

    Sachs giận dữ sấn bước lên phía trước, nhưng Rhyme đã lặng lẽ lắc đầu.

    “Hãy tin tôi”, Rhyme nói, “tên Vũ công sẽ phát hiện ra việc chúng ta chuẩn bị đưa cô ấy vào chế độ bảo vệ đặc biệt. Có khi hắn còn phát hiện ra rồi cũng nên. Trên thực tế”, anh nói thêm với vẻ hăm dọa, “có thể hắn đang trông đợi điều đó sớm xảy ra.”

    “Như thế hắn phải là kẻ có khả năng đọc suy nghĩ của người khác.”

    Rhyme khẽ nghiêng đầu. “Anh bắt đầu hiểu vấn đề rồi đấy.”

    Eliopolos cười khẩy. Anh ta nhìn quanh vòng và thấy Jodie. “Anh là Joseph D’Oforio?”

    Người đàn ông bé choắt cũng nhìn lại. “Tôi – vâng ạ.”

    “Cả anh cũng sẽ đi.”

    “Không được, chờ một phút đã, họ bảo tôi có thể nhận được tiền của mình và tôi có thể…”

    “Chuyện này chẳng liên quan quái gì đến tiền thưởng hết. Nếu anh xứng đáng, anh sẽ nhận được thôi. Chúng tôi chỉ đang cố bảo đảm anh được an toàn cho đến khi bồi thẩm đoàn triệu tập.”

    “Bồi thẩm đoàn! Chẳng ai nói với tôi về việc phải ra làm chứng cả!”

    “À”, Eliopolos nói. “Anh cũng là một nhân chứng quan trọng.” Một cái đầu hất đầu về phía Rhyme. “Anh ta đang nung nấu ý đồ trừ khử một tên sát thủ. Còn chúng tôi đang cố thu thập bằng chứng truy tố kẻ đã thuê hắn. Đó mới đúng là công việc của đa số những người bảo vệ pháp luật.”

    “Tôi sẽ không ra làm chứng đâu.”

    “Nếu vậy anh sẽ bị tạm giam vì tội chống lệnh triệu tập của tòa. Ở khu giam chung nhé. Và tôi cá là anh biết mức độ an toàn ở đó thế nào rồi đấy.”

    Người đàn ông bé nhỏ cố tỏ ra giận giữ nhưng không được, đơn giản là vì gã quá sợ hãi. Khuôn mặt của gã co rúm lại. “Ôi, lạy Chúa!”

    “Các anh không thể có đủ sự bảo vệ cần thiết đâu”, Rhyme cố thuyết phục Eliopolos. “Chúng tôi hiểu rõ hắn. Hãy để chúng tôi bảo vệ họ.”

    “Ồ, còn anh Rhyme đây ư?” Eliopolos quay lại nhìn anh. “Vì việc liên quan đến chiếc máy bay, tôi sẽ truy tố anh vì tội can thiệp vào quá trình điều tra hình sự.”

    “Tôi thách anh đấy”, Sellitto nói.

    “Tôi sợ đếch gì mà không dám”, người đàn ông béo ị bật lại. “Anh ta hoàn toàn có thể làm hỏng cuộc điều tra khi để cô ấy thực hiện chuyến bay kia. Thứ Hai tới tôi sẽ có lệnh bắt anh ta. Và đích thân tôi sẽ phụ trách quá trình truy tố. Anh ta…”

    Rhyme nhẹ nhàng nói, “Hắn đã mò tới đây, anh biết đấy.”

    Tay Trợ lý Chưởng lý Hoa Kỳ bỗng im bặt. Sau một thoáng im lặng anh ta hỏi, “Ai cơ?”

    Mặc dù anh ta biết là ai.

    “Hắn đã ở ngay bên ngoài cửa sổ kia, cách đây chưa đến một giờ, chĩa một khẩu súng trường bắn tỉa, nạp đạn chạm nổ cực mạnh, vào căn phòng này.” Ánh mắt của Rhyme hướng xuống sàn nhà. “Có lẽ đúng vị trí mà anh đang đứng lúc này.”

    Tất nhiên không đời nào Eliopolos có chuyện tỏ ra nhát gan đến mức bước lùi lại. Nhưng mắt anh ta vẫn nhớn nhác đảo về phía cửa sổ để chắc chắn là những tấm rèm cửa đã được kéo xuống.

    “Tại sao…?”

    Rhyme nói nốt câu của anh ta. “Hắn không bắn ư? Bởi vì hắn chợt nảy ra ý khác hay hơn.”

    “Là thế nào?”

    “À”, Rhyme thốt lên. “Đó thật là câu hỏi đáng giá cả triệu đô đấy. Tất cả những gì chúng tôi biết là hắn vừa giết một người khác – một thanh niên nào đó trong Công viên Trung tâm – và lột sạch quần áo của anh ta. Hắn đã xóa các đặc điểm nhận dạng của cái xác và đóng giả là chính nạn nhân. Tôi không nghi ngờ một phút nào rằng hắn đã biết quả bom không giết được Percey và vì thế hắn đang trên đường hoàn thành nốt công việc. Và hắn sẽ biến anh thành một kẻ đồng mưu.”

    “Hắn thậm chí còn không biết là tôi tồn tại.”

    “Nếu như đó là điều anh muốn tin.”

    “Lạy Chúa, anh bạn Reggie ơi”, Dellray chen vào. “Hãy mở to mắt ra!”

    “Đừng có gọi tôi như thế.”

    Sachs cũng hùa theo. “Chẳng lẽ anh vẫn không nhận ra sao? Anh chưa bao giờ phải đối đầu với bất kỳ ai như hắn cả.”

    Mắt trừng trừng nhìn cô, Eliopolos nói với Sellitto. “Có lẽ ở cấp thành phố các anh người ta làm việc hơi khác thì phải. Ở cấp liên bang, người của chúng tôi luôn biết rõ vị trí của mình.”

    Rhyme gắt lên, “Anh là một thằng ngốc nếu chỉ coi hắn như một tên găngxtơ hoặc một tên mafia nửa mùa nào đó. Không ai có thể trốn khỏi tay hắn cả. Cách duy nhất là phải chặn hắn lại”.

    “Ừ, đúng rồi, Rhyme, từ đầu đến giờ toàn thấy mình anh hô hào xung trận thôi. Hừ, chúng tôi sẽ không hy sinh thêm bất kỳ cảnh sát nào nữa chỉ vì anh thấy nứng với kẻ đã giết hai nhân viên kĩ thuật dưới quyền mình cách đây đã năm năm. Đấy là giả sử anh vẫn còn khả năng thấy nứng…”

    Eliopolos cũng là một người đàn ông to lớn vì vậy anh ta không khỏi choáng váng khi thấy mình bị xô ngã lăn ra sàn nhà quá dễ dàng, miệng há hốc đớp đớp trong không khí, mắt trợn trừng nhìn khuôn mặt căm giận đến bầm tím của Sellitto, nắm đấm của viên thám tử đang vung lên.

    “Xin cứ việc, sĩ quan”, tay công tố viên thở khò khè, “và chỉ nửa tiếng nữa anh cũng sẽ bị truy tố ngay thôi”.

    “Lon”, Rhyme nói, “cho qua đi, cho qua đi…”

    Viên thám tử bình tĩnh lại, mắt tóe lửa nhìn người đàn ông, rồi bỏ ra chỗ khác. Eliopolos lồm cồm bò dậy.

    Thực ra, với Rhyme, câu xúc phạm đó không có ý nghĩa gì. Thậm chí anh còn không hề nghĩ đến Eliopolos. Và kể cả tên Vũ công cũng không nốt. Vì anh vừa vô tình quay sang nhìn Amelia Sachs và nhận ra vẻ trống rỗng trong ánh mắt cô, trong đó chỉ còn là nỗi tuyệt vọng. Và anh hiểu cảm giác của cô lúc này: nỗi tuyệt vọng vì để sổng mất con mồi. Eliopolos đang đánh cắp đi của cô cơ hội được tóm tên Vũ công. Cũng như với chính Lincoln Rhyme, tên giết người đã trở thành nỗi ám ảnh đeo bám cuộc sống của cô.

    Tất cả chỉ vì một bước sai lầm duy nhất – vụ việc ở sân bay, khi cô nhào xuống đất tìm chỗ nấp. Một việc nhỏ, một chi tiết không đáng kể đối với tất cả mọi người, trừ cô. Nhưng người ta vẫn nói thế nào nhỉ? Chỉ cần một thằng ngốc ném đá xuống hồ cả chục người khôn ngoan cũng không mò lại được. Nhưng cuộc sống của Rhyme giờ đây là cái gì nếu không phải là hậu quả của việc một mẩu gỗ đập vỡ một mẩu xương? Cuộc đời Sachs cũng sụp đổ trong khoảnh khắc duy nhất của hành động mà cô xem là hèn nhát đó. Nhưng không giống như trường hợp của Rhyme, vẫn còn – anh tin là thế – cơ hội cho cô sửa chữa hành động đó.

    Ôi, Sachs, thật đau đớn khi phải làm thế này, nhưng anh cũng không còn lựa chọn nào khác. Anh nói với Eliopolos, “Thôi được rồi, nhưng đổi lại anh cũng phải làm một việc cho chúng tôi.”

    “Nếu không các anh sẽ làm gì chứ?”, Eliopolos cười khẩy.

    “Nếu không tôi sẽ không cho anh biết Percey đang ở đâu”, Rhyme nói thẳng. “Chúng tôi là những người duy nhất biết điều này.”

    Bộ mặt của Eliopolos, đã không còn vẻ dương dương tự đắc đầy khiêu khích như tay một đấu sĩ của giải Vô địch Wrestling Thế giới[119] như lúc đầu, lạnh lùng nhìn thẳng vào mặt Rhyme. “Anh muốn gì?”

    Rhyme hít một hơi rất sâu rồi trả lời. “Tên Vũ công có vẻ quan tâm đặc biệt đến việc truy sát những người đang săn lùng hắn. Nếu các anh muốn tiếp quản việc bảo vệ Percey, tôi muốn các anh cũng phải bảo vệ cả điều tra viên pháp y chủ chốt trong vụ án này.”

    “Là anh ư?” Tay luật sư hỏi.

    “Không, là Amelia Sachs”, Rhyme trả lời.

    “Rhyme, không”, cô nói và giận dữ cau mày.

    Amelis Sachs khinh suất và liều lĩnh… Vậy mà mình đang đặt cô ấy vào chính giữa khu vực tiêu diệt của hắn.

    Anh ra hiệu cho cô lại gần mình.

    “Tôi muốn ở lại đây”, cô nói. “Tôi muốn tìm hắn.”

    Anh thì thào, “Ôi, đừng lo về chuyện đó, Sachs. Hắn sẽ đi tìm . Chúng tôi sẽ cố tìm ra vỏ bọc mới của hắn, Mel và tôi. Nhưng nếu hắn đang chuẩn bị ra tay ở Long Island, tôi muốn cô ở đó. Tôi muốn cô ở bên cạnh Percey. Cô là người duy nhất hiểu rõ hắn. Hừm, tất nhiên là cả tôi và cô. Nhưng trong tương lai gần chắc tôi không bắn bùng gì được cả.”

    “Có thể hắn sẽ quay lại đây...”

    “Tôi không nghĩ thế. Nhiều khả năng đây là con cá đầu tiên của hắn thoát khỏi lưới và hắn không hề thích điều đó chút nào. Kiểu gì hắn cũng sẽ săn lùng Percey. Hắn dám làm thế lắm, tôi biết mà.”

    Cô tự đấu tranh với mình trong giây lát, rồi gật đầu.

    “Được rồi”, Eliopolos nói, “cô sẽ đi cùng chúng tôi. Chúng tôi có một chiếc xe thùng đang chờ ngoài kia.”

    Rhyme nói, “Sachs?”.

    Cô dừng lại.

    Eliopolos nói, “Chúng tôi thực sự cần lên đường thôi”.

    “Một phút nữa tôi sẽ có mặt dưới đó.”

    “Chúng ta đang chịu ít nhiều áp lực về mặt thời gian đấy, sĩ quan.”

    “Tôi đã bảo, một phút nữa.” Cô dễ dàng giành chiến thắng trong trận đấu bằng ánh mặt và thế là Eliopolos cùng với tay cảnh sát tùy tùng của anh ta dẫn Jodie xuống cầu thang. “Khoan đã”, người đàn ông nhỏ bé gọi vọng từ hành lang vào phòng. Gã quay lại, chộp lấy quyển sách của mình, rồi lon ton chạy xuống cầu thang.

    “Sachs...”

    Anh đã định nói điều gì đó về việc phải tránh tỏ ra anh hùng rơm, về Jerry Banks, về việc cô không nên tự trách móc bản thân mình quá.

    Về việc để cho những người chết được ngủ yên...

    Nhưng anh biết bất kỳ lời khuyên can hay khích lệ nào trong lúc này cũng đều là sáo rỗng[120].

    Và thế là anh nhỏ nhẹ, “Hãy bắn trước.”

    Cô đặt bàn tay phải của mình lên bàn tay trái của anh. Anh nhắm mắt lại và cố hết sức để có thể cảm thấy da cô đang áp trên da anh. Anh tin là mình đã cảm thấy, cho dù chỉ là ở ngón tay đeo nhẫn.

    Anh ngẩng lên nhìn cô. Cô nói, “Và anh nhớ lúc nào cũng phải có người bên cạnh trông nom đấy, được chứ?”. Cô gật nhẹ đầu về phía Sellitto và Dellray.

    Một nhân viên pháp y của Sở Cảnh sát xuất hiện trên ngưỡng cửa, ngơ ngác nhìn quanh căn phòng, hết nhìn Rhyme lại nhìn mớ thiết bị hiện đại, nhìn cô nàng cảnh sát xinh đẹp, vẫn băn khoăn cố hiểu vì lí do quái quỷ gì mà anh ta lại đang làm cái việc mà người đã ra lệnh cho anh ta phải làm. “Có ai ở đây muốn có một cái xác phải không?” Anh ta rụt rè hỏi.

    “Trong này!”, Rhyme gào lên. “Vào luôn đi! Chúng tôi cần nó ngay lập tức!”



    Chiếc xe chạy qua một cánh cổng lớn và tiếp sau đó là một con đường hẹp. Con đường một làn xe tưởng chừng như trải dài không biết bao nhiêu dặm.

    “Nếu đây mới chỉ là đường lái xe vào trong”, Roland Bell lẩm bẩm, “thì không hiểu ngôi nhà còn đến mức nào.”

    Anh và Amelia Sachs ngồi hai bên Jodie, gã này làm tất cả mọi người trên xe bực mình không biết để đâu cho hết do gã liên tục ngọ nguậy trên ghế một cách bồn chồn, chiếc áo giáp chống đạn cồng kềnh của gã va vào mọi người mỗi lần gã kiểm tra các góc tối, những ô cửa khuất nẻo hoặc những chiếc xe chạy ngang qua suốt trên đường cao tốc Long Island. Ngồi sau là hai sĩ quan 32-E được trang bị súng máy. Percey Clay ngồi ở hàng ghế trên cùng cạnh người lái. Khi họ qua đón cô cùng với Bell tại nhà ga hàng không lính thủy đánh bộ tại LaGuardia trên đường tới hạt Suffolk, Sachs đã phải bàng hoàng khi nhìn thấy người nữ phi công.

    Không phải do kiệt sức – mặc dù rõ ràng là cô đang rất mệt. Cũng không phải là sự sợ hãi. Không, chính vẻ buông xuôi hoàn toàn của Percey mới là điều khiến Sachs thấy đau lòng. Hồi còn là sĩ quan tuần tra, cô đã phải chứng kiến không biết bao nhiêu bi kịch trên đường phố. Cô đã quá nhiều lần phải đảm đương trách nhiệm thông báo những tin tồi tệ nhất cho người thân của các nạn nhân, nhưng cô chưa bao giờ trông thấy ai đầu hàng hoàn toàn như Percey Clay lúc này.

    Percey đang nói chuyện qua điện thoại với Ron Talbot. Qua câu chuyện của họ Sachs cũng có thể đoán được rằng Tập đoàn U.S. Medical thậm chí còn không đợi đến lúc đống tro tàn từ chiếc máy bay nguội hẳn trước khi tuyên bố hủy bỏ hợp đồng. Percey tắt máy và trân trân hồi lâu nhìn cảnh vật đang lướt qua ngoài cửa sổ. Cô lơ đãng nói với Bell. “Thậm chí công ty bảo hiểm còn từ chối thanh toán cho số hàng bị phá hủy. Họ cho rằng tôi đã bất chấp mối nguy hiểm được báo trước. Thế đấy.” Cô chua chát thốt lên, “Chúng tôi phá sản rồi.”

    Những hàng thông lùi lại phía sau, rồi đến những rặng sồi, những cồn cát. Sachs, vốn là một cô gái thành phố, khi còn ở tuổi thanh niên đã từng tới hạt Nassau và Suffolk này không phải vì những bãi biển hay trung tâm mua sắm của chúng mà là để đẩy cần số chiếc Charger màu nâu sẫm của cô và thúc cho chiếc xe vọt lên tốc độ 60 dặm một giờ chỉ sau 5,9 giây trong những cuộc đua ô tô trái phép từng một thời khiến cho Long Island trở nên nổi tiếng. Cô cũng biết rung động trước khung cảnh rừng cây, đồng cỏ và những con bò, nhưng, đối với cô, thiên nhiên chỉ trở nên lung linh nhất khi cô lướt vù qua tất cả với vận tốc 110 dặm một giờ.

    Jodie hết khoanh tay rồi lại duỗi tay, hết loay hoay trên chiếc ghế giữa lại quay ra nghịch với dây an toàn, và lại va vào người Sachs.

    “Xin lỗi cô”, gã lí nhí.

    Cô chỉ muốn vặn cổ gã.

    Hóa ra ngôi nhà không hề tương xứng với con đường dẫn vào.

    Đó là một ngôi nhà bố trí kiểu lệch tầng trải rộng, một sự kết hợp hổ lốn giữa gỗ nguyên súc và ván xẻ. Một công trình vô cảm xiêu vẹo, đổ nát theo thời gian bất chấp cơ man nào là tiền của liên bang rót vào.

    Bầu trời đêm thật u ám, những mảng sương ẩm ướt giăng phủ khắp nơi, nhưng Sachs vẫn có thể quan sát đủ rõ để nhận thấy rằng ngôi nhà được bố trí giữa một khoảnh rừng cây rất rậm rạp. Mặt đất trong khoảng bán kính 200 thước xung quanh ngôi nhà đều đã được dọn sạch cây cối. Một tấm bình phong lý tưởng cho những người sống bên trong, nhưng ngược lại là những khoảng trống rất thoáng xung quanh giúp phát hiện bất kỳ kẻ nào có ý định đột nhập vào. Một dải màu xám mờ xa trong bóng tối nhập nhoạng đánh dấu bìa rừng. Một hồ nước rộng và tĩnh lặng nằm phía sau ngôi nhà.

    Reggie Eliopolos trèo ra khỏi chiếc xe thùng và ra hiệu cho mọi người bước xuống. Anh ta dẫn họ vào trong sảnh chính của ngôi nhà rồi bàn giao họ cho một người đàn ông béo ú, trông anh ta có vẻ vui tính mặc dù anh ta không hề nhếch miệng mỉm cười một lần nào.

    “Xin chào mừng quý vị”, anh ta nói. “Tôi là sĩ quan Cảnh Sát Tư Pháp Mỹ David Franks. Tôi muốn chia sẻ một chút với quý vị về tổ ấm xa nhà này của mình – cơ sở bảo vệ nhân chứng có chế độ an ninh chặt chẽ nhất nước Mỹ. Chúng tôi có các thiết bị cảm ứng nhạy cảm với trọng lượng và chuyển động được lắp ở khắp mọi nơi xung quanh khu vực này. Không ai có thể lọt vào trong mà không bị phát hiện bởi một thiết bị báo động nào đó. Máy tính đã được lập trình để cảm nhận những đặc tính chuyển động của con người, tương quan với trọng lượng, do đó các thiết bị báo động sẽ không phát tín hiệu cảnh báo nếu một con hưu hoặc một con chó nào đó tình cờ đi lạc vào vành đai bảo vệ. Chỉ cần kẻ đó – đúng hơn là người nào đó – bước chân vào những nơi không nên bước vào, toàn bộ nơi này sẽ bật sáng lòa như Quảng trường Thời đại vào đêm Giáng sinh. Thế còn nếu có kẻ tìm cách cưỡi trên lưng ngựa để xuyên qua vành đai bảo vệ thì sao? Chúng tôi đã nghĩ đến tình huống đó. Chỉ cần máy tính phát hiện được một trọng lượng bất thường có liên quan đến khoảng cách giữa các móng ngựa, thiết bị báo động sẽ bật lên ngay. Và bất kỳ chuyển động nào – dù là của chồn hay sóc – cũng sẽ kích hoạt các camera theo dõi bằng hồng ngoại.

    À, mà chúng ta còn được bảo vệ bằng các trạm radar của sân bay khu vực Hampton, nên bất kỳ cuộc tấn công nào từ trên công cũng đều bị phát hiện tương đối sớm. Trong trường hợp có chuyện xảy ra, quý vị sẽ nghe thấy còi báo động và có thể nhìn thấy đèn pha rọi sáng. Xin hãy cứ ở nguyên chỗ của mình. Không được bước ra ngoài.”

    “Ở đây các anh có lực lượng bảo vệ như thế nào?”, Sachs hỏi.

    “Chúng tôi bố trí bốn cảnh sát trong nhà. Hai người ở trạm gác phía trước bên ngoài nhà, hai người ở trạm gác phía sau trông ra hồ. Và chỉ cần nhấn cái nút báo động kia là sẽ có một chiếc trực thăng Huey chở đầy những chàng trai SWAT có mặt tại đây trong vòng hai mươi phút.”

    Vẻ mặt Jodie như muốn nói rằng hai mươi phút có vẻ là một quãng thời gian quá dài. Sachs cũng phải đồng ý với gã.

    Eliopolos nhìn đồng hồ của mình. Anh ta nói, “Chúng tôi sẽ bố trí một chiếc xe bọc thép có mặt tại đây lúc sáu giờ sáng để đưa cô tới nơi bồi thẩm đoàn triệu tập. Xin lỗi vì cô không ngủ được nhiều cho lắm.” Anh ta liếc nhìn Percey, “Nhưng giá kể như tôi được làm theo cách của mình ngay từ đầu thì cô đã ở đây suốt cả đêm rồi, an toàn và lành lặn.”

    Không ai nói lấy một lời tạm biệt khi anh ta bước ra khỏi cửa.

    Franks nói tiếp, “Cũng cần nhắc thêm một vài việc nữa. Không được nhìn ra ngoài cửa sổ. Không được ra ngoài nếu không có người đi cùng. Chiếc điện thoại ở đằng kia” – anh ta chỉ vào một chiếc điện thoại màu be trong góc phòng khách – “rất an toàn. Đó là chiếc điện thoại duy nhất mà các vị nên sử dụng. Xin vui lòng tắt điện thoại di động của mình đi và không được sử dụng chúng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Vậy đấy. Tất cả chỉ có thế. Có ai hỏi gì không?”.

    Percey hỏi, “Có đấy, chỗ các anh có rượu không?”.

    Franks quay sang chiếc tủ kính ngay cạnh mình và lôi ra một chai vodka cùng một chai whiskey. “Chúng tôi luôn muốn làm hài lòng những vị khách của mình.”

    Anh ta đặt chai rượu trên bàn, rồi bước ra cửa trước, vừa đi vừa khoác áo gió lên người. “Tôi về nhà đây, chúc một đêm vui vẻ nhé, Tom”, anh ta nói với người cảnh sát đứng ở cửa và gật đầu với bốn người “được” bảo vệ đang đứng rải rác trong ngôi nhà đi săn bằng gỗ đánh véc ni bóng loáng, trước mặt họ là chai rượu đặt trên bàn và xung quanh là hơn chục chiếc đầu hưu và nai sừng tấm gắn trên tường đang trừng trừng nhìn xuống.

    Chuông điện thoại bỗng đổ dồn, làm mọi người giật mình. Một cảnh sát bảo vệ nhấc ống nghe lên sau hồi chuông thứ ba. “A lô?”

    Anh ta liếc về phía hai người phụ nữ. “Amelia Sachs?”

    Cô gật đầu và cầm lấy ống nghe.

    Đó là Rhyme gọi tới. “Sachs, chỗ đó có an toàn không?”

    “Tốt lắm”, cô nói. “Công nghệ tối tân. Có manh mối gì với cái xác không?”

    “Đến lúc này thì chưa có gì cả. Đã có bốn người đàn ông được thông báo là mất tích ở khu Manhattan trong vòng bốn giờ qua. Chúng tôi đang cho kiểm tra từng người một. Jodie có ở đó không?”

    “Có.”

    “Hãy hỏi anh ta xem tên Vũ công có bao giờ đề cập đến việc sử dụng một vỏ bọc cụ thể nào đó không?”

    Cô truyền đạt lại câu hỏi.

    Jodie cố nhớ lại. “Ừm, tôi nhớ là có lần hắn đã nói gì đó… Ý tôi là, cũng không có gì cụ thế. Hắn nói nếu đang chuẩn bị giết ai đó, ta phải xâm nhập, đánh giá, đánh lạc hướng, cô lập và tiêu diệt. Hay đại loại như thế. Tôi không nhớ chính xác. Ý hắn là đánh lạc hướng bằng cách sử dụng một người khác để làm gì đó, và khi mọi người đã lơ là mất cảnh giác, hắn sẽ ra tay. Tôi nghĩ hắn nhắc đến kiểu như một người đưa hàng hoặc một thẳng nhóc đánh giày chẳng hạn.”

    Vũ khí đáng sợ nhất của anh ta là đánh lạc hướng...

    Sau khi chuyển những thông tin này lại cho Rhyme, anh nói, “Theo chúng tôi thì cái xác là của một doanh nhân trẻ. Cũng có thể là một luật sư. Hỏi Jodie xem liệu có lần nào hắn nhắc đến việc tìm cách đột nhập vào tòa án trong phiên triệu tập của bồi thẩm đoàn không”.

    Jodie trả lời là gã không nghĩ thế.

    Sachs nói lại cho Rhyme biết.

    “Được rồi. Cảm ơn.” Cô nghe thấy anh trao đổi gì đó với Mel Cooper. “Tôi sẽ gọi lại sau, Sachs.”

    Sau khi họ gác máy, Percey hỏi mọi người xung quanh, “Có ai muốn làm một chút trước khi đi ngủ không?”.

    Sachs không thể dứt khoát quyết định là cô muốn hay không nữa. Ký ức về cốc rượu whiskey trước khi diễn ra màn thất bại của cô trên giường Rhyme làm cô rùng mình. Nhưng trong một giây bốc đồng cô vụt trả lời, “Có chứ”.

    Roland Bell cũng tự nhủ anh có thể cho mình tạm nghỉ ngơi khoảng nửa giờ.

    Jodie quyết định chỉ tợp nhanh một ngụm nhỏ whiskey cho ấm người, rồi quay về giường mình, kẹp khư khư quyển sách về nghệ thuật sống dưới nách rồi tròn mắt nhìn những chiếc đầu hươu gắn trên tường với vẻ mặt tò mò của một cậu nhóc thành phố.



    Ngoài trời, trong bầu không khí mùa xuân đặc quánh, tiếng ve sầu râm ran và lũ ễnh ương bắt đầu ộp oạp gọi bạn tình bằng tiếng kêu da diết đặc trưng của mình.

    Khi hắn nhìn vào trong bóng tối nhập nhoạng của buổi sáng sớm mờ sương ngoài cửa sổ, Jodie có thể thấy những quầng sáng của đèn pha chiếu ra xuyên qua màn sương mù. Hai bên là những bóng đen đang nhảy múa – khi sương mù giăng lướt qua những thân cây.

    Hắn rời khỏi cửa sổ và bước thẳng về phía cửa phòng mình, nhòm ra ngoài.

    Hai cảnh sát bảo vệ hành lang này đang ngồi trong một phòng an ninh nhỏ cách đó khoảng 20 feet. Cả hai đều có vẻ buồn chán và cũng chỉ cảnh giác gọi là.

    Hắn chăm chú nghe ngóng nhưng cũng không nghe thấy gì ngoài những âm thanh cọt kẹt và tí tách của một ngôi nhà gỗ lâu năm trong đêm tĩnh lặng.

    Jodie quay về giường và ngồi trên tấm đệm võng lún. Hắn cầm trên tay cuốn sách Dependent No More nhàu nhĩ và bẩn thỉu của mình.

    Đến lúc ra tay rồi, hắn tự nhủ.

    Hắn mở phanh cuốn sách ra, phần gáy sách phết hồ nứt gãy, rồi lột bỏ một dải băng dính nhỏ dán dọc theo gáy sách. Một lưỡi dao dài trượt xuống giường. Trông lưỡi dao giống như kim loại đen nhưng trong thực tế nó được làm từ vật liệu polymer độn bột gốm mà không một máy phát hiện kim loại nào có thể tìm ra được. Lưỡi dao có màu mờ mờ, xỉn đục, một bên sắc như dao cạo, còn bên kia có răng nhọn như một lưỡi cưa phẫu thuật. Phần tay cầm được quấn bằng băng dính. Hắn đã tự mình thiết kế và chế tạo lưỡi dao này. Giống như hầu hết các loại vũ trang nguy hiểm khác, trông nó không hề hào nhoáng hay bắt mắt gì cho lắm và chỉ có đúng một chức năng: giết người. Và nó thực hiện đúng chức năng này rất, rất gọn gàng.

    Hắn không hề e dè khi cầm lưỡi dao lên – kể cả khi hắn chạm vào tay nắm cửa chính hoặc cửa sổ – bởi vì hắn là chủ sở hữu những dấu vân tay hoàn toàn mới. Tháng trước, lớp da trên mười đầu ngón tay của hắn đã được một bác sĩ phẫu thuật ở Bern, Thụy Sĩ đốt đi bằng hóa chất, sau đó một bộ vân tay mới được khắc vào lớp mô sẹo bằng kĩ thuật laser dùng trong ngành vi phẫu. Tất nhiên những vân tay thật sự của hắn sẽ tự tái tạo trở lại, nhưng ít nhất cũng phải mất vài tháng nữa.

    Ngồi trên mép giường, mắt nhắm nghiền, hắn hình dung ra căn phòng khách và bắt đầu bước xuyên qua nó trong ý nghĩ, nhớ lại vị trí của cánh cửa lớn, từng khung cửa sổ, từng món đồ trang trí, những bức tranh phong cảnh xấu tệ trên tường, những bộ sừng hươu trưng phía trên lò sưởi, gạt tàn, vũ khí và những vũ khí tiềm năng. Jodie có trí nhớ tốt đến nỗi hắn hoàn toàn có thể bước qua căn phòng cho dù bị bịt kín mắt mà vẫn không va phải bất kỳ một chiếc bàn hay một chiếc ghế nào.

    Chìm đắm trong dòng suy nghĩ, hắn đưa cái tôi tưởng tượng của mình tới chỗ chiếc điện thoại trong góc phòng và dành một khoảng thời gian cân nhắc đến hệ thống liên lạc của ngôi nhà an toàn. Hắn đã quá quen với cơ chế hoạt động của hệ thống này (phần lớn thời gian rảnh rỗi của hắn được dành vào việc đọc sách hướng dẫn vận hành các hệ thống an ninh và liên lạc) và hắn biết rằng nếu cắt đường dây điện thoại này, sự sụt giảm về điện áp sẽ gửi tín hiệu báo động tới bảng điều khiển của các cảnh sát tư pháp trong ngôi nhà và có lẽ còn tới cả một văn phòng địa bàn gần đó. Vì vậy hắn sẽ phải để nó y nguyên như vậy.

    Đó không phải là một vấn đề, mà là một nhân tố.

    Tiếp tục hành trình tưởng tượng. Hắn kiểm tra những chiếc camera an ninh trong phòng khách chung – mà tay cảnh sát phụ trách đã “quên” thông báo cho họ biết. Chúng được bố trí theo kiểu chữ Y mà những tay chuyên viên thiết kế an ninh thường áp dụng cho một ngôi nhà an toàn của chính phủ trong điều kiện ngân sách có hạn. Hắn cũng biết rõ hệ thống này và cả việc nó có một khiếm khuyết nghiêm trọng về thiết kế – tất cả những gì hắn phải làm là gõ thật mạnh phần giữa của các ống kính. Hành động này làm trật vị trí của các thiết bị quang học bên trong; hình ảnh trên màn hình an ninh sẽ trở nên đen ngòm nhưng vẫn không có chuông báo động, mà đây là điều chắc chắn sẽ xảy ra nếu kẻ đột nhập dại dột nào đó cắt những đường cáp truyền tín hiệu.

    Lại nghĩ đến những chiếc đèn… Hắn có thể vô hiệu hóa sáu – không, năm – trong tổng số tám chiếc đèn hắn đã nhìn thấy trong ngôi nhà an toàn nhưng hơn thế thì không thể. Phải đến khi tất cả những cảnh sát canh gác đều đã chết. Hắn ghi nhớ vị trí của từng công tắc đèn, rồi tiếp tục cuộc hành trình trong tâm trí. Phòng xem ti vi, gian bếp, những phòng ngủ. Ước lượng khoảng cách, cân nhắc góc nhìn từ bên ngoài vào.

    Đó không phải là một vấn đề...

    Ghi nhớ vị trí của từng nạn nhân. Xem xét khả năng có thể họ đã vào phòng trong vòng mười lăm phút vừa qua.

    … mà chỉ là một nhân tố.

    Đến đây hắn mở choàng mắt. Hắn gật đầu với chính mình, nhét con dao vào túi áo rồi đi dần ra cửa.

    Hắn khẽ khàng bước vào gian bếp, thó một chiếc thìa có xẻ rãnh từ tủ chạn phía trên bồn rửa bát. Bước lại gần tủ lạnh và tự rót cho mình một cốc sữa. Sau đó hắn bước ra phòng khách chung và nhẩn nha đi từ giá sách nào sang giá sách kia, làm ra vẻ đang tìm kiếm thứ gì đó để đọc. Cứ đi qua một chiếc camera giám sát an ninh là hắn lại rướn lên với chiếc thìa và gõ mạnh vào ống kính. Sau đó hắn đặt cốc sữa và chiếc thìa lên một chiếc bàn rồi quay người bước về phía phòng an ninh.

    “Ê, kiểm tra màn hình xem nào”, một người cảnh sát càu nhàu, vặn vẹo một nút điều khiển trên màn hình ti vi trước mặt anh ta.

    “Sao thế?” Người kia hỏi, cũng không thực sự quan tâm cho lắm.

    Jodie bước qua người cảnh sát đầu tiên, người này ngẩng đầu lên và bắt đầu hỏi, “Này, thưa ông, ông đang làm gì vậy” thì xoẹt, xoẹt, Jodie đã gọn ghẽ mở toang cổ họng anh ta ra thành chữ V, máu từ vết đâm phun trào vẽ thành một cầu vồng đỏ rực trong không khí. Đồng đội của anh ta trợn tròn mắt và vươn tay ra chộp lấy khẩu súng, nhưng Jodie đã giật nó khỏi tay anh ta và đâm nạn nhân một nhát vào cổ họng, một nhát vào giữa ngực. Anh ta đổ sụm xuống sàn nhà giãy giụa hồi lâu. Đó là một cái chết thật ồn ào – đúng như Jodie đã biết trước là sẽ như thế. Nhưng hắn không thể đâm thêm nhát dao nào nữa vào người đàn ông; hắn cần bộ đồng phục và buộc phải giết anh ta với lượng máu dây ra ở mức tối thiểu.

    Trong khi người cảnh sát nằm còng queo trên sàn, giãy giụa và hấp hối, mắt anh ta vẫn trợn trừng nhìn Jodie trong lúc hắn đang lột bỏ bộ quần áo dính đầy máu nạn nhân ra. Ánh mắt người cảnh sát liếc đến bắp tay của Jodie và dán chặt vào hình xăm rất lạ.

    Trong khi cúi xuống và bắt đầu cởi bộ đồng phục trên người viên cảnh sát tư pháp, Jodie chợt nhận ra ánh mắt người đàn ông xấu số, hắn bèn nói, “Nó được gọi là Vũ điệu của Thần Chết. Thấy không? Thần Chết đang nhảy với nạn nhân tiếp theo của hắn. Quan tài của cô ta ở ngay phía sau. Mày có thích không?”.

    Hắn hỏi câu này với vẻ tò mò hoàn toàn thành thực, mặc dù hắn không nghĩ sẽ có câu trả lời. Và quả thật là không có.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 43 của 45

    CHƯƠNG 36

    Mel Cooper, tay đã xỏ sẵn đôi găng latex, đang đứng cạnh cái xác của người thanh niên họ tìm thấy trong Công viên Trung tâm.

    “Tôi có thể thử dưới hai bàn chân”, anh gợi ý, không giấu được vẻ chán nản.

    Những dấu vân dưới bàn chân cũng đặc trưng không khác gì dấu vân tay nhưng chúng cũng chẳng có giá trị gì nếu như họ không có mẫu lưu của đối tượng tình nghi; dấu vân chân không được lưu giữ trong các cơ sở dữ liệu AFIS.

    “Đừng mất công làm gì”, Rhyme lầm bầm.

    Cái xác này là của ai được nhỉ? Rhyme tự hỏi, mắt không rời cái xác tàn tạ trước mặt mình. Anh ta chính là chìa khóa cho hành động tiếp theo của tên Vũ công. Ôi, đây thật là cảm giác tồi tệ nhất trần đời: giống như một chỗ ngứa không thể nào với tới. Khi có một vật chứng ở ngay trước mặt, khi đã biết nó là chìa khóa của vụ án, vậy mà vẫn không thể nào giải mã nổi.

    Ánh mắt Rhyme vơ vẩn lướt sang bản sơ đồ bằng chứng treo trên tường. Cái xác cũng giống như những mẫu sợi màu xanh họ tìm thấy trong hangar – quan trọng, Rhyme linh cảm được, nhưng ý nghĩa của chúng thì vẫn hoàn toàn mờ mịt.

    “Còn gì nữa không?”, Rhyme hỏi tay bác sĩ lưu động vừa từ phòng pháp y của Sở Cảnh sát đến. Anh ta đã đến cùng với cái xác kia. Bác sĩ pháp y là một người đàn ông còn trẻ, nhưng đã bắt đầu hói, mồ hôi rịn ra thành từng chùm lớn trên trán anh ta. Tay bác sĩ pháp y nói, “Anh ta là người đồng tính, hay nói chính xác hơn, anh ta từng có lối sống của một người đồng giới khi anh ta còn trẻ. Có thể thấy anh ta đã nhiều lần quan hệ tình dục bằng đường hậu môn cách đây một vài năm, mặc dù gần đây thì không”.

    Rhyme hỏi tiếp, “Vết sẹo kia cho anh biết điều gì? Phẫu thuật à?”.

    “Chậc, đó là một vết rạch chính xác. Nhưng tôi không hiểu vì lí do gì mà lại phải mổ ở đó. Có thể là do tắc ruột. Nhưng ngay cả như thế chăng nữa tôi cũng chưa bao giờ nghe nói đến trường hợp có bác sĩ lại tiến hành mổ cho bệnh nhân ở vị trí hõm ổ bụng đó.”

    Rhyme thầm tiếc là Sachs không có mặt ở đây. Anh muốn được ném vung vãi những suy nghĩ của mình ra với cô. Chắc chắn cô sẽ nghĩ được điều gì đó mà anh đã bỏ qua.

    Anh ta có thể là ai được nhỉ? Rhyme suy nghĩ đến nát óc. Xác định nhân dạng là một ngành khoa học phức tạp. Anh đã từng có lần dựng lại được nhân dạng của một người đàn ông với đúng một cái răng duy nhất và không gì khác. Nhưng đây là quá trình đòi hỏi rất nhiều thời gian – thường là phải nhiều tuần không thì nhiều tháng.

    “Kiểm tra nhóm máu và đặc điểm ADN”, Rhyme nói.

    “Anh nói rồi còn gì nữa”, tay bác sĩ pháp y nói. “Chính tôi đã gửi các mẫu đi đối chiếu rồi.”

    Nếu nạn nhân có phản ứng dương tính với HIV điều đó có thể giúp họ xác định danh tính của anh ta qua các bệnh viện hoặc bác sĩ. Nhưng nếu không còn manh mối nào để điều tra tiếp, thì việc phân tích nhóm máu cũng chưa chắc đã giúp được gì.

    Vân tay...

    Mình sẵn sàng đánh đổi bất kỳ điều gì để có một dấu vân tay tử tế, Rhyme thầm nghĩ. Có thể…

    “Chờ đã!”, Rhyme bật cười thành tiếng. “Chim của anh ta!”

    “Gì cơ?” Sellitto há hốc miệng.

    Dellray thì nhíu mày khó hiểu.

    “Anh ta không còn tay. Nhưng còn một phần cơ thể mà chắc chắn anh ta đã phải động tay vào thì sao?”

    “Dương vật”, Cooper thốt lên. “Chỉ cần anh ta có đi tiểu trong vòng vài giờ qua là rất có thể chúng ta sẽ lấy được dấu vân tay!”

    “Ai muốn đảm đương vinh dự này nào?”

    “Chẳng có công việc gì là quá ghê tởm”, người kỹ thuật viên nói gọn lỏn, rồi lồng thêm một lớp găng tay latex khác. Anh bắt tay vào công việc với những tấm phim in da Kromekote. Và anh lấy được hai mẫu vân tay hoàn hảo – một dấu vân của ngón tay cái phía trên đầu dương vật của cái xác và một dấu vân của ngón trỏ ở phía dưới.

    “Tuyệt lắm, Mel.”

    “Đừng kể với bạn gái tôi đấy”, người kỹ thuật viên ngượng ngùng nói. Anh nhập dấu vân tay vừa tìm được vào hệ thống AFIS.

    Dòng tin nhắn hiện lên trên màn hình: Xin vui lòng chờ... Xin vui lòng chờ...

    Cầu trời là có trong hồ sơ, Rhyme tuyệt vọng tự nhủ. Cầu trời là có trong hồ sơ.

    Đúng là có thật.

    Nhưng khi kết quả được gửi về, Sellitto và Dellray, hai người đứng gần nhất với máy tính của Cooper, trừng trừng nhìn màn hình như không tin vào mắt mình.

    “Thế quái nào thế này?”, viên thám tử thốt lên.

    “Sao thế?”, Rhyme hét lên. “Đó là ai vậy?”

    “Đó là Kall.”

    “Cái gì?”

    “Đó chính là Stephen Kall”, Cooper nhắc lại. “Tỉ lệ trùng khớp là 20/20. Không thể nghi ngờ gì nữa.” Cooper tìm lại dấu vân tay tổng hợp mà họ đã lắp ghép được trước đó để xác định danh tính tên Vũ công. Anh đặt nó lên bàn cạnh tấm phim Kromekote. “Giống nhau hoàn toàn.”

    Thế là thế nào? Rhyme ngơ ngẩn tự hỏi. Tai sao lại có chuyện đó?

    “Thế biết đâu”, Sellitto nói, “đó chỉ là dấu vân tay của Kall trên chim của gã này thì sao? Biết đâu Kall lại là một tên nghiện khấu dâm?”.

    “Chúng ta đã có mẫu ADN từ máu của Kall, đúng không? Được lấy ở tháp nước ấy?”

    “Đúng rồi”, Cooper cũng nhớ ra.

    “Hãy so sánh chúng với nhau”, Rhyme ra lệnh. “Tôi muốn có kết quả phân tích mẫu ADN của cái xác này. Và tôi muốn có nó ngay bây giờ.”



    Chất thi vị chưa hề mất đi trong con người hắn.

    “Vũ công Quan tài”… mình thích cái tên đó, hắn tự nhủ. Nghe hay hơn nhiều so với “Jodie” – cái tên được hắn lựa chọn cho phi vụ này vì nghe nó hoàn toàn không có gì đáng sợ. Một cái tên ngu xuẩn, một cái tên vô nghĩa.

    Vũ công...

    Tên gọi rất quan trọng, hắn biết điều đó. Hắn cũng nghiên cứu triết học. Nghệ thuật đặt tên – phân biệt từng cá thể – chỉ có ở loài người. Lúc này đây tên Vũ công đang thì thầm nói với Stephen Kall quá cố và chỉ còn là cái xác cụt tay: Kẻ mà ngươi nghe nói tới chính là ta. Chính ta là người chuyên gọi các nạn nhân của mình là “xác chết”. Ngươi gọi chúng là Người vợ, là Người chồng, là Người bạn, muốn thế nào cũng được.

    Nhưng một khi đã có kẻ thuê ta giết thì chúng chỉ còn là xác chết. Đơn giản thế thôi.

    Mặc trên người bộ đồng phục của một cảnh sát Tư pháp Mỹ, hắn bắt đầu bước dọc hành lang mờ tối bỏ lại xác chết của hai nạn nhân. Tất nhiên hắn không thể nào tránh được việc bị máu dây vào quần áo, nhưng trong bóng tối mờ ảo của khu nhà giữa rừng này cũng khó có thể nhận ra những mảng máu đỏ bầm thấm vào bộ đồng phục cảnh sát màu xanh hải quân.

    Lên đường đi tìm Xác chết số ba.

    Người vợ, nếu ngươi thích gọi thế, Stephen. Ngươi mới thật là một sinh vật phức tạp và yếu đuối làm sao. Với hai bàn tay lúc nào cũng được cọ sạch và một con chim lạc lối! Người chồng, Người vợ, Người bạn…

    Xâm nhập, Đánh giá, Đánh lạc hướng, Tiêu diệt…

    À, Stephen… Lẽ ra ta có thể dạy ngươi rằng trong cái nghề này chỉ có một quy tắc duy nhất: Phải đi trước một bước so với bất kỳ kẻ nào.

    Giờ đây hắn đã có hai khẩu súng ngắn nhưng hắn sẽ chưa dùng đến chúng vội. Hắn không bao giờ muốn ra tay một cách bất cẩn. Chỉ cần sơ sẩy lúc này hắn sẽ không bao giờ còn cơ hội giết Percey Clay trước khi bồi thẩm đoàn triệu tập sáng ngày hôm đó.

    Nhẹ nhàng di chuyển vào phòng riêng nơi hai cảnh sát bảo vệ khác đang ngồi, một người đang đọc báo, người kia đang xem ti vi.

    Người thứ nhất ngẩng đầu lên, liếc nhìn tên Vũ công, nhìn thấy bộ đồng phục, cúi xuống đọc báo tiếp. Rồi lại ngẩng lên.

    “Chờ chút”, viên cảnh sát lắp bắp, bất thình lình nhận ra anh ta không biết khuôn mặt này.

    Nhưng tên Vũ công không chờ.

    Hắn trả lời bằng hai tiếng xoẹt, xoẹt vào cả hai bên động mạch cảnh. Người cảnh sát đổ gục về phía trước và chết trên trang sáu của tờ Daily News lặng lẽ đến nỗi cộng sự của anh ta vẫn dán mắt vào màn hình ti vi, nơi một phụ nữ tóc vàng đeo cơ man nào là trang sức bằng vàng đang thao thao giải thích cô ta đã gặp bạn trai của mình qua một lần lên đồng gọi hồn như thế nào.

    “Chờ á? Chờ cái gì?”, người cảnh sát thứ hai hỏi, mắt vẫn không rời khỏi màn hình.

    Anh ta chết hơi ồn ào hơn một chút so với cộng sự của mình, nhưng có vẻ như không một ai trong ngôi nhà nghe thấy. Tên Vũ công đặt hai cái xác nằm xuống sàn, rồi kéo họ vào dưới gầm bàn.

    Ra đến cửa sau hắn dừng lại kiểm tra chắc chắn là không có thiết bị cảm ứng trên khung cửa rồi mới lẻn ra ngoài. Hai cảnh sát đứng gác phía trước rất cảnh giác, nhưng ánh mắt của họ không hướng về ngôi nhà. Một người liếc nhanh về phía tên Vũ công, khẽ gật đầu chào, rồi quay lưng lại và tiếp tục quan sát. Một ánh bình minh đang bắt đầu hé lên phía chân trời, nhưng trời vẫn còn đủ tối để anh ta không nhận ra hắn. Cả hai cùng chết mà hầu như không kịp kêu một tiếng.

    Đến lượt hai người gác phía sau, ở trạm gác nhìn ra hồ nước, tên Vũ công nhẹ nhàng đến phía sau họ. Hắn thọc dao vào tim một người cảnh sát bằng nhát đâm từ phía sau lưng và rồi xoẹt, xoẹt, cắt phanh cổ họng của người cảnh sát thứ hai. Nằm trên mặt đất, người cảnh sát thứ nhất bật ra một tiếng thét xé lòng trước khi chết hẳn. Nhưng một lần nữa dường như không có ai nghe thấy; có lẽ vì âm thanh nghe giống hệt tiếng kêu của một con chim lặn gavia[121] đang đón chào ánh ban mai tuyệt đẹp phớt hồng pha ánh xám đang hửng dần, tên Vũ công tự nhủ.



    Coi như Rhyme và Sellitto đã lụt cổ trong món nợ ngân sách khi bản fax in kết quả phân tích ADN được chuyển đến. Kết quả được đưa ra bằng phương pháp xét nghiệm nhanh, nhưng hầu như cũng đủ để đưa ra kết luận cuối cùng; tỉ lệ vào khoảng 6000/1 rằng cái xác trước mặt họ lúc này chính là Stephen Kall.

    “Có kẻ đã giết hắn?”, Sellitto thốt lên. Áo sơ mi của anh nhàu nhĩ đến nỗi trông nó giống như hình ảnh của một mẫu sợi vải được đặt dưới ống kính hiển vi có độ phóng đại năm trăm lần. “Tại sao chứ?”

    Nhưng tại sao lại không phải câu hỏi trong đầu nhà hình sự học lúc này.

    Bằng chứng… Rhyme tự nhủ. Bằng chứng là mối quan tâm duy nhất của anh.

    Anh liếc nhìn lên những hồ sơ hiện trường vụ án treo trên tường, đảo qua tất cả những đầu mối của vụ án. Những mẫu sợi, đầu đạn, mẩu kính vỡ…

    Phân tích đi! Nghĩ đi nào!

    Mày biết quy trình đó mà. Mày đã thực hiện nó hàng triệu lần rồi.

    Trước hết anh phải xác định các dữ kiện. Rồi anh tiến hành xác định số lượng và phân loại chúng. Anh đưa ra các giả thuyết. Và từ đó anh rút ra kết luận. Tiếp theo là kiểm tra…

    Các giả thuyết, Rhyme thầm nghĩ.

    Có một giả thuyết hiển nhiên có mặt trong vụ án ngay từ đầu. Họ đã tiến hành điều tra hoàn toàn dựa trên ý nghĩ rằng Kall Vũ công Quan tài. Nhưng trong trường hợp không phải thế thì sao? Giả sử như hắn chỉ là một con tốt và tên Vũ công đã sử dụng hắn như một thứ vũ khí?

    Đánh lạc hướng...

    Nếu thế sẽ lại có một số bằng chứng không hề ăn khớp. Điều gì đó chỉ ra kẻ nào thực sự là tên Vũ công.

    Anh căng mắt nhìn những bảng sơ đồ thật kỹ càng.

    Nhưng tất cả đều đã được giải mã đầy đủ chỉ trừ mẫu sợi màu xanh. Hơn nữa cái đó lại không cho anh biết điều gì.

    “Chúng ta không tìm được bất kỳ thứ quần áo nào trên người Kall, đúng không?”

    “Không có, người trần như nhộng khi được phát hiện”, tay bác sĩ pháp y nói.

    “Chúng ta có thứ gì mà hắn đã từng tiếp xúc đến không?”

    Sellitto nhún vai, “Hừm, thì gã Jodie đấy”.

    Rhyme hỏi, “Anh ta đã thay quần áo ở đây đúng không?”.

    “Đúng thế”, Sellitto trả lời.

    “Mang lên đây. Quần áo của Jodie ấy. Tôi muốn kiểm tra chúng.”

    “Ọe”, Dellray thốt lên. “Chúng bốc mùi không dễ chịu lắm đâu.”

    Cooper đi tìm và mang đống quần áo lên. Anh rũ và trải chúng trên những tờ giấy in báo sạch sẽ. Sau đó anh gắp những mẫu chất rơi ra lên giá kính rồi đặt dưới đế quan sát của kính hiển vi điện tử.

    “Xem chúng ta có gì nào?” Rhyme hỏi và nhìn lên màn hình máy tính, trên đó là hình ảnh giống hệt những gì Cooper đang nhìn thấy qua kính hiển vi.

    “Cái thứ màu trắng kia là gì?”, Cooper hỏi. “Những hạt kia kìa. Chúng có khá nhiều. Rơi ra từ đường chỉ quần của hắn.”

    Rhyme cảm thấy mặt mình đột nhiên nóng bừng. Một phần là vì huyết áp của anh bắt đầu hỗn loạn do kiệt sức, một phần là vì cơn đau ma quái thỉnh thoảng vẫn bất thần trở lại hành hạ anh. Nhưng chủ yếu là vì sự căng thẳng của cuộc săn lùng.

    “Ôi, lạy Chúa tôi”, anh thì thầm.

    “Chuyện gì thế? Lincoln?”

    “Đó là đá oolite”, anh khẳng định.

    “Là cái chết tiệt gì?”, Sellitto hỏi.

    “Đá trứng cá. Đó là một loại cát hình thành từ san hô bị phong hóa. Người ta tìm thấy chúng ở đảo Bahamas.”

    “Bahamas?”, Cooper hỏi và nhíu mày. “Chúng ta cũng vừa mới nghe nói cái gì về Bahamas ấy nhỉ?” Anh nhìn quanh phòng thí nghiệm. “Tôi không nhớ.”

    Nhưng Rhyme thì có. Mắt anh đang dán chặt lên tấm bảng sơ đồ, nơi đang ghim báo cáo phân tích của FBI về mẫu cát do Amelia Sachs tìm được tuần trước trong xe của Tony Panelli, viên đặc vụ bị mất tích trong phân khu trung tâm.

    Anh đọc những dòng ghi trên đó:

    “Về mặt kĩ thuật thì mẫu được gửi tới phân tích không hẳn là cát. Nó là một mẩu vụn san hô từ những rạn san hô ngâm dưới biển và có chứa những gai nhỏ, cả dấu cắt ngang xúc tu của những con giun biển, vỏ các loài chân bụng và trùng có lỗ. Nhiều khả năng những mẩu vụn san hô này có nguồn gốc từ phía bắc khu vực Caribbe: Cuba hoặc Bahamas.”

    Viên đặc vụ Dellray, Sellitto nhớ lại… Người nắm rõ những ngôi nhà an toàn của chính phủ liên bang được bảo vệ nghiêm ngặt nhất trong khu Manhattan. Người sẽ phải khai tất cả cho kẻ đang tra tấn anh ta để moi địa chỉ.

    Đó là lý do tại sao tên Vũ công có thể chờ sẵn ở đó, chờ Stephen Kall xuất hiện, kết bạn với hắn, rồi bố trí để chính mình bị bắt và tiếp cận các nạn nhân.

    “Các loại thuốc!”, Rhyme hét lên.

    “Anh bảo gì?” Sellitto không hiểu.

    “Tôi bảo gì à! Dân bán ma túy không bao giờ pha trộn thuốc có kê đơn! Như thế quá mất công. Chúng chỉ pha loãng ma túy đường phố thôi!”

    Cooper gật đầu. “Hóa ra tên Jodie không hề trộn lẫn số thuốc hắn ăn cắp được với sữa bột của trẻ em. Hắn chỉ bán thuốc nguyên viên thôi. Hắn lại còn nuốt cả những viên thuốc giả để chúng ta tưởng hắn là dân nghiện.”

    “Jodie chính là Vũ công”, Rhyme gào toáng lên. “Gọi điện ngay đi! Gọi đến ngôi nhà an toàn ngay lập tức!”

    Sellitto chộp lấy điện thoại và bấm số.

    Chẳng lẽ đã quá muộn?

    Ôi, Amelia, anh đã làm gì thế này? Lẽ nào anh đã giết em?

    Bầu trời đang ửng lên một màu hồng ấm áp.

    Một tiếng còi hụ từ xa vọng đến.

    Con chim ưng đực – con tiercel, anh tự nhủ – cũng vừa thức dậy và đang chuẩn bị đi săn.

    Lon Sellitto tuyệt vọng ngẩng đầu lên từ chỗ đặt điện thoại. “Không có ai trả lời”, anh nói.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 44 của 45

    CHƯƠNG 37

    Họ đã nói chuyện một lúc lâu, cả ba người với nhau, trong phòng của Percey.

    Nói về máy bay, về xe cộ và công việc của cảnh sát.

    Rồi khi Bell đã quay về phòng mình chợp mắt thì Percey và Sachs lại tâm sự về đàn ông.

    Cuối cùng Percey nằm ngả lưng xuống giường, nhắm mắt lại. Sachs nhấc chiếc cốc whiskey ra khỏi tay người nữ phi công đang ngủ và tắt đèn. Cô tự nhủ mình cũng phải về phòng cố ngủ một chút.

    Lúc này cô đang dừng lại trong hành lang để tranh thủ ngắm nhìn bầu trời ban mai đang ửng dần – một màu hồng và cam dịu mắt – bỗng cô chợt nhận ra là chiếc điện thoại trong sảnh chính của khu nhà đã đổ chuông được một lúc lâu.

    Tại sao không có ai nghe máy nhỉ?

    Cô tiếp tục đi dọc theo hành lang.

    Cô không nhìn thấy hai người cảnh sát bảo vệ gần đó. Khu nhà có vẻ còn tối hơn trước. Hầu hết bóng đèn đã bị tắt đi. Một nơi thật u ám, cô tự nhủ. Rùng rợn. Thoang thoảng mùi gỗ thông và rêu ẩm. Còn gì nữa nhỉ? Một mùi gì đó rất quen thuộc với cô. Là mùi gì nhỉ?

    Mùi gì đó thường thấy ở những hiện trường vụ án. Nhưng trong trạng thái kiệt sức như lúc này cô không sao nhớ nổi.

    Điện thoại vẫn dai dẳng đổ chuông.

    Cô bước qua cửa phòng Roland Bell. Cánh cửa hơi hé mở và cô nhìn vào trong. Lưng anh quay ra cửa. Anh đang ngồi trong một chiếc ghế bành nhìn ra khung cửa sổ che kín rèm, đầu anh gục xuống ngực, hai tay khoanh lại.

    “Thám tử?” Cô khẽ gọi.

    Không thấy anh trả lời.

    Giấc ngủ thật ngon lành. Đó chính là điều chính cô cũng đang muốn có. Cô khẽ khàng khép cửa lại và tiếp tục đi dọc hành lang, về phía phòng mình.

    Cô vừa bước vừa nghĩ đến Rhyme. Cô hy vọng anh cũng đang tranh thủ chợp mắt đôi chút. Cô đã từng chứng kiến một cơn rối loạn huyết áp của anh. Lần đó thật đáng sợ và cô không muốn anh phải chịu đựng như thế thêm nữa.

    Chuông điện thoại im bặt, giữa một hồi chuông chưa đổ hết. Cô liếc nhìn về phía cô đã nghe thấy tiếng chuông, phân vân không biết đó có phải là điện thoại gọi cho mình không. Cô không nghe thấy tiếng người nào trả lời. Cô chờ thêm một lát, nhưng không thấy ai gọi mình.

    Im lặng. Rồi một tiếng gõ, một tiếng sột soạt rất khẽ. Và tất cả lại chìm vào im lặng.

    Cô bước vào trong phòng mình. Căn phòng tối om. Cô quay người sờ tìm công tắc và chợt nhận ra mình đang trừng trừng nhìn thẳng vào một đôi mắt loé sáng phản chiếu ánh đèn từ bên ngoài rọi vào.

    Tay phải nắm chặt báng khẩu Glock của mình, cô vung tay trái lên bật công tắc đèn. Cái đầu hươu gớm guốc trừng trừng nhìn cô bằng đôi mắt giả bóng loáng.

    “Những con thú chết”, cô lầm bầm. “Thật là sáng kiến vĩ đại trong một ngôi nhà an toàn…”

    Cô cởi áo ngoài và gỡ chiếc áo giáp chống đạn American Body Armor cồng kềnh ra khỏi người. Tất nhiên là không đến nỗi cồng kềnh như áo giáp của Jodie. Thật là một gã đáng ghét. Đồ… quắt queo… Dellray dùng từ đường phố gì ấy nhỉ? À, xương khô. Kẻ vứt đi gầy nhẳng. Thật là một tên đần độn.

    Cô luồn tay vào dưới lần áo lót lưới của mình và cào như điên. Hai bầu ngực, phần lưng dưới áo nịt, hai bên sườn.

    Ôi trời ơi, thật là dễ chịu.

    Kiệt sức, cái đó thì không phải bàn cãi nữa, nhưng liệu cô có ngủ được không?

    Chiếc giường trông mới dễ chịu và êm ái làm sao.

    Cô lại choàng chiếc áo lên người, và đóng cúc lại, rồi nằm xuống đệm. Nhắm mắt lại. Hình như cô vừa nghe thấy tiếng bước chân?

    Một trong những cảnh sát bảo vệ đang pha cà phê thôi, cô tự nhủ.

    Ngủ thôi chứ? Thở sâu nào…

    Không ngủ được.

    Mắt cô mở thao láo và cô trừng trừng nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện.

    Tên Vũ công Quan tài, cô trầm ngâm. Hắn sẽ tấn công họ bằng cách nào đây? Vũ khí lần này của hắn là gì?

    Vũ khí đáng sợ nhất của hắn là đánh lạc hướng…

    Liếc nhìn ra một kẽ rèm chưa khép hết, cô nhận ra ánh bình minh tuyệt đẹp màu xám bạc như vảy cá. Một làn sương mỏng đang làm nhoè màu ban mai chiếu rọi trên rặng cây phía xa.

    Đâu đó trong khu nhà cô chợt nghe thấy một tiếng thịch rất khẽ. Tiếng bước chân.

    Sachs vùng dậy đặt chân xuống sàn nhà và ngồi thẳng lên. Có lẽ cũng không nên cố làm gì nữa, tốt nhất là dậy uống chút cà phê. Đêm nay mình sẽ ngủ bù vậy.

    Cô chợt cảm thấy một nỗi thôi thúc muốn nói chuyện với Rhyme, để hỏi xem anh đã phát hiện thêm được gì chưa. Cô có thể nghe thấy giọng anh đang nói, “Nếu như tôi mà phát hiện được gì thì chắc chắn tôi đã gọi cho cô rồi, đúng không? Tôi đã bảo là tôi sẽ gọi mà”.

    Không, cô không muốn đánh thức anh dậy, nhưng cô ngờ là anh cũng không chợp mắt. Cô rút điện thoại di động của mình từ trong túi ra và bật nó lên trước khi kịp nhớ là viên cảnh sát tư pháp Franks đã cảnh báo họ chỉ được sử dụng đường dây điện thoại bảo mật trong phòng khách.

    Đúng lúc cô định tắt điện thoại thì nó rung lên inh ỏi.

    Sachs rùng mình – không phải vì âm thanh chói tai kia, mà là vì ý nghĩ bằng cách nào đó tên Vũ công đã lần ra số điện thoại của cô và muốn gọi để chắc chắn rằng cô đang ở trong khu nhà an toàn này. Trong giây lát cô còn tự hỏi hay là bằng cách nào đó hắn đã gài được thuốc nổ vào trong điện thoại của cô.

    Mẹ kiếp, Rhyme, xem tôi sợ đến mức nào đây này!

    Đừng có trả lời, cô tự nhủ.

    Nhưng bản năng mách bảo cô nên trả lời, và cho dù các nhà hình sự học có phủ nhận bản năng đi nữa, thì cảnh sát tuần tra, đặc biệt là cảnh sát đường phố, bao giờ cũng lắng nghe những tiếng gọi từ bên trong đó. Cô kéo dài chiếc ăng ten của điện thoại ra.

    “A lô?”

    “Tạ ơn Chúa…” Giọng nói hoảng sợ của Lincoln Rhyme làm cô cũng thấy sởn gai ốc.

    “Ôi, Rhyme. Có chuyện gì…”

    “Nghe cho kỹ này. Cô đang ở một mình à?”

    “Vâng. Có chuyện gì thế?”

    “Jodie chính là tên Vũ công.”

    “Cái gì?”

    “Stephen Kall chỉ là cách đánh lạc hướng. Jodie đã giết hắn. Cái xác mà chúng ta tìm được trong công viên chính là của Stephen Kall. Percey đâu rồi?”

    “Trong phòng chị ấy. Ở đầu hành lang. Nhưng làm thế nào mà…”

    “Không có thời gian nữa đâu. Chắc chắn lúc này hắn đang ra tay. Nếu những cảnh sát bảo vệ còn sống, hãy bảo họ thiết lập vị trí phòng thủ trong một căn phòng nào đó. Nếu họ chết rồi, hãy đi tìm Percey và Bell rồi thoát ra ngoài. Dellray vừa báo động cho lực lượng SWAT nhưng cũng sẽ phải mất hai mươi đến ba mươi phút trước khi họ kịp tới đó.”

    “Nhưng có đến tám cảnh sát bảo vệ. Hắn không thể nào vô hiệu hoá được ngần ấy người…”

    “Sachs”, anh nghiêm nghị nói, “hãy nhớ hắn là ai. Đi ngay đi! Hãy gọi cho tôi khi cô đã an toàn.”

    Bell! Cô chợt nghĩ ra, và nhớ lại tư thế bất động của người thám tử, đầu anh cúi gục về phía trước.

    Cô lao ra cửa phòng mình, mở toang cánh cửa, rút súng cầm trên tay. Phòng khách đen ngòm và hành lang sâu thông thống. Tối om. Chỉ có những tia sáng ban mai đầu tiên nhợt nhạt le lói hắt vào trong các căn phòng. Cô nghe ngóng. Có tiếng di chuyển. Tiếng kim loại lách cách. Nhưng những âm thanh đó từ đâu vọng đến?

    Sachs quay về phía phòng Bell và bước thật nhẹ nhàng và rón rén hết sức có thể.

    Anh tấn công cô đúng ngay trước khi kịp bước vào phòng anh.

    Vừa thoáng thấy bóng người bước vụt từ ngưỡng cửa ra, cô vội thụp người xuống và chĩa khẩu Glock về phía đó. Anh khẽ kêu lên và chặt mạnh cạnh bàn tay khiến khẩu súng văng ra khỏi tay cô. Không kịp nghĩ gì nữa, cô húc thẳng đầu mình đẩy anh về phía trước, xô anh ngã đập lưng vào tường.

    Quờ tay xuống tìm con dao bấm.

    Roland Bell thở hổn hển, “Bình tĩnh đi. Ê, này...”

    Sachs vội buông vạt áo anh ra.

    “Là anh à?”

    “Cô làm tôi sợ vãi cả linh hồn mất. Chuyện gì...?”

    “Anh không sao à!”, cô thốt lên.

    “Chỉ vừa ngủ quên mất một phút. Có chuyện gì thế?”

    “Jodie chính là Vũ công. Rhyme vừa gọi cho tôi.”

    “Cái gì? Sao lại thế?”

    “Tôi không biết.” Cô nhìn quanh, người run lên vì sợ. “Những người bảo vệ đâu hết rồi?”

    Cả hành lang và sảnh đều vắng tanh.

    Và cô đột nhiên nhận ra cái mùi mà cô vẫn băn khoăn từ nãy tới giờ. Chính là mùi máu! Như mùi đồng nung nóng. Và đến lúc này cô biết chắc rằng tất cả những cảnh sát bảo vệ đều đã chết. Sachs loay hoay đi tìm khẩu súng của mình, nó đang nằm lăn lóc trên sàn. Cô cau mày, nhìn xuống phía cuối báng súng. Cái chỗ lẽ ra là băng đạn giờ chỉ còn là một lỗ trống hoác. Cô nhặt khẩu súng lên.

    “Không!”

    “Có chuyện gì?” Bell hỏi.

    “Băng đạn của tôi. Biến mất rồi.” Cô vội vỗ lên thắt lưng đồ của mình. Cả hai băng đạn dự phòng trong túi cũng đã biến mất.

    Bell rút hai khẩu súng của anh ra – một khẩu Glock và một khẩu Browming. Cả hai đều không còn băng đạn. Thậm chí cả buồng đạn cũng trống trơn.

    “Lúc ở trong xe!”, cô lắp bắp. “Tôi dám cá hắn đã giở trò lúc ở trong xe. Hắn đã ngồi giữa chúng ta. Ngọ nguậy không yên suốt chặng đường. Hết xô vào người này lại ngả sang người kia.”

    Bell nói, “Tôi đã thấy có một tủ súng ở trong phòng khách. Có hai khẩu súng trường đi săn”.

    Sachs cũng nhớ điều này. Cô chỉ tay. “Kia kìa!” Họ chỉ có thể lờ mờ nhận ra cái tủ trong ánh ban mai nhập nhoạng. Bell nhìn quanh mình và lom khom chạy vụt tới đó, trong khi Sachs chạy sang phòng Percey và nhìn vào trong. Người nữ phi công đang nằm ngủ trên giường.

    Sachs bước trở ra hành lang, bấm cho lưỡi dao bật lên và cúi thấp người, nheo mắt nhìn quanh. Một lát sau Bell quay lại. “Tủ súng bị phá khoá rồi. Cả hai khẩu súng trường đều đã biến mất. Cả đạn cho súng ngắn cũng không còn.”

    “Đánh thức Percey dậy và ra khỏi đây thôi.”

    Một tiếng bước chân vọng đến từ cách đó không xa. Một tiếng cạch khô khốc của khoá nòng súng trường lên đạn.

    Cô chụp lấy cổ áo của Bell và lôi anh nhào xuống sàn nhà.

    Phát súng nổ đanh đến điếc tai và đầu đạn lao đi phá vỡ giới hạn âm thanh sát sạt ngay phía trên đầu họ. Sachs ngửi thấy mùi khét của chính tóc cô bị cháy sém. Chắc chắn lúc này Jodie phải có trên người cả một kho vũ khí đáng kể – tất cả số súng ngắn của những người cảnh sát bảo vệ – nhưng hắn lại đang dùng khẩu súng trường đi săn.

    Họ lao vọt về phía phòng Percey. Cánh cửa bật mở đúng lúc họ chạy đến nơi và cô bước ra, miệng há hốc, “Lạy Chúa, có chuyện gì….”.

    Cú xô cả người của Roland Bell đẩy Percey bắn trở lại trong phòng. Sachs cũng lao vào nằm đè lên trên hai người. Cô đạp cửa đóng chặt lại, khoá vào, rồi chạy tới bên cửa sổ, đẩy nó mở toang ra. “Ra, ra, ra, ra…”

    Bell bế xốc Percey Clay còn đang bàng hoàng lên khỏi mặt sàn và lôi cô về phía cửa sổ trong khi những phát đạn săn hươu có sức công phá lớn đang phá nát cánh cửa gỗ xung quanh ổ khoá.

    Không một ai trong ba người còn tâm trí mà để ý xem tên Vũ công thành công đến đâu trong việc phá khoá. Họ nhào ra khỏi cửa sổ hoà vào ánh sáng bình minh bên ngoài và chạy và chạy và chạy xuyên qua bãi cỏ còn thấm đẫm sương đêm.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 44 của 45

    CHƯƠNG 38

    Sachs dừng lại khi đến mép hồ. Sương mù, như được dát một lớp áo màu hồng và đỏ của ánh bình minh, lơ lửng thành những mảng lớn hình thù ma quái trên mặt nước tĩnh lặng và xám xịt.

    “Chạy tiếp đi”, cô hét lên với Percey và Bell. “Về rặng cây đằng kia.”

    Cô đang chỉ tay về phía nơi ẩn náu gần nhất – một rặng cây rậm rạp ở phía cuối đồng cỏ rộng nằm bên kia hồ nước. Nó còn cách chỗ họ khoảng hơn 100 thước nữa nhưng dù sao cũng vẫn là nơi ẩn náu gần nhất lúc này.

    Sachs liếc nhanh về phía khu nhà gỗ. Không thấy bóng dáng Jodie đâu cả. Cô thụp người xuống nép sát cạnh xác của một trong những cảnh sát bảo vệ. Tất nhiên bao súng của anh ta đã trống trơn, cả những băng đạn cũng không còn. Cô biết trước là Jodie đã lấy những vũ khí đó đi, nhưng cô vẫn hy vọng còn điều gì đó mà hắn không ngờ tới.

    Hắn cũng là người thôi, Rhyme...

    Và sau một hồi cuống cuồng sờ lần trên cái xác lạnh ngắt cô cũng tìm thấy thứ cô đang tìm kiếm. Khi kéo hẳn gấu quần của người cảnh sát bảo vệ lên trên ống đồng, cô rút ra được thứ vũ khí dự phòng vốn được anh ta dắt trong chiếc bao phía trên mắt cá. Một khẩu súng ngu xuẩn. Một khẩu Colt ổ xoay bé tí với năm viên đạn, nòng súng ngắn choằn chưa đến hai inch.

    Cô liếc về phía khu nhà gỗ đúng lúc khuôn mặt của Jodie hiện ra trên cửa sổ. Hắn nâng khẩu súng trường săn lên. Sachs quay ngoắt lại và nã vội một phát súng. Cửa kính vỡ choang cách mặt hắn chỉ trong gang tấc khiến hắn phải loạng choạng hụp đầu vào trong phòng.

    Sachs chạy vòng quanh mép hồ đuổi theo Bell và Percey. Họ chạy như điên, lạng bên này rồi lại tránh sang bên kia, xuyên qua đồng cỏ đẫm sương.

    Họ mới chỉ chạy xa khỏi ngôi nhà gỗ được gần 100 thước trước khi nghe thấy phát súng đầu tiên. Đó là một tiếng súng nổ đanh giòn, rền vang qua các gốc cây. Viên đạn cảy tung mặt đất ngay sát chân Percey.

    “Nằm xuống”, Sachs gào lên. “Đằng kia!” Cô chỉ tay về một hõm đất nông trên mặt cỏ.

    Họ lăn xuống đất đúng lúc hắn nổ súng tiếp. Nếu Bell vẫn còn đứng thẳng như trước đó viên đạn chắc chắn đã xuyên vào giữa hai vai anh.

    Họ vẫn còn cách xa 50 feet tính từ vạt cây gần nhất có thể dùng làm nơi ẩn nấp. Nhưng cố chạy tới đó vào lúc này chẳng khác gì tự sát. Có vẻ như Jodie không hề kém một chút nào so với khả năng thiện xạ của Stephen Kall khi còn sống.

    Sachs vụt nhô đầu lên trong tích tắc.

    Cô không kịp nhìn thấy gì mà chỉ nghe thấy một tiếng nổ. Một thoáng sau viên đạn rít lên veo véo trong không khí ngay sát cạnh cô. Sách lại cảm thấy nỗi kinh hoàng đến mụ mẫm người giống như khi ở sân bay. Cô úp mặt mình xuống lớp cỏ mùa xuân mát lạnh, thấm đẫm sương đêm và mồ hôi của chính cô. Hai tay cô run bắn.

    Bell ngẩng lên thật nhanh rồi lại hụp đầu xuống.

    Lại một phát súng nữa. Đất bắn tung toé ngay sát mặt anh.

    “Tôi nghĩ tôi đã trông thấy hắn”, viên thám tử nói. “Có mấy bụi cây phía bên phải ngôi nhà. Trên ngọn đồi kia kìa.”

    Sachs thở liền ba hơi thật nhanh. Rồi cô lăn người sang bên phải khoảng năm feet, ngẩng đầu lên thật nhanh, rồi lại cúi xuống.

    Lần này Jodie quyết định chưa nổ súng nên cô tranh thủ nhìn được khá rõ. Bell nói đúng: Tên giết người đang ở bên sườn một ngọn đồi, ngắm bắn họ bằng một khẩu súng trường săn hươu có kính ngắm; cô đã thoáng nhìn thấy ánh sáng lấp loáng từ ống kính hắt ra. Hắn không thể bắn được họ tại vị trí họ đang nấp lúc này nếu như họ nằm yên. Nhưng tất cả những gì hắn phải làm là đi lên đỉnh đồi. Từ vị trí cao nhất này hắn có thể bắn xuống hố đất mà họ đang ẩn náu – một khu vực tiêu diệt hoàn hảo.

    Năm phút trôi qua mà không có thêm phát súng nào. Chắc hắn đang tìm đường lên đỉnh đồi, cho dù có phải thận trọng hơn – hắn biết Sachs có súng và hắn cũng đã thấy cô bắn giỏi như thế nào. Liệu họ có thể trốn hắn mãi được không? Khi nào thì chiếc trực thăng chở đội SWAT mới tới đây?

    Sachs nhắm chặt mắt lại, hít ngửi mùi đất, mùi cỏ tươi.

    Cô nghĩ đến Lincoln Rhyme.

    Cô hiểu rõ hắn hơn bất kỳ ai khác, Sachs...

    Cô sẽ không bao giờ hiểu được hung thủ cho đến khi cô bước trên những nơi hắn từng bước, cho đến khi cô lần theo những dấu vết tội ác của hắn....

    Nhưng, Rhyme, cô tự nhủ, đây đâu phải là Stephen Kall. Jodie không phải là kẻ giết người mà tôi biết. Những nơi tôi đã đi qua cũng đâu phải hiện trường vụ án mà hắn gây ra. Cái mà tôi đã nhập vào cũng không phải là suy nghĩ của hắn...

    Cô cố tìm một cái hố thấp nào đó trên mặt đất có thể dẫn họ an toàn chạy tới rặng cây nhưng không có gì. Chỉ cần họ nhúc nhích khoảng năm feet về bất kỳ hướng nào, coi như hắn đã có một mục tiêu ngon lành.

    Hừ, đằng nào thì cũng chỉ một phút nữa thôi họ sẽ trở thành những mục tiêu ngon lành của hắn, khi hắn đã lên được đỉnh đồi.

    Và đột nhiên ý nghĩ đó nảy ra trong đầu cô. Rằng những hiện trường vụ án cô đã từng khám nghiệm thực sự là hiện trường của tên Vũ công. Có thể hắn không phải là kẻ đã bắn phát súng giết chết Brit Hale hoặc gài quả bom làm nổ tung máy bay của Ed Carney hoặc vung con dao giết hại John Innelman trong tầng hầm toà nhà văn phòng.

    Nhưng Jodie vẫn chính là hung thủ.

    Hãy nhập vào suy nghĩ của hắn, Sachs, cô nghe thấy Lincoln Rhyme đang nói.

    Vũ khí đáng sợ nhất của hắn – vũ khí đáng sợ nhất của mình là đánh lạc hướng.

    “Cả hai người”, Sachs hô to, và quan sát xung quanh, “Tới chỗ kia.” Cô chỉ tay về phía một khe đất thấp.

    Bell liếc nhìn cô. Cô có thể thấy là anh cũng khát khao tóm được tên Vũ công đến nhường nào. Nhưng ánh mắt cô lúc này cho anh biết một điều rằng tên giết người kia là con mồi của cô và chỉ mình cô thôi. Không bàn cãi và không tranh luận gì hết. Rhyme đã cho cô cơ hội này và không điều gì trên đời có thể ngăn cô làm cái việc cô chuẩn bị làm.

    Người thám tử nghiêm nghị gật đầu và anh kéo Percey trườn theo mình xuống khe hõm rất nông trên mặt đất.

    Sachs kiểm tra khẩu súng ngắn. Còn bốn viên đạn.

    Thế là nhiều rồi.

    Quá đủ là khác...

    Nếu mình tính đúng.

    Đúng không? Cô tự hỏi, mặt vẫn nẹp chặt xuống lớp đất ẩm ướt và ngai ngái. Và cô quyết định dứt khoát rằng, đúng, mình tính đúng… Một đòn tấn công trực diện không phải là cách ra tay của tên Vũ công. Đánh lạc hướng.

    Và đó chính là điều mình sẽ tặng hắn.

    “Nằm xuống. Cho dù có chuyện gì, cũng cứ nằm yên.” Cô chống tay vào đầu gối để nhổm dậy, hé mắt nhìn qua gờ đất. Chuẩn bị sẵn sàng, tự trấn an mình. Hít thở thật chậm rãi.

    “Đó sẽ là phát súng từ khoảng cách 100 thước, Amelia”, Bell thì thào. “Với một khẩu súng cụt nòng ư?”

    Cô phớt lờ anh.

    “Amelia”, Percey gọi. Người nữ phi công đăm đăm nhìn Sachs hồi lâu rồi hai người phụ nữ cùng nhoẻn miệng chia sẽ một nụ cười. “Thấp đầu xuống”, Sachs ra lệnh và Percey làm theo, nép sát người vào trong lớp cỏ.

    Amelia Sachs đứng dậy.

    Cô không cúi khom người, không quay nghiêng người lại để tạo thành một mục tiêu khó bắn hơn. Thay vào đó cô đường hoàng tạo thành tư thế đứng bắn hai tay quen thuộc. Quay mặt về phía ngôi nhà, về phía mặt hồ, đối diện với bóng người nằm sấp trên lưng triền đồi, kẻ đang chĩa thẳng ống ngắm vào cô. Khẩu súng ngắn cụt nòng bỗng nhẹ bẫng như một ly whiskey trên tay cô.

    Cô ngắm thẳng vào điểm phản chiếu ánh nắng lấp loáng của chiếc ống ngắm quang học, cách chỗ cô đứng phải đến cả một sân bóng bầu dục.

    Mồ hôi và sương sớm đang đọng lại trên mặt cô.

    Hít, thở, hít, thở.

    Thật bình tĩnh.

    Chờ đợi...

    Một cảm giác run rẩy chạy dọc sống lưng, lan ra hai cánh tay của cô rồi xuống bàn tay. Cô cố ép mình xua đi nỗi sợ hãi.

    Hít, thở…

    Lắng nghe, lắng nghe đi…

    Hít, thở…

    Nào!

    Cô quay ngoắt lại một vòng và khuỵu gối xuống đúng lúc khẩu súng trường thò ra từ lùm cây phía sau cô, cách đó khoảng 50 feet, khạc đạn. Viên đạn rít lên xé toạc khoảng không ngay trên đầu cô.

    Sachs nhận ra cô đang nhìn thẳng vào khuôn mặt bàng hoàng của Jodie, khẩu súng trường săn vẫn còn áp bên má hắn. Hắn chợt nhận ra rằng sau bao nhiêu công sức hắn đã không đánh lừa được cô. Rằng cô đã đoán ra chiến thuật của hắn. Đoán ra việc hắn đã bắn vài phát ở bên hồ, rồi kéo xác một trong những người cảnh sát bảo vệ lên triền đồi và dựng anh ta ở đó với một trong hai khẩu súng trường săn để giữ họ nằm bẹp dưới hố đất trong lúc hắn chạy ra lối đi và vòng về phía sau lưng họ.

    Đánh lạc hướng…

    Trong một khoảnh khắc không một ai trong hai người nhúc nhích.

    Không khí cũng hoàn toàn tĩnh lặng. Không còn những mảng sương mù mờ ảo giăng qua, không còn tiếng vạt cỏ hoặc những cành cây rầm rì trong gió.

    Một nụ cười nhạt thoáng hiện lên trên mặt Sachs khi cô nâng khẩu súng ngắn lên bằng cả hai tay.

    Khiếp đảm, hắn cuống cuồng giật vỏ đạn ra khỏi khẩu súng trường săn hươu và nạp một viên đạn khác. Đúng khi hắn lại vừa tì khẩu súng lên má thì Sachs nổ súng. Hai phát.

    Cả hai viên đều trúng đích. Nhìn thấy hắn ngã ngửa ra sau, khẩu súng trường bắn tung trong không khí như cây gậy của cô nàng dẫn đầu đoàn diễu hành[122].

    “Ở lại với chị ấy, thám tử!”, Sachs gọi Bell rồi lao vụt về phía Jodie.

    Cô tìm thấy hắn trong vạt cỏ, nằm ngửa mặt lên trời.

    Một trong hai viên đạn Sachs bắn ra đã làm vỡ nát vai trái của hắn. Viên kia xuyên thẳng qua chiếc ống ngắm quang học, phá toang cả lớp vỏ bằng kim loại và thuỷ tinh trước khi khoan vào mắt phải tên giết người. Khuôn mặt hắn lúc này bê bết máu.

    Cô giương khẩu súng bé tí của mình lên, cảnh giác vận sực sẵn vào ngón tay đặt trên cò và gí sát nòng súng vào thái dương hắn. Cô bắt đầu lục lọi và móc trong túi áo của hắn ra một khẩu Glock cùng một lưỡi dao dài làm từ chất các bua. Ngoài ra cô không tìm thấy thứ vũ khí nào khác.

    “An toàn rồi”, cô gọi.

    Khi cô đứng dậy, móc chiếc còng tay của mình từ trong bao ra, tên Vũ công khẽ ho và khạc nhổ, quờ tay lau máu ra khỏi con mắt còn lành lặn của hắn. Rồi hắn rướn đầu lên và nhìn ra ngoài đồng cỏ. Hắn nhìn thấy Percey Clay đúng lúc cô đang chậm rãi đứng lên từ trong vạt cỏ, mắt trừng trừng nhìn kẻ vừa tấn công mình.

    Toàn thân Jodie dường như run bắn khi hắn trợn mắt nhìn cô. Lại một tràng ho nữa và sau đó là một tiếng rên khàn đục. Hắn làm Sachs giật mình bằng cách gạt vào chân cô bằng cánh tay không bị thương. Hắn bị thương rất nặng – thậm chí là nguy kịch – và hầu như không còn chút sức lực nào. Đó là một cử chỉ thật lạ lùng, giống như khi người ta gạt một con chó Bắc Kinh vòi vĩnh ra khỏi hướng nhìn của mình.

    Cô bước lùi lại, nòng súng vẫn cảnh giác chĩa thẳng vào ngực hắn.

    Amelia Sachs đã hoàn toàn không còn là mối quan tâm của tên Vũ công Quan tài. Càng không phải những vết thương của hắn cùng cơn đau khủng khiếp mà chắc chắn những vết thương đó đang gây ra. Chỉ còn đúng duy nhất một điều trong tâm trí hắn lúc này. Bằng một cố gắng phi thường hắn lăn người nằm sấp xuống và vừa rên rỉ vừa cào cấu mặt đất như điên cuồng, hắn bắt đầu bò rướn về phía Percey, về phía người phụ nữ mà hắn được thuê giết.

    Bell lại gần Sachs. Cô đưa cho anh khẩu Glock và hai người cùng lăm lăm chĩa súng của mình vào tên Vũ công. Họ hoàn toàn có thể chặn hắn lại một cách dễ dàng – hoặc giết hắn. Nhưng cả hai vẫn đứng yên tại chỗ, nhìn tên giết người đáng thương đang tuyệt vọng mê mải trong sứ mệnh của mình đến nỗi hắn dường như không hề biết rằng mặt và vai mình đã bị bắn nát.

    Hắn cứ thế rướn lên được vài feet nữa, chỉ hơi dừng lại để chộp lấy một hòn đá sắc cạnh to cỡ quả bưởi chùm. Để rồi lại tiếp tục bò trườn về phía con mồi. Không nói lấy một lời, người ướt sũng mồ hôi và máu, khuôn mặt nhăn nhúm vì đau đớn. Ngay chính Percey, người có mọi lý do để căm thù hắn, để lẽ ra phải giằng lấy khẩu súng ngắn trên tay Sachs và kết liễu mạng sống của tên giết người ngay tại chỗ này, ngay chính cô cũng ngỡ ngàng chết lặng, đứng nhìn những cố gắng tuyệt vọng nhằm kết thúc công việc mà hắn đã bắt đầu.

    “Đủ rồi đấy”, cuối cùng Sachs gằn giọng. Cô cúi xuống và giằng ném hòn đá ra xa.

    “Không”, hắn khò khè. “Không…”

    Cô bập còng lên tay hắn.

    Vũ công Quan tài bật ra một tiếng rên thê thảm – cũng có thể là vì cơn đau của hắn nhưng dường như tiếng rên bật ra chủ yếu vì nỗi thất bại và mất mát không sao chịu nổi – và thả bịch đầu xuống đất.

    Hắn nằm bất động. Ba người đứng quanh hắn, nhìn máu của hắn thấm ướt mặt cỏ và những khòm nghệ tây vô tội. Chỉ một lát sau tiếng kêu khắc khoải của những con chim lặn gavia ngoài hồ bị át đi hoàn toàn trong tiếng phạch phạch phạch của một chiếc trực thăng đang bay lướt qua những ngọn cây. Sachs nhận thấy Percey ngay lập tức chuyển sự chú ý của mình ra khỏi kẻ đã gây ra cho cô không biết bao nhiêu đau khổ, người nữ phi công đứng ngây ra như bị thôi miên trước cảnh chiếc máy bay cồng kềnh xé toang bầu không khí đẫm sương và nhẹ nhàng hạ xuống trên mặt cỏ.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    CHƯƠNG 39

    “Như thế là trái với quy định, Lincoln. Tôi không thể làm được.”

    Lon Sellitto tỏ ra rất kiên quyết.

    Nhưng Lincoln Rhyme cũng kiên quyết không kém. “Hãy để tôi nói chuyện với hắn, nửa giờ thôi.”

    “Họ sẽ không thích thú gì với chuyện này đâu.” Nhưng câu nói tiếp theo mới thực sự diễn tả hết ý của viên thám tử, “Họ quát tháo ầm ĩ khi tôi để xuất ý này ra. Vì anh chỉ là dân thường”.

    Bây giờ là gần mười giờ sáng ngày thứ Hai. Buổi trình diện trước bồi thẩm đoàn của Percey đã bị hoãn sang ngày mai. Đội thợ lặn của hải quân mới tìm được những chiếc túi bạt mà Phillip Hansen đã nhấn chìm xuống đáy biển ngoài khơi Long Island. Chúng nhanh chóng được gửi tới cho đội PERT của FBI trong Toà nhà Liên bang khu trung tâm để tiến hành phân tích. Eliopolos đã hoãn lại buổi họp của bồi thẩm đoàn để có thể thu thập thêm được càng nhiều bằng chứng thuyết phục chống lại Hansen càng tốt.

    “Họ lo sợ cái gì mới được chứ?”, Rhyme bực bội hỏi.” Chẳng lẽ tôi lại đánh được hắn hay sao?”

    Anh đã nghĩ đến việc giảm bớt yêu cầu của mình xuống còn hai mươi phút. Nhưng đó là một biểu hiện của sự yếu đuối. Và Lincoln vốn dĩ không hề tin tưởng vào việc để lộ điểm yếu của mình. Vì vậy anh nói. “Tôi đã tóm được hắn. Tôi xứng đáng có cơ hội thẩm vấn hắn một lần”.

    Nói xong anh chìm vào im lặng.

    Blaine, vợ cũ của Rhyme, từng nói với anh trong một khoảnh khắc sâu sắc rất hiếm hoi của cô rằng đôi mắt của Rhyme, sâu thẳm như đêm đen, còn có sức nặng hơn rất nhiều so với những lời mà anh nói ra. Và thế là anh đăm đăm nhìn vào mắt Sellitto cho đến khi viên thám tử thở dài, rồi quay sang nhìn Dellray.

    “Hầy dà, cho anh ấy một lúc vậy”, viên đặc vụ nói. “Cũng có cháy nhà hay chết người gì đâu? Đưa thằng khốn đó lên đây. Và nếu hắn tìm cách bỏ trốn, mẹ kiếp, tôi lại càng có lý do bằng vàng để tập bắn luôn thể.”

    Sellitto đầu hàng, “Ôi, được rồi. Tôi sẽ gọi điện vậy. Chỉ có điều, đừng có làm hỏng vụ án này đấy”.

    Nhưng nhà hình sự học hầu như không để ý gì đến những lời đó. Mắt anh đang hướng ra phía cửa, như thể tên Vũ công Quan tài chuẩn bị xuất hiện, bằng xương bằng thịt như có phép màu.

    Anh cũng sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu điều đó xảy ra.



    “Tên thật của anh là gì? Có đúng là Joe hay Jodie không?”

    “A, điều đó thì quan trọng gì? Ông bắt được tôi. Ông có thể gọi tôi như thế nào cũng được.”

    “Thế còn họ của anh thì sao?”. Rhyme hỏi.

    “Sao không dùng cái tên các ông vẫn gọi tôi? Vũ công. Tôi thích cái tên này.”

    Người đàn ông nhỏ bé thận trọng săm soi Rhyme bằng con mắt còn lại của hắn. Giả sử như những vết thương có làm hắn đau đớn, hay mệt mỏi do dùng thuốc, hắn cũng không hề để lộ ra. Cánh tay trái của hắn đã được bó bột và đeo lại nhưng hắn vẫn phải đeo một cái còng tay dày bịch được nối với một cái cùm xích ở hông. Hai chân hắn cũng bị xích lại.

    “Anh muốn thế nào cũng được”, Rhyme nói với vẻ dễ dãi. Và tiếp tục chăm chú nhìn hắn như thể hắn là một bào tử phấn hoa dị thường mà anh vừa tìm thấy tại hiện trường vụ án.

    Tên Vũ công mỉm cười. Những dây thần kinh ở mặt bị phá nát cùng mớ bông băng dày cộm khiến nụ cười của hắn trông thật quái đản. Chốc chốc người hắn lại run lên lẩy bẩy, những ngón tay giật giật như người trúng gió, bả vai bị bắn vỡ hết nhô lên rồi hạ xuống ngoài tầm kiểm soát. Rhyme chợt có một cảm giác kỳ lạ – rằng chính anh mới là người khoẻ mạnh còn tên tù kia là kẻ tàn phế.

    Xứ mù thằng chột làm vua.

    Tên Vũ công nhìn anh và mỉm cười. “Ông đang khát khao muốn biết đúng không?”, hắn hỏi Rhyme.

    “Biết gì chứ?”

    “Biết tất cả… Đó là lý do tại sao ông đưa tôi tới đây. Ông đã gặp may – ý tôi là nên mới bắt được tôi – nhưng ông hoàn toàn không biết tôi đã làm thế nào.”

    Rhyme tặc lưỡi. “Ồ, vậy mà tôi lại biết chính xác anh đã làm như thế nào đấy.”

    “Ông biết thật sao?'

    “Tôi chỉ yêu cầu anh tới đây để nói chuyện với anh thôi”, Rhyme trả lời. “Tất cả chỉ có vậy. Nói chuyện với một kẻ suýt nữa đã thắng trí tôi.”

    “Suýt nữa.” Tên Vũ công phá lên cười. Lại một nụ cười méo xệch. Trông hắn mới thật quái dị làm sao. “Được rồi, vậy nói đi xem nào.”

    Rhyem mút một hơi trông ống hút. Lần này là sinh tố hoa quả. Anh đã khiến Thom sững sờ không tin vào tai mình khi ra lệnh cho chàng thanh niên đổ hết chỗ whiskey ra và thay bằng thứ nước quả Hawaiian Punch. Xong xuôi anh mới nhẹ nhàng lên tiếng, “Được thôi. Anh được thuê để giết Ed Carney, Brit Hale và Percey Clay. Anh được trả khá nhiều tiền, tôi đoán thế. Sáu con số”.

    “Bảy”, tên Vũ công tự hào thốt lên.

    Rhyem nhướng một bên lông mày. “Cái nghề này kiếm cũng bộn đấy chứ!”

    “Nếu ông làm tốt.”

    “Anh gửi tiền vào ngân hàng ở Bahamas. Trước đó anh đã biết được tên của Stephen Kall ở đâu đó – tôi cũng không biết đích xác là ở đâu. Có lẽ là từ một mạng lưới lính đánh thuê...”, tên Vũ công gật đầu xác nhận, “... rồi anh thuê hắn kiểu như làm nhà thầu phụ cho mình. Hoàn toàn nặc danh, có thể là bằng email, có thể là qua fax, sử dụng những nguồn giới thiệu mà hắn sẽ tin tưởng. Tất nhiên anh chưa bao giờ gặp hắn trực tiếp. Và tôi nghĩ anh đã thử thách hắn rồi”.

    “Tất nhiên. Một vụ ở ngoại ô Washington, D.C. Tôi được thuê giết một tay trợ lý nghị sĩ Quốc hội chuyên đánh cắp tài liệu của Uỷ ban Quân lực. Đó là một nhiệm vụ dễ ợt, nên tôi đã thuê Stephen làm thay. Giúp tôi có cơ hội để kiểm tra hắn. Tôi theo dõi hắn ở tất cả các khâu. Đích thân tôi kiểm tra vết thương chỗ viên đạn đi vào trên xác chết. Rất chuyên nghiệp. Tôi nghĩ hắn đã nhìn thấy tôi đang theo dõi hắn và hắn truy lùng tôi để thủ tiêu nốt nhân chứng. Ngay cả việc đó cũng đáng đánh giá cao.”

    Rhyme nói tiếp, “Anh gửi cho hắn tiền công cùng chìa khoá mở cửa hangar của Phillip Hansen – nơi hắn đã phục sẵn để gài bom lên máy bay của Carney. Anh biết là hắn giỏi nhưng anh không dám chắc hắn đủ sức giết cả ba người. Có lẽ anh nghĩ cùng lắm hắn sẽ chỉ giết được một người nhưng ít nhất cũng đủ giúp anh đánh lạc hướng chúng tôi để anh có thể tiếp cận hai người còn lại”.

    Vũ công gật đầu, miễn cưỡng để lộ vẻ ấn tượng. “Việc hắn giết được cả Brit Hale làm tôi ngạc nhiên. Ồ, vâng. Và tôi còn ngạc nhiên hơn gấp bội khi sau đó hắn tẩu thoát được và lại còn gài quả bom thứ hai lên máy bay của Percey Clay.”

    “Anh đoán rằng anh sẽ phải tự tay giết ít nhất một trong ba nạn nhân nên tuần trước anh đã trở thành Jodie, bắt đầu rao bán thuốc của mình ở khắp nơi khiến cho dân đường phố đều biết về anh. Anh bắt cóc người đặc vụ ngay trước cửa Toà nhà Liên bang, để tìm ra địa chỉ những ngôi nhà an toàn mà các nhân chứng sẽ đến. Anh phục sẵn ở nơi thích hợp nhất mà Stephen sẽ thực hiện cuộc tấn công và để hắn bắt cóc anh. Rồi anh để lại rất nhiều đầu mối dẫn đến nơi ẩn náu của mình dưới đường tàu điện ngầm để chắc chắn chúng tôi sẽ lần ra anh… và sử dụng anh làm mồi nhử bắt Kall. Tất cả chúng tôi đều tin anh. Đúng vậy, tất cả – Stephen hoàn toàn không hay biết chính anh đã thuê hắn. Tất cả những gì hắn biết là anh đã phản bội hắn và hắn muốn giết anh. Vỏ bọc của anh quá hoàn hảo. Nhưng thật mạo hiểm.”

    “Nhưng đâu còn là cuộc sống nếu không có những điều mạo hiểm?” Tên Vũ công tinh quái hỏi. “Càng khiến cho tất cả trở nên thật bõ công, ông có nghĩ thế không? Hơn nữa, khi chúng tôi ở cùng nhau tôi đã thiết lập một số… chúng ta cứ tạm gọi là những biện pháp phòng ngừa, khiến hắn phải lưỡng lự khi định bắn tôi. Chứng đồng tính tiềm tàng bao giờ cũng có ích.”

    “Nhưng”, Rhyme nói thêm, tỏ ra tự ái khi câu chuyện của anh bị hắn làm gián đoạn, “khi Kall ở trong công viên, anh đã lẻn ra khỏi con hẻm nơi anh đang ẩn náu, tìm ra hắn, và giết hắn… Anh tống cả hai bàn tay, răng hàm và quần áo – cùng với súng của hắn – vào đường cống thoát nước. Và rồi chúng tôi đưa cả anh tới Long Island… Con cáo trong chuồng gà”. Rhyme khinh khỉnh nói nốt, “Tinh thần chung là thế… Đó chỉ là những nét xương cá chính. Nhưng tôi nghĩ từng đó cũng đủ để nói lên toàn bộ câu chuyện”.

    Con mắt còn lành lặn của gã nhắm lại trong giây lát, rồi lại mở choàng ra. Đỏ ngầu và ẩm ướt, nó đang trừng trừng nhìn Rhyme. Hắn khẽ gật đầu với vẻ thừa nhận, và có lẽ là cả khâm phục. “Điều gì vậy?” Cuối cùng Vũ công lên tiếng. “Điều gì đã khiến ông đoán ra?”

    “Cát”, Rhyme trả lời. “Những hạt cát ở Bahamas.”

    Hắn gật đầu, nhăn mặt vì đau. “Tôi đã lộn hết túi ra. Tôi còn dùng cả máy hút bụi.”

    “Chúng kẹt trong những đường chỉ quần. Cả thuốc nữa. Dư chất và sữa bột trẻ em.”

    “À, đúng rồi.” Một lúc sau tên Vũ công nói thêm, “Kể ra hắn sợ ông cũng đúng thôi. Ý tôi là Stephen ấy.” Con mắt độc nhất vẫn dán chặt vào Rhyme. Như một bác sĩ đang theo dõi khối u. Hắn nói thêm, “Kẻ khốn khổ. Một sinh vật đáng thương. Theo ông thì ai là người đẩy hắn đến nông nỗi ấy? Tay bố dượng hay bọn con trai ở trại cải tạo? Hoặc cả hai cũng nên?”.

    “Tôi không biết”, Rhyme nói. Ngoài bậu cửa sổ con chim ưng vừa đậu xuống và đang thu cánh lại.

    “Stephen đã hoảng sợ”, tên Vũ công trầm ngâm. “Và một khi đã hoảng sợ thì coi như không còn gì nữa. Hắn nghĩ lũ giòi đang truy lùng hắn. Lincoln Con Giòi. Tôi nghe thấy hắn thì thầm câu đó mấy lần liền. Hắn sợ ông.”

    “Nhưng anh không hề sợ.”

    “Không”, tên Vũ công kiêu hãnh nói. “Tôi không bao giờ sợ.” Đột nhiên hắn gật gù, như thể cuối cùng hắn cũng nhận ra điều gì đang làm hắn thấy bứt rứt. “À, hoá ra ông đang chăm chú nghe giọng tôi, phải không? Cố đoán xem là giọng vùng nào à?”

    Đúng là Rhyme đang làm thế thật.

    “Nhưng ông thấy chưa, giọng tôi thay đổi liên tục. Vùng núi nhé… Connecticut… Vùng Đồng bằng miền Nam và cả vùng Đầm lầy miền Nam này… Giọng Missouri. Kentucky. Mà tại sao ông lại thẩm vấn tôi nhỉ? Ông phụ trách việc khám nghiệm hiện trường thôi mà. Tôi bị bắt rồi. Đến lúc nói lời tạm biệt. Hết chuyện. Mà này, tôi thích cờ vua lắm. Tôi yêu cờ vua thì đúng hơn. Ông có bao giờ chơi không, Lincoln?”

    Trước kia anh cũng từng thích chơi cờ. Anh và Claire Trilling thỉnh thoảng lại cùng nhau đánh cờ. Thom vẫn thuyết phục anh chơi thử trên máy tính và còn kiếm về cho anh một chương trình chơi cờ vua rất hay, cài đặt sẵn trên máy. Có điều là Rhyme chưa bao giờ vào thử. “Lâu lắm rồi tôi không chơi nữa.”

    “Lúc nào đó ông và tôi phải chơi với nhau một ván mới được. chắc chắn ông sẽ là một đối thủ rất thú vị… Mà ông có muốn biết một sai lầm mà nhiều người thường mắc phải không?”

    “Là cái gì?” Rhyme cảm nhận rõ cái nhìn bỏng rát của gã. Đột nhiên anh cảm thấy thật khó chịu.

    “Họ trở nên tò mò về đối thủ của mình. Họ cố tìm ra những thông tin liên quan đến đời sống riêng tư của đối thủ. Toàn những thứ chằng có ích gì hết. Họ từ đâu tới, nơi họ được sinh ra, anh chị em của họ là ai.”

    “Thật thế sao?”

    “Điều đó có thể thoả mãn trí tò mò. Nhưng lại làm họ trở nên hoang mang. Đây là điều rất nguy hiểm. Ông hiểu không, tất cả trò chơi là ở trên bàn cờ, Lincoln. Tất cả đều ở trên bàn cờ mà thôi.” Lại một nụ cười méo xệch. “Chẳng lẽ ông không thể chấp nhận thực tế là không biết chút nào về tôi được sao?”

    Không, Rhyme tự nhủ, mình không thể.

    Tên Vũ công nói tiếp, “Hừm, vậy chính xác thì ông muốn gì đây? Một cái địa chỉ à? Một cuốn niên giám trung học? Để tôi cho ông một đầu mối nhé? Rosebud[123]. Thấy thế nào? Ông làm tôi ngạc nhiên đấy, Lincoln. Ông là một chuyên gia về tội phạm - chuyên gia giỏi nhất mà tôi từng biết. Vậy mà ngay cả ông cũng loay hoay trong con đường uỷ mị ấy làm gì. Chậc, tôi là ai ư? Kỵ sĩ không đầu[124], Beelzebub[125]. Tôi là Nữ hoàng Mab[126]. Tôi là chúng như trong câu Hãy cảnh giác với bọn chúng; chúng đang bám theo ngươi. Tôi không phải là những cơn ác mộng khủng khiếp nhất mà ông vẫn gặp bởi vì ác mộng không có thực trong khi tôi lại có thực hơn tất cả những gì con người dám thừa nhận. Tôi là một nghệ nhân. Tôi là một doanh nhân. Ông sẽ không bao giờ biết được tên tôi, cấp bậc hay số hiệu quân nhân nào hết. Tôi không chơi theo luật của Công ước Geneva[127].”

    Rhyme không thể nói thêm điều gì.

    Có tiếng gõ trên cánh cửa.

    Đội áp giải tù nhân đã đến.

    “Các ông có thể tháo chiếc cùm ra khỏi chân tôi được không?” Tên Vũ công hỏi hai nhân viên cảnh sát bằng giọng van vỉ, con mắt lành lặn của hắn chớp chớp và đỏ hoe nước. “Ôi, xin các ông. Tôi đau quá. Để thế này bước đi khó khăn lắm.”

    Một trong hai người bảo vệ nhìn hắn với ánh mắt thông cảm rồi lại ngước nhìn Rhyme, anh thủng thẳng nói, “Chỉ cần các anh nới lỏng một bên cùm thôi các anh cũng sẽ mất việc và không bao giờ được làm việc trong thành phố này nữa”.

    Người cảnh sát chằm chằm nhìn Rhyme một lúc rồi gật đầu với cộng sự của mình. Tên Vũ công phá lên cười. “Đó không phải là một vấn để”, hắn nói, mắt vẫn nhìn Rhyme không dứt, “mà chỉ là một yếu tố”.

    Hai người cảnh sát nắm chặt lấy cánh tay không bị thương của tên Vũ công và xốc hắn đứng dậy. Nhìn hắn lọt thỏm giữa hai người đàn ông cao lớn khi họ dẫn hắn đi ra cửa. Hắn ngoảnh đầu lại.

    “Lincoln?”

    “Sao?”

    “Ông sẽ nhớ tôi cho mà xem. Không có tôi, ông sẽ thấy nhàm chán.” Con mắt độc nhất của hắn nhìn xoáy vào mắt Rhyme. “Không có tôi, ông sẽ chết.”



    Một giờ sau tiếng bước chân uỳnh uỳnh báo hiệu sự có mặt của Lon Sellitto. Đi cùng viên cảnh sát là Sachs và Dellray.

    Rhyme biết ngay lập tức là có chuyện không hay. Trong giây lát anh đã tự hỏi chẳng lẽ tên Vũ công vừa trốn thoát.

    Nhưng vấn đề không phải vậy.

    Sachs thở dài.

    Sellitto liếc nhìn sang Dellray. Khuôn mặt gầy gò của viên đặc vụ nhăn lại, cau có.

    “Được rồi, nói đi xem nào”, Rhyme gắt.

    Sachs thông báo cái tin mà họ mang tới. “Mấy cái túi bạt kia. PERT đã kiểm tra chúng.”

    “Thử đoán xem bên trong có gì”, Sellitto nói.

    Rhyme thở dài, kiệt sức, và không có tâm trạng đâu mà chơi trò đoán mò. “Thì kíp nổ, plutonium và xác của Jimmy Hoffa.”

    Sachs nói, “Một chồng dày Những Trang Vàng hạt Westchester cùng khoảng năm pound đá hộc”.

    “Cái gì?”

    “Chẳng có gì hết, Lincoln. Tuyệt nhiên không.”

    “Các vị có chắc chắn đó chỉ là những cuốn danh bạ điện thoại chứ không phải hồ sơ làm ăn được mã hoá chứ?”

    “Bộ phận mật mã của Cục đã kiểm tra rất kỹ rồi”, Dellray nói. “Chỉ là mấy quyển Những Trang Vàng chết tiệt loại in hàng loạt. Và mấy hòn đá cũng chẳng có giá trị quái gì cả. Chẳng qua chúng được nhét vào để làm túi chìm sâu hơn thôi.”

    “Sớm muộn họ cũng sẽ phải thả Hansen ra”, Sellitto căm giận lẩm bẩm. “Ngay lúc này họ đang làm nốt các thủ tục giấy tờ. Thậm chí vấn đề còn không được đưa ra trình bày trước bồi thẩm đoàn. Bao nhiêu ngừơi đã chết hoàn toàn vô ích.”

    “Cho anh ấy biết nốt phần còn lại đi”, Sachs nói chen vào.

    “Eliopolos cũng đang trên đường tới đây”, Sellitto nói. “Hắn có giấy rồi.”

    “Một tờ trát à?” Rhyme hỏi cộc lốc.” Để làm gì?”

    “Ôi, như hắn đã nói ấy. Để bắt anh.”
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này