Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ

    Giờ thứ 32 của 45

    CHƯƠNG 30

    Đúng sáu giờ chiều ngày Chủ nhật, họ đưa Jodie từ một trong những phòng ngủ của Rhyme ở dưới nhà lên, nơi gã đã bị giam khóa rất chắc chắn.

    Gã miễn cưỡng lê bước lên cầu thang, hai tay vẫn ôm chặt lấy quyển sách ngớ ngẩn của mình, Dependent No More, như một cuốn Kinh Thánh. Rhyme nhớ rõ tên cuốn sách. Nó đã từng có mặt trong danh sách ấn phẩm bán chạy nhất của tờ New York Times suốt mấy tháng liền. Một lần đang ở trong tâm trạng chán nản nhất, anh đã để ý đến cuốn sách này và cay đắng nghĩ về bản thân mình, lệ thuộc mãi mãi.

    Một đội đặc vụ liên bang đang từ Quantico bay thẳng tới Cumberland ở West Virginia, nơi cư trú trước đây của Stephen Kall, để tìm kiếm tất cả những đầu mối có thể, với hy vọng từ đó có thể lần ra chỗ ẩn náu hiện tại của hắn. Nhưng Rhyme đã thấy tên này cẩn thận đến mức nào trong việc xóa dấu vết tại các hiện trường của hắn và anh chẳng thấy có lý do nào để nghĩ rằng hắn sẽ lại kém thận trọng hơn trong việc xóa sạch các dấu vết liên quan khác.

    “Anh có kể cho chúng tôi biết đôi điều về hắn”, Rhyme nói với Jodie. “Một số sự thật, một số thông tin rất bổ ích. Tôi muốn biết thêm đôi chút...”

    “Tôi...”

    “Cố nghĩ đi.”

    Jodie hấp háy mắt. Rhyme tự nhủ có lẽ gã đang cân nhắc xem mình có thể biến báo như thế nào để xoa dịu họ, tạo ra những ấn tượng giả dối. Nhưng anh ngạc nhiên khi Jodie buột miệng, “À, có một chuyện này, đấy là hắn rất sợ ông.”

    “Chúng tôi à?”, Rhyme hỏi.

    “Không. Chỉ ông thôi.”

    “Tôi à?”, anh hỏi, không giấu được vẻ ngỡ ngàng. “Hắn biết về tôi sao?”

    “Hắn biết tên của ông là Lincoln. Và hắn biết ông đang lần theo hắn.”

    “Bằng cách nào?”

    “Tôi không biết”, gã nói, rồi bổ sung. “Ông biết đấy, hắn đã gọi vài cuộc điện thoại bằng chiếc điện thoại di động đó. Và hắn lắng nghe rất lâu. Lúc đó tôi đã nghĩ...”

    “Ôi, chó chết thật”, Dellray buột miệng hét lên. “Hắn đang nghe trộm điện thoại của ai đó.”

    “Tất nhiên rồi!”, Rhyme thốt lên. “Có lẽ là văn phòng ở Hudson Air. Đó là lý do tại sao hắn biết về ngôi nhà an toàn. Tại sao chúng ta lại không nghĩ đến chuyện đó nhỉ?”

    Dellray nói, “Chúng ta phải cho rà soát toàn bộ khu văn phòng. Nhưng cũng có thể con bọ nghe lén được lắp ở một chiếc hộp tiếp âm ở đâu đó. Chúng tôi sẽ tìm ra nó”. Anh gọi một cú tới bộ phận kỹ thuật của FBI.

    Quay sang Jodie, Rhyme nói, “Tiếp tục đi. Hắn còn biết những gì về tôi nữa?”.

    “Hắn biết ông là một thám tử. Tôi không nghĩ là hắn biết ông sống ở đâu, hay họ của ông là gì. Nhưng ông làm hắn sợ khủng khiếp.”

    Giá kể như bụng của Rhyme vẫn còn khả năng ghi nhận cảm giác rộn ràng vì phấn khích – và tự hào – thì chắc hẳn anh đã cảm thấy nó ngay lúc này.

    “Anh đã giúp chúng tôi một lần rồi, Jodie. Tôi cần anh giúp chúng tôi lần nữa.”

    “Ông bị điên sao?”

    “Câm cái mõm chết tiệt của mày lại đi”, Dellray gầm lên. “Và hãy nghe những gì anh ấy nói, được chứ? Được chứ hả?”

    “Tôi đã là đúng những gì tôi nói là tôi sẽ làm. Tôi sẽ không làm thêm bất kỳ điều gì nữa.” Giọng lải nhải của gã thật là không sao chịu nổi. Rhyme liếc mắt nhìn Sellitto. Chuyện này cần đến những kỹ năng liên quan đến con người.

    “Giúp đỡ chúng tôi cũng nằm trong lợi ích của anh thôi”, Sellitto mềm mỏng nói.

    “Bị bắn vào lưng là nằm trong lợi ích của tôi sao? Bị bắn vào đâu là nằm trong lợi ích của tôi sao? Ừ hứ. Tôi hiểu. Các ông có muốn giải thích chuyện đó không?”

    “Chắc chắn rồi. Tôi sẽ giải thích cái chuyện chết tiệt ấy thế này nhé”, Sellitto gầm gừ. “Tên Vũ công biết anh đã bán đứng hắn. Lúc ở ngôi nhà an toàn chẳng phải là hắn đã nhắm vào anh còn gì? Tôi nói vậy có đúng không?”

    Bao giờ cũng phải tìm mọi cách để những tên khốn này chịu mở mồm. Chịu tham gia. Sellitto đã có lần giải thích những phương pháp thẩm vấn cho Lincoln Rhyme hiểu.

    “Vâng, tôi nghĩ thế.”

    Sellitto ngoắc một ngón tay ra hiệu cho Jodie bước lại gần. “Lẽ ra điều khôn ngoan nhất mà hắn nên làm khi ấy là lặn thật xa. Vậy mà hắn vẫn liều lĩnh tìm kiếm một vị trí bắn tỉa và cố bắn tung đít anh. Thế nào, chuyện đó nói cho chúng ta biết điều gì nhỉ?”

    “Tôi...”

    “Nó cho chúng ta biết là hắn sẽ không bao giờ ngừng tay chừng nào hắn còn chưa giết được anh.”

    Dellray, thích thú lại được diễn vai trò một người nhắc vở, lên tiếng, “Và hắn là loại người mà tao không nghĩ mày sẽ thích nhìn thấy khi hắn đến gõ cửa nhà mày lúc ba giờ sáng đâu – tuần này, tháng sau, hoặc sang năm. Chúng ta thống nhất với nhau về điều đó chứ hả?”.

    “Vậy”, Sellitto lại nhanh nhảu tiếp tục, “anh đồng ý là việc giúp đỡ chúng tôi cũng nằm trong lợi ích của anh chứ?”.

    “Nhưng các người có cho tôi vào, kiểu như, chương trình bảo vệ nhân chứng không?”

    Sellitto nhún vai, “Có và không.”

    “Hơ?”

    “Nếu anh giúp chúng tôi, có. Còn nếu anh không giúp, không.”

    Hai mắt của Jodie đỏ hoe và ầng ậc nước. Có vẻ như gã đang rất sợ hãi. Trong những năm sau khi xảy ra vụ tại nạn Rhyme đã rất lo sợ cho những người khác – Amelia cùng với Thom và Lon Sellitto. Nhưng bản thân anh lại không tin rằng mình đã từng thấy sợ chết, kể từ sau vụ tai nạn thì tất nhiên là càng không. Anh tự hỏi cảm giác sống trong sợ hãi như vậy sẽ như thế nào. Cuộc sống của một con chuột.

    Quá nhiều cách để chết...

    Sellitto, lúc này đã lại khoác lên mình dáng vẻ của một cảnh sát tốt bụng, hơi thoáng mỉm cười với Jodie. “Anh cũng có mặt khi hắn giết người đặc vụ, ở trong tầng hầm, đúng vậy không?”

    “Tôi có ở đó, vâng.”

    “Lẽ ra giờ đây người đàn ông đó vẫn còn sống. Có thể cả Brit Hale có thể vẫn còn sống. Rất nhiều người khác cũng vậy… giá như có ai đó giúp chúng tôi ngăn chặn tên khốn khiếp này từ mấy năm trước. Hừ, còn bây giờ anh có thể giúp chúng tôi ngăn chặn hắn. Anh có thể giữ cho Percey được sống, và có lẽ là hàng chục người nữa. Anh có thể làm điều đó.”

    Đây là lúc thiên tài của Sellitto được phát huy. Nếu là Rhyme chắc anh đã hết dọa dẫm rồi cưỡng ép và đến khi không còn cách nào khác, sẽ hối lộ người đàn ông bé choắt này. Nhưng anh chưa bao giờ nghĩ đến việc lôi kéo chút hướng thiện còn sót lại mà, ít nhất là, viên thám tử có thể nhìn thấy trong con người gã.

    Jodie lơ đãng lần giở những trang trong quyển sách của gã bằng một ngón tay bẩn thỉu. Cuối cùng gã ngước lên và – với sự điềm tĩnh đáng ngạc nhiên – nói, “Khi tôi đang dẫn hắn tới chỗ của mình, trong đường tàu điện ngầm, đã mấy lần liền tôi nghĩ hay là tôi xô hắn xuống một miệng đường ống thoát nước. Nước ở những chỗ đó chảy rất xiết. Kiểu gì hắn cũng sẽ bị cuốn một mạch ra sông Hudson. Hoặc không thì tôi biết trong đường tàu điện ngầm có những chỗ họ còn để lại mấy đống đinh đường ray. Tôi có thể chộp lấy một cái và đánh vào đầu hắn lúc hắn không cảnh giác. Tôi thực sự, thực sự đã nghĩ đến chuyện làm như vậy. Nhưng tôi sợ”. Gã giơ cuốn sách lên. “Chương Ba. Đối mặt với những con quỷ của bạn. Các ông biết đấy, lần nào tôi cũng chạy trốn. Tôi chưa bao giờ dám đứng lên chống lại bất kỳ điều gì. Tôi đã nghĩ mình có thể đứng lên chống lại hắn, nhưng tôi không làm được.”

    “Ê, thì bây giờ anh có cơ hội rồi’, Sellitto nói.

    Lại lật giở qua những trang sách nát bươm. Thở dài. “Tôi phải làm gì đây?”

    Dellray trỏ ngón tay cái dài quá khổ của anh lên phía trần nhà. Đó là cách anh thể hiện sự hài lòng.

    “Chúng ta sẽ bàn kỹ về chuyện đó sau một phút nữa”, Rhyme nói, đưa mắt nhìn quanh phòng. Đột nhiên anh gào lên, “Thom! Thom! Vào đây. Tôi cần cậu”.

    Khuôn mặt đẹp trai, cáu kính của cậu trợ lý thò vào quanh góc phòng. “Vâ… â… âng?”

    “Tôi đang cảm thấy phơi phới làm sao”, Rhyme tuyên bố rất kịch.

    “Gì cơ?”

    “Tôi đang cảm thấy thật phơi phới. Tôi cần một cái gương.”

    “Anh muốn một cái gương ư?”

    “Một cái gương thật to vào. Và phiền cậu chải tóc giúp tôi với. Tôi nhắc cậu mãi mà lần nào cậu cũng quên.”



    Chiếc xe thùng của U.S. Medical rẽ ra mặt sân bay trải nhựa tarmac. Giả sử như hai nhân viên mặc áo choàng trắng, mang theo số nội tạng người trị giá một phần tư triệu đô la, có lo lắng trước sự hiện diện của những cảnh sát được vũ trang bằng súng tiểu liên vây quanh đường băng, họ cũng không hề thể hiện bất kỳ dấu hiệu gì.

    Lần duy nhất họ chùn bước là khi King, con béc giê Đức của đội phát hiện bom, đánh hơi những thùng đựng hàng để tìm kiếm thuốc nổ.

    “Hừm, tôi nghĩ là nên cẩn thận với con chó kia”, một trong hai nhân viên vận chuyển nói với vẻ căng thẳng. “Cứ thử hình dung trong đây toàn là gan của gan, tim của tim.”

    Nhưng King hành xử hoàn toàn như một tay chuyên nghiệp và bỏ qua khối hàng không một chút miễn cưỡng. Hai người đàn ông khiêng những thùng chứa lên máy bay, xếp chúng vào những tủ làm lạnh. Percey quay về buồng lái, tại đây Brad Torgeson, một tay phi công trẻ có mái tóc màu hung thỉnh thoảng vẫn đảm nhiệm những chuyến bay tự do cho Hudson Air, đang thực hiện công đoạn kiểm tra trước khi bay.

    Cả hai đều đã hoàn thành khâu kiểm tra quanh máy bay một vòng, đi cùng họ là Bell, ba cảnh sát vũ trang và con King. Tuyệt đối không thể có khả năng tên Vũ công đã tiếp cận được chiếc máy bay ngay từ đầu, nhưng giờ đây tên sát thủ đó đã trở nên khét tiếng với khả năng biến cái không thể thành có thể; do vậy đây là lần kiểm tra bằng mắt trước chuyến bay được thực hiện tỉ mỉ và thận trọng nhất trong lịch sử ngành hàng không.

    Quay lại nhìn vào khoang hành khách, Percey có thể nhìn thấy ánh đèn của những tủ làm lạnh. Trong cô lại thoáng hiện lên cảm giác hài lòng cô vẫn thường cảm thấy khi cỗ máy vô tri vô giác, vốn do con người tạo ra và điều khiển, rùng rùng chuyển động. Đối với Percey, bằng chứng về Chúa Trời có thể được tìm thấy trong tiếng ầm ầm của những mô tơ phụ, và khi cả chiếc máy bay như một khối kim loại thon dài được nâng bổng lên trời vào thời điểm hai cánh của nó tạo ra được áp lực không khí âm phía trên khiến chiếc máy bay trở nên không trọng lượng.

    Đang tiếp tục với danh sách công việc cần kiểm tra trước chuyến bay, Percey bỗng giật mình vì tiếng hít thở nặng nhọc ngay cạnh cô.

    “Họ, họ nào”, Brad thốt lên trong khi con King quyết định rằng giữa đũng quần anh ta không có thuốc nổ, rồi nó tiếp tục phần kiểm tra an toàn bên trong máy bay.

    Mới ngay trước đó Rhyme vừa cho Percey biết rằng anh và Amelia Sachs đã kiểm tra những miếng đệm cao su và vỏ dây điện kia nhưng không thấy mẫu nào trùng khớp với chất cao su latex tìm thấy ở hiện trường vụ nổ ở Chicago. Rhyme chợt nghĩ ra khả năng tên sát thủ đã dùng cao su để bọc bên ngoài thuốc nổ để ngăn chó nghiệp vụ phát hiện ra. Vì vậy anh yêu cầu Percey và Brad ra khỏi máy bay vài phút để Bộ phận Kỹ thuật kiểm tra qua toàn bộ máy bay, cả trong lẫn ngoài, bằng những chiếc mic siêu nhạy cảm, có khả năng phát hiện ra thiết bị hẹn giờ nổ.

    Sạch sẽ.

    Khi chiếc máy bay lăn bánh ra ngoài, đường băng sẽ được những cảnh sát tuần tra mặc sắc phục canh gác cẩn thận. Fred Dellray đã liên lạc với FAA để bố trí lịch trình chuyến bay được bảo mật tuyệt đối sao cho tên Vũ công không thể biết được máy bay sẽ tới những đâu – thậm chí ngay cả khi hắn biết Percey đang có mặt trong buồng lái. Viên đặc vụ cũng đã liên lạc với những văn phòng địa bàn của FBI tại mỗi thành phố là điểm đến để bố trí các đặc vụ chiến thuật trên đường băng khi chuyến hàng được đưa tới.

    Nào, giờ là lúc động cơ đã khởi động, Brad ngồi ghế bên phải còn Roland Bell liên tục bồn chồn thay đổi giữa một trong hai chiếc ghế hành khách còn lại, Percey nói với Đài Kiểm soát Không lưu, “Lear 695 Foxtrot Bravo ở Hudson Air. Sẵn sàng ra đường băng.”

    “Nghe rõ. 695 Foxtrot Bravo. Được phép lăn bánh ra đường băng 09 bên phải.”

    Một cái chạm khẽ lên cần ga êm như ru và chiếc máy bay tuyệt đẹp rẽ ra đường dẫn và dần dần tăng tốc xuyên qua màn trời đêm đầu xuân nhập nhoạng. Percey đang cầm lái. Các phi công phụ cũng có đủ thầm quyền bay nhưng chỉ có phi công chính mới được phép điều khiển chiếc máy bay trên mặt đất.

    “Anh thích chứ, sĩ quan?”, cô ngoái lại nói to với Bell.

    “Phải nói là rất thích”, anh nói và ngao ngán nhìn ra ngoài những ô cửa sổ lớn hình tròn. “Cô biết đấy, đằng nào cô cũng nhìn thẳng tuột một mạch xuống dưới. Ý tôi là những cửa sổ này vừa tròn vừa lớn. Tại sao họ lại làm cửa sổ kiểu này nhỉ?”

    Percey bật cười. Cô nói to trả lời anh, “Thì trên các máy bay chở khách, họ cố ngăn không cho anh nhận ra rằng anh đang bay. Nào là phim ảnh, thức ăn, lại còn cửa sổ bé tí. Thế thì vui quái gì? Như thế thì ích lợi gì chứ?”.

    “Cá nhân tôi thì thấy một vài ích lợi đấy”, anh nói và ngấu nghiến nhai chiếc kẹo cao su Wrigley của mình. Anh kéo rèm cửa sổ lại.

    Mắt Percey dán chặt trên đường băng, liên tục kiểm tra bên phải và bên trái, không một giây lơ là. Quay sang Brad cô nói, “Bây giờ tôi sẽ nói qua về phần giao nhiệm vụ cụ thể. Được chứ?”.

    “Rõ, thưa cơ trưởng.”

    “Chúng ta sẽ cất cánh thẳng một mạch[101], cánh đuôi cố định ở 15 độ”, Percey nói. “Tôi sẽ điều chỉnh cần tăng ga. Cậu thông báo tốc độ bay, 80 knot, kiểm tra chéo, Tốc độ 1, hoán đổi, Tốc độ 2, tốc độ hữu dụng. Tôi sẽ chỉ huy việc tăng số và cậu sẽ thực hiện. Rõ chứ?”

    “Tốc độ bay, 80, Tốc độ 1, hoán đổi, Tốc độ 2, tốc độ hữu dụng. Chuyển số.”

    “Tốt. Cậu sẽ theo dõi tất cả các đồng hồ thiết bị và bảng tín hiệu. Nghe rõ nhé, nếu thấy đèn ở bảng tín hiệu chuyển màu đỏ và một động cơ bị trục trặc trước Tốc độ 1, hãy thông báo lệnh “Huỷ” thật to và rõ ràng để tôi đưa ra quyết định đi/ không đi. Nếu có trục trặc ở đúng hoặc sau khi chuyển sang Tốc độ 1, chúng ta vẫn tiếp tục cất cánh và sau đó sẽ giải quyết tình huống như một trường hợp khẩn cấp xảy ra trong quá trình bay trên không. Chúng ta vẫn sẽ tiếp tục bay lên và sau đó anh sẽ đề nghị được chuyển sang chế độ bay VFR để quay về sân bay ngay lập tức. Hiểu chứ?”

    “Đã rõ!”

    “Tốt. Chúng ta hãy bay nào… Anh sẵn sàng rồi chứ, Roland?”

    Tôi đã sẵn sàng. Hy vọng hai người cũng thế. Đừng có làm rơi kẹo đấy.”

    Percey lại bật cười. Người quản gia của gia đình cô ở Richmond cũng nói giống hệt như vây. Nó có nghĩa là “Đừng có làm hỏng việc”.

    Cô đẩy cần tăng tốc về phía giới hạn cho phép thêm một chút nữa. Những động cơ gầm lên ầm ầm và chiếc Learjet từ từ lăn bánh về phía trước. Họ tiếp tục đi qua vị trí chờ mọi khi, đúng nơi tên giết người đã đặt quả bom lên máy bay của Ed. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy hai cảnh sát đang đứng gác.

    “Lear 95 Foxtrot Bravo”, Bộ phận Kiểm soát Mặt đất gọi tới qua radio, “đi thẳng tới đầu đường băng cất cánh 05 bên trái”.

    Foxtrot Bravo. Hướng tới đầu đường băng 05 bên trái”.

    Cô tiếp tục lái chiếc máy bay lăn bánh trên đường dẫn ra.

    Learjet là một loại máy bay thấp, gần như ôm sát mặt đất, mặc dù vậy mỗi lần ngồi trên chiếc ghế bên trái trong buồng lái, cho dù đang bay hay ở trên mặt đấy, Percey đều cảm thấy như cô đang ở trên cao cả dặm. Đó thực sự là một vị trí đầy quyền lực. Tất cả mọi quyết định đều là của cô, và phải được tuân theo không điều kiện. Tất cả những trách nhiệm cũng được đặt trên vai cô. Vì cô là cơ trưởng.

    Mắt chăm chú theo dõi những đồng hồ thiết bị.

    “Cánh đuôi 15 độ, 15, đèn xanh”, cô nói, nhắc lại thông số để đặt góc cánh đuôi.

    Theo đúng quy định phải nhắc lại mọi mệnh lệnh, Brad nói “Cánh đuôi 15 độ, 15, đèn xanh”.

    Kiểm soát Không lưu gọi tới, “Learjet 95 Foxtrot Bravo, rẽ vào vị trí. Đủ điều kiện cất cánh, đường băng 05 trái”.

    “Đường băng 05 trái, Foxtrot Bravo. Đủ điều kiện cất cánh.”

    Brad hoàn tất danh sách kiểm tra cất cánh. “Áp suất, bình thường. Chế độ lựa chọn nhiệt độ tự động. Đèn tiếp sóng và bên ngoài đều bật sáng. Đèn khởi động, đèn báo nhiệt độ và áp suất, đèn nhấp nháy đều bật sáng, đến lượt chị.”

    Percey kiểm tra những đèn điều khiển đó và khẳng định, “Đèn khởi động, đèn áp suất, đèn nhấp nháy đều bật.”

    Cô rẽ chiếc Lear vào đường băng cất cánh, chỉnh thẳng bánh xe dưới mũi máy bay, căn thẳng với đường kẻ chính giữa đường băng. Cô liếc nhìn la bàn. “Tất cả kim báo đều hiển thị hướng 05. Đường băng 05 bên trái. Tôi đang đặt mức năng lượng.”

    Cô đẩy mạnh cần tăng ga về phía trước. Chiếc máy bay bắt đầu lao nhanh trên dải đường băng bê tông. Cô cảm thấy tay mình đang nắm chặt lấy cần tăng ga ngay dưới ghế.

    “Mức năng lượng đã đặt xong.” Rồi Brad lại hô to, “Đã có tộc độ bay”, lúc này những chiếc kim chỉ tốc độ bay bắt đầu bật lên và tăng dần, 20 knot, 40 knot…

    Cần tăng tốc đã gần chạm ngưỡng, chiếc máy bay lao vun vút về phía trước. Cô nghe thấy một tiếng “ối chà…” từ Roland Bell và cố nín cười.

    50 knot, 60 knot, 70…

    “80 knot”, Brad hô to, “kiểm tra chéo”.

    “Đã kiểm tra”, cô trả lời sau khi đã liếc qua đồng hồ hiển thị tốc độ bay.

    “Tốc độ 1”, Brad lại hô to. “Hoán đổi.”

    Percey bỏ bàn tay phải ra khỏi cần tăng tốc và nắm lấy cần lái. Cho đến lúc đó vẫn còn đang rung bần bật, chiếc cần lái bằng nhựa cứng đột nhiên dừng phắt lại vì sức ép của không khí. Cô từ từ kéo cần lái về sau, nâng mũi chiếc Lear chếch lên trên tới độ nghiêng tiêu chuẩn 7,5 độ. Những động cơ vẫn tiếp tục gầm lên rất êm và cô lại kéo nhẹ cần lái thêm chút nữa, tăng độ chếch của mũi máy bay lên thành 10 độ.

    “Tốc độ hữu dụng”, Brad thông báo.

    “Tăng số. Nâng cánh đuôi. Dựng đuôi giữ thẳng hướng.”

    Giọng của nhân viên Kiểm soát Không lưu vang lên qua tai nghe. “Lear 95 Foxtrot Bravo, rẽ trái theo hướng 280. Liên lạc với bộ phận Kiểm soát Máy bay đi.”

    “280, Lear 95 Foxtrot Bravo. Xin cảm ơn.”

    “Chúc buổi tối may mắn.”

    Kéo cần lái thêm chút nữa, 11 độ, 12, 14… Để mức năng lượng ở điều kiện cất cánh, cao hơn mức bình thường, thêm vài phút. Nghe rõ âm thanh xoáy tít thật vui tai của những cánh quạt tua bin phía sau, luồng khí phản lực đẩy vùn vụt.

    Và ở trong chiếc kim bạc thon thả này, Percey Clay cảm thấy mình đang lao vút lên giữa không trung, bỏ lại đằng sau tất cả những phiền muộn, nặng nề và đau đớn. Bỏ lại đằng sau cái chết của Ed và Brit, và thậm chí bỏ lại đằng sau kẻ khủng khiếp đó, con quỷ, tên Vũ công quan tài. Tất cả những nỗi đau, tất cả những gì mong manh, tất cả những gì xấu xa nhất đều bị quẳng lại tít dưới kia, và cô hoàn toàn tự do. Kể ra cũng không công bằng lắm khi cô có thể trốn thoát khỏi những gánh nặng nặng nề đó một cách dễ dàng như thế này, nhưng đó là sự thật. Vì người phi công Percey Clay đang ngồi trên ghế bên trái trong buống lái chiếc Lear N695FB không còn là Percey Clay – người phụ nữ lùn tịt với khuôn mặt ngắn bè bè, hay Percey Clay – cô gái chỉ có một điểm duy nhất hấp dẫn đàn ông là món tiền kếch sù từ kinh doanh thuốc lá của ông bố. Không còn Per-ceee Mặt chó pug, Percey Xấu xí, Percey Quỷ lùn, con bé tóc đen khốn khổ vật lộn với đôi găng tay điệu đàng trong buổi khiêu vũ mừng tuổi thiếu nữ của chính mình, trên cánh tay của người anh họ như chết rồi vì xấu hổ, xung quanh là những cô nàng tóc vàng yểu điệu đang hất đầu về phía cô với nụ cười thích thú và thi nhau chỉ trỏ chuẩn bị cho một bữa tiệc đàm tiếu sau này.

    Đó không phải là Percey Clay thực sự.

    Đây mới đúng là cô.

    Lại một tiếng thở khó nhọc của Roland Bell. Chắc chắn anh đã nhòm trộm ra ngoài ra rèm cửa sổ trong lúc họ thực hiện cú nghiêng cánh đáng sợ.

    “Đài Kiểm soát Rời đi[102] của Sân bay Mamaroneck, Lear 95 Foxtrot Bravo đang gọi từ độ cao ngoài 2000 feet.”

    “Xin chào, 95 Foxtrot Bravo. Tiếp tục bay lên và duy trì ở độ cao 6000 feet.”

    Và sau đó họ bắt đầu công việc rất nhàm chán là thiết lập đường liên lạc hoa tiêu bằng sóng VOR[103] cao tần để được hướng dẫn đường bay tới Chicago thẳng tắp như đường tên bay của một võ sĩ samurai.

    Ở độ cao 6000 feet họ bay xuyên qua lớp mây bao phủ để hoà vào cảnh bầu trời kỳ vĩ như bất kỳ cảnh mặt trời lặn nào mà Percey từng chứng kiến. Mặc dù không hẳn là người yêu thích cuộc sống ngoài trời, cô vẫn chưa bao giờ thấy chán khi nhắm nhìn những khung cảnh bầu trời tuyệt đẹp. Percey tự cho phép mình chỉ nghĩ đến một cảm xúc ủy mị duy nhất – kể sẽ rất tốt nếu như khung cảnh cuối cùng mà Ed nhìn thấy cũng ngoạn mục như lúc này.

    Ở độ cao 21000 feet cô nói, “Máy bay của cậu đấy”.

    Brad trả lời, “Rất sẵn sàng”.

    “Cà phê nhé?”

    “Có một chút thì tốt.”

    Cô bước về phía sau của chiếc máy bay, rót lấy ba cốc cà phê, chuyển một cốc cho Brad, rồi ngồi xuống bên cạnh Roland Bell, viên cảnh sát cầm lấy cốc cà phê trong hai bàn tay run rẩy.

    “Anh cảm thấy thế nào?”, cô nói.

    “Cũng không hẳn là tôi bị say máy bay. Chẳng qua là tôi thấy” – anh nhăn mặt khổ sở – “hừm, hồi hộp như thể…”. Có lẽ phải có đến cả nghìn cách so sánh sinh động kiểu Tarheel để lựa chọn, nhưng không hiểu sao lần này cái cách nói miền Nam dí dỏm cũng bỏ anh đi mất. “Chỉ là hồi hộp”, anh kết luận.

    “Hãy nhìn kìa”, cô nói, và chỉ ra ngoài cửa sổ buồng lái.

    Anh rướn người về phía trước trong ghế của mình và nhìn ra ngoài cửa kính. Cô thích thú nhìn khuôn mặt nhăn nhó của anh bỗng dãn ra sáng bừng vì kinh ngạc khi họ đang bay vào giữa khung cảnh hoàng hôn vô tận.

    Bell trầm trồ. “Chà, tuyệt thật. Hãy nhìn mà xem… Nhưng cũng phải nói thật, hình như đó là một cú cất cánh hơi gấp gáp quá thì phải.”

    “Nó là một con chim hết sảy đấy chứ. Anh có bao giờ nghe nói đến Brooke Knapp không?”

    “Tôi không nghĩ là mình đã nghe rồi.”

    “Một nữ doanh nhân ở California. Người lập kỷ lục về bay vòng quanh thế giới trong thời gian ngắn nhất bằng một chiếc Lear 35A – cũng là loại máy bay mà chúng ta đang bay lúc này. Bà ấy bay mất tất cả hơn 50 giờ một chút. Sẽ có ngày tôi phá kỷ lục đó.”

    “Điều đó thì tôi không nghi ngờ.” Lúc này anh đã bình tĩnh hơn. Mắt hướng vào những thiết bị điều khiển. “Trông có vẻ phức tạp kinh khủng nhỉ?”

    Cô nhấp một ngụm cà phê. “Có một mẹo nhỏ trong khi bay mà chúng tôi không nói cho ai biết. Có thể coi đó là một bí quyết nhà nghề. Nó đơn giản hơn rất nhiều so với những gì anh nghĩ đấy.”

    “Như thế nào?”, anh sốt sắng hỏi. “Bí quyết đó là gì?”

    “À, hãy nhìn ra ngoài nhé. Anh có nhìn thấy những ánh đèn màu ở hai đầu cánh máy bay không?”

    Anh không muốn nhìn lắm, nhưng rồi cũng tò mò làm theo. “OK, tôi thấy rồi.”

    “Có cả một cái đèn ở phần đuôi nữa.”

    “Ừ hứ. Nhớ là tôi đã nhìn thấy nó rồi thì phải, tôi nghĩ thế.”

    “Tất cả những gì chúng tôi phải làm là luôn đảm bảo làm sao chúng tôi có thể giữ cho máy bay ở giữa những chiếc đèn kia và mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.”

    “Ở giữa…” Phải mất vài giây anh mới chợt hiểu đó là một câu nói đùa. Anh chằm chằm nhìn bộ mặt tỉnh bơ của cô hồi lâu rồi mỉm cười. “Cô đánh lừa được khối người bằng trò này, đúng không?”

    “Cũng kha khá.”

    Nhưng trò đùa đó cũng không thực sự làm anh thấy thích thú hơn. Mắt anh vẫn dán chặt xuống lớp thảm trải sàn. Sau một hồi in lặng kéo dài cô khẽ nói, “Brit Hale hoàn toàn có thể từ chối ngay từ đầu, Roland ạ. Anh ấy hiểu rõ những nguy hiểm mà”.

    “Không, anh ấy không biết”, Bell trả lời. “Hoàn toàn không. Anh ấy đồng ý làm theo những gì chúng tôi toan tính trong đầu mà không hoàn toàn hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra. Lẽ ra tôi đã phải suy nghĩ khôn ngoan hơn. Lẽ ra tôi đã phải đoán ra chuyện liên quan đến những chiếc xe cứu hoả. Lẽ ra tôi đã phải đoán được rằng tên giết người sẽ biết phòng của hai người ở đâu. Lẽ ra tôi đã có thể đưa hai người xuống tầng hầm, hoặc nơi nào đó. Và lẽ ra tôi phải bắn chính xác hơn.”

    Bell có vẻ tuyệt vọng đến nỗi Percey không nghĩ ra được điều gì để an ủi anh. Cô đặt bàn tay đầy gân của mình lên cánh tay anh. Trông anh có vẻ gầy, nhưng thực tế thì anh rất khoẻ mạnh.

    Đột nhiên anh khẽ bật cười. “Cô có biết chuyện này không?”

    “Chuyện gì?”

    “Đây là lần đầu tiên tôi thấy cô tạm gọi là thoải mái nhất kể từ khi tôi gặp cô đến giờ.”

    “Đây là nơi duy nhất tôi cảm thấy thực sự thoải mái như ở nhà”, cô nói.

    “Chúng ta đang bay với vận tốc 200 dặm một giờ và cách mặt đất cả dặm vậy mà cô lại cảm thấy an toàn”, Bell thở dài.

    “Không, chúng ta đang bay với vận tốc 400 dặm một giờ, ở độ cao bốn dặm.”

    “Ra thế. Cảm ơn vì đã chia sẻ điều đó.”

    “Có một câu mà cánh phi công vẫn nói”, Percey nói. ‘“Thánh Peter[104] không bao giờ đếm quãng thời gian cho việc bay, nhưng ông tính gấp đôi số giờ bạn dành ở trên mặt đất.”’

    “Buồn cười đấy”, Bell nói. “Chú tôi cũng nói một câu tương tự như thế. Chỉ có điều ông dùng câu này khi nói về thú đi câu của mình thôi. Dù thế nào tôi cũng bỏ phiếu ủng hộ phiên bản của ông ấy hơn là cô. Đừng có tự ái đấy.”

  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 33 của 45

    CHƯƠNG 31

    Lũ giòi…

    Stephen Kall, mồ hôi đầm đìa, đứng trong một nhà vệ sinh hôi hám phía sau một nhà hàng bán đồ ăn Cuba và Trung Quốc.

    Kỳ cọ để cứu rỗi linh hồn hắn.

    Lũ giòi đang gặm nhấm, lũ giòi đang ăn rào rào, lũ giòi đang nhung nhúc bò đi…

    Rửa sạch chúng đi… Rửa sạch chúng đi!!!

    Quân nhân…

    Thưa ngài, tôi đang bận, thưa ngài.

    Quân…

    Kỳ cọ, kỳ cọ, kỳ cọ, kỳ cọ.

    Lincoln Con Giòi đang săn lùng tôi.

    Chỉ cần Lincoln Con Giòi nhìn đến bất kỳ chỗ nào, là ở đó lũ giòi xuất hiện.

    Cút đi!!!

    Chiếc bàn chải cọ xoèn xoẹt, xoèn xoẹt, cần mẫn lên xuống cho đến khi da tay hắn chảy máu.

    Quân nhân, vết máu kia sẽ là bằng chứng. Anh không thể…

    Cút đi!!!

    Hắn lau khô tay rồi chộp lấy chiếc hộp đàn guitar hiệu Fender cùng chiếc túi đựng sách, đẩy cửa quay trở vào nhà hàng.

    Quân nhân, găng tay của anh…

    Đám khách quen đang ăn giật mình nhìn hai bàn tay đầy máu cùng vẻ mặt như phát cuồng của hắn. “Giòi”, hắn làu bàu giải thích với cả nhà hàng, “lũ giòi khốn kiếp”, rồi đẩy tung cửa, lao ra ngoài đường phố.

    Hối hả bước trên vỉa hè, dần bình tĩnh lại. Hắn đang nghĩ đến những điều hắn sẽ phải làm. Hắn phải giết Jodie, tất nhiên rồi. Phải giết gã, phải giết gã, phải giết gã, phải giết… Không phải bởi vì gã là một tên phản phúc, mà bởi vì hắn, Stephen Kall, đã để lộ quá nhiều thông tin…

    Và tại thế quái nào mà anh lại làm như vậy hả, quân nhân?

    … về chính mình cho gã đó. Và hắn cũng phải giết Lincoln Con Giòi vì… vì lũ giòi sẽ tóm được hắn nếu hắn không làm thế.

    Phải giết phải giết phải giết phải giết phải…

    Anh có nghe tôi nói không đấy, quân nhân? Có nghe không?

    Đó là tất cả những gì còn lại mà hắn phải làm.

    Sau đó hắn sẽ rời bỏ thành phố này. Quay về với vùng West Virginia. Về với những ngọn đồi.

    Lincoln, chết.

    Jodie, chết.

    Phải giết phải giết phải giết phải giết phải…

    Chẳng còn gì giữ hắn ở lại đây nữa cả.

    Còn về Người vợ – hắn nhìn đồng hồ của mình. Vừa đúng bảy giờ tối. Hừ, có lẽ cô ta chết rồi cũng nên.



    “Chống đạn đặc biệt đấy nhé.”

    “Chống những viên đạn kia ấy à?”, Jodie hỏi. “Các ông chẳng bảo chúng nổ tung còn gì!”

    Dellray bảo đảm với gã rằng chiếc áo sẽ chống được. Tấm áo giáp là một chiếc áo chống đạn Kevlar dày phủ bên ngoài một tấm thép khác. Nó nặng tới 42 pound và Rhyme không biết từng có cảnh sát nào trong cái thành phố này đã phải mặc một chiếc áo giáp chống đạn như thế hay chưa, hoặc liệu có bao giờ sẽ phải mặc.

    “Nhưng nếu hắn bắn vào đầu tôi thì sao?”

    “Hắn còn muốn giết tôi nhiều hơn là muốn giết anh ấy chứ”, Rhyme nói.

    “Hơn nữa làm thế nào hắn có thể biết là tôi đang ở đây?”

    “Theo mày thì làm cách nào hả, đồ ngốc?”, Dellray quát. “Tao sẽ nói cho hắn biết.”

    Viên đặc vụ cột chặt chiếc áo giáp chống đạn quanh người gã đàn ông nhỏ bé và liệng cho gã một chiếc áo gió. Hắn đã tắm rửa – sau khi phản đối dữ dội – và được đưa cho thay một bộ quần áo sạch sẽ. Chiếc áo khoác màu xanh hải quân rộng thùng thình, phủ bên ngoài chiếc áo chống đạn, trông có vẻ thiếu cân xứng nhưng lại giúp gã có được dáng vẻ vạm vỡ và cơ bắp. Gã thoáng ngắm nhìn chính mình trong gương – chính con người gã sau khi đã tắm rửa sạch sẽ và diện quần áo mới – rồi mỉm cười lần đầu tiên kể từ khi gã tới đây.

    “Được rồi”, Sellitto nói với hai nhân viên cảnh sát mật, “đưa hắn vào khu trung tâm”.

    Hai người cảnh sát mật đẩy gã ra cửa.

    Sau khi gã đã đi khỏi, Dellray đưa mắt nhìn Rhyme, anh gật đầu. Viên đặc vụ thở dài rồi mở điện thoại di động của mình ra, bấm số và gọi tới Hudson Air Charters, nơi đã có sẵn một đặc vụ khác chờ để nhấc điện thoại lên. Nhóm nhân viên kỹ thuật của FBI đã tìm thấy thiết bị nghe trộm điều khiển từ xa gắn trên hộp tiếp âm gần sân bay, được nối vào đường dây điện thoại của Hudson Air. Mặc dù vậy các đặc vụ này không tháo nó đi; trên thực tế, theo đề nghị rất kiên quyết của Rhyme, họ còn kiểm tra thật kỹ để bảo đảm rằng nó vẫn còn hoạt động tốt, và thậm chí đã thay mới những viên pin sắp hết. Nhà hình sự học đang trông cậy vào thiết bị này để chuẩn bị cho cái bẫy mới của mình.

    Vọng ra từ loa ngoài là một vài hồi chuông, và rồi một tiếng cạch nhẹ nhàng.

    “Đặc vụ Mondale xin nghe”, một giọng trầm trầm vâng lên. Mondale không phải là Mondale và anh ta đang nói theo một kịch bản được chuẩn bị sẵn.

    “Mondale”, Dellray nói, giọng giả bộ giống một người da trắng như hoa bách hợp[105], thậm chí còn là người sinh trưởng từ một điền trang ở Connecticut hẳn hoi. “Đặc vụ Wilson đây, chúng tôi đang ở chỗ Lincoln.” (Không phải là “chỗ Rhyme”; vì tên Vũ công chỉ biết tên anh là “Lincoln”.)

    “Tình hình ở sân bay thế nào rồi?”

    “Vẫn ổn cả.”

    “Tốt. Nghe cho rõ này, tôi có một câu hỏi. Chúng tôi có một cơ sở mật đang làm việc cho chúng ta, Joe D’Oforio.”

    “Hắn chính là kẻ…”

    “Đúng rồi.”

    “… đã ra đầu thú. Các anh đang làm việc với hắn ta à?”

    “Ừ”, Wilson, đúng ra là Fred Dellray, nói. “Kể ra cũng là một tên khốn khiếp, nhưng giờ thì hắn đang chịu hợp tác rồi. Chúng tôi đang định đưa hắn đến nơi trú ẩn cũ của hắn rồi quay lại đây.”

    “Đây là chỗ nào chứ? Ý anh là quay lại chỗ Lincoln à?”

    “Đúng thế. Hắn muốn lấy ít đồ của mình.”

    “Các anh việc quái gì phải chiều ý hắn?”

    “Hắn đã có thoả thuận hợp tác với chúng ta. Hắn chịu khai ra tên giết người này và Lincoln đã đồng ý để đưa hắn về chỗ cũ lấy một số đồ đạc. Ở cái ga tàu điện ngầm cũ ấy… Vả lại chúng tôi không định bố trí cả đoàn xe. Chỉ đúng một chiếc xe thôi. Lý do tôi gọi cho anh là chúng tôi cần một tài xế giỏi. Anh từng làm việc với một vài người mà anh thích, đúng không?”

    “Tài xế à?”

    “Trong vụ Gambino ấy?”

    “À, được rồi… Để tôi nghĩ xem nào.”

    Họ nhẩn nha kéo dài thời gian chờ đợi. Rhyme, như mọi khi, rất lấy làm ấn tượng với màn sắm vai của Dellray. Một khi đã muốn trở thành bất kỳ ai, viên đặc vụ đều làm được.

    Tay đặc vụ Mondale dởm – bản thân anh chàng này cũng xứng đáng với giải diễn viên phụ xuất sắc nhất – nói,” Tôi nhớ ra rồi. Tony Glidden. Không, Tommy chứ. Một gã tóc vàng, phải không?”.

    “Chính là anh ta đấy. Tôi muốn sử dụng anh ta. Anh ta có ở gần đây không?”

    “Không. Anh ta đang ở Phillie[106] rồi. Tình hình trộm cướp xe ở đó đang rất bung bét.”

    “Phillie à. Tệ thật. Chúng tôi sẽ khởi hành sau hai mươi phút nữa. Không thể đợi thêm nữa. Hừm, nếu vậy tôi đành phải tự lái xe thôi. Nhưng cái gã Tommy đó. Anh ta…”

    “Lái xe cứ gọi là chết thôi!Anh ta có thể cắt đuôi chỉ sau hai khối nhà. Một anh chàng đáng sợ.”

    “Thế mà lần này không dùng anh ta được. Dù sao cũng cảm ơn nhé, Mondale.”

    “Không sao.”

    Rhyme nháy mắt, đối với một người liệt tứ chi bất toại thì đó là cử chỉ tương đương với hành động vỗ tay khen ngợi. Dellray tắt máy và từ từ thở ra một hơi rất dài. “Chúng ta sẽ biết. Chúng ta sẽ biết thôi.”

    Sellitto thốt lên đầy lạc quan, “Đây là lần thứ ba chúng ta nhử mồi hắn. Lần này chắc chắn sẽ được thôi”.

    Lincoln Rhyme không hề tin rằng đây là một quy luật tất yếu trong ngành thực thi luật pháp, nhưng anh cũng nói, “Hãy hy vọng đi”.



    Ngồi trong một chiếc xe ăn trộm cách không xa nhà ga tàu điện ngầm của Jodie, Stephen Kall chăm chú theo dõi một chiếc xe bốn chỗ ngồi mang biển số chính phủ vừa trờ tới.

    Jodie và hai cảnh sát mặc sắc phục bước xuống, cảnh giác lia mắt qua các mái nhà xung quanh. Jodie chạy vào trong và năm phút sau, thoát trở lại ra xe cùng với hai gói đồ được cắp dưới nách.

    Stephen có thể thấy là không có lực lượng yểm trợ, không có xe bám đuôi. Nghĩa là những gì hắn nghe được qua máy nghe trộm là chính xác. Họ đã hoà vào dòng xe trên đường và hắn bắt đầu bám theo, trong đầu tự nhủ trên thế giới này không có nơi nào giống như Manhattan để có thể bám theo mà không bị phát hiện. Giá kể như ở Iowa hay Virginia chắc chắn hắn sẽ không thể làm được như thế này.

    Chiếc xe không mang dấu hiệu của cảnh sát lao đi rất nhanh, nhưng Stephen cũng là một lái xe rất cứng và hắn bám theo rất sát trong khi chiếc xe kia chạy một mạch về phía khu Hạ Manhattan. Chiếc sedan bốn chỗ chạy chậm lại khi họ tới cổng phía tây của Công viên Trung tâm và lái qua một ngôi nhà trên phố Bảy mươi. Có hai người đàn ông đứng gác trước cửa nhà, rõ ràng cả hai đều là cảnh sát cho dù bọn họ đang mặc thường phục. Một dấu hiệu – có lẽ là “Tất cả vẫn an toàn” – được trao đổi rất nhanh giữa họ và tay lái xe của chiếc sedan không dấu hiệu.

    Ra là thế. Đó là nhà của Lincoln Con Giòi.

    Chiếc xe chạy tiếp về phía bắc. Stephen cũng chạy lòng vòng thêm một chút, rồi đột ngột dừng xe và bước xuống, lao nhanh vào giữa những rặng cây với chiếc hộp đàn guitar. Hắn biết chắc chắn xung quanh ngôi nhà sẽ có người theo dõi cẩn mật nên hắn di chuyển rất khẽ khàng.

    Giống như một con hươu, quân nhân.

    Vâng, thưa ngài.

    Hắn biến mất vào trong một bụi cây rậm rạp rồi bò quay trở lại phía ngôi nhà, hắn tìm được một cái tổ rất lý tưởng trên một gờ tường đá bên dưới một cây tử đinh hương đang bắt đầu đâm chồi. Hắn mở hộp đàn ra. Chiếc xe chở Jodie, lúc này đang quay lại phía nam, dừng kít lại ngay trước ngôi nhà. Quy trình lái xe cắt đuôi tiêu chuẩn, Stephen nhận ra ngay – chiếc xe đã quay ngoắt 360 độ giữa dòng xe đông đúc và lao nhanh về đây.

    Hắn đang theo dõi hai cảnh sát bước ra khỏi chiếc sedan, quan sát xung quanh, rồi kẹp hai bên gã Jodie đang có vẻ rất sợ hãi bước dọc trên vỉa hè.

    Stephen bật mở nắp của chiếc kính ngắm và thận trọng ngắm rất chuẩn vào giữa lưng tên phản bội.

    Bất thình lình một chiếc xe màu đen lao vụt qua và Jodie giật bắn mình. Mắt gã mở trợn trừng và gã giật ra khỏi những người cảnh sát, chạy tọt vào con hẻm ngay bên cạnh ngôi nhà.

    Những người đi hộ tống gã quay ngoắt lại, tay lăm lăm trên báng súng, mắt dán chặt vào chiếc xe đã làm hắn hoảng hốt. Họ nhìn thấy bốn cô gái Latin ngồi trong xe và nhận ra đó chỉ là một lần báo động giả. Hai tay cảnh sát phá lên cười. Một trong hai người hắng giọng gọi Jodie chui ra.

    Nhưng thật ra ngay lúc này đây Stephen không mấy quan tâm đến người đàn ông nhỏ bé. Hắn không thể nào giết được Con Giòi và Jodie cùng một lúc, và Lincoln là kẻ hắn phải giết ngay lúc này. Hắn có thể cảm thấy điều đó. Đó là một cơn đói cồn cào, một nhu cầu thôi thúc và giục giã như mỗi khi hắn thấy cần phải kỳ cọ hai bàn tay.

    Phải bắn vào khuôn mặt trên khung cửa sổ, giết chết con giòi.

    Phải giết phải giết phải giết phải giết…

    Hắn đang nhìn qua kính ngắm, lia qua những ô cửa sổ của ngôi nhà. Và nó kia rồi. Lincoln Con Giòi.

    Một cơn run rẩy chạy khắp cơ thể Stephen.

    Giống như luồng điện hắn cảm thấy khi chân hắn cọ vào chân của Jodie… chỉ có điều mạnh hơn cả nghìn lần. Hắn thực sự há hốc mồm, không thở nổi vì phấn khích.

    Vì lý do nào đó Stephen không hề thấy mảy may ngạc nhiên khi nhận ra Con Giòi là một kẻ tàn phế. Thực tế, đó chính là nguyên nhân tại sao hắn biết ngay người đàn ông đẹp trai ngồi trong chiếc xe lăn hiện đại kia chính là Lincoln. Bởi vì Stephen tin rằng phải cần đến một người phi thường mới có thể bắt được hắn. Một kẻ nào đó không bị sao nhãng bởi đời sống thường nhật. Một kẻ nào đó mà ý nghĩ là tất cả những gì tinh tuý nhất còn lại của hắn.

    Lũ giòi có thể nhung nhúc bò khắp người Lincoln nhưng nó thậm chí không bao giờ có thể cảm thấy chúng. Chúng có thể bò lồm ngồm trên da thịt nó và nó sẽ không bao giờ biết. Nó hoàn toàn miễn nhiễm. Và Stephen càng căm thù Lincoln Con Giòi hơn bao giờ hết chỉ vì sự miễn nhiễm đó.

    Vậy là khuôn mặt trên khung cửa sổ trong cái lần hắn thực hiện phi vụ ở Washington D.C.,… đó không phải là Lincoln.

    Hay đúng là nó?

    Hãy thôi nghĩ về điều đó! Chấm dứt ngay! Lũ giòi sẽ thịt mày nếu mày không thôi nghĩ đi.

    Những viên đạn xuyên nổ đang ở trong băng. Hắn kéo chốt khoá đẩy cho một viên lên nòng và lại rà qua căn phòng.

    Lincoln Con Giòi đang nói với ai đó mà Stephen không nhìn thấy mặt. Căn phòng, ở dưới tầng một, có vẻ như là một phòng thí nghiệm. Hắn nhìn thấy một màn hình máy tính và một số thiết bị khác.

    Stephen quấn dây đeo súng quanh cánh tay, áp chặt như hàn cố định báng khẩu súng trường vào má. Đó là một buổi tối ẩm ướt và se lạnh. Không khí đặc quánh; sẽ gây cản trở rất nhiều đến đường đi của viên đạn. Nhưng cũng không cần thiết phải tính toán lại; mục tiêu chỉ cách hắn có 80 thước. Bật khoá an toàn xuống, hít, thở, hít, thở…

    Nhắm bắn vào đầu. Bắn từ đây sẽ cực kỳ dễ dàng.

    Hít…

    Vào, thở ra, hít vào, thở ra.

    Hắn nhìn qua dấu chữ thập trong kính ngắm, tập trung nó vào vành tai Lincoln Con Giòi khi mục tiêu đang chăm chú quan sát trên màn hình máy tính.

    Áp lực trên tay cò bắt đầu tăng dần.

    Hít, thở. Như tình dục, như lúc sắp lên đến đỉnh, như khi chạm vào làn da căng mịn…

    Mạnh hơn.

    Mạnh hơn…

    Đột nhiên Stephen nhìn thấy nó.

    Rất khó nhận ra – một nét không bằng phẳng trên ống tay áo của Lincoln Con Giòi. Nhưng không phải một vết nhăn. Đó là một hình ảnh bị biến dạng.

    Hắn thả lỏng tay cò và chăm chú nhìn hình ảnh đó qua kính ngắm một lúc khá lâu. Stephen vặn núm điều chỉnh độ phân giải của chiếc kính ngắm Redfield thêm chút nữa. Hắn nhìn những dòng hiển thị trên màn hình máy tính. Những con chữ bị đảo ngược.

    Một tấm gương! Hắn đang ngắm vào một tấm gương.

    Lại một cái bẫy khác!

    Stephen nhắm mắt lại. Suýt chút nữa hắn đã để lộ vị trí. Lại thấy rùng mình. Ngập ngụa giữa lũ giòi, chết nghẹt giữa lũ giòi. Hắn nhìn xung quanh. Hắn biết chắc chắn phải có đến cả tá cảnh sát vũ trang kiểm tra và trinh sát được bố trí trong công viên với những chiếc mic Big Ears tự động đang chờ đợi định vị phát súng được bắn ra. Chúng sẽ ngắm vào hắn bằng những khẩu M-16 lắp kính ngắm Starlight và đóng đinh hắn xuống đắt bằng lưới đạn bắn chéo cánh sẻ.

    Được bật đèn xanh để giết. Không chấp nhận sự đầu hàng.

    Rất khẩn trương nhưng với sự im lặng tuyệt đối, hắn tháo chiếc kính ngắm ra bằng hai bàn tay run lẩy bẩy rồi cất cả nó và khẩu súng trường vào hộp đàn guitar. Cố kiềm chế cảm giác buồn nôn chếnh choáng, nỗi kinh hoàng nhớp nháp.

    Quân nhân…

    Thưa ngài, hãy cút đi, thưa ngài.

    Quân nhân, anh đang làm…

    Thưa ngài, biến mẹ ngài đi cho, thưa ngài!

    Stephen len lỏi giữa những gốc cây tới một lối đi và lững thững rảo bước vòng quanh bãi cỏ, hướng về phía đông.

    Ồ, chắc chắn rồi, lúc này hắn lại càng tin tưởng hơn bất kỳ lúc nào khác rằng hắn phải giết Lincoln. Một kế hoạch mới. Hắn cần một hay hai tiếng đồng hồ, để suy nghĩ, để cân nhắc những gì hắn sẽ phải làm.

    Đột nhiên hắn bước khỏi lối đi, dừng lại trong những bụi cây rậm rạp hồi lâu, nghe ngóng, quan sát xung quanh. Bọn chúng đã lo lắng sợ hắn sẽ nghi ngờ nếu thấy công viên vắng tanh, vì thế chúng đã không cho đóng những cổng ra vào.

    Đó chính là sai lầm của chúng.

    Stephen nhìn thấy một nhóm đàn ông tầm tuổi hắn – toàn dân trí thức thời thượng[107], căn cứ theo vẻ bề ngoài của họ, tất cả đều mặc quần áo thể thao hoặc đồ chạy bộ. Họ đang xách theo những chiếc túi đựng vợt cùng với ba lô và hướng về phía khu Upper East Side, vừa đi vừa cười nói rôm rả. Tóc của cả nhóm đều còn lấp lánh ướt sau khi tắm gội ở một câu lạc bộ thể thao gần đó.

    Stephen chờ đến đúng khi họ vừa mới đi qua chỗ hắn nấp, rồi vội bám luôn phía sau họ, như thể hắn là một thành viên trong nhóm. Không quên toét miệng mỉm cười với một người trong bọn. Rảo bước rất mạnh mẽ và tự tin, tay vung vẩy chiếc hộp đàn guitar đầy vui vẻ, hắn đi theo mọi người tới đường hầm dẫn sang khu East Side.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 34 của 45

    CHƯƠNG 32

    Ánh hoàng hôn chạng vạng phủ quanh họ.

    Percey Clay, một lần nữa lại ngồi trong ghế bên trái của chiếc Learjet, nhận ra quầng sáng phía trước họ chính là Chicago.

    Trung tâm Chicago yêu cầu họ hạ dần xuống độ cao 12000 feet.

    “Đang bắt đầu hạ độ cao”, cô thông báo, từ từ kéo lùi cần tăng ga xuống. “ATIS”

    Brad chuyển radio của mình sang chế độ ATIS và đọc to thành lời những gì anh đang nghe thấy từ giọng nói được ghi ân lại. “Thông tin Chicago, Whiskey[108]. Rõ ràng và ổn định. Tốc độ gió 25 dặm hướng ba. Nhiệt độ 95 độ F. Cao kế chỉ 37,1.”

    Brad đặt mức cao kế đúng như Percey nói trong mic của cô, “Đài Kiểm soát Tiếp cận[109] Chicago, đây là Learjet 95 Foxtrot Bravo. Đang tiến về phía sân bay từ độ cao 12000 feet. Hướng 280.”

    “Xin chào, Foxtrot Bravo. Hạ thấp xuống và duy trì ở độ cao 10000 feet. Chuẩn bị cho hướng đường băng 27 bên phải.”

    “Nghe rõ. Hạ thấp và duy trì độ cao 10000. Hướng đường băng 27 bên phải. 695 Foxtrot Bravo.”

    Percey cố tình không liếc nhìn xuống dưới. Đâu đó bên dưới và phía trước họ lúc này là nấm mồ của chồng cô cùng chiếc máy bay của anh. Cô không biết liệu hôm đó anh có được chỉ thị hạ cánh xuống đường băng 27 bên phải của sân bay O’Hare không, nhưng nhiều khả năng là có và, nếu vậy thì, có lẽ Đài Kiểm soát Không lưu sân bay chắc hẳn đã hướng dẫn cho Ed đi qua đúng phần không phận mà lúc này cô đang bay xuyên qua.

    Có lẽ khi đó anh đã bắt đầu gọi điện cho cô, ngay ở chỗ này đây…

    Không! Không được nghĩ đến chuyện đó, cô ra lệnh cho chính mình. Hãy tập trung vào chiếc máy bay.

    Bằng một giọng trầm trầm và bình tĩnh, cô nói, “Brad, sau đây chúng ta sẽ tiếp cận hạ cánh bằng mắt[110] xuống đường băng 27 bên phải. Hãy theo dõi quá trình tiếp cận và thông báo tất cả các độ cao theo phân công. Khi chúng ta đến giai đoạn tiếp cận chót xin hãy giám sát tốc độ bay, độ cao, và tốc độ rơi của máy bay. Hãy cảnh báo cho tôi ngay nếu tốc độ rơi của máy bay lớn hơn 1000 feet một phút. Vòng lượn trước khi hạ cánh xuống sân bay ở mức 92%.”

    “Đã rõ.”

    “Nâng cánh tà lên 10 độ.”

    “Nâng cánh tà, 10 độ, 10, đèn xanh.”

    Tín hiệu radio vang lên, “Lear 695 Foxtrot Bravo, rẽ trái hướng 240, hạ thấp, và duy trì ở độ cao 4000 feet”.

    “695 Foxtrot Bravo, đang rời khỏi độ cao 10000 xuống 4000. Giữ hướng 240.”

    Cô nhẹ nhàng kéo ga về thêm chút nữa và chiếc máy bay khẽ rùng rùng rồi êm dần, âm thanh điếc tai của những động cơ cũng dịu đi, và cô có thể nghe thấy tiếng không khí rít ù ù như một lời thì thầm của gió lướt qua mặt tấm khăn trải giường kê cạnh một cửa sổ để ngỏ giữa trời đêm.

    Percey hét to để nói với Bell, “Anh sắp sửa có chuyến hạ cánh đầu tiên của mình trong một chiếc Lear. Chúng ta hãy xem liệu tôi có thể cho nó hạ xuống đường băng mà không làm sánh cà phê của anh hay không nhé!”.

    “Tất cả những gì tôi yêu cầu lúc này là được lành lặn thôi”, Bell nói và cột chặt thắt lưng an toàn của mình như thể đang thắt một bộ dây đai bungee[111].



    “Chẳng thấy gì, Rhyme ạ.”

    Nhà hình sự học nhắm chặt mắt lại vì căm giận. “Tôi không thể nào tin nổi. Thật không thể nào tin nổi.”

    “Hắn biến mất rồi. Hắn đã ở đó, họ chắc chắn thế mà. Vậy mà những chiếc mic kia không hề phát hiện được tiếng động nào.”

    Rhyme ngẩng lên nhìn tấm gương lớn mà anh đã ra lệnh cho Thom dựng lên phía bên kia phòng. Họ đã chờ đợi những viên đạn nổ sẽ xuyên thẳng vào đó. Công viên Trung tâm đông đặc những đội viên chiến thuật của Haumann và Dellray, tất cả chỉ chờ đợi một phát súng.

    “Jodie đâu rồi?”, Rhyme hỏi.

    Dellray cười khẩy. “Đang trốn trong hẻm. Hắn nhìn thấy một chiếc xe chạy qua và thế là thần hồn nát thần tính.”

    “Chiếc xe nào?”

    Viên đặc vụ phá lên cười. “Nếu như đó đúng là tên Vũ công, thì hắn đã úm ba la biến thành bốn cô nàng Puerto Rico béo ục ịch. Tên khốn kiếp đó nói hắn sẽ không chịu ra ngoài chừng nào chưa có người tắt chiếc đèn đường lắp trước cửa nhà anh.”

    “Kệ xác hắn. Hắn sẽ tự mò về khi hắn sắp chết rét cho mà xem.”

    “Hoặc là để lấy tiền của mình”, Sachs nhắc nhở.

    Rhyme chau mày. Anh thấy thất vọng đến cay đắng vì cái bẫy lần này cũng không ăn thua.

    Chẳng lẽ là do anh có gì đó sơ suất? Hay là do tên Vũ công kia có bản năng siêu nhiên của ma quỷ? Một kiểu giác quan thứ sáu? Ý nghĩ đó nghe thật vô lý đối với Lincoln Rhyme, nhà khoa học, nhưng anh không sao rũ sạch được nó ra khỏi đầu mình. Xét cho cùng, nhiều khi chính NYPD cũng phải nhờ đến sự giúp đỡ của các nhà ngoại cảm.

    Sachs dợm bước về phía cửa sổ.

    “Không”, Rhyme vội nhắc cô. “Chúng ra vẫn không biết chắc là hắn đã đi thật hay chưa.” Sellitto cũng đứng tránh ra khỏi ô cửa kính sau khi đã kéo kín rèm lại.

    Thật trớ trêu, ý nghĩ không biết chính xác lúc này tên Vũ công đang ở đâu còn đáng sợ gấp bội phần ý nghĩ hắn đang chĩa một khẩu súng bắn tỉa to đùng qua ô cửa sổ cách đó có 20 feet.

    Đúng lúc đó điện thoại của Cooper chợt đổ chuông. Anh nghe máy.

    “Lincoln, đó là điện thoại của mấy tay chuyên gia bom mìn ở FBI. Họ đã kiểm tra ERC. Họ cho biết có thể họ đang có một mẫu trùng khớp với những mẩu cao su latex kia.”

    “Họ bảo thế nào?”

    Cooper chăm chú lắng nghe người đặc vụ ở đầu dây bên kia một lúc.

    “Không có đầu mối nào về tên và nguồn gốc của loại cao su kia, nhưng họ cho biết nó không có gì là mâu thuẫn với một loại vật liệu được sử dụng trong những kíp nổ theo độ cao. Có một quả bóng bay cao su được bơm đầy không khí. Nó phình căng ra khi máy bay lên cao vì càng lên cao thì áp suất càng giảm, và đến một độ cao nhất định quả bóng bay sẽ ấn vào một công tắc ở bên thành ngoài của quả bom. Sự tiếp xúc được hoàn tất. Quả bom sẽ phát nổ.”

    “Nhưng quả bom này được kích nổ bằng đồng hồ hẹn giờ mà.”

    “Họ chỉ đang cho tôi biết những gì liên quan đến chất cao su kia thôi.”

    Rhyme chằm chằm nhìn những túi nhựa đựng các thành phần của quả bom. Mắt anh dán chặt vào thiết bị hẹn giờ và tự hỏi: Tại sao nó vẫn còn giữ được hình dáng gần như nguyên vẹn thế kia nhỉ?

    Bởi vì nó đã được gắn ở phía sau mảnh thép nhô ra ngoài.

    Nhưng tên Vũ công hoàn toàn có thể gắn nó ở bất kỳ đâu, ví dụ như ấn thẳng nó vào giữa khối thuốc nổ dẻo chẳng hạn, như thế sẽ khiến chiếc đồng hồ nổ tan tành thành những mảnh vụn li ti. Lúc đầu anh chỉ nghĩ hắn đã cẩu thả khi để chiếc đồng hồ còn nguyên vẹn như thế này. Nhưng giờ thì anh bắt đầu băn khoăn.

    “Cho họ biết là máy bay phát nổ khi nó đang hạ thấp”, Sachs vội nói.

    Cooper nói lại lời nhận xét đó, rồi lắng nghe. Sau đó anh báo cáo lại, “Anh ta cho biết đây cũng chỉ là một biến thể về thời điểm kết nối mạch thôi. Khi máy bay lên cao, quả bóng bay căng hơi sẽ đẩy công tắc đặt quả bom vào trạng thái sẵn sàng; khi máy bay hạ thấp độ cao, quả bóng bay sẽ bị xẹp lại và đóng mạch. Và thế là quả bom bị kích nổ.”

    Rhyme thì thào, “Đồng hồ hẹn giờ là đồ giả! Hắn cố tình gắn nó đằng sau mảnh thép để nó không bị phá huỷ sau vụ nổ. Để chúng ta sẽ tưởng rằng đó là một quả bom hẹn giờ, không phải bom độ cao. Máy bay của Carney ở độ cao bao nhiêu thì có thể phát nổ?”.

    Sellitto lục lọi rất khẩn trương qua báo cáo của NTSB. “Khi nó vừa mới xuống đến độ cao 5000 feet.”

    “Vậy là nó được kích hoạt khi họ lên quá độ cao 5000 feet lúc vừa ra khỏi sân bay Mamaroneck và phát nổ khi máy bay bắt đầu xuống thấp gần Chicago”, Rhyme nói.

    “Tại sao lại khi hạ cánh?” Viên thám tử hỏi.

    “Để khi đó máy bay sẽ ở rất xa rồi chăng?” Sachs đề xuất.

    “Chính xác”, Rhyme đồng tình. “Như thế tên Vũ công sẽ có nhiều cơ hội hơn để tẩu thoát khỏi sân bay trước khi chiếc máy bay phát nổ.”

    “Nhưng”, Cooper nói, “tại sao hắn lại phải mất công đánh lừa để chúng ta tin rằng đó là loại bom này thay vì một loại bom khác?”.

    Rhyme nhận thấy Sachs cũng vừa đoán ra toàn bộ sự thật nhanh không kém gì anh. “Ôi, không!” Cô thốt lên.

    Sellitto vẫn chưa hiểu có chuyện gì. “Sao thế?”

    “Bởi vì”, cô giải thích, “tối nay khi kiểm tra máy bay của Percey, đội rà phá bom mìn chỉ tập trung tìm kiếm một quả bom hẹn giờ. Họ sử dụng thiết bị phát hiện âm thanh của đồng hồ hẹn giờ.”

    “Điều đó có nghĩa là”, Rhyme choáng váng, “trên máy bay của Percey và Bell cũng đang có một quả bom độ cao nữa!”.



    “Tốc độ rơi 1200 feet một phút”, Brad báo cáo.

    Percey khẽ kéo nhẹ cần lái của chiếc Lear về phía sau một chút, điều chỉnh cho tốc độ rơi của máy bay chậm lại. Họ đi qua độ cao 5500 feet.

    Rồi bất thình lình cô nghe thấy nó!

    Một tiếng tít tít khe khẽ rất lạ tai. Cô chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ âm thanh nào giống thế, ít nhất thì cũng không phải trong một chiếc Lear 35A. Nghe giống như tiếng chuông cảnh báo nào đó, nhưng vẳng đến từ rất xa. Percey lia mắt qua bảng điều khiển nhưng không thấy đèn đỏ nào hiển thị. Lại có tiếng tít tít rít lên.

    “Độ cao 5500 feet”, Brad hô to. “Tiếng động gì vậy nhỉ?”

    Bỗng nhiên nó im bặt.

    Percey nhún vai.

    Một giây sau, cô nghe thấy một giọng nói đang quát lên sau lưng mình, “Bay lên ngay! Lên cao hơn! Ngay lập tức!”

    Hơi thở nóng rực của Roland Bell phả vào mặt cô. Anh đang đứng ngay cạnh Percey, người cúi lom khom, tay huơ huơ chiếc điện thoại di động của mình.

    “Sao cơ?”

    “Có bom trên máy bay! Một quả bom độ cao. Nó phát nổ khi chúng ta chạm mức 5000 feet”.

    “Nhưng chúng ra đang ở trên…”

    “Tôi biết! Bay lên! Lên cao!”

    Percey hét to, “Tăng mức năng lượng, 98%. Thông báo độ cao”.

    Không chần chừ lấy một giây, Brad đẩy mạnh cần ga về phía trước. Percey kéo chiếc Lear chếch mũi lên một góc mười độ. Bell loạng choạng đổ người về phía sau và ngã xuống sàn máy bay.

    Brad thông báo, “5200, 5150… 5200, 5300, 5400… 5800, 6000 feet”.

    Suốt bao năm trong sự nghiệp bay của mình, Percey chưa bao giờ phải phát đi tín hiệu cấp cứu. Có đúng một lần cô phải phát thông báo “pan-pan” – tức là một tình huống khá căng thẳng – khi một đàn bồ nông xấu số quyết định tự sát bằng cách lao vào động cơ số hai của cô và chẹn mất ống dẫn áp suất khởi động. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, cô phải thốt lên, “May-day[112], may-day, Lear 695 Foxtrot Bravo.”

    “Thông báo đi, Foxtrot Bravo.”

    “Chúng tôi cần trợ giúp, Trung tâm Kiểm soát Tiếp cận Chicago. Chúng tôi nhận được thông báo có bom trên máy bay. Cần được lên độ cao 10000 feet ngay lập tức và chỉ dẫn sang chế độ bay chờ trên một khu vực không có dân cư.”

    “Đã nghe rõ, 695 Foxtrot Bravo”, nhân viên Kiểm soát Không lưu bình tĩnh nói. “Hừm, duy trì nguyên hướng 240 hiện tại. Được phép lên độ cao 10000 feet. Chúng tôi đang tiến hành cho sơ tán tất cả những máy bay quanh các bạn… Chuyển mã tách sóng radio riêng sang tần số 7700 và quác quác.”

    Brad căng thẳng liếc nhìn Percey rồi bắt tay vào chuyển thông số tách sóng vô tuyến – chuyển sang mã tự động phát tín hiệu cảnh báo đến tất cả các trạm radar trong khu vực rằng Foxtrot Bravođang gặp nguy hiểm. Quác quác là một thuật ngữ lóng chỉ việc phát ra tín hiệu từ bộ tách sóng để tất cả mọi người ở Đài Kiểm soát Không lưu và các máy bay khác biết chính xác đâu là thông báo của riêng chiếc Lear phát ra.

    Cô nghe thấy Bell đang nói vào điện thoại, “Người duy nhất đến gần máy bay, trừ tôi và Percey ra, là tay giám đốc điều hành, Ron Talbot – và dù không có gì là ác cảm với ông ta nhưng chính tôi và những cậu bé của mình đã theo dõi ông ta như một con cú rình mồi trong khi ông ta làm việc, lúc nào chúng tôi cũng đứng ngay sau lưng ông ta. À, còn một tay cung cấp phụ tùng hàng không vùng Đông Bắc ở Grenwich. Nhưng tôi cũng đã kiểm tra anh ta rất kỹ càng. Thậm chí tôi còn lấy số điện thoại nhà của anh ta và gọi cho vợ anh ta, nghe họ nói chuyện với nhau – để bảo đảm anh ta đúng là người của công ty cử đến”. Bell chăm chú nghe một lúc rồi tắt máy. “Họ sẽ gọi lại cho chúng ta.”

    Percey liếc sang nhìn Brad rồi lại nhìn Bell, và quay lại với nhiệm vụ điều khiển chiếc máy bay của mình.

    “Nhiên liệu thế nào?”, cô hỏi người phi công phụ. “Còn được bao lâu nữa?”

    “Chúng ta còn ít hơn mức dự tính. Hôm nay gió ngược hơi mạnh”. Anh lúi húi tính toán. “Còn được 105 phút nữa.”

    Cô thầm tạ ơn Chúa, hay số phận, hay bản năng của chính mình, khi quyết định không nạp nhiên liệu lại ở Chicago, mà đã nạp đủ nhiêu liệu đưa họ bay một mạch đến Saint Louis, cộng với khoản dự phòng tương đương thời gian 45 phút bay theo yêu cầu của FAA.

    Điện thoại của Bell lại đổ chuông.

    Anh lắng nghe, thở dài, rồi hỏi Percey. “Có phải cái công ty Đông Bắc gì gì đó đã chuyển đến một bình cứu hỏa đúng không?”

    “Chết tiệt, chẳng lẽ hắn lại nhét quả bom vào đó?”, cô cay đắng hỏi.

    “Có vẻ như thế thật. Chiếc xe chở hàng đã bị xịt lốp ngay sau khi rời khỏi nhà kho lúc trên đường chuyển phụ tùng đến cho cô. Tay lái xe bận rộn thay lốp mất khoảng hai mươi phút. Cảnh sát tuần tra ở Connecticut vừa tìm thấy một đống hổ lốn trông như là bọt khí carbon dioxide trong bụi cây ngay phía sau chỗ chiếc xe bị xịt lốp.”

    “Chó chết!” Percey bất giác liếc nhìn về phía động cơ. “Và chính tôi đã tự tay lắp cái đồ khốn nạn đó.”.

    Bell hỏi, “Rhyme muốn hỏi về nhiệt độ. Liệu nó có thể làm quả bom phát nổ không?”

    “Một số chỗ rất nóng, nhưng những chỗ khác thì không. Xung quanh bình cứu hỏa cũng không có gì nóng cả.”

    Bell nói lại thông tin này cho Rhyme, sau đó anh nói, “Anh ấy sẽ gọi trực tiếp cho cô”.

    Một lát sau, qua tai nghe radio, Percey nghe thấy tín hiệu chuyển của một cuộc gọi trên tần số riêng.

    Đó là Lincoln Rhyme.

    “Percey, cô nghe thấy tôi nói không?”

    “Rất to và rõ ràng. Hừ, tên khốn đó lại nhanh tay hơn rồi phải không?”

    “Có vẻ thế. Cô còn được bao nhiêu thời gian bay nữa?”

    “Một giờ bốn mươi nhăm phút. Khoảng đó.”

    “Được rồi, được rồi”, nhà hình sự học nói. Một thoáng ngập ngừng. “Thế này nhé… Cô có thể tiếp cận được động cơ từ bên trong không?”

    “Không.”

    Một thoáng im lặng tiếp theo. “Vậy cô có thể làm cách nào để cắt bỏ toàn bộ động cơ không? Ví dụ như tháo ốc hay gì đó? Để nó rơi xuống?”

    “Từ bên trong thì không thể”.

    “Vậy có cách nào để cô có thể tiếp nhiên liệu ngay trên không trung không?”

    “Tiếp nhiên liệu ư? Không phải là với chiếc máy bay này.”

    Rhyme hỏi, “Vậy cô có thể bay thật cao đủ để đóng băng cơ chế hoạt động của quả bom không?”

    Cô ngỡ ngàng trước khả năng suy nghĩ cực nhanh của anh. Có nhiều thứ mà bình thường cô chưa bao giờ nghĩ tới. “Có thể. Nhưng ngay cả với tốc độ rơi khẩn cấp – tôi đang nói đến một cú rơi chúc thẳng mũi xuống đấy – thì cũng phải mất khoảng tám, chín phút mới xuống tới nơi. Tôi không nghĩ có quả bom nào lại giữ nguyên trạng thái đóng băng trong khoảng thời gian lâu đến thế. Và có lẽ hiệu ứng Mach buffet cũng sẽ xé chúng tôi ra thành từng mảnh.”

    Rhyme nói tiếp, “Thôi được, vậy nếu bố trí một máy bay khác đến ngay trước máy bay của cô và chuyển dù cho mọi người thì sao?”

    Ý nghĩ đầu tiên trong đầu cô là cô sẽ không bao giờ từ bỏ máy bay của mình. Nhưng câu trả lời thực tế – câu trả lời mà cô nói với anh – là căn cứ vào tốc độ tròng trành của một chiếc Lear 35A và kết cấu bố trí của cửa chính, hai cánh, động cơ, khả năng một người nhảy từ trong máy bay ra ngoài mà không bị va đập và thiệt mạng ngay lập tức là cực thấp.

    Rhyme lại im lặng một lúc khá lâu. Brad nuốt khan nghe đánh ực một cái và lau hai bàn tay lên ống quần là thẳng như lưỡi dao cạo của mình. “Lạy Chúa!”

    Roland Bell thì bồn chồn lắc lư người trên ghế.

    Tuyệt vọng, cô thầm nghĩ, mắt trân trối nhìn ra ngoài bầu trời nhập nhoạng tối âm u xanh thẫm.

    “Lincoln?” Percey hỏi. “Anh còn đấy không?”

    Cô nghe thấy giọng anh. Anh đang gọi cho ai đó trong phòng thí nghiệm của mình – hay phòng ngủ gì đó. Bằng một giọng gắt gỏng anh đang quát, “Không phải cái bản đồ đó. Anh biết ý tôi muốn cái nào rồi mà. Hừm, tôi muốn cái đó làm gì chứ hả? Không, không…”.

    Im lặng.

    Ôi, Ed, Percey nghĩ. Cuộc sống của chúng ta từ trước đến giờ lúc nào cũng đi theo những đường song song. Có lẽ cả cái chết của chúng ta cũng thế nốt. Mặc dù vậy, Roland Bell mới làm cô thấy nặng lòng nhất. Ý nghĩ về việc hai đứa con của anh sẽ mồ côi cả cha lẫn mẹ thật không sao chịu nổi.

    Và rồi cô nghe thấy Rhyme đang hỏi, “Căn cứ vào số nhiên liệu còn lại, cô có thể bay được bao xa nữa?”

    “Với những thông số tiết kiệm năng lượng nhất…” Cô quay sang nhìn Brad, chàng phi công trẻ đang nhoay nhoáy bấm số.

    Anh trả lời, “Nếu bay ở độ cao thích hợp, nhiều khả năng chúng ta sẽ bay được khoảng 800 dặm nữa”.

    “Tôi có ý này”, Rhyme nói. “Cô có thể bay thẳng tới Denver được không?”
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 36 của 45

    CHƯƠNG 33

    “Độ cao của sân bay này so với mực nước biển là 5180 feet”, Brad nói, anh chàng đang đọc từ quyển Cẩm nang cho phi công về Sân bay quốc tế Denver[113]. “Chúng ta đã ở độ cao đó khi đến gần Chicago và cái thứ chết tiệt này vẫn không nổ,”

    “Còn bao xa nữa?” Percey hỏi.

    “Từ vị trí hiện tại thì còn 902 dặm nữa.”

    Percey tính toán rất nhanh trong vòng chỉ vài giây, rồi gật đầu. “Chúng ta sẽ tới đó. Dẫn đường cho tôi bằng phương pháp ước lượng hành trình[114], cứ tạm thời thế đã, cho tới khi chúng ta bắt được tín hiệu sóng VOR.” Sau đó cô nói vào radio, “Chúng tôi sẽ cố thử xem, Lincoln. Lượng nhiên liệu không còn dôi nhiều lắm. Chúng tôi sẽ có rất nhiều việc phải làm đấy. Tôi sẽ liên lạc với anh sau”.

    “Chúng tôi sẽ chờ ở đây”.

    Brad chăm chú nhìn bản đồ rồi lại so sánh với lịch trình bay không lưu. “Rẽ trái hướng 266”.

    “266”, cô nhắc lại, rồi gọi cho Đài Kiểm soát Không lưu. “Trung tâm Chicago, đây là 695 Foxtrot Bravo. Chúng tôi đang hướng tới Sân bay Quốc tế Denver. Hình như đó là… chúng tôi có một quả bom nhạy với độ cao đang cài trên máy bay. Chúng tôi cần hạ xuống mặt đất chỗ nào có độ cao tương đương 5000 feet hoặc hơn. Cần có sóng VOR khẩn cấp để hướng dẫn bay tới Denver”.

    “Đã nghe rõ, Foxtrot Bravo. Chúng tôi sẽ đáp ứng yêu cầu của các bạn sau một phút nữa.”

    Brad hỏi, “Xin hãy tư vấn thông tin thời tiết trên đường bay, Trung tâm Chicago”.

    “Ngay lúc này đang có front[115] áp cao quét qua Denver. Gió ngược có tốc độ dao động từ 15 đến 40 hướng 10, tăng dần lên 60, 70 knot hướng 25.”

    Bell hỏi, “Cô có thể hạ cánh xuống đường cao tốc được không?”.

    “Chỉ có điều nếu thế chúng ta sẽ hạ cánh trong một quả cầu lửa khổng lồ thôi”, Percey nói.

    Đài Kiểm soát Không lưu hỏi, “Foxtrot Bravo, đã sẵn sàng ghi lại tần số VOR chưa?”

    Trong khi Brad ghi lại các thông tin, Percey tranh thủ thả lỏng người, ngã hẳn đầu ra phía sau lưng ghế. Động tác này có vẻ rất quen thuộc và cô chợt nhớ ra đã trông thấy Lincoln Rhyme làm giống hệt trong chiếc ghế tinh ti của anh. Cô nghĩ tới bài thuyết giáo nhỏ của mình trước mặt anh. Tất nhiên là cô nói hoàn toàn nghiêm túc, nhưng lúc đó cô cũng chưa thực sự nhận ra những lời đó của mình có thể đúng đến mức này. Cả anh cũng như cô đều phụ thuộc hoàn toàn vào những mẩu nhựa và kim loại mỏng manh này.

    Và có lẽ sắp chết đến nơi vì chúng.

    Số phận là một kẻ đi săn…

    Còn cách những 55 dặm. Họ có thể làm gì bây giờ?

    Tại sao suy nghĩ của cô lại không được nhạy bén và sâu xa như của Rhyme? Chẳng lẽ cô không thể nghĩ ra cách gì đó để tiết kiệm nhiên liệu hay sao?

    Bay cao hơn có nghĩ là sẽ tiết kiệm nhiên liệu hơn.

    Bay với trọng lượng nhẹ hơn cũng thế. Liệu họ có thể ném bớt thứ gì ra khỏi máy bay không?

    Ném hàng ư? Lượng hàng của Tập đoàn U.S. Medical nặng đúng 478 pound. Vứt bỏ ngần ấy sẽ giúp họ bay thêm được vài dặm.

    Nhưng ngay cả khi đã cân nhắc đến tình huống này, cô cũng biết chắc cô sẽ không bao giờ làm như vậy. Nếu như có bất kỳ cơ hội nào để cứu chuyến bay, cứu Công ty, cô cũng sẽ cố hết sức.

    Cố lên nào, Lincoln Rhyme, cô nghĩ, hãy cho tôi một ý tưởng đi. Hãy cho tôi… Hình dung ra căn phòng của anh, hình dung ra mình đang ngồi bên cạnh anh, cô nhớ đến con tiercel – con chim ưng đực – đang oai vệ đi lại ngoài bậu cửa sổ.

    “Brad”, cô hỏi giật giọng, “hệ số lượn[116] của chúng ta là bao nhiêu?”

    “Của một chiếc Lear 35A ư? Tôi không biết.”

    Percey đã từng bay trên một chiếc tàu lượn Schweizer 2-32. Mẫu đầu tiên của loại này được chế tạo năm 1962 và từ đó đến nay đã trở thành tiêu chuẩn đánh giá hiệu suất hoạt động của các loại tàu lượn sau này. Tốc độ rơi như có phép màu của nó chỉ là 120 feet một phút. Chiếc tàu lượn có trọng lượng khoảng 1300 pound. Trong khi chiếc Lear mà cô đang lái lúc này nặng tới 14000 pound. Mặc dù vậy, đã là máy bay thì đều lượn được, dù có là máy bay gì đi nữa. Cô nhớ lại vụ việc liên quan đến chiếc 767 của hãng Hàng không Canada cách đây vài năm – đến tận bây giờ cánh phi công vẫn bàn tán về chuyện này. Chiếc máy bay phản lực siêu khổng lồ đã cạn sạch nhiên liệu do lỗi kết hợp của máy tính và con người. Cả hai động cơ đều ngừng hoạt động ở độ cao 41000 feet và chiếc máy bay bỗng trở thành một chiếc tàu lượn nặng 143 tấn. Vậy mà nó đã hạ cánh bằng cách trượt thẳng xuống sân bay (không kịp mở bánh xe dưới bụng) mà không một ai thiệt mạng.

    “Hừm, chúng ta hãy nghĩ xem. Tốc độ rơi sẽ là bao nhiêu khi động cơ ngừng hoạt động?”

    “Tôi nghĩ chúng ta có thể giữ ở mức 2300 feet một phút.”

    Điều đó có nghĩa là tốc độ rơi theo chiều thẳng đứng sẽ tương đương với khoảng 30 dặm một giờ.

    “Nào. Hãy tính xem giả sử chúng ta đốt thật nhiều nhiên liệu để đưa máy bay lên độ cao 55000 feet, khi nào thì nhiên liệu cạn sạch?”

    “55000 feet ư?” Brad hỏi, không giấu được vẻ ngạc nhiên.

    “Chính xác”.

    Anh thoăn thoắt bấm số. “Nếu tăng độ cao với vận tốc 4300 feet một phút, chúng ta sẽ đốt hết rất nhiều nhiên liệu, nhưng sau khi đạt đến độ cao 55000 feet, mức tiết kiệm nhiên liệu sẽ tăng vọt. Chúng ta có thể giảm bớt năng lượng xuống…”

    “Chỉ cần một động cơ?”

    “Chắc chắn rồi. Chúng ta có thể làm như vậy.”

    Anh gõ thêm vài con số. “Với kịch bản như vậy, chúng ta sẽ hết nhiên liệu khi còn cách sân bay 83 dặm. Nhưng, tất nhiên, khi đó chúng ta sẽ có độ cao cần thiết”.

    Percey Clay, người vẫn luôn giành được những điểm A trong môn toán và vật lý và có thể tính nhẩm không cần dùng máy tính, như nhìn thấy những con số đang trôi qua trước mắt mình. Động cơ ngừng hoạt động ở độ cao 55000 feet, tốc độ rơi là 2300… Họ có thể hoàn thành chặng đường hơn 20 dặm một chút trước khi chạm mặt đất. Thậm chí còn có thể bay xa hơn thế nếu gió ngược chiều không quá dữ dội.

    Brad, với sự giúp sức của một chiếc máy tính và những ngón tay nhanh thoăn thoắt, cũng cho cùng kết quả. “Dù sao cũng chỉ tương đối thôi.”

    Chúa không tạo ra điều gì chắc chắn cả.

    Cô nói, “Trung tâm Chicago, Lear Foxtrot Bravo đề nghị được phép bay lên độ cao 55000 feet ngay lập tức”.

    Nhiều khi chúng ta phải chấp nhận năm ăn năm thua.

    “Hả, xin nhắc lại, Foxtrot Bravo.”

    “Chúng tôi cần tăng độ cao 55000 feet.”

    Giọng của nhân viên Kiểm soát Không lưu ngập ngừng: “Foxtrot Bravo, máy bay của các bạn là một chiếc Lear 35A, đúng không?”.

    “Xác nhận.”

    “Trần bay tối đa của các bạn là 45000 feet.”

    “Xác nhận thông tin đó, nhưng chúng tôi cần lên cao hơn.”

    “Các mối hàn của máy bay gần đây đã được kiểm tra chưa?”

    Các mối hàn chịu áp suất. Ở cửa chính và cửa sổ. Như những thanh giằng giữ cho máy bay không nổ tung.

    “Tất cả đều ổn”, cô nói, lờ đi thực tế là chiếc Foxtrot Bravo mới bị bắn thủng lỗ chỗ và cũng chỉ được vá víu tạm thời lại ngay buổi chiều hôm đó.

    Đài Kiểm soát Không lưu trả lời, “Đã nghe rồi, các bạn được phép lên độ cao 55000 feet, Foxtrot Bravo”.

    Và Percey nhắc lại một câu xác nhận mà rất ít, ấy là nếu có, phi công lái những chiếc Lear từng nói, “Đã nghe rõ, đang chuyển từ độ cao 10000 lên 55000 feet”.

    Percey ra lệnh, “Tăng mức nhiên liệu lên 88%. Thông báo thường xuyên tốc độ lên cao và độ cao ở các mốc 40000, 50000 và 55000”.

    “Rõ”, Brad điềm tĩnh nói.

    Cô kéo ngược cần lái lại và chiếc máy bay bắt đầu chúc mũi lên trên.

    Họ lướt thẳng lên trên.

    Tất cả những vì sao đêm…

    Mười phút sau Brad hô to, “55000 feet”.

    Mũi máy bay được hạ thấp xuống mức thăng bằng. Percey có cảm giác như thể cô thực sự nghe thấy những mối ghép của chiếc máy bay đang rên xiết. Cô nhớ lại bài học về cơ chế sinh học của cơ thể trong điều kiện độ cao như thế này. Nếu như cánh cửa sổ mà Ron mới thay thế bị bung ra hoặc bất kỳ mối hàn chịu áp suất nào bị nứt – ngay cả khi chiếc máy bay không bị xé toang ra thành từng mảnh thì hiện tượng giảm oxy đột ngột trong máu cũng khiến họ bất tỉnh chỉ sau năm giây. Ngay cả khi có mang mặt nạ dưỡng khí, áp suất chênh lệch cũng đủ làm máu trong người họ sôi lên.

    “Tăng áp suất trong buồng lái lên mức tương đương với độ cao 10000 feet”.

    “Áp suất lên mức độ cao 10000 feet”, anh thông báo. “Ít nhất như thế này cũng giảm bớt đôi chút áp suất khủng khiếp đang đè lên khung máy bay”.

    “Sáng kiến hay lắm”, Brad nói. “Làm sao chị lại nghĩ ra ý tưởng này vậy?”

    Những kỹ năng của loài khỉ…

    “Chẳng biết nữa”, cô trả lời. “Hãy cắt năng lượng ở động cơ số hai. Đóng van dẫn lưu lại, ngắt van dẫn lưu tự động.”

    “Đã đóng, đã ngắt”, Brad xác nhận.

    “Tắt bơm nhiên liệu, tắt bugi đánh điện”.

    “Tắt bơm, tắt bugi”.

    Cô cảm thấy máy bay hơi lệch chao đi khi phần động cơ bên phải tắt hẳn. Percey bù lại phần nghiêng lệch bằng cách điều chỉnh một chút ở đuôi bánh lái. Cũng không có gì khó khăn lắm. Vì hai động cơ phản lực đều được bố trí ở phần đuôi của thân máy bay chứ không phải ở trên hai cánh, nên tắt bớt một động cơ cũng không ảnh hưởng nhiều đến sự ổn định của máy bay.

    Brad hỏi, “Bây giờ chúng ta làm gì đây?”

    “Tôi sẽ uống một cốc cà phê”, Percey nói rồi trèo phắt khỏi ghế lái của mình chẳng khác gì một cậu nhóc vừa nhảy ta khỏi ngôi nhà trên cây. “Ê, Roland, lần này anh muốn uống cà phê kiểu gì ấy nhỉ?”



    Im lặng bao trùm trong phòng Rhyme suốt bốn mươi phút dài dằng dặc như tra tấn. Không chiếc điện thoại nào đổ chuông. Không một bản fax nào được chuyển đến. Không cả giọng nói vang ra từ máy tính, “Bạn vừa có thư!”.

    Và rồi, cuối cùng, chuông điện thoại của Dellray vang lên. Anh vừa chăm chú nghe vừa gật đầu, nhưng Rhyme có thể nhận thấy ngay rằng đó không phải là một tin tốt lành gì. Viên đặc vụ tắt điện thoại.

    “Cumberland à?”

    Dellray gật đầu. “Nhưng là công cốc. Kall đã không còn ở đó từ nhiều năm nay. À, người dân trong vùng vẫn còn bàn tán về cái lần thằng nhóc đó trói ông bố dượng của nó vào gốc cây và để mặc cho lũ giòi xơi tái ông ta. Kiểu như một truyền thuyết vậy. Nhưng không còn họ hàng, người thân nào trong vùng cả. Và không một ai biết gì hơn. Hoặc biết nhưng không muốn nói.”

    Lần này lại đến điện thoại của Sellitto rung lên. Viên thám tử mở máy và nói, “A lô?”.

    Một đầu mối, Rhyme thầm cầu nguyện, lạy trời hãy để đó là một manh mối mới. Anh chăm chú theo dõi khuôn mặt bì bì, nghiêm nghị của viên cảnh sát. Anh này gập điện thoại lại.

    “Đó là điện thoại của Roland Bell”, Sellitto thông báo. “Anh ấy chỉ muốn nói cho chúng ta biết. Họ hết sạch xăng rồi.”
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Giờ thứ 38 của 45

    CHƯƠNG 34

    Ba đèn tín hiệu cảnh báo bật lên cùng một lúc. Nhiên liệu thấp, áp suất dầu thấp, nhiệt độ động cơ thấp. Percey thử điều chỉnh độ cao của máy bay một chút để xem cô có thể lắc cho chút nhiên liệu còn sót lại chảy vào đường ống được không, nhưng rõ ràng là các bình chứa nhiên liệu đã cạn khô.

    Với một tiếng lạch xạch rất khẽ, động cơ số một ngừng khục khặc và im bặt.

    Và đèn trong buồng lái vụt tắt hoàn toàn. Tối như hũ nút.

    Ôi, không…

    Cô không thể nhìn thấy bất kỳ thiết bị nào, dù chỉ là một nút vặn hay cần điều khiển. Điều duy nhất giúp cô không bị rơi vào trạng thái chóng mặt khi bay mò trong đêm đen là quầng sáng yếu ớt của thành phố Denver hắt lên – từ xa tít tắp phía trước họ.

    “Chuyện gì thế này?”, Brad hỏi.

    “Lạy Chúa. Tôi quên mất là còn máy phát điện”.

    Máy phát điện chạy bằng năng lượng của động cơ. Không còn động cơ, cũng không còn điện.

    “Thả cánh quạt không khí thủy lực xuống”, cô ra lệnh.

    Brad mò mẩm trong bóng tối để tìm công tắc điều khiển và rồi cũng tìm thấy. Anh đẩy công tắc lên và chiếc cánh quạt không khí thủy lực thò ra dưới bụng máy bay. Đó là một chiếc chong chóng nhỏ được nối với một máy phát điện. Dòng không khí làm xoay cánh quạt, khiến cho máy phát điện bắt đầu hoạt động. Nó chỉ giúp cung cấp nguồn điện tối thiểu cho các thiết bị điều khiển và bóng điện trong buồng lái. Không giúp được gì cho cánh tà, số và phanh giảm tốc.

    Một lát sau mấy bóng điện bật sáng trở lại.

    Percey chăm chú nhìn đồng hồ hiển thị tốc độ rơi thẳng đứng. Kim đồng hồ chỉ rõ mức rơi là 3500 feet một phút. Nhanh hơn nhiều so với con số mà họ dự tính. Họ đang rơi xuống với tốc độ xấp xỉ 50 dặm một giờ.

    Sao lại thế? Cô băn khoăn. Tại sao những phép tính lại cho kết quả với sai số lớn đến thế được?

    Là do không khí loãng ở trên này! Cô đã tính toán tốc độ rơi dựa trên mật độ không khí đậm đặc hơn. Và giờ đây khi cân nhắc đến yếu tố này cô lại chợt nhớ ra rằng bầu không khí xung quanhDenver cũng sẽ rất loãng. Cô chưa bao giờ lái một chiếc tàu lượn lên cao quá một dặm.

    Cô kéo mạnh cần lái về phía sau để giảm tốc độ rơi. Nó giảm xuống còn 2100 feet một phút. Nhưng tốc độ bay vì thế cũng giảm đi rất nhiều. Trong bầu không khí loãng như thế này tốc độ tròng trành chỉ còn khoảng 300 knot một giờ. Cần đo rung động trên máy bay bắt đầu rung lên bần bật và những thiết bị điều khiển cũng không còn tác dụng. Với một chiếc máy bay không còn nhiêu liệu như trong trường hợp này thì đừng hy vọng gì đến việc thoát ra khỏi tốc độ tròng trành và khôi phục tốc độ cũ.

    Góc quan tài…

    Đẩy cần lái về phía trước. Họ lại rơi nhanh hơn, nhưng tốc độ bay cũng tăng lên. Cô chơi trò này suốt gần 50 dặm. Đài Kiểm soát Không lưu cho họ biết những vị trí mà gió ngược chiều đang thổi mạnh nhất, căn cứ vào đó Percey cố tìm ra sự kết hợp hoàn hảo giữa độ cao và luồng gió – những luồng gió đủ mạnh để nâng chiếc Lear lên mức cao nhất nhưng cũng không có vận tốc quá lớn có thể làm giảm tốc độ bay của họ.

    Cuối cùng, Percey – toàn thân đau nhức vì phải gồng người điều khiển chiếc máy bay bằng thuần túy sức mạnh cơ bắp của mình – giơ tay lên quệt mồ hôi trên trán và nói, “Gọi cho họ đi, Brad”.

    “Trung tâm Denver, đây là Lear 695 Foxtrot Bravo, đang bay về phía các bạn từ độ cao 19000 feet. Chúng tôi còn cách sân bay 21 dặm. Tốc độ bay là 220 knot một giờ. Máy bay của chúng tôi đang ở trong tình trạng cạn sạch nhiêu liệu và yêu cầu được điều khiển đến đường băng dài nhất thích hợp với hướng bay hiện tại của chúng tôi là 250.”

    “Đã nghe rõ, Foxtrot Bravo. Chúng tôi vẫn đang chờ các bạn. Cao kế chỉ 30,95. Rẽ trái hướng 240. Chúng tôi đang hướng các bạn tới đường băng 28 bên trái. Các bạn sẽ có đường băng dài 11000 feet[117].”

    “Đã nghe rõ, Trung tâm Denver.”

    Điều gì đó đang giày vò trong cô. Lại là cơn đau buốt trong bụng. Như cảm giác của cô khi nhớ lại chiếc xe thùng màu đen đó.

    Điều gì chứ? Chẳng lẽ chỉ là mê tín?

    Không bao giờ hai mà không ba…

    Brad nói, “Cách điểm hạ cánh 19 dặm. Độ cao 16000 feet”.

    Foxtrot Bravo, liên lạc với Trung tâm Kiểm soát Tiếp cận Denver.” Anh ta cung cấp cho họ tần số liên lạc, rồi nói thêm, “Họ đã được thông báo đầy đủ về tình hình của các bạn. Chúc may mắn. Tất cả chúng tôi đều đang nghĩ tới các bạn”.

    “Chúc vui vẻ, Denver. Cám ơn nhé!”

    Brad chuyển máy radio sang tần số liên lạc mới.

    Có chuyện gì vậy? Cô lại băn khoăn. Chẳng lẽ còn điều gì đó mình chưa nghĩ tới.

    “Trung tâm Tiếp cận Denver, đây là Lear 695 Foxtrot Bravo. Đang bay về phía các bạn từ độ cao 13000 feet, cách đường băng hạ cánh 13 dặm.”

    “Chúng tôi thấy các bạn rồi, Foxtrot Bravo. Chếch về bên phải theo hướng 250. Chúng tôi được biết là các bạn đã cạn nhiên liệu, đúng vậy không?”

    “Chúng tôi là chiếc tàu lượn khốn khiếp lớn nhất mà các anh từng nhìn thấy, Denver.”

    “Cánh tà và hệ thống bánh xe hạ cánh của các bạn còn hoạt động không?”

    “Không còn cánh tà. Chúng tôi sẽ hạ bánh xe xuống bằng tay.”

    “Đã nghe rõ. Các bạn có cần xe không?”

    Nghĩa là xe cứu hỏa, xe cấp cứu.

    “Chúng tôi nghĩ trên máy bay có bom. Chúng tôi muốn tất cả những gì các anh có.”

    “Đã nghe rõ.”

    Đột nhiên, giật nẩy mình vì kinh hoàng, cô chợt nhận ra: Áp suất không khí!

    “Trung tâm Tiếp cận Denver”, cô hỏi, “cao kế chỉ bao nhiêu?”.

    “Ừm, chỗ chúng tôi là 30,96, Foxtrot Bravo.”

    Vậy là cột thủy ngân đã tăng 1% của một inch trong vòng một phút vừa qua.

    “Nó đang tăng dần?”

    “Chính xác là như vậy, Foxtrot Bravo. Một front áp cao khá lớn đang quét qua.”

    Không! Điều đó sẽ càng làm tăng áp suất xung quanh quả bom, làm cho quả bóng bay bị xẹp xuống, như thể họ đang ở độ cao thấp hơn so với thực tế.

    “Đúng là chó cắn áo rách”, cô lẩm bẩm.

    Brad quay sang nhìn cô.

    Cô bảo anh ta, “Mức thủy ngân lúc ở Mamaroneck là bao nhiêu nhỉ?”.

    Anh chàng kiểm tra lại trong sổ nhật trình. “20,6.”

    “Hãy tính toán độ cao 5000 feet ở mức áp suất đó so với mức 31,0.”

    “31? Thế thì cao khủng khiếp.”

    “Thì đó là trạng thái áp suất chúng ta đang bay vào.”

    Anh ta tròn mắt nhìn cô. “Nhưng quả bom…”

    Percey gật đầu. “Tính đi.”

    Chàng thanh niên bấm những con số đó bằng một bàn tay rất vững vàng.

    Anh thở dài, đây là lần đầu tiên anh để lộ cảm xúc của mình trong suốt chuyến bay. “5000 feet ở Mamaroneck sẽ tương đương với 8500 feet ở đây”.

    Cô lại gọi cho Bell bước lên phía trước. “Tình hình là thế này. Có một front áp cao đang quét qua. Cho đến khi chúng ta chạm đến đường băng, rất có thể quả bom sẽ tự động hiểu mức áp suất không khí xung quanh là tương ứng với độ cao dưới 5000 feet. Có thể nó sẽ phát nổ ngay khi chúng ta còn cách mặt đất khoảng 50 đến 100 feet cũng nên.”

    “Được rồi”. Anh bình tĩnh gật đầu. “Được rồi.”

    “Chúng ta không còn cánh tà, do đó chúng ta sắp sửa hạ cánh với vận tốc cực lớn, xấp xỉ 200 dặm một giờ. Nếu nó phát nổ chúng ta sẽ mất kiểm soát và đâm thẳng xuống đất. Chắc sẽ không có nhiều khói lửa vì các bình chứa nhiên liệu đều đã cạn. Và tùy thuộc vào những gì đang chờ đợi phía trước, nếu xuống đủ thấp có thể chúng ta sẽ bị trượt đi một đoạn trước khi bắt đầu va đập. Cũng không thể làm gì được nữa ngoài việc thắt chặt dây an toàn và cúi thấp đầu xuống.”

    “Được rồi”, anh nói, gật đầu bình thản, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.

    Cô liếc nhìn vẻ mặt anh. “Tôi hỏi anh câu này được không, Roland?”

    “Tất nhiên là được.”

    “Đây không phải chuyến bay đầu tiên của anh đấy chứ?”

    Anh thở dài. “Cô biết đấy, khi cô sống gần như cả thời thanh niên ở một nơi như North Carolina, đơn giản là cô sẽ không có nhiều cơ hội đi đây đi đó. Còn khi chuyển đến New York, hừm, chúng tôi lại có những chuyến tàu hỏa của Amtrak rất lịch sự và tiện lợi”. Anh ngừng lại. “Thực tế là tôi chưa bao giờ ở cao hơn so với nơi một chiếc thang máy đưa tôi lên.”

    “Không phải chuyến bay nào cũng thế này đâu”, cô nói.

    Anh bóp chặt vai cô, rồi thì thầm, “Đừng có làm rơi kẹo đấy”. Nói xong, anh quay về ghế của mình.

    “Được rồi”, Percey nói, xem lướt qua những thông tin trong Cẩm nang cho phi công về Sân bay quốc tế Denver. “Brad, chúng ta sẽ tiếp cận hạ cánh bằng mắt trong điều kiện ban đêm xuống đường băng 28 bên phải. Tôi sẽ chỉ huy điều khiển chiếc máy bay. Anh sẽ hạ bánh xe xuống bằng tay và thông báo tốc độ rơi, khoảng cách tới đường băng, và độ cao – cho tôi biết độ cao thực sự phía trên mặt đất, không phải là so với mực nước biển – cùng tốc độ bay”. Cô cố nghĩ xem còn điều gì nữa. Không còn nhiên liệu, không còn cánh tà, không còn phanh giảm tốc. Chẳng còn gì để mà nói nữa, đây là lệnh phân công nhiệm vụ trước khi hạ cánh ngắn nhất trong sự nghiệp bay của cô. Cô nói thêm, “Điều cuối cùng này nữa. Khi chúng ta dừng lại, hãy thoát ra ngoài càng nhanh càng tốt”.

    “Cách đường băng 10 dặm”, anh nói to. “Tốc độ bay 200 knot. Độ cao 9000 feet. Chúng ta cần làm chậm tốc độ rơi.”

    Cô kéo nhẹ cần lái lên trên một chút và tốc độ chậm đi rất đột ngột. Cần đo rung động lại rung lên. Lúc này mà máy bay rơi vào trạng thái tròng trành thì coi như họ cầm chắc cái chết.

    Lại đẩy về phía trước.

    Chín dặm… Tám…

    Mồ hôi đầm đìa như một trận mưa dông. Cô đưa tay lên lau mặt. Những vết rộp trên phần da mềm giữa ngón cái và ngón trỏ.

    Bảy… Sáu…

    “Cách điểm chạm đất năm dặm nữa, độ cao 4500 feet. Tốc độ bay 210 knot.”

    “Hạ bánh xe”, Percey ra lệnh.

    Brad vặn chiếc vòng nhỏ có chức năng thả bộ bánh xe nặng nề xuống bằng phương pháp cơ học. Anh cũng được trọng lực giúp sức, mặc dù vậy đây vẫn là một công việc cực kỳ nặng nhọc. Tuy nhiên, anh vẫn không quên dán chặt mắt vào bảng thiết bị điều khiển và đọc to, bình tĩnh như một nhân viên kiểm toán đang đọc bảng cân đối tài chính, “Cách điểm chạm đất bốn dặm, độ cao 3900 feet…”.

    Cô vật lộn với sự lắc lư do hiện tượng giảm độ cao gây ra cùng những đợt gió đang thổi mạnh.

    “Đã thả xong bánh xe”, Brad thông báo giữa hơi thở hổn hển. “Ba đèn xanh.”

    Tốc độ bay giảm xuống còn 180 knot – tương đương với khoảng 200 dặm một giờ. Như thế là quá nhanh. Cực nhanh là khác. Một khi không có những bộ tên lửa hãm dự phòng, chiếc máy bay sẽ mài hết cả đường băng dài nhất chỉ trong tích tắc.

    “Trung tâm Kiểm soát Tiếp cận Denver, cao kế chỉ bao nhiêu?”

    “30,98”, người nhân viên Kiểm soát Không lưu trả lời không một chút bối rối.

    Đang tăng. Mỗi lúc một cao hơn.

    Cô hít một hơi thật sâu. Theo như quả bom “hiểu” căn cứ vào mức áp suất thực tế, đường băng nằm ở độ cao chưa đến 5000 feet so với mực nước biển. Nhưng không hiểu tên Vũ công đã chính xác và tỉ mỉ đến mức độ nào khi hắn chế tạo chiếc kíp nổ?

    “Bánh xe hạ cánh đã hạ xuống hoàn toàn. Tốc độ rơi là 2600 feet một phút.”

    Có nghĩa là tương đương với tốc độ rơi theo phương thẳng đứng 38 dặm một giờ. “Chúng ta đang rơi quá nhanh, Percey”, Brad thông báo. “Nếu thế này chúng ta sẽ tiếp đất ngay phía trước đèn báo vào sân bay. Còn cách đường băng khoảng 100 thước. Có thể là 200 cũng nên.”

    Giọng nói của nhân viên Kiểm soát Không lưu cho thấy họ cũng đã nhận ra điều này: “Foxtrot Bravo, các bạn cần duy trì độ cao. Máy bay đang rơi xuống thấp quá nhanh”.

    Lại kéo cần lái. Tốc độ giảm ngay lập tức. Lại cảnh báo tròng trành. Lại đẩy cần về phía trước.

    “Cách điểm tiếp đất hai dặm rưỡi, độ cao 1900 feet”.

    “Quá thấp, Foxtrot Bravo!”, nhân viên Kiểm soát Không lưu lại cảnh báo.

    Cô nhìn ra ngoài qua phần mũi màu bạc của chiếc máy bay. Cơ man nào là các loại đèn – ánh sáng nhấp nháy của các loại đèn tiếp cận báo hiệu cho họ tiến về phía trước, những chấm màu xanh của đường dẫn máy bay ra đường băng, và đèn màu đỏ cam của đường băng. Và cả những ánh đèn mà Percey chưa bao giờ nhìn thấy trong tất cả các lần hạ cánh. Hàng trăm ánh đèn đang nháy loang loáng. Trắng và đỏ. Toàn bộ các phương tiện khẩn cấp đều được huy động.

    Ánh đèn ở khắp nơi.

    Tất cả những vì sao đêm…

    “Vẫn thấp”, Brad hô to. “Chúng ta sẽ lao xuống còn cách đường băng 200 thước.”

    Tay ướt đẫm mồ hôi, căng người về phía trước, Percey lại hình dung ra cảnh Lincoln Rhyme, đang bị cột chặt vào chiếc xe lăn, bản thân anh cũng rướn về phía trước, chăm chú kiểm tra thứ gì đó trên màn hình máy tính.

    “Quá thấp, Foxtrot Bravo”, Kiểm soát Không lưu nhắc lại. “Chúng tôi sẽ cho phương tiện khẩn cấp cơ động tới khoảng trống ngay trước đường băng.”

    “Bác bỏ đề xuất đó”, Percey kiên quyết nói.

    Brad lại hô to, “Độ cao 1300 feet. Còn cách điểm tiếp đất một dặm rưỡi”.

    Chúng ta còn có ba mươi giây nữa! Mình phải làm gì bây giờ?

    Ed? Cho em biết đi! Brit? Có ai đó…

    Cố lên nào, những kỹ năng của loài khỉ… Mình phải làm cái chết tiệt gì bây giờ?

    Cô nhìn ra ngoài cửa sổ buồng lái. Dưới ánh trăng chiếu sáng cô có thể nhìn thấy những khu ngoại ô và thị trấn cùng những cánh đồng và trang trại, nhưng đồng thời, phía bên trái, là những dải sa mạc rộng mênh mông.

    Colorado là một bang có diện tích chủ yếu là sa mạc… Tất nhiên rồi!

    Bất thình lình cô bẻ ngoặt cho máy bay rẽ nghiêng sang bên trái.

    Brad, hoàn toàn không hiểu cô đang định làm gì, vẫn hô to, “Tốc độ rơi 3200 feet một phút, độ cao còn 1000 feet, 900 feet, 850…”.

    Nghiêng cánh cho một chiếc máy bay không còn hoạt động sẽ làm giảm rất nhiều độ cao chỉ trong tích tắc.

    Kiểm soát Không lưu vội hét lên, “Foxtrot Bravo, không được rẽ. Xin nhắc lại, không được rẽ ! Các bạn không còn đủ độ cao cần thiết”.

    Cô chỉnh cho máy bay thăng bằng trở lại khi bay trên dải sa mạc.

    Brad bật ra một tiếng cười sung sướng. “Độ cao ổn định… Độ cao đang tăng dần, chúng ta đang ở 900 feet, 1000 feet, 1200 feet, 1300 feet… Tôi không thể nào tin nổi.”

    “Một luồng nhiệt lưu[118]”, cô giải thích. “Sa mạc hấp thụ nhiệt vào ban ngày và giải phóng chúng ra suốt thời gian ban đêm.”

    Kiểm soát Không lưu cũng đã đoán ra. “Tuyệt lắm, Foxtrot Bravo! Tuyệt lắm. Các bạn vừa giúp mình tự tiến thêm được khoảng 300 thước nữa. Chếch phải theo hướng 290… tốt lắm, giờ thì chếch trái 280. Tốt rồi. Giữ nguyên hướng. Nghe này, Foxtrot Bravo, nếu các bạn muốn xóa sổ dãy đèn hiệu tiếp cận kia, xin cứ tự cho.”

    “Cảm ơn vì đề nghị đó, Denver, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ cho máy bay hạ cánh quá vạch số đường băng đúng 1000 nhiên feet.”

    “Thế thì lại càng tốt”.

    Giờ thì họ lại gặp một vấn đề khác. Họ có thể chạm tới đường băng, nhưng tốc độ bay vẫn còn vô cùng lớn. Cánh tà chính là thiết bị có tác dụng làm giảm tốc độ tròng trành của một chiếc máy bay giúp cho nó có thể hạ cánh xuống mặt đất một cách chậm hơn. Bình thường thì tốc độ tròng trành của một chiếc Lear 35A vào khoảng 110 dặm một giờ. Nhưng khi không còn cánh tà tốc độ này sẽ xấp xỉ 180 dặm một giờ. Với tốc độ lớn như vậy thì ngay cả một đường băng dài hai dặm cũng biến mất chỉ trong tích tắc.

    Thế là Percey cho máy bay lượn nghiêng sang một bên.

    Đây là một thủ thuật rất đơn giản đối với những chiếc máy bay tư nhân cỡ nhỏ, thường áp dụng khi hạ cánh trong điều kiện có gió thổi tạt ngang. Bạn nghiêng cánh máy bay sang bên trái và đạp pedal bánh lái bên phải. Cách này sẽ làm giảm đáng kể tốc độ của máy bay. Percey không biết đã có ai từng sử dụng kỹ thuật này với một chiếc phản lực nặng bảy tấn chưa, nhưng cô cũng không thể nghĩ ra cách nào khác được nữa. “Cần anh giúp một tay”, cô hô to lên với Brad, thở hổn hển vì gắng sức trong khi cơn đau nhói chạy xuyên qua hai bàn tay để trần của cô. Brad nắm chặt lấy cần lái và cũng đạp chân lên pedal. Kỹ thuật này có tác dụng làm giảm tốc độ của máy bay, mặc dù nó làm xệ thẳng cánh bên trái xuống gần như dựng đứng.

    Cô sẽ nghiêng nó trở lại vị trí thăng bằng như cũ trước khi tiếp xúc với đường băng.

    Cô hy vọng thế.

    “Tốc độ?”, cô gọi to.

    “150 knot.”

    “Có vẻ tốt đấy, Foxtrot Bravo.”

    “Cách đường băng 200 thước, độ cao 280 feet”, Brad hô lên. “Đèn hiệu báo tiếp cận, hướng thẳng”.

    “Tốc độ rơi?”, cô hỏi.

    “2600 feet một phút.”

    Nhanh quá. Hạ cánh với tốc độ rơi lớn như thế này có thể phá hủy hệ thống bánh xe. Và cũng có thể kích hoạt cho quả bom phát nổ.

    Ngay trước mặt cô lúc này là những ánh đèn tín hiệu đang nhấp nháy – hướng dẫn cho hạ cánh…

    Xuống, xuống, xuống…

    Đúng khi họ ầm ầm lao về phía giàn đèn tín hiệu cao vút, Percey bỗng hét to, “Để đấy cho tôi!”.

    Brad rời tay khỏi cần lái.

    Percey trả máy bay về tư thế cân bằng như trước khi nghiêng cánh và cho chếch mũi lên trên. Chiếc máy bay vụt vổng đầu lên tuyệt đẹp và như vừa níu được vào không khí, đã rơi xuống thẳng đứng bị chặn lại ngay phía trên vạch số màu trắng sơn ở đầu đường băng.

    Trên thực tế, chiếc máy bay bám chắc vào không khí đến nỗi nó nhất định không chịu đáp xuống.

    Trong điều kiện không khí đậm đặc hơn của mức áp suất tương đối thấp hơn, chiếc máy bay đang lao đi với vận tốc khá lớn – nhất là lại nhẹ đi rất nhiều vì không còn nhiên liệu – nhất định không chịu chạm xuống mặt đất.

    Cô thoáng nhìn thấy ánh đèn màu xanh-vàng của những chiếc xe cấp cứu nằm rải rác dọc bên cạnh đường băng.

    Đã vượt quá vạch số đúng 1000 feet, vậy mà họ vẫn còn lơ lửng cách mặt bê tông 30 feet.

    Rồi đến lượt 2000 feet lướt qua. Rồi đến 3000 feet.

    Chó chết thật, cho nó hạ xuống thôi.

    Percey đẩy nhẹ cần lái về phía trước. Chiếc máy bay đột ngột chúi mũi xuống và Percey lại kéo mạnh cần lái về phía sau hết cỡ. Con chim bạc rùng mình rồi nhẹ nhàng chạm xuống bề mặt bê tông. Đây là lần tiếp đất êm ái nhất mà cô từng thực hiện.

    “Kéo phanh hết cỡ!”

    Cô và Brad cùng đạp mạnh chân lên pedal điều khiển bánh lái và họ nghe rõ tiếng những mảng kim loại phía sau rít lên ken két, toàn thân máy bay rung chuyển dữ dội. Khói bốc đầy trong buồng lái.

    Họ đã bay lướt qua hơn một nửa chiều dài đường băng và vẫn còn đang lao đi với vận tốc 100 dặm một giờ.

    Mặt cỏ, cô nghĩ, mình sẽ ngoặt cho máy bay chạy trên đó nếu cần thiết. Có thể làm hỏng hệ thống bánh xe lăn nhưng mình sẽ cứu được kho hàng…

    70, 60…

    “Đèn báo cháy, bánh xe bên phải”, Brad hô lớn. Và rồi: “Đèn báo cháy, bánh xe dưới mũi”.

    Khốn nạn thật, cô thầm rủa, rồi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể mình lên bàn đạp phanh.

    Chiếc Lear bắt đầu trượt và rung lên bần bật. Cô cố bù bớt lực cho bánh xe dưới mũi. Khói trong buồng lái càng đặc kín.

    60 dặm một giờ, 50, 40…

    “Cánh cửa”, cô ngoái lại gọi Bell.

    Trong nháy mắt viên thám tử đã đứng bật dậy, đẩy tung cửa ra ngoài; nó bỗng trở thành một chiếc cầu thang.

    Những chiếc xe cứu hỏa đang cùng lao về phía chiếc máy bay.

    Với một tiếng rít dài đến chói tai của những bộ phanh đang bốc khói, chiếc Lear N695FB trượt rê trên mặt bê tông thêm một đoạn rồi dừng lại cách cuối đường băng đúng 10 feet.

    Giọng nói đầu tiên vang lên trong buồng lái là của Bell. “Được rồi, Percey, ra ngay! Chạy ra!”

    “Tôi còn phải…”

    “Bây giờ tôi mới là người chỉ huy!”, viên thám tử gầm lên. “Tôi phải lôi cô ra khỏi đây, tôi sẽ làm thế đấy. Giờ thì ra ngay không!”

    Bell lùa cả cô và Brad ra ngoài, rồi đến lượt anh nhảy xuống mặt đường bê tông, dẫn họ chạy xa khỏi chiếc máy bay. Anh hét lên với những nhân viên cứu hộ đang bắt đầu phun bọt cứu hỏa vào các bánh xe bốc khói. “Trên máy bay có bom đấy, có thể nổ bất kỳ lúc nào. Trong buồng động cơ. Đừng lại gần!”. Một trong hai khẩu súng của Bell đã lăm lăm trên tay từ lúc nào và anh căng mắt lia qua đám đông nhân viên cứu hộ đang vây quanh chiếc máy bay. Như trước kia chắc hẳn Percey đã nghĩ anh đang bị hoang tưởng. Nhưng bây giờ thì không.

    Cách chiếc máy bay khoảng hơn 100 feet họ dừng lại. Chiếc xe chuyên dụng của Đội rà phá bom mìn thuộc Sở Cảnh sát Denver vừa trờ tới. Bell vẫy nó rẽ về phía mình.

    Một viên cảnh sát cao lòng khòng trong trang phục cao bồi bước từ trong xe bước ra. Hai người chìa phù hiệu ra cho nhau kiểm tra và Bell giải thích cho anh ta về quả bom, về vị trí của nó trên máy bay theo họ nghĩ.

    “Vậy là”, tay cảnh sát Denver nói, “các vị không chắc chắn là nó có trên máy bay”.

    “Không. Không phải 100%”

    Thế nhưng đúng lúc Percey vô tình liếc nhìn chiếc Foxtrot Bravo – lớp vỏ bạc lộng lẫy của nó bị phủ lỗ chỗ những màng bọt cứu hỏa, loang loáng phản chiếu ánh đèn pha gay gắt – một tiếng nổ dữ dội đến đinh tai bỗng cất lên. Tất cả mọi người trừ Percey và Bell đều vụt nằm thụp xuống đất trong khi toàn bộ nửa phía sau của chiếc máy bay nổ tan tành trong một quầng lửa màu cam khổng lồ, bắn tung tóe những mẩu kim loại vào không trung.

    “Ôi”, Percey chết lặng người, theo bản năng cô đưa tay lên bụm miệng lại.

    Tất nhiên trong các bình chứa không còn chút nhiên liệu nào, nhưng phần nội thất của chiếc máy bay – ghế ngồi, dây điện, thảm lót sàn, những chi tiết nhựa, và cả lượng hàng quý giá – bốc cháy dữ dội trong khi mấy chiếc xe cứu hỏa khôn ngoan chờ đợi trong giây lát rồi mới ùa lên phía trước, vô ích đua nhau phun thêm bọt trắng xóa lên cái xác chết bằng kim loại đã bị phá hủy hoàn toàn.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này