Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI LĂM

    Sáng hôm sau, Lincoln Rhyme lại ở một mình. Thom đã đi mua sắm và Mel Cooper đang ở phòng thí nghiệm IRD tại trung tâm. Vince Peretti đã làm xong công việc khám nghiệm hiện trường tại khu biệt thự ở East Van Brevoort và nhà của Sachs. Họ tìm được rất ít manh mối mặc dù Rhyme cho rằng đó là do thủ phạm quá thông minh chứ không phải do tài năng không ổn định của Peretti.

    Rhyme đang đợi báo cáo hiện trường vụ án. Nhưng cả Dobyns và Sellitto đều tin rằng 823 đã trốn bặt – ít nhất là tạm thời. Trong mười hai giờ qua, không có vụ tấn công cảnh sát và nạn nhân nào bị bắt cóc.

    Người canh phòng cho Sachs – một sĩ quan tuần tra to lớn từ MTS – đã cùng đi với cô tớ gặp bác sĩ tai mũi họng tại bệnh viện ở Brooklyn; đất có ảnh hưởng lớn đến họng của cô. Rhyme cũng có vệ sĩ – một sĩ quan mặc cảnh phục từ Đồn Hai mươi, đóng ngay trước khu nhà của anh – một cảnh sát thân thiện mà anh đã biết nhiều năm qua, người Rhyme rất thích tranh luận về ảnh hưởng của than bùn đến việc sản xuất whisky ở Ireland và Scotland.

    Rhyme đang rất vui. Anh gọi xuống dưới nhà qua máy liên lạc nội bộ. “Tôi có hẹn với bác sĩ trong một, hai giờ tới. Cậu có thể cho ông ta lên.”

    Viên cảnh sát nói, anh ta sẽ làm theo.
    [IMG]
    Bác sĩ William Berger bảo đảm với Rhyme rằng lần này ông ta sẽ đến đúng giờ.

    Rhyme ngả đầu xuống gối và nhận ra trong phòng không chỉ có mình anh. Trên gở cửa sổ, những con chim ưng đang bước đi. Õng ẹo một cách hiếm thấy, chúng có vẻ bất ổn. Một cơn đau nữa lại đến. Cửa sổ của Rhyme cho thấy bầu trời yên bình, nhưng anh tin tưởng lũ chim. Chúng là dụng cụ đo khí áp chính xác.

    Anh nhìn lên cái đồng hồ treo trên tường. Đã 11:00. Như hai hôm trước, anh đang chờ sự xuất hiện của bác sĩ William Berger. Cuộc đời là thế, anh nghĩ: trì hoãn hết lần này đến lần khác, nhưng cuối cùng với chút may mắn, ta vẫn đến được nơi ta cần đến.

    Anh xem ti vi khoảng hai mươi phút, tìm kiếm tin tức về những vụ bắt cóc. Nhưng tất cả các đài đều đưa tin đặc biệt về ngày khai mạc hội nghị Liên Hiệp Quốc. Rhyme thấy những tin tức này buồn chán và quay lại với Matlock[141], rồi chuyển sang kênh CNN với nữ phóng viên xinh đẹp đứng bên ngoài toà nhà trụ sở Liên Hiệp Quốc, cuối cùng anh tắt máy.

    Chuông điện thoại reo, anh làm một loạt động tác phức tạp để nhấc máy. “Tôi nghe.”

    Một khoảng im lặng trước khi giọng một đàn ông vang lên: “Lincoln, đúng không?”

    “Đúng.”

    “Jim Polling đây. Anh thế nào?”

    Rhyme nhận ra rằng từ sáng sớm hôm qua anh đã không gặp viên đại uý, ngoại trừ chương trình tin tức hội nghị tối hôm qua, lúc anh ta nhắc vở cho Thị trưởng và sếp Wilson.

    “Ổn rồi. Có tin gì về thủ phạm của ta không?” Rhyme hỏi.

    “Chưa có gì. Nhưng chúng ta sẽ tóm được hắn.” Một khoảng im lặng nữa.

    “Này, anh ở nhà có một mình à?”

    “Ừ.”

    Một khoảng im lặng lâu hơn.

    “Tôi đến, được chứ?”

    “Chắc rồi.”

    “Nửa tiếng nữa, được chứ?”

    “Tôi sẽ ở đây”, Rhyme vui vẻ nói.

    Anh ngả đầu xuống gối, ánh mắt anh lướt qua sợi dây phơi buộc nút treo bên cạnh tấm áp phích. Vẫn chưa có câu trả lời về cái nút buộc. Đó là – anh cười thành tiếng vì câu đùa – là phần còn thừa. Anh thấy khó chịu với ý tưởng bỏ vụ này mà không phát hiện ra đó là kiểu nút thắt nào. Rồi anh chợt nhớ ra Jim Polling là người câu cá. Có thể anh sẽ nhận ra...

    Polling, Rhyme trầm ngâm.

    James Polling...

    Cái cách viên đại uý dai dẳng yêu cầu Rhyme tham dự vụ án thật là buồn cười. Cách anh ta đấu tranh để giữ anh trong vụ này thay vì Peretti – người sẽ là lựa chọn tốt hơn, về mặt chính trị cho Polling. Nhớ lại cái cách anh ta nổi giận với Dellray khi viên đặc vụ này cố chiếm lấy vụ điều tra từ NYPD.

    Bây giờ anh nghĩ tới việc đó, toàn bộ sự liên quan của Polling vào vụ này là một điều bí ẩn. 823 không phải là loại tội phạm mà anh tự nguyện – ngay cả khi anh muốn có một vụ ngon lành để thêm vào lý lịch công việc. Quá nhiều rủi ro để mất nạn nhân, quá nhiều cơ hội cho báo chí – và giới quan chức – đánh hơi anh để làm thịt.

    Polling... nhớ lại cách anh ta lao vào phòng anh, kiểm tra tiến độ công việc rồi bỏ đi.

    Tất nhiên rồi, anh ta báo cáo cho Thị trường và sếp. Nhưng – một ý nghĩ bất ngờ vụt hiện trong đầu Rhyme – liệu Polling còn báo cáo cho ai đó khác hay không?

    Ai đó muốn tìm hiểu về cuộc điều tra? Có thể chính là hắn?

    Nhưng làm thế nào mà Polling có quan hệ với 823? Có vẻ như...

    Thế rồi điều đó khiến anh sợ hãi.

    Liệu Polling có thể thủ phạm không?

    Tất nhiên là không. Thật lố bịch. Nực cười. Ngay cả không tính đến động cơ và phương tiện, ta vẫn còn câu hỏi về cơ hội. Viên đại úy đã ở đây, trong phòng của Rhyme, khi mấy vụ bắt cóc diễn ra...

    Nhưng có phải thế không?

    Rhyme nhìn lên bản hồ sơ treo trên tường.

    Quần áo tối màu và chiếc quần dài bông nhàu nát. Polling mặc quần áo thể thao tối màu suốt mấy ngày qua. Nhưng thế thì sao? Nhiều người cũng làm thế...

    Cánh cửa dưới nhà mở ra rồi đóng lại.

    “Thom?”

    Không có tiếng trả lời. Người trợ lý sẽ không trở lại sau vài giờ nữa.

    “Lincoln?”

    Ồ không. Quỷ thật. Anh bắt đầu quay số bằng bộ ECU.

    9-1-

    Cằm anh đấy con trỏ sang số 2.

    Tiếng bước chân dưới cầu thang.

    Anh thử quay số lại, nhưng trong cơn tuyệt vọng anh đẩy thanh điều khiển ra khỏi tầm với.

    Jim Polling vào phòng. Rhyme đã hy vọng người lính canh sẽ gọi anh trước. Nhưng tất nhiên là anh chàng cảnh sát tuần tra sẽ để viên đại úy mà không cần suy nghĩ.

    Cái áo khoác tối màu của Polling mở phanh ra và Rhyme nhìn thấy khẩu tự động anh ta đeo bên hông. Anh không biết liệu đó có phải súng anh ta được cấp hay không. Nhưng anh biết Colt.32 là loại súng trong danh sách vũ khí cá nhân được chấp nhận của NYPD.

    “Chào Lincoln”, Polling nói. Anh ta trông rõ ràng có vẻ bất ổn, cảnh giác. Anh ta nhìn khúc xương sống trắng bệch.

    “Cậu thế nào, Jim?”

    “Không tệ.”

    Polling là người ưa hoạt động. Liệu vết sẹo trên ngón tay có thể là dấu tích của nhiều năm quăng dây câu? Hay một sự cố với con dao săn? Rhyme cố nhìn nhưng Polling vẫn đút tay trong túi. Anh ta có giấu gì trong đó không? Một con dao?

    Chắc chắn Polling hiểu về hiện trường vụ án và pháp y – anh ta biết làm thế nào để không để lại vật chứng.

    Cái mặt nạ trượt tuyết? Nếu Polling là thủ phạm, chắc chắn anh ta phải đeo mặt nạ – vì một trong những nạn nhân sau này có thể nhìn thấy anh ta. Và nước hoa dùng sau khi cạo râu... Nếu nghi phạm thực sự không dùng nước hoa dùng sau khi cạo râu mà chỉ đem theo một lọ để phun ra hiện trường khiến họ tin rằng hắn có dùng? Như vậy, khi Polling tới đây, không dùng tí nước hoa nào, sẽ chẳng có ai nghi ngờ anh ta.

    “Anh có một mình thôi à?” Anh ta hỏi.

    “Trợ lý của tôi...”

    “Viên cảnh sát dưới nhà nói anh ta sẽ đi vắng một lúc.”

    Thân hình Polling nhỏ nhắn nhưng khỏe mạnh, tóc màu cát. Lời nói của Terry Dobyns trở lại trong đầu anh: một người hữu ích, thẳng thắn. Một nhân viên hoạt động xã hội, luật sư, nhà chính trị. Người hay giúp đỡ kẻ khác.

    Như một cảnh sát.

    Rhyme đang băn khoăn liệu anh sắp phải chết hay chưa. Và thấy sốc khi nhận ra mình không muốn. Không phải kiểu này, không phải theo điều kiện của người khác.

    Polling tiến về phía chiếc giường.

    Nhưng anh chẳng thể làm được gì. Hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhân từ của người đàn ông này.

    “Lincoln”, Polling nói, vẻ nghiêm trọng.

    Ánh mắt họ gặp nhau và một cảm giác về sự liên kết như luồng điện chạy qua người họ. Những tia lửa khô khốc. Viên đại úy nhìn nhanh ra cửa sổ. “Anh cũng đang băn khoăn, đúng không?”

    “Băn khoăn?”

    “Lý do tôi muốn anh vào vụ này.”

    “Tôi nghĩ đó là vì tính cách của tôi.”

    Viên đại uý không cười.

    “Vì sao anh lại muốn tôi, Jim?”

    Các ngón tay của viên đại uý đan vào nhau. Mảnh dẻ, nhưng mạnh mẽ. Bàn tay của một người câu cá, môn thể thao có vẻ hiền lành, nhưng mục tiêu lại là lôi con vật tội nghiệp ra khỏi nhà của nó, mổ bụng nó bằng một lưỡi dao sắc ngọt.”

    “Bốn năm trước, vụ Shepherd. Chúng ta làm cùng nhau.”

    Rhyme gật đầu.

    “Những người công nhân tìm thấy xác viên cảnh sát đó trong ga tàu điện ngầm.”

    Tiếng răng rắc, Rhyme nhớ lại, như âm thanh của tàu Titanic đang chìm trong phim A night to remember. Sau đó là tiếng nổ như tiếng súng khi thanh rầm rơi xuống cái cổ không may mắn của anh, và bụi đất bao trùm lấy anh.

    “Và anh tự khám nghiệm hiện trường, như mọi khi.”

    “Đúng thế.”

    “Anh có biết chúng tôi kết án Shepherd thế nào không? Chúng tôi có một nhân chứng.”

    Một nhân chứng? Rhyme chưa được nghe điều đó. Sau vụ tai nạn, anh đã mất hết tất cả manh mối liên quan đến vụ án, ngoại trừ việc Shepherd đã bị kết án và ba tháng sau đã bị một kẻ tấn công đâm đến chết trên đảo Riker. Tên này không bao giờ bị bắt.

    “Một nhân chứng”, Polling nói tiếp. “Hắn có thể đặt Shepherd với vũ khí giết người vào nhà một nạn nhân.” Viên đại úy tiến lại gần giường hơn, đứng khoanh tay. “Chúng tôi có nhân chứng một ngày trước khi phát hiện cái xác cuối cùng – cái xác dưới tàu điện ngầm. Trước khi tôi yêu cầu anh khám nghiệm hiện trường.”

    “Anh nói gì thế, Jim?”

    Mắt viên đại úy cắm xuống sàn.

    “Chúng tôi không cần anh. Chúng tôi không cần báo cáo của anh."

    Rhyme im lặng.

    Polling gật đầu. “Anh hiểu điều tôi nói chứ? Tôi đã rất muốn bắt tên Shepherd đó... Tôi muốn có một vụ thật chặt chẽ. Và anh biết là báo cáo hiện trường vụ án của Lincoln Rhyme sẽ làm điều gì với luật sư bảo vệ rồi đấy. Nó làm cho bọn họ sợ mất mật.”

    “Nhưng Shepherd có thể vẫn bị kết án mà không cần đến báo cáo về hiện trường dưới tàu điện ngầm của tôi.”

    “Đúng thế, Lincoln. Nhưng còn tệ hơn thế nữa. Anh biết không tôi được bên thiết kế giao thông cho biết chỗ đó không an toàn.”

    “Ga tàu điện ngầm. Và anh vẫn để tôi khám nghiệm hiện trường trước khi họ chống lại nó?”

    “Shepherd giết cảnh sát.” Mặt Polling nhăn nhúm vì ghê tởm. “Tôi rất muốn bắt được hắn. Tôi sẽ làm mọi thứ để tóm hắn. Nhưng...” Anh ta lấy tay che mặt.

    Rhyme im lặng. Anh nghe thấy tiếng răng rắc của thanh rầm, tiếng nổ tung của gỗ gãy. Sau đó là tiếng xào xạc của đám bụi xung quanh anh. Sự bình an ấm áp, lạ lùng trong cơ thể lúc trái tim anh phập phồng vì hoảng sợ.

    “Jim...”

    “Chính vì thế tôi muốn anh vào vụ này, Lincoln. Anh thấy không?” Một cái nhìn khốn khổ xuất hiện trên khuôn mặt cứng rắn của viên đại úy; anh ta nhìn chằm chằm vào đốt xương sống trên bàn. “Tôi vẫn được nghe những câu chuyện nói rằng cuộc đời anh coi như đã vứt đi. Anh đang bị bỏ phí ở đây. Định tự tử. Tôi thấy có lỗi kinh khủng. Tôi muốn trả lại anh một phần cuộc sống.”

    Rhyme nói: “Và anh đã sống với điều này suốt ba năm rưỡi qua?”

    “Anh biết tôi rồi đấy, Lincoln. Mọi người biết tôi. Tôi bắt được ai đó, hắn phản ứng lại, hắn sẽ toi. Tôi đã chơi rắn với vài tên, tôi không dừng lại tới khi thằng khốn bị đóng gói rồi dán nhãn. Tôi không kiểm soát được điều đó. Tôi biết là đôi khi tôi đã quá tay với mọi người. Nhưng chúng là tội phạm – hay ít nhất là nghi phạm. Chúng không phải người của tôi, chúng không phải cảnh sát. Điều này xảy ra với anh... là tội ác. Là quá sai.”

    “Tôi không phải lính mới”, Rhyme nói. “Tôi không phải khám nghiệm hiện trường nếu tôi nghĩ nơi đó không an toàn.”

    “Nhưng...”

    “Không đúng lúc chăng?” Một giọng nói khác vang lên ngoài cửa.

    Rhyme ngẩng lên, nghĩ rằng sẽ trông thấy Berger. Nhưng đó là Peter Taylor, ông ta đang lên cầu thang. Rhyme nhớ là ông ta đã đến đây ngày hôm nay để chăm sóc bệnh nhân sau khi bị mất phản xạ. Anh cũng nghĩ rằng ông bác sĩ sẽ lại cho anh một bài về Berger và Hội Bến mê. Anh thì không có tâm trạng cho việc này; anh muốn có thời gian ở một mình – để tiêu hoá lời thú tội của Polling. Lúc này, nó cũng chỉ nằm đó, tê liệt như chính bắp đùi của Rhyme. Nhưng anh nói: “Vào nhà đi, Peter.”

    “Cậu có hệ thống an ninh rất buồn cười, Lincoln ạ. Người bảo vệ hỏi tôi có phải là bác sĩ không rồi anh ta cho tôi lên. Sao thế? Vậy luật sư và kế toán bị đá đít à?”

    Rhyme cười. “Tôi chỉ cần một giây thôi.” Rhyme quay lại với Polling. “Số phận thôi, Jim ạ. Điều xảy ra với tôi ấy mà. Tôi chỉ ở không đúng nơi và không đúng lúc thôi. Thỉnh thoảng điều đó vẫn xảy ra.”

    “Cảm ơn, Lincoln.” Polling đặt tay lên vai Rhyme và bóp nhẹ.

    Rhyme gật đầu, và để tránh sự biết ơn không dễ dàng, anh giới thiệu hai người với nhau. “Jim, đây là Peter Taylor, một trong những bác sĩ của tôi. Còn đây là Jim Polling, chúng tôi đã từng làm việc với nhau.”

    “Rất vui được gặp anh”, Taylor nói, chìa tay phải ra. Đó là một cử động dài và ánh mắt Rhyme nhìn theo nó, vì một lý do nào đó anh nhận ra vết sẹo hình vành trăng sâu trên ngón tay trỏ của Taylor.

    “Không!” Rhyme la lớn.

    “Vậy mày cũng là cớm.” Taylor nắm chặt tay Polling trong khi hắn thọc ba lần lưỡi dao đang được hắn nắm chắc bên tay trái vào ngực viên đại úy, xuyên qua kẽ xương sườn với sự tinh tế của một bác sĩ phẫu thuật. Chắc chắn là hắn không phạm đến chiếc xương quý giá.



  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI SÁU

    Chỉ với hai bước dài Taylor đã đến bên chiếc giường. Hắn vớ lấy bộ điều khiển ECU đang nằm dưới ngón tay Rhyme và ném nó đi.

    Rhyme lấy hơi để thét gọi. Nhưng tên bác sĩ nói: “Hắn cũng chết rồi. Tên cớm.” Hất đầu về phía cửa, chỉ người cận vệ dưới nhà. Taylor thích thú nhìn Polling đang giãy giụa như một con thú gãy lưng, phun máu ra nền nhà và lên tường.

    “Jim!” Rhyme gào lên. “Không, ôi, không...”

    Hai bàn tay viên đại uý ôm lấy lồng ngực bị rạch nát của anh ta. Tiếng ằng ặc đáng sợ của anh ta tràn ngập căn phòng, cộng với tiếng đế giày đập như điên dại xuống sàn khi anh ta chết. Cuối cùng, anh ta giật bắn người một lần nữa rồi nằm yên. Hai con mắt mờ đục, lấm tấm máu của anh ta nhìn lên trần nhà.

    Quay lại phía Rhyme, hắn nhìn chằm chằm vào anh khi đi vòng quanh chiếc giường. Đi vòng quanh, dao trên tay. Hơi thở lạnh lùng.

    “Ông ai?” Rhyme thở hổn hển.

    Taylor từ từ tiến lại gần hơn, đặt các ngón tay lên tay Rhyme và bóp xương vài lần, có thể mạnh, có thể đau, có thể không. Bàn tay hắn lần xuống ngón tay đeo nhẫn bên trái của Rhyme. Hắn nhấc nó ra khỏi bộ điều khiển ECU và chăm sóc nó bằng lưỡi dao đang nhỏ máu. Thọc đầu nhọn con dao vào móng tay.

    Rhyme cảm thấy một cơn đau mờ nhạt, một cảm giác buồn nôn. Sau đó đau hơn. Anh thở hổn hển.

    Sau đó, Taylor nhận thấy điều gì đó và cứng đờ người. Hắn thở hổn hển. Cúi người ra trước. Nhìn chằm chằm vào cuốn sách Crime in Old New York trên chiếc giá lật trang.

    “Ra thế... Mày tìm được nó đấy... Ồ, bọn cớm chắc phải tự hào lắm vì có mày trong đội ngũ, Lincoln Rhyme ạ. Tao đã nghĩ phải mất nhiều ngày thì bọn mày mới tìm được ngôi nhà. Tao nghĩ lúc đó Maggie đã bị lũ chó xé nát rồi.”

    “Sao ông lại làm thế?” Rhyme hỏi.

    Nhưng Taylor không trả lời, hắn đang cẩn thận xem xét Rhyme, lẩm bẩm như nói với chính mình: “Trước đây, mày không được giỏi thế này, mày biết không? Ngày xưa ấy mà. Khi đó mày bỏ qua nhiều thứ quá, đúng không? Ngày xưa ấy mà.”

    Ngày xưa... ý hắn ta là gì?

    Hắn lắc lắc cái đầu hói, tóc hoa râm – không phải nâu – và liếc nhìn cuốn sách pháp y của Rhyme. Có sự thừa nhận trong mắt hắn và Rhyme dần dần hiểu ra.

    “Ông đọc sách của tôi”, nhà hình sự học nói. “Ông nghiên cứu nó. Trong thư viện, đúng không? Chi nhánh thư viện công cộng gần nhà ông?”

    Cuối cùng thì 823 cũng là một kẻ đọc sách.

    Vì thế hắn biết quy trình khám nghiệm hiện trường của Rhyme. Vì thế hắn quét chúng cẩn thận, vì thế hắn đeo găng tay khi sờ vào những bề mặt mà hầu hết bọn tội phạm không nghĩ là sẽ để lại dấu tay, vì thế hắn phun nước hoa dùng sau khi cạo râu tại hiện trường – hắn biết chính xác Sachs sẽ tìm kiếm thứ gì.

    Và tất nhiên cẩm nang đó không phải là cuốn duy nhất hắn đọc.

    Cả Scenes of The Crime nữa. Cuốn này cho hắn ý tưởng về những manh mối để lại – những manh mối New York cổ xưa. Những manh mối chỉ Rhyme mới có thể giải mã.

    Taylor nhặt đĩa có đốt xương sống mà hắn đưa cho Rhyme tám tháng trước lên. Hắn lơ đãng xoay xoay nó giữa các ngón tay. Và Rhyme nhìn thấy món quà, khi đó thật cảm động, nhưng giờ hoá ra lại là một lời nói đầu thật kinh khủng.

    Mắt hắn không tập trung, nhìn xa xăm. Rhyme nhớ lại trước đây anh đã nhìn thấy điều đó – khi Taylor khám cho anh trong những tháng qua. Anh đã xem điều đó là sự tập trung của một bác sĩ nhưng giờ anh hiểu, đó là sự điên loạn. Khả năng kiềm chế mà anh đang cố duy trì dần biến mất.

    “Nói cho tôi biết”, Rhyme hỏi. “Vì sao?”

    “Vì sao à?” Taylor thầm thì, lướt tay trên chân Rhyme, ấn thử lần nữa, đầu gối, da, mắt cá chân. “Vì mi rất tuyệt vời, Rhyme ạ. Độc đáo. Mi là người không có điểm yếu.”

    “Ý ông là gì?”

    “Làm sao có thể trừng phạt được một người đang muốn chết? Nếu ta giết hắn, ta đã làm điều hắn muốn. Vì thế ta phải làm cho mi muốn sống.”

    Cuối cùng thì câu trả lời cũng đến với Rhyme.

    Ngày xưa...

    “Đồ giả phải không?” Anh thầm thì. “Bản cáo phó từ nhân viên điều tra đột tử ở Albany. Chính ông viết nó.”

    Collin Stanton. Bác sĩ Taylor chính là Colin Stanton.

    Người đàn ông có gia đình bị tàn sát ngay trước mắt ông ta, trên những con phố của khu Chinatown. Người đàn ông đứng đó, tê liệt trước thi thể của vợ và hai đứa con, nhìn họ mất máu cho đến chết, ghê sợ khi không dám lựa chọn cứu ai trong số họ.

    Mi bỏ qua nhiều thứ. Ngày xưa.

    Miếng ghép cuối cùng đã vào đúng chỗ, nhưng quá muộn.

    Việc hắn nhìn các nạn nhân: T.J. Colfax, Monelle và Carole Ganz. Hắn chấp nhận nguy cơ bị bắt để đứng lại và nhìn họ – đúng như Stanton đứng nhìn gia đình mình, nhìn họ đã chết dần. Hắn muốn báo thù nhưng hắn lại là bác sĩ, hắn đã thề không bao giờ giết người, vì thế để có thể giết chóc hắn phải trở thành tổ tiên tinh thần của chính mình – Kẻ Tầm Xương, James Schneider, một tên điên loạn của thế kỷ XIX, người có gia đình bị cảnh sát làm tan nát.

    “Sau khi ra khỏi nhà thương điên, ta quay lại Manhattan. Ta đọc báo cáo điều tra về việc mi đã bỏ qua tên giết người tại hiện trường vụ án như thế nào, hắn thoát khỏi căn hộ đó ra sao. Ta biết ta phải giết mi. Nhưng ta không thể. Ta không biết vì sao... Ta cứ đợi, đợi điều gì đó xảy ra. Rồi sau đó, ta tìm thấy cuốn sách. James Schneider... Hắn đã trải qua chính xác những gì mà ta đã trải qua. Hắn đã làm được, ta cũng làm được.”

    Ta sẽ lóc họ đến tận xương.

    “Bản cáo phó”, Rhyme nói.

    “Đúng thế. Chính ta viết nó trên máy tính. Fax nó đến NYPD để họ không nghi ngờ. Sau đó, ta trở thành một người khác. Bác sĩ Peter Taylor. Mãi về sau ta mới nhận ra vì sao ta chọn cái tên này. Mi nghĩ ta được không?” Stanton nhìn lên tấm bảng trên tường. “Câu trả lời ở đó.”

    Rhyme nhìn qua hồ sơ.


    - Biết tiếng Đức cơ bản


    Schneider”, Rhyme nói, thở dài mệt mỏi. “Tiếng Đức là thợ may[142].”

    Stanton gật đầu. “Ta đã ở thư viện hàng tuần, đọc về chấn thương cột sống và sau đó gọi điện cho mi, nói rằng ta được SCI Columbia giới thiệu. Ta định giết mi ngay từ lần đầu tiên, lóc từng rẻo thịt của mi ra, để cho mi mất máu đến chết. Sẽ phải mất vài giờ, thậm chí vài ngày. Nhưng chuyện gì xảy ra?” Mắt hắn mở to.” Ta thấy mi muốn tự giết mình.”

    Hắn cúi xuống gần Rhyme. “Lạy Chúa, ta vẫn nhớ lần đầu tiên ta nhìn thấy mi. Đồ khốn kiếp. Mi chết rồi. Thế là ta biết ta phải làm gì – ta phải là cho mi muốn sống. Ta phải cho mi mục tiêu để sống.”

    Tức là hắn bắt ai không quan trọng. Ai cũng được. “Thậm chí ông không quan tâm nạn nhân sống hay chết.”

    “Tất nhiên là không. Điều tao muốn là bắt mi cố cứu họ.”

    “Nút thắt”, Rhyme hỏi, nhìn thấy là vòng dây phơi treo cạnh tấm áp phích. “Đấy là mũi khâu phẫu thuật.”

    Hắn gật đầu.

    “Tất nhiên rồi. Còn vết sẹo trên tay ông?”

    “Ngón tay ta?” Hắn nhăn mặt. “Làm sao mi... Cổ cô ta! Mi lấy dấu tay trên cổ Hanna. Ta biết là có thể. Ta không nghĩ đến điều đó.” Tự giận mình. “Ta đập vỡ cốc trong thư viện của nhà thương điên”, Stanton tiếp tục. “Để tự cắt cổ tay. Ta bóp cho đến khi nó vỡ tan.” Hắn cà điên dại vào vết sẹo trên ngón tay trỏ.

    “Những người đã chết”, Rhyme nói đều đều. “Vợ và các con ông. Đó là tai nạn. Một tai nạn khủng khiếp, đáng sợ. Nhưng không phải là cố tình. Đó là một sự sai lầm. Tôi rất lấy làm tiếc cho ông và cho họ.”

    Bằng một giọng ngân nga, Stanton quở trách: “Có nhớ mi đã viết gì không?... Trong lời mở đầu cuốn sách giáo khoa của mi?” Hắn trích dẫn một cách chính xác. “Một nhà hình sự học biết rằng mỗi hành động đều có hậu quả. Sự hiện diện của tội phạm làm biến đổi mọi hiện trường vụ án, bất kể nó mờ nhạt đến đâu. Chính vì thế chúng ta có thể phát hiện, định vị được bọn tội phạm và nắm được công lý.” Stanton nắm tóc Rhyme và kéo đầu anh ra phía trước. Họ chỉ cách nhau vài inch. Rhyme có thể ngửi thấy hơi thở của tên điên loạn, thấy được những giọt mồ hôi trên làn da màu xám. “Được rồi, ta là hậu quả cho những hành động của mi.”

    “Ông sẽ đạt được điều gì? Ông có giết tôi thì tôi cũng không tệ hơn bây giờ.”

    “Ồ, nhưng ta chưa giết ngươi. Chưa đâu.”

    Stanton thả tóc Rhyme ra, lùi lại.

    “Mi có biết ta sẽ làm gì không?” Hắn thầm thì. “Ta sẽ giết tay bác sĩ của ngươi, Berger. Nhưng không theo cách giết của hắn. Ồ, không thuốc ngủ, không rượu. Ta sẽ xem hắn có thích chết theo cách truyền thống không. Sau đó là bạn mi, Sellitto. Còn sĩ quan Sachs? Cả cô ta nữa. Cô ta là người may mắn đấy. Nhưng lần sau ta sẽ tóm được cô ta. Một lần chôn cất cho cô ta nữa nhé. Tất nhiên cả Thom nữa. Nó sẽ chết ngay ở đây, trước mặt mi. Ta sẽ lóc nó đến tận xương... đẹp đẽ và chậm rãi.” Hơi thở của Stanton gấp gáp. “Có thể ta sẽ chăm sóc nó ngay hôm nay. Khi nào thì nó về nhỉ?”

    “Tôi đã sai lầm. Đó là...” Bất ngờ Rhyme ho dữ dội. Anh hắng giọng, cố lấy lại hơi thở. “Đó là lỗi của tôi. Ông làm gì tôi cũng được.”

    “Không. Không phải là mi. Đó là...”

    “Làm ơn di. Ông không thể...” Rhyme lại bắt đầu ho. Cơn ho biến thành những cơn rung toàn thân. Anh không thể điều khiển được mình nữa rồi.

    Stanton nhìn anh.

    “Ông không thể làm đau họ. Tôi sẽ làm điều gì đó...” Giọng của Rhyme gấp gáp. Đầu anh lật ra sau, mắt lồi ra.

    Hơi thở của Lincoln Rhyme ngừng hẳn. Đầu anh lắc lư, vai rung bần bật. Gân cổ cứng như dây thép.

    “Rhyme!” Stanton gào lên.

    Sùi bọt mép, môi phun nước bọt, Rhyme giật người một lần, hai lần như thể một cơn động đất tràn qua cơ thể mềm oặt của anh. Đầu anh rơi ra sau, khoé miệng rỉ máu.

    “Không!” Stanton hét lên. Ấn tay vào ngực Rhyme. “Mi không được chết!”

    Viên bác sĩ lật mí mắt Rhyme, nhìn thấy toàn lòng trắng.

    Stanton mở tung hộp cứu thương của Thom và lấy mũi tiêm huyết áp dưới da, tiêm thuốc. Hắn ném cái gối khỏi giường và kéo Rhyme nằm thẳng ra. Hắn lật ngửa đầu Rhyme, lau môi và áp miệng hắn vào miệng Rhyme, thỏi mạnh vào hai lá phổi đã tê liệt của Rhyme.

    “Không!” Stanton phát khùng. “Ta không cho mi chết! Mi không được chết.”

    Không một chút phản hồi.

    Một lần nữa. Hắn kiểm tra đôi mắt bất động.

    “Nào! Nào!”

    Một lần hà hơi nữa. Đập vào bộ ngực bất động.

    Sau đó hắn lùi lại, chết cứng vì hoảng loạn và sốc, nhìn, nhìn chằm chằm người đàn ông đang chết trước mặt hắn.

    Cuối cùng hắn cúi xuống và thổi thật sâu vào miệng Rhyme lần cuối cùng.

    Và đúng vào lúc Stanton nghiêng đầu, ghé tai để lắng nghe một âm thanh yếu ớt của hơi thở, bất kỳ tiếng thở ra yếu ớt nào, Rhyme phóng về phía trước như một con rắn đang mổ. Anh cắn chặt răng vào cổ Stanton, xé tung động mạch cảnh và cắn môi vào một phần xương sống của người đàn ông.

    Đến tận...

    Stanton gào lên vào quờ quạng vật ra sau, kép Rhyme ngã khỏi giường và rơi đè lên hắn. Họ nằm trên sàn. Máu nóng phun ra, ngập trong miệng Rhyme.

    ... xương

    Lá phổi của anh, hai lá phổi sát thủ của anh, đã không có không khí suốt một phút, nhưng anh từ chối không nhả ra để lấy hơi, bỏ qua cơn đau đớn khủng khiếp bên trong má, nơi làn da mềm mại bị anh cắn đến chảy máu để làm cho cơn đột quỵ do mất phản xạ của anh đến nhanh hơn. Anh gầm gừ trong cơn giận dữ – tưởng tượng cảnh Amelia Sachs bị chôn dưới đất, tưởng tượng cảnh hơi nước phun lên cơ thể T.J. Colfax – anh lắc đầu, cảm thấy tiếng lạo xạo của xương và sụn.

    Stanton lại gào lên, đập dữ dội vào ngực Rhyme. Đạp chân để thoát khỏi con quái vật đã cắm chính nó vào hắn ta.

    Nhưng không thể thoát khỏi hàm răng của Rhyme. Dường như tinh thần của tất cả các cơ bắp thịt đã chết trong cơ thể anh dồn cả lên hai hàm răng.

    Stanton bò tới cái bàn đầu giường và cố với được con dao của hắn. Hắn đánh mạnh vào Rhyme. Một lần, hai lần. Nhưng những nơi duy nhất hắn có thể với tới là tay chân của nhà hình sự học. Cơn đau là thứ làm người ta tê liệt, nhưng cơn đau lại là thứ Rhyme hoàn toàn miễn dịch.

    Hai hàm răng anh nghiến chặt hơn, tiếng thét của Stanton tắt ngấm lúc khí quản hắn đứt rời. Hắn thọc dao sâu vào tay của Rhyme. Con dao bị chặn lại khi chạm đến xương. Hắn bắt đầu rút nó ra để đâm lần nữa, nhưng cơ thể của tên điên loạn đột nhiên đông cứng rồi quẫy mạnh, một lần, hai lần, và hoàn toàn mềm oặt.

    Stanton đổ vật xuống sàn, kéo theo Rhyme. Đầu nhà hình sự học đập bộp xuống nền gỗ sồi. Nhưng anh không buông tha. Anh bám chặt, tiếp tục nghiến ngấu cổ của người đàn ông, lắc, xé thịt như con sư tử đói say máu và điên loạn bởi sự khoái lạc vô biên của cơn khát thèm được thoả mãn.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    V


    KHI TA DI CHUYỂN,

    CHÚNG KHÔNG THỂ BẮT ĐƯỢC TA


    Nghĩa vụ của người bác sĩ không chỉ là kéo dài cuộc sống, mà còn là chấm dứt sự khổ đau.
    BÁC SĨ JACK KEVORKIAN

    BA MƯƠI BẢY

    7:15 PM đến 10:00 PM thứ Hai


    Khi Sachs bước vào phòng anh thì mặt trời đã sắp lặn.

    Cô không mặc đồ thể thao. Cũng không phải cảnh phục. Cô mặc quần bò và chiếc áo khoác màu xanh lá cây. Trên khuôn mặt xinh đẹp của cô có vài vết sẹo mà Rhyme không nhận thấy, mặc dù anh đoán với những sự kiện trong ba ngày qua thì những vết thương này không phải tự có.

    “Ái chà”, cô nói trong khi đi vòng quanh phần sàn nhà nơi Stanton và Polling đã chết. Chỗ đó đã được lau sạch bằng chất tẩy rửa – khi tên tội phạm đã vào trong quan tài thì pháp y trở thành thừa thãi – nhưng vết bẩn thì thật khổng lồ.

    Rhyme nhìn Sachs dừng lại và lạnh lùng gật đầu chào bác sĩ William Berger, ông ta đang đứng cạnh ô cửa sổ của con chim ưng với chiếc va li bên cạnh.

    “Anh tóm được hắn rồi, đúng không?” Cô hỏi, hất đầu về phía vết máu.

    “Ừ”, Rhyme nói. “Hắn toi rồi.”

    “Một mình anh?”

    “Cũng không công bằng lắm”, anh nói. “Anh phải cố kìm chế mình.”

    Phía bên ngoài, mặt trời đang xuống thấp, đổ thứ ánh sáng rực rỡ xuống thắp sáng những ngọn cây và đường viền của những toà nhà tinh tế dọc theo Đại lộ Năm phía bên kia công viên.

    Sachs liếc nhìn bác sĩ Berger, ông này nói: “Lincoln và tôi vừa có cuộc trao đổi nhỏ.”

    “Đúng thế ư?”

    Một khoảng im lặng thật dài.

    “Amelia”, anh bắt đầu. “Anh sẽ tiến hành thôi. Anh quyết định rồi.”

    “Em thấy rồi.” Đôi môi tuyệt đẹp của cô, đang bị những mũi khâu nhỏ xíu làm hỏng, hơi mím lại một chút. Đó là phản ứng duy nhất của cô. “Anh biết không, em rất ghét khi bị anh đem tên riêng ra gọi. Em rất ghét.”

    Làm thế nào mà anh giải thích được cho cô biết rằng là lý do chính để anh chọn cái chết cho mình? Buổi sáng hôm đó, khi thức dậy và có cô bên cạnh, anh buồn bã nhận ra rằng rồi cô sẽ bước xuống giường, mặc quần áo và đi ra cửa – trở lại với cuộc sống riêng của cô, cuộc sống bình thường. Vì sao, câu chuyện tình của họ đã kết thúc – nếu như anh dám nghĩ về họ như một đôi tình nhân. Việc cô tìm thấy một anh chàng Nick khác để yêu chỉ là vấn đề thời gian. Vụ 823 đã chấm dứt, và không có nó để liên kết họ lại thì cuộc sống của họ sẽ trôi ra rất xa nhau. Điều đó là chắc chắn.

    Ồ, Stanton thực sự thông minh hơn anh nghĩ. Rhyme đã bị lôi kéo tới bờ vực của thế giới thực thêm một lần nữa và, đúng thế, anh đã vượt qua nó, rất xa.

    Sachs, anh nói dối đấy. Đôi khi ta không thể bỏ qua những người đã chết. Đôi khi ta phải cùng đi với họ...

    Hai bàn tay nắm chặt, cô đi về phía cửa sổ. “Em đã cố gắng nghĩ ra một lý lẽ đủ mạnh mẽ để thuyết phục anh đừng làm điều đó. Anh biết đấy, một điều thực sự hấp dẫn. Nhưng em không thể. Tất cả những gì em có thể nói là em không muốn anh làm điều đó.”

    “Thoả thuận là thoả thuận, Sachs ạ.”

    Cô nhìn Berger. “Mẹ kiếp, Rhyme.” Bước tới phía giường, cô quỳ xuống. Cô đặt tay lên vai anh, vuốt tóc trên trán cho anh. “Nhưng anh làm cho em một việc nhé.”

    “Việc gì?”

    “Cho em một vài giờ.”

    “Anh không thay đổi ý định đâu.”

    “Em hiểu. Chỉ cần hai giờ thôi. Có một việc anh cần phải làm trước đã.”

    Rhyme nhìn Berger. Ông ta nói: “Tôi không thể ở lại lâu hơn được nữa, Lincoln. Máy bay của tôi... Nếu anh muốn đợi thì một tuần nữa tôi có thể quay lại...”

    “Được rồi, bác sĩ...”, Sachs nói. “Tôi sẽ giúp anh ấy.”

    “Cô?” Ông bác sĩ nghi ngờ hỏi.

    Cô miễn cưỡng gật đầu. “Vâng.”

    Đó là bản chất của cô. Rhyme có thể thấy rất rõ điều đó. Anh nhìn vào đôi mắt xanh của cô, tràn lệ nhưng thật trong sáng.

    Cô nói: “Khi em bị... khi hắn chôn sống em, Rhyme ạ, em không cử động được. Không một ly. Trong một khắc, em rất mong được chết. Không phải sống nữa, chỉ làm sao để chấm dứt điều đó. Em hiểu cảm giác của anh.”

    Rhyme chậm rãi gật đầu rồi nói với Berger: “Được rồi, bác sĩ. Anh có thể để lại... Ngày nay người ta gọi là gì nhỉ?”

    Đồ dùng cá nhân được không?” Berger đề xuất.

    “Ông có thể để nó trên bàn, ở đằng kia.”

    “Cô chắc chứ?” Ông ta hỏi Sachs.

    Cô lại gật đầu.

    Người bác sĩ để những viên thuốc, chai brandy và cái túi nhựa lên chiếc bàn đầu giường. Sau đó ông ta lục lọi trong va li. “Tôi sợ tôi không có dây chun. Buộc cái túi.”

    “Được rồi”, Sachs nói, nhìn xuống đôi giày của cô. “Tôi có vài sợi.”

    Sau đó Berger đi lại gần giường, đặt tay lên vai Rhyme. “Tôi chúc anh tự giải thoát bình yên”, ông ta nói.

    “Tự giải thoát”, Rhyme châm biếm nói khi Berger đi khỏi. Sau đó nói với Sachs: “Còn bây giờ, anh cần làm gì nhỉ?”



    Cô quay xe lúc đang chạy với tốc độ năm mươi dặm một giờ, trượt mạnh trên đường và êm ả chuyển sang số bốn.

    Gió thốc vào qua cửa sổ mở rộng, thổi tóc họ bay tung. Gió dữ dội nhưng Sachs chưa bao giờ nghe nói tới chuyện lái xe mà đóng cửa sổ.

    “Thế thì không phải là kiểu Mỹ rồi”, cô tuyên bố và vượt ngưỡng một trăm dặm một giờ.

    Khi ta di chuyển...

    Rhyme cho rằng sẽ sáng suốt hơn nếu họ lái xe trong bãi tập của NYPD nhưng anh không ngạc nhiên khi Sachs tuyên bố đó là đường chạy vớ vẩn; cô đanh bại nó ngay trong tuần đầu tiên tại học viện. Vậy là họ chạy ra Long Island, câu chuyện về lý do để “đối phó” với cảnh sát Hạt Nassau của họ đã sẵn sàng, vì họ đã luyện qua và nó có vẻ đáng tin.

    “Vấn đề của xe có năm số là số cao nhất không phải là số nhanh nhất. Đó là số chạy đường trường, em thì không quan tâm đến tiết kiệm xăng và đường trường”. Sau đó cô nắm lấy tay trái anh đặt chiếc núm tròn màu đen, trùm tay cô lên tay anh, về số.

    Động cơ gầm lên và họ vọt lên tốc độ một trăm hai mươi dặm một giờ, những ngôi nhà và hàng cây lao qua vun vút, những con ngựa đang ăn cỏ trên cánh đồng lo lắng ngẩng lên nhìn theo vệt đen của chiếc Chevrolet đang lao qua.

    Đỉnh quá, phải không Rhyme?” Cô nói to. “Hết ý, hơn cả sex. Hơn mọi thứ”.

    “Anh cảm thấy sự chuyển động”, anh nói. “Anh nghĩ là anh cảm thấy được. Ở ngón tay anh.”

    Cô cười. Anh tin rằng cô siết chặt tay anh trong bàn tay cô. Cuối cùng họ cũng chạy hết đoạn đường vắng, xung quanh lại đông người. Sachs miễn cưỡng giảm tốc độ, quay xe hướng về phía vầng trăng lưỡi liềm vừa mọc trên thành phố xa xa, gần như vô hình trong không khí tháng Tám ngột ngạt.

    “Thử chạy với tốc độ một trăm năm mươi xem sao”, cô đề nghị. Lincoln Rhyme nhắm mắt, thả mình vào trong gió, mùi cỏ mới cắt và tốc độ.



    Đó là buổi tối nóng nhất trong tháng.

    Từ điểm quan sát mới của mình, Lincoln Rhyme có thể nhìn xuống công viên, nhìn ngắm những kẻ lập dị ngồi trên ghế đá, những người chạy bộ kiệt sức, các gia đình ngồi quây quần quanh khói của chiếc bếp nướng thịt đang lụi tàn như những kẻ sống sót sau một cuộc chiến thời trung cổ.

    Thom đã cho đĩa CD vào máy – khúc khoan thai bi tráng cho đàn dây của Samuel Barber[143]. Nhưng Rhyme nở một nụ cười chế giễu, tuyên bố rằng điệu nhạc này là một lời chia buồn sáo rỗng và ra lệnh cho cậu ta thay nó bằng Gershwin[144].

    Amelia Sachs lên cầu thang, vào phòng ngủ của anh và nhận thấy anh đang nhìn ra ngoài. “Anh nhìn gì vậy?” Cô hỏi.

    “Những người nóng bỏng.”

    “Và những con chim? Lũ chim ưng?”

    “À, đúng rồi, chúng nó ở kia.”

    “Cũng nóng bỏng chứ?”

    Anh nhìn con chim đực. “Anh không nghĩ thế. Hình như chúng nó vượt lên trên điều đó”.

    Cô đặt cái túi xuống chân giường và nhấc thứ bên trong ra, một chai brandy đắt tiền. Anh nhắc cô về chai whisky Scotch nhưng cô nói cô sẽ góp phần rượu. Cô đặt nó bên cạnh những viên thuốc và cái túi nhựa. Trông như một người vợ chuyên nghiệp vui tươi, vừa từ Balducci’s[145] về nhà đem theo hàng đống rau dưa và đồ biển nhưng lại có quá ít thời gian để nấu nướng.

    Cô còn mua thêm ít đá, theo yêu cầu của Ryhme. Anh nhớ Berger đã nói đến sức nóng của cái túi. Cô mở nút chai Courvoisier[146], rót cho mình một ly và đổ đầy cái cốc vại của anh, đưa ống hút vào miệng cho anh.

    “Thom đâu?” Cô hỏi anh.

    “Ra ngoài”

    “Anh ta có biết không?”

    “Có.”

    Họ cùng nhấm nháp rượu.

    “Anh có muốn em nhắn gì cho vợ anh không?”

    Rhyme suy nghĩ một lúc lâu: chúng ta có nhiều năm để chuyện trò với ai đó, để giãi bày và khoác lác, để nói về khát vọng, sự giận dữ và những nỗi hối tiếc – và than ôi, chúng ta đã lãng phí những khoảnh khắc đó như thế nào. Còn Amelia Sachs, anh mới biết cô có ba ngày và họ đã cùng thổ lộ tâm tình nhiều hơn những gì anh và Blaine đã làm trong gần một thập kỷ.

    “Không”, anh nói. “Anh đã gửi mail cho cô ấy.” Anh cười thầm. “Thực sự là một món quà của thời đại chúng ta, phải nói là như thế.”

    Uống thêm một chút rượu, vị đắng se se lan tỏa trong miệng anh. Êm hơn, mờ mịt hơn, nhẹ nhàng hơn.

    Sachs cúi xuống giường, chạm cốc với anh.

    “Anh có một ít tiền”, Rhyme bắt đầu. “Anh chuyển cho Blaine và Thom phần lớn. Anh…”

    Nhưng cô khiến anh im lặng bằng một nụ hôn lên trán và cái lắc đầu.

    Có tiếng lóc cóc nhẹ nhàng của đá cuội khi cô đổ những viên Seconals nhỏ xíu ra tay.

    Rhyme nghĩ một cách máy móc: Tia reagent thử màu Dille-Koppanyi. Thêm một phần trăm cobalt acetate vào chất đang khám nghiệm sau đó là năm phần trăm isopropylamine trong metanola. Nếu chất này là thuốc an thần, tia reagent sẽ chuyển sang màu xanh tím rất đẹp.

    “Ta phải làm thế nào?” Cô hỏi, nhìn những viên thuốc. “Em thực sự không biết”.

    “Hòa với rượu”, anh đề xuất.

    Cô thả chúng vào cốc vại của anh. Chúng nhanh chóng tan ra.

    Chúng thật mong manh. Như những giấc mơ mà chúng tạo ra.

    Cô dùng ống hút khuấy cho tan. Anh nhìn những móng tay xướt xát của cô nhưng điều đó cũng không làm anh buồn. Đêm nay là đêm của anh, và đó là đêm của niềm vui.

    Bất chợt Lincoln Rhyme nhớ lại thời thơ ấu của mình, ở ngoại ô Illinois. Anh chẳng bao giờ uống sữa. Mẹ đã phải mua cho anh ống hút tráng mùi bên trong để dỗ anh uống. Mùi dâu tây, mùi chocolate. Anh không nghĩ đến chúng cho tới lúc này. Đó là một phát minh vĩ đại, anh nhớ lại. Anh luôn chờ suất sữa buổi chiều của mình.

    Sachs đẩy ống hút đến gần miệng anh hơn. Anh ngậm nó vào môi. Cô đặt tay lên tay anh.

    Ánh sáng hay bóng tối, âm nhạc hay sự im lặng, những giấc mơ hay sự nhập định của giấc ngủ không mộng mị? Ta sẽ thấy gì?

    Anh bắt đầu uống. Vị chẳng có gì khác với rượu thường. Có thể hơi đắng hơn một chút. Nó giống như…

    Phía dưới nhà có tiếng đập cửa thình thình. Dùng cả chân lẫn tay, có lẽ thế. Cả tiếng người la hét.

    Anh nhả ống hút. Nhìn ra phía cầu thang.

    Cô nhìn anh, nhăn mặt.

    “Em ra ngoài xem thế nào”, anh nói với cô.

    Cô biến mất dưới cầu thang và một khắc sau đã quay lại, trông có vẻ không vui. Lon Sellitto và Jerry Banks theo sau. Rhyme nhận thấy viên thám tử trẻ lại làm trò đồ tể trên mặt anh ta bằng dao cạo râu. Chắc chắn là anh ta cần học cách kiểm soát nó.

    Sellitto nhìn cái túi và cái chai. Ánh mắt anh ta quay sang Sachs, nhưng cô khoanh tay nhìn lại, thầm ra lệnh cho ông ta ra về. Đây không phải vấn đề cấp bậc, cái nhìn nói với viên thám tử rằng điều đang diễn ra ở đây không phải việc của ông ra. Mắt Sellitto nhận thông điệp, nhưng ông ta không hề có ý định bỏ đi.

    “Lincoln, tôi cần nói chuyện với anh.”

    “Nói đi, nhưng nhanh lên, Lon. Chúng tôi đang bận.”

    Viên thám tử nặng nề ngồi xuống cái ghế mây. “Một giờ trước, một quả bom đã phát nổ tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Ngay cạnh phòng tiệc. Trong bữa tối chào đón các đại biểu của hội nghị hòa bình.”

    “Sáu người chết, năm mươi tư người bị thương”, Banks nói thêm. “Hai mươi người trong số họ bị thương rất nghiêm trọng.”

    “Trời ơi”, Sachs thầm thì.

    “Kể cho anh ấy đi”, Sellitto lầm bầm.

    Banks tiếp tục: “Liên Hiệp Quốc đã thuê khá nhiều nhân viên thời vụ phục vụ hội nghị. Tội phạm là một trong số họ – một nhân viên tiếp tân. Khoảng nửa tá nhân chứng nhìn thấy cô ta đeo một cái ba lô đi làm và để nó trong kho cạnh phòng tiệc. Cô ta để nó ở đấy, trước khi có tiếng nổ. Đội công binh cho rằng phải có tới hai cân C4 hay Semtex”.

    Sellitto nói: “Linc, quả bom, đó là một cái ba lô màu vàng, nhân chứng nói như vậy.”

    “Màu vàng? Sao nghe quen thế nhỉ?”

    “Bộ phận nguồn lực của Liên Hiệp Quốc nhận định nhân viên tiếp tân đó là Carole Ganz.”

    “Người mẹ”, Rhyme và Sachs đồng thanh.

    “Đúng thế. Người phụ nữ được các vị cứu trong nhà thờ. Có điều Ganz là tên giả. Tên thực của ả là Charlotte Willoughby. Ả là vợ Ron Willoughby. Có thấy gì không?”

    Rhyme nói không.

    “Tin này được đưa khoảng hai năm trước. Anh ta là trung sĩ quân đội, được giao nhiệm vụ phục vụ trong lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tịa Miến Điện”.

    “Tiếp đi”, nhà hình sự học nói.

    “Willoughby không muốn đi – anh ta nghĩ một người Mỹ không nên mặc quân phục UN và không nhận mệnh lệnh từ bất kỳ ai ngoài Quân đội Mỹ. Ngày nay nó là vấn đề cánh hữu rất lớn. Chưa được một tuần thì anh ta đã bị một tên du côn ở Rangoon bắn chết. Bị bắn vào lưng. Anh ta trở thành người tử vì đạo của phe bảo thủ. Bên chống khủng bố nói là vợ anh ta đã được một nhóm quá khích ở ngoại ô Chicago chiêu mộ. Vài sinh viên tốt nghiệp Đại học Chiacago hoạt động bí mật. Edward và Katherine Stone”.

    Banks tiếp tục câu chuyện. “Chất nổ được giấu trong gói đất nặn trẻ em, cùng với những thứ đồ chơi khác. Chúng tôi nghĩ ả sẽ đem cô bé theo cùng để nhân viên an ninh ở lối vào phòng tiệc không để tâm đến đất nặn. Nhưng Pammy vẫn ở trong bệnh viện nên ả không còn vỏ bọc, ả đã bỏ qua phòng tiệc và để nó trong nhà kho. Nhưng như thế cũng đã đủ thiệt hại rồi.”

    “Thoát rồi à?”

    “Đúng thế. Không để lại một dấu vết.”

    “Đứa bé con thì sao?” Sachs hỏi. “Pammy?”

    “Đi rồi. Ả đã cho cô bé xuất viện đúng lúc vụ nổ xảy ra. Không có dấu vết gì của họ.”

    Rhyme nói: “Còn nhóm khủng bố?”

    “Nhóm ở Chicago? Chúng cũng biến mất. Có một hang ổ ở Wisconsin[147] nhưng nó cũng đã bị xóa sạch. Chúng ta không biết chúng ở đâu.”

    “Thế thì đó là tin đồn mà đặc tình của Dellray nghe được”. Rhyme cười. “Carole là người tới sân bay. Chẳng liên quan gì đến thủ phạm 823”.

    Anh thấy Sellitto và Banks đang nhìn mình chằm chằm.

    Ồ, lại là cái trò im lặng này.

    “Quên đi, Lon.” Rhyme nói, cảm nhận thật rõ ràng cái cốc bên cạnh mình, đang tỏa hơi ấm đón chào. “Không được đâu.”

    Viên thám tử lớn tuổi kéo chiếc áo phông, vẻ khúm núm. “Mẹ kiếp, ở đây sao lạnh thế, Lincoln. Chúa ơi, cậu thử nghĩ xem. Có hại gì đâu?”

    “Tôi không giúp được đâu.”

    Sellitto nói: “Có một tin nhắn. Carole viết và gửi tới Tổng thư ký trong phong bì nội bộ. Lải nhải về việc chính phủ thế giới đang tước bỏ quyền tự do của Mỹ. Những thứ vớ vẩn kiểu thế. Nhận trách nhiệm về vụ đánh bom ở London và nói sẽ có thêm những vụ khác. Ta cần tóm chúng, Linc.”

    Banks mặt sẹo nói, tỏ vẻ quan trọng: “Cả Tổng thư ký và Thị trưởng đều mời anh. SAC Perkins nữa. Nếu anh cần thuyết phục thêm, sẽ có người từ Nhà Trắng gọi tới. Nhưng chúng tôi chắc là anh không cần, phải không thám tử?”

    Rhyme không nhận xét gì về sai lầm liên quan đến chức vụ của anh.

    “Nhóm PERT của Cục cũng đã sẵn sàng. Fred Dellray nắm vụ này và anh ta mời – trân trọng, anh ta dùng đúng từ ấy – anh ta trân trọng mời anh phụ trách vấn đề pháp y. Hiện trường vụ án thì vẫn còn y nguyên, ngoại trừ việc người ta đã đưa những người bị thương đi.”

    “Thế thì nó không còn nguyên vẹn nữa”, Rhyme cáu kỉnh. “Cực kỳ ô nhiễm rồi.”

    “Càng có thêm lý do để chúng tôi cần anh”, Banks liều mạng, thêm câu “thưa ngài” để xoa dịu cái nhìn của Rhyme.

    Rhyme thở dài, nhìn cái ly và ống hút. Sự bình yên đã tới quá gần. Và cả đau đớn. Vô hạn.

    Anh nhắm mắt. Trong phòng không một tiếng động.

    Sellitto nói: “Nếu chỉ có mình ả thì không sao. Nhưng ả còn có cô bé nữa, Lincoln. Hoạt động bí mật, với một bé gái? Anh có biết là cuộc đời cô bé sẽ ra sao không?”

    Anh sẽ chết với tôi vì câu này đấy, Lon.

    Ryhme tựa đầu xuống gối. Cuối cùng anh mở bừng mắt. Anh nói: “Sẽ phải có vài điều kiện”

    “Nói đi, Linc.”

    “Thứ nhất”, anh nói. “Tôi không làm việc một mình.”

    Rhyme nhìn về phía Amelia Sachs.

    Cô ngần ngừ một thoáng, sau đó mỉm cười và đứng dậy, nhấc cốc brandy pha thuốc lên. Cô mở rộng cửa sổ, hắt thứ chất lỏng màu vàng nâu vào làn không khí nóng nực, chín nẫu phía bên trên con ngõ cạnh tòa nhà. Trong lúc ấy, chỉ cách đó vài feet, con chim ưng ngẩng lên, nghiêng đầu giận dữ nhìn cử động của cánh tay cô, rồi quay lại cho những đứa con đang đói meo của nó ăn.


    PHỤ LỤC

    Trích từ: Từ điển thuật ngữ, Lincoln Rhyme, Chứng cứ vật lý, xuất bản lần thứ tư. New York: Forensic Press, 1994. Đã được phép in lại.

    Nguồn sáng thay thế (ALS): Bất kỳ loại bóng đèn nào có cường độ sáng cao với bước sóng và màu sắc ánh sáng khác nhau, được sử dụng để hiển thị những dấu vân tay ẩn, một số loại dấu tích và chứng cứ sinh học.

    Hệ thống nhận dạng dấu vân tay tự động (AFIS): Một trong những hệ thống được máy tính hóa để quét và lưu trữ dấu vân tay.

    Birefringence (khúc xạ đúp): Sự khác biệt giữa hai giá trị khúc xạ do một số loại tinh thể hiển thị. Có ích trong việc nhận dạng cát, sợi và bụi bẩn.

    Thẻ đăng ký vật chứng (COC): Một bản ghi chú của những người đã sở hữu một vật chứng từ lúc thu được nó lên hiện trường vụ án cho tới khi đưa nó ra tòa.

    COD: Nguyên nhân tử vong.

    Mẫu đối chứng: Vật chứng thu được tại hiện trường vụ án từ những nguồn đã biết, được sử dụng để so sánh với vật chứng từ một nguồn chưa biết. Ví dụ: máu, lông, tóc của nạn nhân là mẫu đối chứng.

    DCDS: Chết tại hiện trường.

    Kiểu thử biến thiên mật độ (D-G): Một kỹ thuật so sánh các mẫu đất để xác định xem chúng có xuất xứ từ một nơi hay không. Phép đo bằng cách thả những mẫu đất vào các ống chứa chất lỏng có giá trị mật độ khác nhau.

    Nhận dạng DNA: Phân tích và lập biểu đồ cấu trúc gen trong tế bào của những loại chứng cứ sinh học nhất định (ví dụ: máu, tóc, tinh dịch) nhằm mục tiêu so sánh với mẫu đối chứng từ nghi phạm đã biết. Quy trình bao gồm tách và so sánh các đoạn DNA – deoxyribonucleic acid – đơn vị tạo dựng cơ bản của nhiễm sắc thể. Một số loại nhận dạng DNA đưa ra xác suất chứng cư xuất phát từ một cá nhân nhất định chỉ bằng vài phần trăm triệu. Còn được gọi là “nhận dạng gen” – hay còn bị gọi sai là “lấy vân tay DNA” hay “lấy vân tay gen”.

    Nhà nhân chứng học pháp y: Một chuyên gia về khung xương, trợ giúp các nhà điều tra hiện trường vụ án trong việc đánh giá và nhận dạng hài cốt, khai quật mộ.

    Nha sĩ pháp y: Một chuyên gia răng miệng, hỗ trợ các nhà điều tra hiện trường vụ án trong việc nhận dạng nạn nhân nhờ nghiên cứu những di cốt của răng và phân tích các chứng cứ vết cắn.

    Vân: Những đường nổi lên của da trên ngón tay, bàn tay và bàn chân, mỗi người có hình dáng vân riêng biệt, duy nhất. Những dấu vân tại hiện trường vụ án có thể được phân loại thành: (1) nhựa (để lại trên các vật thể dễ bị ảnh hưởng như mát tít); (2) vật chứng (do da bị phủ các chất lạ như bụi hay máu để lại); (3) ẩn (do da bị dính chất nhờn của cơ thể như dầu hay mồ hôi để lại, thường không thấy được bằng mắt thường).

    Sắc ký khí/phổ kế khối lượng (GC-MS): Hai thiết bị được sử dụng trong phân tích pháp y để xác định các chất chưa biết như ma túy hay vật chứng đã tồn tại. Chúng thường được kết nối với nhau. Sắc ký khi tách các thành phần của chất, sau đó đưa chúng sang phổ kế khối lượng, thiết bị này xác định chính xác từng thành phần.

    Lưới: Cách phổ biến được sử dụng để tìm kiếm chứng cớ, theo đó nhân viên tìm kiếm khắp hiện trường theo một chiều (ví dụ từ trên xuống dưới), sau đó đi khắp hiện trường theo hướng vuông góc (tây – đông).

    Tàn thuốc súng (GSR): Vật chất – cụ thể là barium và antimony – rơi rớt trên tay và quần áo của người bắn súng. GSR sẽ ở lại trên da người trong vòng sáu tiếng nếu không bị cố tình rửa trôi hay vô ý cọ sạch bởi sự tiếp xúc quá mức khi tội phạm bị bắt, bị còng (rủi ro cao hơn nếu tay bị còng ra sau lưng).

    Nhận dạng vật chứng: Xác định loại hay lớp vật chất của một chứng cứ. Khái niệm này khác với “nhận dạng cá thể” là việc xác định nguồn duy nhất của vật chứng. Ví dụ, một mẩu giấy báo được tìm thấy tại hiện trường vụ án có thể được nhận dạng là loại giấy in họa báo nhưng có thể được nhận rõ là một mẩu trùng khớp với phần bị mất từ một trang bị xé trong một số nhất định của một tờ họa báo của nghi phạm. Nhận dạng cá thể, tất nhiên có giá trị chứng minh khác với nhận dạng vật chứng.

    Nhận dạng cá thể: Xem “Nhận dạng vật chứng”

    Vết xám: Phần da nạn nhân đã tử vong bị thâm tím, biến màu do máu bị đông và sẫm lại sau khi chết.

    Nguyên tắc trao đổi của Locard: Được Edmond Locard, một nhà hình sự học người Pháp đưa ra. Lý thuyết này cho rằng luôn có sự trao đổi vật chứng giữa tội phạm và hiện trường vụ án hay nạn nhân, bất kể chứng cứ này có thể là nhỏ bé hay khó phát hiện đến đâu.

    Phổ kế khối lượng: Xem “Sắc ký khí”.

    Ninhydrin: Hóa chất làm hiển thị dấu vân ẩn trên những bề mặt xốp như giấy, bìa và gỗ.

    Vật chứng (PE): Trong luật hình sự, PE tham chiếu tới những thực thể được trình tại tòa để hỗ trợ khẳng định của bị đơn hay công tố viên về việc một tuyên bố nào đó là đúng sự thật. Vật chứng bao gồm: các đối tượng vô tri vô giác, các chất của cơ thể và các dấu ấn (như dấu tay).

    Thử máu có cơ sở: Số lượng bất kỳ các kỹ thuật hóa học sử dụng để xác định có máu vương tại hiện trường hay không, ngay cả trong trường hợp mắt thường không nhìn thấy được. Những phép thử phổ biến nhất là dùng luminol và orthotolidine.

    Kính hiển vi điện tử quét (SEM): Một thiết bị bắn các hạt electron vào mẫu vật chứng cần nghiên cứu và chiếu hình ảnh thu được lên màn hình máy tính. Với SEM, có thể nhận được độ phóng đại mười vạn lần so với độ phóng đại năm trăm lần của kính hiển vi thông thường. SEM thường được gắn khối tia X tán sắc năng lượng (EDX), có thể xác định được các chất có trong mẫu khi kỹ thuật viên quan sát.

    Dàn cảnh: Nỗ lực của tội phạm nhằm sắp xếp lại, thêm hay bỏ bớt chứng cứ khỏi hiện trường vụ án để tạo ấn tượng rằng tội ác do hắn hay do ai đó khác gây ra sẽ không thể tìm thấy.

    Chứng cứ dấu tích: Những mẩu vật chất nhỏ, đôi khi siêu nhỏ như bụi, chất xơ và sợi.

    Đối tượng: Nghi phạm chưa được xác định.

    Máy làm lắng chân không kim loại (VMD): Phương tiện hữu hiệu nhất hiển thị dấu vân ẩn trên những bề mặt nhẵn. Vàng hay kẽm được làm bốc hơi trong một buồng chân không bao bọc một lớp kim loại mỏng lên đối tượng cần được quan sát, do đó làm hiển thị dấu vân.


    GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ

    Tôi mang ơn Peter A. Micheels, tác giả cuốn The Detectives – và E. W. Count, tác giả cuốn Cop Talk, những cuốn sách của họ không chỉ hữu ích cho tôi khi nghiên cứu mà còn là những cuốn sách tuyệt hay. Cảm ơn Pam Dorman, sự biên tập khéo léo của anh có mặt khắp nơi trong câu chuyện này. Và tất nhiên, cảm ơn người đại diện của tôi, Deborah Schneider… Nếu thiếu chị thì tôi có thể làm được gì đây? Tôi chân thành cảm ơn Nina Salter ở Calmann-Lévy vì những nhận xét của cô trong những bản thảo đầu tiên của cuốn sách này, và cảm ơn Karolyn Hutchinson tại REP ở Alexandria, Virginia vì sự giúp đỡ vô giá liên quan đến xe lăn và những thiết bị khác dành cho người bị liệt. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới Teddy Rosenbaum – bản thân cô cũng là một thám tử – vì công việc biên tập của cô. Các sinh viên nghiên cứu về thực thi pháp luật có thể băn khoăn về cấu trúc của NYPD và FBI được giới thiệu trong cuốn sách này; việc thay đổi sơ đồ tổ chức hoàn toàn do tôi tự làm. À, tất nhiên – nếu ai đó muốn đọc cuốn Crime in Old New York có thể sẽ gặp đôi chút khó khăn để tìm được nó. Đây là một tác phẩm hư cấu, dù tôi có được nghe nói tới sự tồn tại của một cuốn như thế nhưng đã bị ăn trộm khỏi Thư viện Công cộng New York – bởi một hay vài người chưa rõ danh tính.

    Jeffery Deaver




    [1] Upper West Side: Một khu vực thuộc Manhattan, New York, nằm giữa Công viên Trung tâm và sông Hudson. (Các chú thích là của người dịch)

    [2] Dặm: Một dặm tương đương với 1,6km; ở đây tương đương với một trăm km một giờ.

    [3] Midtown: Là một trong ba phân khu chính của khu Manhattan, Thành phố New York.

    [4] Feet: Số nhiều của foot, một foot tương đương với 30,48cm, ở đây là khoảng 10m.

    [5] CS: Khám nghiệm hiện trường.

    [6] Bungee-jumping: Môn thể thao mạo hiểm, người chơi buộc dây đàn hồi vào người và nhảy từ một vị trí cao xuống.

    [7] JFK: Sân bay quốc tế John F. Kennedy ở New York.

    [8] CNN (viết tắt của Cable News Netwowk): Kênh truyền hình cáp tin tức nổi tiếng của Mỹ.

    [9] IRD (viết tắt của Investigation and Resource Division), là bộ phận Điều tra và Nguồn lực, thuộc Sở cảnh sát New York.

    [10] Cliffhanger: Cheo leo vách núi, tên một bộ phim.

    [11] Morgan Stanley: Một công ty dịch vụ tài chính toàn cầu ở Thành phố New York.

    [12] Martha Stewart: Chủ bút một tờ báo gia đình, một kiểu chị Thanh Tâm ở Mỹ.

    [13] The Scences of the Crime: Những hiện trường vụ án.

    [14] ROM: Một dạng bài tập kéo dãn cơ.

    [15] ECU (viết tắt của Environment Control Unit): Thiết bị Điều khiển Môi trường.

    [16] SOB (viết tắt của Son of a Bitch): Một cách nói khinh bỉ về cơ quan trước đó của Rhyme.

    [17] Katherine Anne (Katie) Couric: Sinh năm 1975 tại Arlington, Virginia, một nhà báo, phát thanh viên nổi tiếng ở Mỹ.

    [18] BQE: Đường cao tốc Brooklyn-Queen ở New York.

    [19] Yale: Đại học Yale, nơi Banks tốt nghiệp; đây là một cách nghĩ chế nhạo về Banks.

    [20] Công ty Everest & Jennings: Một công ty chế tạo giường bệnh và hệ thống hỗ trợ của Rhyme.

    [21] CRC Press: Tên một nhà xuất bản chuyên về Pháp y.

    [22] Pound: Một pound tương đương với 453,59g. Ở đây tương đương với bảy mươi lăm kg.

    [23] NYPD (viết tắt của New York Police Department): Sở Cảnh sát New York.

    [24] SCI (viết tắt của Spinal Cord Injury): Chấn thương cột sống.

    [25] Con đường An lạc, Hội Độc cần: Tên của những hội ủng hộ việc chết theo ý muốn.

    [26] FBI (viết tắt của Federal Bereau of Investigation): Cục Điều tra Liên bang Mỹ.

    [27] Chinatown: Khu phố của người Trung Quốc ở New York.

    [28] PERT: Nhóm Phản ứng Vật chứng.

    [29] Inch: Một icnh tương đương với 2.54 cm.

    [30] ALS: Xem phần phụ lục.

    [31] Ninhydrin: Xem phần phụ lục.

    [32] PE (viết tắt của Physical Evidence): Vật chứng – Xem phần phụ lục.

    [33] Amiăng: Tên một nhóm các khoáng chất có trong tự nhiên dưới dạng sợi và được sử dụng trong một số ngành công nghiệp.

    [34] Hornblende: Tên một loại khoáng chất.

    [35] CSU (viết tắt của Crime Scene Unit): Đơn vị Khám nghiệm Hiện trường.

    [36] Đại Bản Doanh (nguyên văn là BigBuilding): Cách gọi OnePolicePlaza (sở chỉ huy của Sở Cảnh sát New York) của cảnh sát New York.

    [37] Stalactite: Thạch nhũ.

    [38] Sears: Một thương hiệu bình dân.

    [39] ESU (viết tắt của Emergency Services Unit): Đơn vị Phản ứng nhanh.

    [40] SWAT (viết tắt của Special Weapon And Tactics): Đội Chiến thuật và Vũ khí Đặc nhiệm.

    [41] Nighthawks: Đại bàng đêm, tác giả Edward Hopper (1882 – 1967), một họa sĩ nổi tiếng người Mỹ.

    [42] S&S: Tìm kiếm và giám sát.

    [43] HRT (viết tắt của Hostage Rescue Team): Nhóm Giải cứu con tin.

    [44] Paul Leland Kirk (1902 – 1970): Nhà hóa học, nhà khoa học pháp lý nổi tiếng của Mỹ.

    [45] Quả Táo Lớn: Tên lóng của New York.

    [46] EDTA: Tên viết tắt của hợp chất hóa học ethylenediaminetetraacetic acid.

    [47] BAFT (viết tắt của Bereau of Alcohol, Tobacco, Firearms and Explosives): Cục Phụ trách các vấn đề về rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ, một tổ chức của chính phủ Mỹ.

    [48] EPA (viết tắt của Environmental Protection Agency): Cục Bảo vệ Môi trường.

    [49] Sam Spade: Tên của những nhân vật thám tử trên truyền hình hay truyện tranh.

    [50] Kojak: Tên của những nhân vật thám tử trên truyền hình hay truyện tranh.

    [51] Jury Garland: Tên của những nhân vật thám tử trên truyền hình hay truyện tranh.

    [52] Jessica Beatrice Fletcher: Một nhân vật hư cấu trong series chương trình truyền hình của Mỹ: Murder, she wrote.

    [53] EDX (viết tắt của Energy dispersive X-ray spectroscopy): Một phương pháp phân tích trong ngành hóa học.

    [54] GC-MS: Xem phần phụ lục.

    [55] Pearl: Ngọc trai.

    [56] RRV (viết tắt của Rapid Response Vehicles): Những chiếc xe phản ứng nhanh.

    [57] Howard Robard Hughes (1905 – 1976): Phi công, nhà tư bản công nghiệp, đạo diễn, nhà sản xuất phim nổi tiếng người Mỹ.

    [58] CP (viết tắt Commanding Post): Trạm chỉ huy

    [59] 10-84: Tên một mẫu biểu thủ tục hành chính cảnh sát.

    [60] DCDS: Xem phần phụ lục.

    [61] Món thịt gà của Tướng Tso: Đây là món gà chiên ngọt tẩm gia vị thường thấy tại các nhà hàng Trung Quốc ở Mỹ. Có một giả thuyết không chắc chắn cho rằng, tên gọi của món ăn này xuất phát từ câu chuyện: vợ của Tướng Tso – tên là Zuo Zongtang (1812-1885), một vị tướng người Hồ Nam dưới triều nhà Thanh – đã chế biến món ăn này, dâng lên chồng mình và các cộng sự của ông, nó trở thành đặc sản của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

    [62] Morgen: Ngày mai (tiếng Đức).

    [63] Mein Gott: Lạy Chúa (tiếng Đức).

    [64] Früh morgens: Sớm sủa lắm (tiếng Đức).

    [65] Wisk: Tên một loại bột giặt.

    [66] Irgendwas stimmt hier nicht: Có gì đấy không ổn (tiếng Đức).

    [67] Oasis (Ốc đảo): Một nhóm nhạc rock của Anh.

    [68] Gottverdammte: Chết tiệt (tiếng Đức).

    [69] Nein: Không (tiếng Đức).

    [70] Hilfe: Cứu tôi (tiếng Đức).

    [71] Nein, bitte nicht: Làm ơn, đừng (tiếng Đức).

    [72] Ming Wa: Một nhà hàng Trung Quốc ở Alhambra.

    [73] Rocky Raccoon: Chồn Đá, một bài hát nổi tiếng của The Beatles.

    [74] WNYC: Đài phát thanh và Truyền hình Công cộng Thành phố New York.

    [75] Crime in Old New York: Tội phạm ở New York.

    [76] Kommen Sie mit mir mit: Đi với tôi (tiếng Đức).

    [77] Mein Name ist micht Hanna: Tao không phải Hanna (tiếng Đức).

    [78] Thước (yard): Thước Anh, tương đương với 0,914m.

    [79] So nicht: Thôi đi (tiếng Đức).

    [80] Edward Henry Weston (1886 - 1958): Nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Mỹ.

    [81] Dieser Schmerz: Đau quá (tiếng Đức).

    [82] Vorwärts: Lên đi (tiếng Đức).

    [83] Bitte, helfen Sie mir: Cứu tôi với (tiếng Đức).

    [84] Bitte: Giúp tôi (tiếng Đức).

    [85] Judas: Tên một nhân vật trong Kinh Thánh, kẻ phản bội Chúa Jesus. Ở đây ám chỉ kẻ phản bội.

    [86] ATF: Viết tắt của BATF.

    [87] Dashiell Hammet (1894 – 1961): Một nhà văn người Mỹ nổi tiếng với tiểu thuyết trinh thám và truyện ngắn. Ông được coi là cây bút viết truyện thám xuất sắc mọi thời đại.

    [88] DEA: Cơ quan phòng chống ma tuý.

    [89] Und: Và (tiếng Đức).

    [90] Was: Cái gì (tiếng Đức).

    [91] Das Nummernschild: Loại xe (tiếng Đức).

    [92] Vielen Dark: Cảm ơn nhiều (tiếng Đức).

    [93] Danke schön: Cảm ơn (tiếng Đức).

    [94] Dustbuster: Tên một loại máy bút hụi cầm tay.

    [95] Jekyll và Hyde: Hai nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Louis Stevenson. Nói về sự rối loạn đa nhân cách của con người.

    [96] Oedip: Hay còn gọi là Hội chứng Oepidus theo lý thuyết của nhà tâm lý học người Áo Zigmud Freud. Hội chứng này được đặt tên theo tên nhân vật Oedipus trong thần thoại Hy Lạp. Đây là nhân vật đã giết cha mình là Laius, và kết hôn với mẹ mình, Jocasta. Theo lý thuyết này, hội chứng đó thường xuất hiện trong giai đoạn trẻ từ ba đến năm tuổi. Đứa trẻ sẽ cảm thấy ham muốn về giới tính đối với mẹ, là người khác giới và mong muốn cái chết của cha, là người cùng giới.

    [97] Zodiac: Tên lóng của những tên giết người hàng loạt nổi tiếng ở Mỹ.

    [98] Thả xu gọi điện (tiếng lóng): ý nói người nào chỉ điểm.

    [99] Pony Express: Nói kháy, một dịch vụ bưu chính xa xưa của Mỹ, dùng ngựa Pony để vận chuyển.

    [100] SOP: Quy trình làm việc tiêu chuẩn.

    [101] Texas Chainsaw: Cưa máy Texas, một bộ phim kinh dị.

    [102] MO (viết tắt của Modus Operandi): Hoạt động.

    [103] AFIS: Xem phần phụ lục.

    [104] Dick: Dương vật.

    [105] Señor Ortega: Ngài Ortega.

    [106] 13-43: Mẫu đơn Khiếu nại, được dùng như một động từ.

    [107] COC: Xem phần phụ lục.

    [108] DMV: Cơ quan Quản lý Phương tiện Giao thông.

    [109] New York DMV: Cơ quan Quản lý Phương tiện Giao thông New York.

    [110] ETA: Dự kiến thời gian đến nơi.

    [111] SEM: Xem phần phụ lục.

    [112] Smithsonian: Cơ sở đào tạo quốc gia của Mỹ, với nhiều viện nghiên cứu và bảo tàng.

    [113] Tốc độ tám mươi: Hơn một trăm năm mươi km một giờ.

    [114] Prozac: Một loại thuốc giảm đau.

    [115] Imipramine: Một loại thuốc an thần.

    [116] Robert Mario De Niro, Jr.: Nam diễn viên đã hai lần giành được giải thưởng của Viện Hàn lâm Điện ảnh Mỹ, đạo diễn, nhà sản xuất phim. Ông được coi là một trong những diễn viên vĩ đại và có ảnh hưởng nhất mọi thời đại.

    [117] Tovex: Một loại chất nổ dạng gel nước.

    [118] Mr. Potato Head: Một loại đồ chơi của Mỹ gồm một mô hình củ khoai tây bằng nhựa có thể được trang trí bằng những bộ phận khác nhau như tai, mắt để tạo ra một khuôn mặt. Đồ chơi này được George Lerner sáng chế năm 1949, do Công ty Hasbro sản xuất và phân phối lần đầu tiên vào năm 1952.

    [119] Upper East Side: Một khu vực thuộc Manhattan, New York, nằm giữa Công viên Trung tâm ở sông Đông.

    [120] Crystal Palace: Cung điện Pha Lê, một địa danh ở New York.

    [121] Annie Oakley: Nữ diễn viên, xạ thủ người Mỹ đầu thế kỷ XX.

    [122] C4: Đốt sống C4.

    [123] Clara Barton (1821 – 1912): Nữ y tá người Mỹ, nhà nhân đạo, người sáng lập Hội Chữ thập đỏ Mỹ.

    [124] ICC (viết tắt của International Criminal Court): Tòa án Hình sự Quốc tế, một tòa án xử tội phạm chiến tranh, tội phạm chống nhân loại và diệt chủng.

    [125] Hộp đêm S&M: Hộp đêm ở đó có các trò bạo dâm và khổ dâm.

    [126] BMW: Một thương hiệu xe nổi tiếng của Đức.

    [127] Nguyên văn: Tower Records: Chuỗi cửa hàng bán băng đĩa.

    [128] Levi Stabbs (tên thật là Levi Stubbles): Sinh năm 1936, một ca sĩ người Mỹ, được biết tới như ca sĩ chính của nhóm nhạc R&B The Four Tops nổi tiếng của Motown.

    [129] Four Tops: Nhóm tứ tấu vocal Mỹ, hát các thể loại doo-wop, jazz, nhạc soul, R&B, disco, nhạc hiện đại và nhạc trình diễn.

    [130] Storm Arrow: Mũi tên Bão táp.

    [131] Lột da – Flail (vụt) và flay (lột da): Từ đồng âm khác nghĩa, một cách chơi chữ.

    [132] Feldspar: Tên của nhóm các khoáng chất tạo thành đá và tạo thành sáu mươi phần trăm lớp vỏ Trái Đất.

    [133] Austen: (1775 – 1817): Tiểu thuyết gia người Anh. Xã luận và cách sử dụng điệu nghệ ngôn ngữ tự do gián tiếp và mỉa mai đã làm cho Austen trở thành một trong những tiểu thuyết gia được tôn trọng và có ảnh hưởng lớn nhất trong văn học Anh.

    [134] Dreiser: Theodore Herman Albert Dreiser (1871 – 1945), tác giả người Mỹ thuộc trường phái tự nhiên, nổi tiếng vì sự gai góc, mạnh bạo.

    [135] Rottweiler: Một giống chó lớn có nguồn gốc từ Đức.

    [136] Doberman: Một giống chó địa phương (Mỹ).

    [137] Brokaw (Thomas John Brokaw – sinh năm 1940 tại Webster, South Dakota): Phóng viên truyền hình nổi tiếng người Mỹ. Trước đó làm các bộ phim tài liệu tin tức được chiếu thường xuyên cho mạng truyền hình NBC, cựu phát thanh viên của NBC News, tổng biên tập chương trình NBC Nightly News with Tom Brokaw.

    [138] Bob Evans: Một công ty dịch vụ, xử lý và bán lẻ thực phẩm có trụ sở chính tại Columbus, Ohio. Công ty điều hành hai chuỗi nhà hàng ăn tối ở Mỹ, gồm có Bob Evans Restaurants và Mimi.

    [139] Bryan Gumbel (Bryan Charles Gumbel): Một nhân vật trên truyền hình Mỹ cho các chương trình tin tức và thể thao. Ông ta nổi tiếng với mười lăm năm làm việc như người đồng dẫn chương trình The Today Show của đài NBC.

    [140] Kevorkian (Jack Kevorkian): Ông được ghi nhận là người công khai tuyên truyền cho quyền được chết của bệnh nhân thập tử nhất sinh thông qua cái chết nhẹ nhàng, ông tuyên bố đã hỗ trợ ít nhất một trăm ba mươi bệnh nhân làm việc này. Câu nói nổi tiếng của ông là: “Chết không phải là phạm tội.”

    [141] Matlock: Chương trình truyền hình pháp luật của đài ABC, Mỹ.

    [142] Thợ may: Tailor, đọc như Taylor, có nghĩa là thợ may.

    [143] Samuel Osborne Barber (1910 – 1981): Nhà soạn nhạc opera, nhạc cho piano và nhạc giao hưởng người Mỹ.

    [144] George Gershwin (1898 – 1937): Nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm người Mỹ.

    [145] Balducci’s: Một trong những công ty thực phẩm đặc biệt lớn nhất ở Mỹ với mười cửa hàng thực phẩm, bốn nhà hàng và có di sản từ năm 1916.

    [146] Courvoisier: Một loại rượu cô nhắc.

    [147] Wisconsin: Một bang nằm gần trung tâm lục địa Bắc Mỹ.

    **THE END**
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này