Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI

    “Nào mọi người”, Rhyme nói. “Ta phải xử lý vụ này thôi. Trước khi hắn đưa đứa bé đến hiện trường tiếp theo. Ý tôi nói là di chuyển!

    Thom chuyển Rhyme từ xe lăn lên giường, nhanh chóng nhấc anh lên một tấm bảng trượt rồi thả anh xuống chiếc giường Clinitron. Sachs nhìn vào chiếc thang nâng cái xe lăn được gắn vào một trong những cái tủ trong phòng ngủ – đó là cái tủ anh không muốn cô mở ra khi anh chỉ cho cô bộ dàn và đĩa CD.

    Rhyme nằm yên một lúc, thở sâu vì đã quá nỗ lực.

    “Manh mối đã bị mất”, anh nhắc lại với họ. “Chẳng có cách nào giúp ta biết được hiện trường tiếp theo ở đâu. Vậy chúng ta sẽ đánh quả lớn – hang ổ của hắn.”

    “Cậu nghĩ là chúng ta có thể tìm thấy chỗ đó ư?” Sellitto hỏi.

    Ta có lựa chọn nào khác không nhỉ? Rhyme nghĩ nhưng không nói gì.

    Banks vội vàng đi lên cầu thang. Anh ta không vào phòng trước khi Rhyme buột miệng. “Họ nói gì? Nói tôi nghe. Nói tôi nghe.

    Rhyme biết mảnh vàng Sachs tìm được nằm ngoài khả năng của phòng thí nghiệm ngẫu hứng của Mel Cooper. Do đó, anh đã yêu cầu viên thám tử trẻ tuổi chạy nhanh đến phòng thí nghiệm tại văn phòng PERT của FBI để phân tích nó.

    “Nửa tiếng nữa họ sẽ gọi cho chúng ta.”

    “Nửa tiếng?” Rhyme lầm bầm. “Họ có ưu tiên cho nó không?”

    “Chắc chắn là họ sẽ ưu tiên. Dellray đang ở đấy. Anh phải gặp anh ta. Anh ta ra lệnh dừng tất cả các vụ khác lại và nói nếu báo cáo luyện kim đó không được đưa ngay cho anh thì họ sẽ rắc rối to – anh biết cách anh ta nói thế nào rồi đấy.”

    “Rhyme”, Sachs nói. “Cô Ganz còn kể một chuyện chắc cũng quan trọng. Hắn ta nói hắn sẽ để cô ấy đi nếu cô ấy đồng ý cho hắn vụt chân.”

    “Vụt da chân?”

    “Lóc da chân.”

    “À, lột da[131] chân”, Rhyme chữa lại.\

    “Ồ. Nhưng hắn chẳng làm gì. Cô ta nói là có vẻ như cuối cùng hắn cũng không thể bắt bản thân hắn cắt vào chân cô ấy được.”

    “Như ở hiện trường đầu tiên – người đàn ông cạnh đường tàu.” Sellitto khuyến nghị.

    “Hay thật…”, Rhyme trầm ngâm. “Tôi nghĩ hắn cắt ngón tay nạn nhân để không ai dám ăn trộm chiếc nhẫn. Nhưng có thể không phải như vậy. Hãy xem hành vi của hắn: Cắt đứt ngón tay người lái taxi và đem nó theo. Cắt tay chân cô gái người Đức. Ăn trộm xương và bộ xương rắn. Lắng nghe khi bẻ gãy ngón tay Everett… Có gì đó trong cách hắn nhìn nạn nhân. Cái gì đó mang tính…”

    “Giải phẫu.”

    “Chính xác đấy, Sachs.”

    “Ngoại trừ cô Ganz”, Sellitto nói.

    “Quan điểm của tôi là”, Rhyme nói. “Hắn có thể cắt chân cô ta mà vẫn giữ cô ta còn sống cho chúng ta. Nhưng có gì đó ngăn hắn lại. Cái gì vậy?”

    Sellitto nói: “Cô ta có gì khác biệt? Không thể chỉ vì cô ta là phụ nữ. Hoặc cô ta là người ngoại tỉnh. Cô gái Đức cũng vậy.”

    “Có thể hắn không muốn làm đau cô ta trước mặt đứa con gái”, Banks nói.

    “Không”, Rhyme nói dứt khoát, “lòng thương không phải là thứ hắn có.”

    Sachs bất ngờ nói: “Nhưng có một điều khác biệt – cô ấy là một bà mẹ.”

    Rhyme xem xét điều này. “Cũng có thể. Mẹ và con gái. Không đủ sức nặng để hắn thả họ ra. Nhưng đủ để ngăn hắn không tra tấn cô ta. Thom, viết vào nhé. Với một dấu hỏi.” Anh hỏi Sachs: “Cô ta có nói gì thêm về ngoại hình hắn không?”

    Sachs lật cuốn sổ.

    “Vẫn như trước”, cô đọc, “mặt nạ trượt tuyết, thân hình nhỏ bé, găng tay đen, hắn…”

    “Găng tay đen?” Rhyme nhìn lên tờ giấy trên tường. “Không phải màu đỏ à?”

    “Cô ấy nói là màu đen. Em đã hỏi lại xem cô ấy có chắc không.”

    “Mẩu da khác cũng có màu đen, đúng không, Mel? Có thể đó chính là đôi găng tay. Thế thì miếng da đỏ ở đâu ra?”

    Cooper nhún vai: “Tôi không biết nhưng ta tìm thấy một, hai miếng. Như vậy đó là thứ gần gũi với hắn.”

    Rhyme nhìn vào những cái túi vật chứng. “Ta còn tìm được gì nữa nhỉ?”

    “Dấu vết ta hút được trong ngõ và trên bậc cửa.” Sachs đổ túi lọc bụi ra một tờ báo và Cooper dùng kính lúp để soi. “Chẳng có gì hết”, anh ta tuyên bố. “Chủ yếu là đất. Một ít khoáng chất. Đá phiến diệp thạch mica vùng Manhattan. Chất feldspar[132].”

    Những thứ này có khắp nơi trong thành phố.

    “Tiếp tục đi.”

    “Lá cây mục. Thế thôi.”

    “Còn quần áo của cô Ganz thì sao?”

    Cooper và Sachs mở tờ báo ra và xem xét dấu vết.

    “Chủ yếu là đất”, Cooper nói. “Vài mẩu trông giống như đá.”

    “Tuyệt!” Rhyme la lớn. Nói với Cooper: “Đốt nó lên đi. Chỗ đất ấy.”

    Cooper đặt một mẩu vào máy GC-MS. Họ nóng lòng chờ đợi kết quả. Cuối cùng thì màn hình máy tính cũng nhấp nháy. Tấm lưới trên màn hình gợi nhớ khung cảnh mặt trăng.

    “Được rồi, Lincoln. Thú vị đấy. Tôi đọc thấy có chất tannin và…”

    “Sodium carbonate?”

    “Ngạc nhiên chưa?” Cooper cười. “Sao anh biết?”

    “Người ta dùng nó trong các xưởng thuộc da thế kỷ XVIII và XIX. Tannic acid xử lý da sống còn kiềm làm cho nó chắc hơn. Như thế là nơi ẩn nấp an toàn của hắn ở gần một xưởng thuộc da cũ.”

    Anh cười. Không thể dừng được. Anh nghĩ: Mày có nghe tiếng bước chân không, 823? Chúng ta đang theo sau mày đấy.

    Mắt anh lướt sang tấm bản đồ Randel Survey. “Vì chúng bốc mùi nên không ai muốn có xưởng thuộc da trong khu của họ, do đó ủy ban thành phố đã hạn chế chúng. Tôi biết một vài nơi ở bên Lower East Side. Và ở West Greenwich Village – khi nó thực sự còn là một khu làng, khu ngoại ô thành phố. Sau đó là phía West Side trong những năm 1950 – gần đường hầm ở bãi chăn, nơi ta tìm thấy cô gái người Đức. Ồ, cả ở Harlem trong những năm 1900.”

    Rhyme nhìn danh sách những cửa hàng thực phẩm – vị trí những cửa hàng ShopRite có bán chân bê. “Chelsea bị loại. Không có thuộc da ở đây. Harlem cũng vậy – không có cửa hàng ShopRite ở đây. Như vậy còn lại West Village, Lower East Side hay Midtown West Side – lại là Hell’s Kitchen. Có vẻ hắn thích chỗ này.”

    Chỉ khoảng mười dặm vuông, Rhyme đánh giá sơ bộ. Từ ngày đầu tiên đi làm anh đã nhận ra rằng trốn ở Manhattan còn dễ hơn ở North Woods.

    “Tiếp tục đi. Còn hòn đá trong quần áo của Carole thì sao?”

    Cooper đang cúi xuống kính hiển vi. “Được rồi. Có rồi.”

    “Chuyển sang cho tôi đi, Mel.”

    Màn hình máy tính của Rhyme hoạt động trở lại, anh ngắm nghía những mảnh đá và tinh thể, trông như những thiên thạch kim cương.

    “Di chuyển nó đi”, Rhyme hạ lệnh. Ba vật chất bám dính lấy nhau.

    “Mẩu bên trái là đá cẩm thạch hồng”, Cooper nói. “Giống như mẫu đá trước đây ta tìm thấy. Ở giữa, thứ màu xám…”

    “Là vữa. Và cái kia là đá cát kết nâu.” Rhyme tuyên bố. “Nó từ một ngôi nhà kiểu liên bang, như Tòa Thị chính năm 1812. Chỉ có mặt tiền được lát đá cẩm thạch; phần còn lại là đá cát kết nâu. Họ làm thế để tiết kiệm chi phí. À, họ làm thế để tiền mua đá cẩm thạch có thể tìm được đường vào túi. Còn bây giờ, chúng ta có gì nữa nhỉ? Tàn tro. Thử tìm chất phát hỏa xem.”

    Cooper đưa mẫu tro vào máy GC-MS. Anh ta nhìn chăm chăm vào đường cong xuất hiện trên màn hình.

    Xăng mới được lọc, có chứa phẩm màu và chất phụ gia của nhà sản xuất, mang tính đặc thù và có thể lần ngược tới một nguồn duy nhất nếu các lô xăng khác nhau không bị trộn lẫn ở trạm mà tội phạm mua xăng. Cooper nói xăng tuyệt đối trùng với loại bán ở các trạm bảo dưỡng xe hơi Gas Exchange.

    Banks vớ lấy Những Trang Vàng và mở ra. “Ta có sáu trạm xăng ở Manhattan. Ba trạm trong nội thành. Một ở Đại lộ Sáu và Houston, một ở Delancey, 503 East. Một ở Đại lộ Mười chín và Tám.”

    “Đại lộ Mười chín quá xa về phía Bắc”, Rhyme nói. Anh nhìn bảng hồ sơ. “East Side hay West Side. Ở đâu nhỉ?”

    Cửa hàng thực phẩm, xăng…

    Một thân hình gầy guộc bất ngờ lấp đầy cánh cửa.

    “Tôi vẫn được mời dự tiệc ở đây đấy chứ?” Frederick Dellray hỏi.

    “Còn tùy”, Rhyme đáp lời. “Xem anh có đem quà đến không?”

    “À, tha hồ mà quà.” Viên đặc vụ nói, vẫy cái phong bì có trang trí hình tròn quen thuộc của biểu tượng FBI.

    “Anh có bao giờ gõ cửa không, Dellray?” Sellitto hỏi.

    “Mất thói quen đó rồi, anh biết đấy.”

    “Vào đi”, Rhyme nói. “Anh có gì nào?”

    “Không biết chắc lắm. Chẳng có ý nghĩa gì với tôi. Nhưng mà tôi biết gì nào?”

    Dellray đọc qua báo cáo rồi nói: “Tony Farco ở PERT, nhân tiện anh ta gửi lời chào anh đấy, Lincoln, đã phân tích mẫu vật chứng mà các cậu tìm thấy. Hóa ra đấy là một lá vàng. Có thể khoảng sáu mươi đến tám mươi năm tuổi rồi. Anh ta còn thấy mấy sợi cellulose dính ở đó nên anh ta nghĩ nó rơi ra từ một cuốn sách.”

    Tất nhiên rồi! Phần mạ vàng đầu trang”, Rhyme nói.

    “Anh ta còn tìm thấy mấy hạt mực trên đó. Anh ta nói, tôi trích dẫn nhé: ‘Nó không phải không nhất quán với loại mực Thư viện Công cộng New York dùng để đóng dấu ở đầu sách’. Anh ta nói thật khôi hài, phải không?”

    “Một cuốn sách thư viện”, Rhyme trầm ngâm.

    Amelia Sachs nói: “Một cuốn sách bìa da đỏ của thư viện.”

    Rhyme nhìn cô chăm chăm. “Đúng rồi!” Anh la lớn. “Đó chính là gốc của những miếng da đỏ. Không phải găng tay. Đó là một cuốn sách mà hắn luôn mang theo. Có thể là Kinh Thánh của hắn.”

    “Kinh Thánh?” Dellray hỏi. “Anh nghĩ hắn là một kẻ cuồng tôn giáo hay sao?”

    “Không phải là Kinh Thánh đó, Fred. Banks, gọi lại cho thư viện đi. Có thể đó chính là cách hắn mài mòn đôi giày của hắn – trong phòng đọc. Tôi biết, đoán thế là quá xa. Nhưng chúng ta không có nhiều lựa chọn. Tôi muốn có danh sách tất cả các cuốn sách cổ bị lấy cắp từ các nơi trong phạm vi Manhattan trong năm qua.”

    “Sẽ làm.” Chàng thanh niên xoa xoa vết sẹo cạo râu khi anh ta gọi đến nhà Thị trưởng, thẳng thừng xin phép ngài liên hệ với giám đốc thư viện công cộng và nói với ông ta những gì họ cần.

    Nửa tiếng sau, máy fax reo chuông và nhả ra hai trang giấy. Thom kéo giấy ra khỏi máy. “Ôi trời, ngón tay của độc giả thành phố này dính quá”, cậu ta nói khi đem nó đến cho Rhyme.

    Tám mươi tư cuốn sách có tuổi đời năm mươi năm hoặc lâu hơn đã biến khỏi các chi nhánh của thư viện công cộng trong vòng mười hai tháng qua, ba mươi lăm cuốn ở Manhattan.

    Rhyme lướt qua danh sách. Dickens, Austen[133], Hemingway, Dreiser[134]… Sách về âm nhạc, triết học, rượu vang, phê bình văn học, truyện cổ tích. Giá của những cuốn sách này thấp đến mức đáng ngạc nhiên. Hai mươi, ba mươi đô la. Anh nghĩ rằng không cuốn nào trong số này là bản in lần thứ nhất, nhưng có lẽ bọn trộm không biết điều này.

    Anh tiếp tục lướt qua danh sách.

    Không có gì. Không có gì. Có thể là…

    Và rồi anh nhìn thấy nó.

    Crime in Old New York, tác giả Richard Wille Stephans, do Bountiful Press xuất bản năm 1919. Giá của nó được liệt kê là sáu mươi lăm đô la, và nó bị đánh cắp từ chi nhánh Phố Delancey của Thư viện Công cộng New York chín tháng trước. Nó được mô tả là có kích thước năm nhân bảy inch, được bọc bằng da dê mềm, bìa sau phủ cẩm thạch, gáy mạ vàng.

    “Tôi muốn một bản. Tôi không quan tâm làm sao mà có được. Cho ai đó đến Thư viện Quốc hội nếu cần.”

    Dellray nói: “Để tôi lo vụ này.”

    Cửa hàng thực phẩm, xăng, thư viện…

    Rhyme cần quyết định. Có khoảng ba trăm nhân viên tìm kiếm – cảnh sát, quân đội bang và đặc vụ liên bang – nhưng họ sẽ bị trải siêu mỏng nếu như họ phải tìm cả West Side và East Side của khu trung tâm New York.
    [IMG]

    Anh nhìn lên bảng hồ sơ.

    Nhà máy ở West Village phải không? Rhyme lặng lẽ hỏi 823. Liệu mày có đánh cắp sách và mua xăng ở East Side để lừa bọn tao không? Hay đó thực sự là khu của mày? Không, vấn đề không phải là mày thông minh đến đâu, mà là mày nghĩ mày thông minh đến đâu. Mày tự tin về chuyện bọn tao không thể tìm những mảnh li ti của mày đến mức nào, những mảnh nhỏ mà Ngài Locard bảo đảm với bọn tao là mày sẽ phải để lại?

    Cuối cùng Rhyme ra lệnh. “Đi tìm ở Lower East Side. Quên West Village đi. Đưa tất cả mọi người tới đó. Tất cả lính của Bo, tất cả lính của anh nữa, Fred. Đây là thứ mà các anh cần tìm: một ngôi nhà lớn kiểu liên bang gần hai trăm năm tuổi, mặt tiền đá cẩm thạch hồng, hai bên và phía sau là đá cát kết nâu. Có thể đã từng là một biệt thự hay một tòa nhà công cộng. Có một cái ga ra hoặc nhà để xe ngựa bên cạnh. Một chiếc Taurus sedan hay Yellow Cab qua lại trong vài tuần qua. Thường xuyên hơn vào những ngày gần đây.”

    Rhyme nhìn Sachs.

    Bỏ qua người đã chết…

    Sellitto và Dellray gọi điện.

    Sachs nói với Rhyme: “Em cũng đi.”

    “Anh không trông chờ điều gì khác.”

    Khi cánh cửa đóng lại phía dưới nhà, anh thì thầm. “Chúc may mắn, Sachs. Chúc may mắn.”
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI MỐT

    Ba chiếc xe tuần tra chậm rãi chạy dọc theo những con phố của Lower East Side. Hai tên cớm trong một xe. Ánh mắt tìm kiếm.

    Một lát sau, hai chiếc xe độc mã đen xuất hiện… ý hắn là hai chiếc sedan. Không được đánh dấu, nhưng ánh đèn tìm kiếm dưới gương chiếu hậu bên trái đã không để lại chút nghi ngờ nào về việc họ là ai.

    Hắn biết họ sẽ thu hẹp vùng tìm kiếm, tất nhiên là như vậy, chỉ là vấn đề thời gian trước khi họ tìm thấy nhà hắn. Nhưng hắn bị sốc khi thấy họ ở gần như vậy. Và đặc biệt hắn khó chịu khi mấy tên cớm đã ra khỏi xe và kiểm tra chiếc Taurus màu bạc đỗ trên phố Canal.

    Làm thế quái nào mà chúng tìm được xe ngựa của hắn? Hắn biết rằng ăn trộm xe có rủi ro rất lớn nhưng hắn nghĩ phải mất vài ngày Hertz mới biết đến chiếc xe bị mất cắp. Mà kể cả họ có phát hiện được thì hắn chắc chắn rằng cớm sẽ không bao giờ liên kết hắn với kẻ trộm. Chà, họ giỏi đấy chứ.

    Một trong những tên cớm có ánh mắt độc ác liếc nhìn chiếc xe của hắn.

    Nhìn thẳng về phía trước, Kẻ Tầm Xương chậm rãi rẽ vào Phố Houston, biến mất trong một đám đông xe taxi khác. Nửa tiếng sau, hắn bỏ rơi chiếc taxi, chiếc Hertz Taurus, đi bộ về nhà.

    Maggie bé nhỏ ngước nhìn hắn.

    Con bé đang hoảng sợ, nhưng nó đã không khóc nữa. Hắn băn khoăn không biết có nên giữ con bé hay không. Kiếm cho mình một đứa con gái. Nuôi nấng nó. Ý nghĩ này xuất hiện trong đầu hắn chỉ một khoảnh khắc rồi biến mất.

    Không, sẽ có quá nhiều câu hỏi. Ngoài ra, còn có điều gì đó ghê rợn trong cái cách con bé nhìn hắn. Trông con bé có vẻ già trước tuổi. Nó sẽ luôn nhớ hắn đã làm những gì. Ồ, nhưng có thể nó sẽ nghĩ đó chỉ là giấc mơ. Nhưng rồi một ngày nào đó, sự thực sẽ lộ ra. Luôn luôn là vậy. Có giấu thế nào chăng nữa, sự thực vẫn sẽ lộ ra.

    Không, hắn không thể tin con bé nhiều hơn hắn tin bất cứ ai khác. Cuối cùng thì bất cứ linh hồn tội nghiệp nào cũng có thể làm hại hắn. Mày có thể tin tưởng sự căm thù. Mày có thể tin tưởng xương cốt. Tất cả những thứ còn lại chỉ là sự phản bội.

    Hắn quỳ xuống cạnh Maggie và bóc miếng băng dính khỏi miệng cô bé.

    “Mẹ ơi!” Con bé gào khóc. “Cháu muốn mẹ!”

    Hắn không nói gì, chỉ đứng đó và nhìn xuống con bé. Nhìn vào hộp sọ mỏng manh của nó. Những cánh tay mỏng manh của nó.

    Nó la hét như còi báo động.

    Hắn lấy đôi găng tay. Những ngón tay của hắn lơ lửng trên đầu con bé trong giây lát. Sau đó hắn vuốt ve mớ tóc mềm mại của nó. (“Có thể lấy được dấu tay trên da thịt, nếu lấy trong vòng chín mươi phút sau khi tiếp xúc (Xem KROMEKOT) nhưng chưa có ai lấy được và tái tạo lại dấu vân tay từ tóc người.” Lincoln Rhyme, Vật chứng, xuất bản lần thứ tư, New York: Forensic Press, 1994.)

    Kẻ Tầm Xương chậm rãi đứng dậy và leo lên cầu thang, vào một phòng khách lớn trong tòa nhà, đi qua những bức vẽ trên tường – những người công nhân, những người phụ nữ và trẻ em đang nhìn chằm chằm. Hắn nghiêng đầu lắng nghe tiếng động mờ nhạt phía bên ngoài. Sau đó lớn dần – tiếng kim loại va vào nhau loảng xoảng. Hắn vơ vũ khí và vội vã chạy ra phía sau tòa nhà. Mở chốt cánh cửa rồi bất thình lình đẩy nó mở tung, hắn đã ở tư thế hai tay giương súng.

    Một đàn chó hoang đang nhìn hắn. Chúng nhanh chóng quay trở lại với cái thùng rác vừa bị chúng lật đổ. Hắn đút súng vào túi và quay lại phòng khách.

    Hắn lại thấy mình đứng cạnh ô cửa sổ kính chai, nhìn ra bãi tha ma cũ. Đúng rồi. Đằng kia! Lại có một người đàn ông mặc đồ đen đứng trong nghĩa địa. Phía xa, bầu trời bị đâm thủng bởi cây cột buồm của những con thuyền cao tốc và thuyền buồm đang đậu trên sông Đông dọc theo bờ Out Ward.

    Kẻ Tầm Xương cảm thấy một nỗi buồn nặng trĩu. Hắn băn khoăn không hiểu có phải vừa xảy ra thảm kịch gì hay không. Có thể là đám cháy lớn năm 1776 vừa mới phá hủy hầu hết những tòa nhà ở Broadway. Hay dịch sốt vàng da năm 1795 đã tàn sát cộng đồng người Ireland. Hay đám cháy trên du thuyền tướng Slocum năm 1904 vừa giết chết hơn một nghìn phụ nữ và trẻ em, tàn phá khu kiều dân Đức ở Lower East Side.

    Hoặc hắn đang cảm thấy những thảm kịch sắp diễn ra.

    Sau vài phút, tiếng la hét của Maggie đã lắng xuống, thay vào đó là những âm thanh của thành phố xưa, tiếng gầm của động cơ hơi nước, tiếng chuông leng keng, tiếng súng nổ, tiếng vó ngựa cộng hưởng trên những con đường trải sỏi.

    Hắn tiếp tục nhìn, quên đi những tên cớm đang theo dấu hắn, quên đi Maggie, chỉ còn nhìn hình ảnh ma quái đang trôi trên phố.

    Ngày đó và bây giờ.

    Mắt hắn tập trung ra ngoài cửa sổ một lúc lâu, lạc lối vào một thời đại khác. Vì thế hắn không nhận thấy những con chó hoang, chúng đã đi qua cánh cửa hậu hắn để mở tung. Chúng nhìn hắn qua ô cửa phòng khách và chỉ dừng lại một thoáng trước khi quay lại và lặng lẽ nhảy ra phía sau ngôi nhà.

    Mũi hếch lên ngửi mùi, tai lắng nghe những tiếng động của một nơi chốn xa lạ. Nhất là tiếng khóc lóc yếu ớt vang lên từ đâu đó bên dưới chúng.



    Đó là dấu hiệu của sự tuyệt vọng, khi mà những Chàng trai Dũng cảm cũng phải tách nhau ra.

    Bedding tìm kiếm khoảng nửa tá khu nhà quanh Delancey, Saul ở xa hơn về phía nam. Sellitto và Banks, ai cũng có khu vực tìm kiếm của mình, cùng với hàng trăm sĩ quan, đặc vụ FBI và quân nhân khác. Họ đang tìm kiếm từng nhà, hỏi về một người đàn ông nhỏ bé, một đứa trẻ kêu khóc, một chiếc Taurus màu bạc, một tòa nhà kiểu liên bang bị bỏ hoang, mặt tiền là đá cẩm thạch, phần còn lại là đá cát kết nâu.

    Hả? Ý anh muốn nói cái gì, kiểu liên bang?... Có nhìn thấy đứa bé không à? Anh hỏi tôi có nhìn thấy một đứa bé ở Lower East Side không ư? Này Jimmy, cậu có nhìn thấy đứa bé nào quanh đây không? Ít nhất là không phải trong sáu mươi giây vừa qua?

    Amelia Sachs đang thả lỏng người. Cô đòi được tham gia nhóm của Sellitto, nhóm đi đến cửa hàng ShopRite ở Đông Houston, nơi đã bán chân bê cho thủ phạm 823. Và đến trạm xăng đã bán xăng cho hắn. Thư viện nơi hắn chôm cuốn Crime in Old New York.

    Nhưng họ không tìm thấy manh mối gì ở đây và tản ra như những con sói ngửi thấy quá nhiều mùi. Mỗi con chọn lấy một lãnh địa để tự nhận là của mình.

    Sachs khởi động chiếc RRV mới để đến một khối nhà khác, cô cảm thấy sự bất ổn quen thuộc khi khám nghiệm hiện trường trong mấy ngày qua: quá nhiều chứng cứ, quá nhiều sân phải bao. Cảm thấy sự vô vọng của nó. Ở đây, trên những con phố nóng bức, khó chịu, rẽ nhánh thành hàng trăm con phố và ngõ khác, chạy qua hàng nghìn ngôi nhà – tất cả đều đã cũ – việc tìm kiếm nơi ẩn nấp cũng có vẻ bất khả thi như tìm kiếm một sợi tóc như Rhyme đã kể với cô, bị dính lên trần nhà do sức giật của khẩu ổ quay .38.

    Cô định đến từng con phố, nhưng thời gian trôi đi và khi cô nghĩ đến đứa bé bị chôn dưới hầm sắp chết, cô bắt đầu tìm kiếm nhanh hơn, lao trên các con phố, nhìn sang hai bên để tìm tòa nhà bằng đá cẩm thạch hồng. Sự hoài nghi làm cô đau đớn. Cô có bỏ qua tòa nhà nào vì quá vội vàng không? Hay cô cần lái xe nhanh như chớp và qua nhiều phố hơn?

    Tiếp tục. Một khối nhà, thêm khối nữa. Vẫn chẳng có gì.



    Sau cái chết của tên tội phạm, dấu vết của hắn được các thám tử thu thập và nghiên cứu kỹ. Nhật ký của hắn cho thấy hắn đã giết tám công dân lương thiện của thành phố. Hắn cũng là kẻ trộm mộ, vì từ những trang viết của hắn có một điều chắn chắn là (nếu như những tuyên bố của hắn được coi là sự thực) hắn đã xâm hại một số nơi yên nghỉ thiêng liêng trong các nghĩa địa quanh thành phố. Không nạn nhân nào sỉ nhục hắn; phần lớn họ là những công dân trung thực, cần cù và vô tội. Tuy vậy, hắn vẫn không thấy mình có lỗi. Thực sự, hắn có vẻ hoạt động với một sự ảo tưởng điên rồ rằng, hắn đang ban cho nạn nhân của mình những ân huệ.



    Ngón tay trái của Lincoln Rhyme động nhẹ và chiếc khung lật trang giấy màu vỏ hành của cuốn Crime in Old New York, cuốn sách được hai nhân viên liên bang đem tới mười phút trước, dịch vụ này được cung cấp nhờ phong cách không thể bắt chước của Fred Dellray.

    “Thịt da tan biến và cơ thể yếu đuối – (tên tội phạm viết bằng nét chữ thô thiển nhưng đều đặn) – xương cốt là phần mạnh nhất của cơ thể. Có thể thịt da chúng ta già cỗi, nhưng xương cốt chúng ta luôn tươi trẻ. Đó là mục đích cao quý của tôi, nó vượt qua tôi và làm sao mà ai đó lại có thể tranh luận về nó được. Tôi ban ơn cho họ. Tất cả bọn họ giờ đã bất tử. Tôi giải phóng họ. Tôi chiếm hữu họ đến tận xương.”



    Terry Dobyns đã đúng. Chương Mười: “James Schneider: Kẻ Tầm Xương”, là bản thiết kế cho hành vi của Đối tượng 823. MO giống hệt nhau – lửa, động vật, nước, luộc sống. 823 lảng vảng ở những nơi Schneider đã đến. Hắn nhầm một khách du lịch người Đức với Hanna Goldschmidt, một người nhập cư đầu thế kỷ, và hắn đã bị lôi kéo đến khu dân cư người Đức để tìm kiếm nạn nhân. Và hắn gọi Pammy Ganz bé nhỏ bằng một cái tên khác – Maggie. Rõ ràng hắn nghĩ rằng cô bé là O’Connor, một trong những nạn nhân của Schneider.

    Trong cuốn sách có một bức tranh khắc acid rất tệ, được bọc bằng giấy, minh họa James Schneider ma quái đang ngồi trong tầng hầm, ngắm nghía cái xương chân.

    Rhyme nhìn chăm chăm vào tấm bản đồ Randel Survey của thành phố.

    Xương cốt…

    Rhyme nhớ lại một hiện trường vụ án mà anh đã một lần khám nghiệm. Anh được gọi đến một công trường xây dựng ở Lower Manhattan, nơi máy xúc phát lộ ra một cái sọ người nằm cách mặt đất vài feet trong một khu đất trống. Ngay lập tức Rhyme thấy rằng cái sọ đã rất cũ và anh mời nhà pháp y nhân chủng học tham gia vào vụ này. Họ tiếp tục đào và phát hiện thêm một số xương và sọ người nữa.

    Một nghiên cứu nhỏ cho thấy năm 1741 có một cuộc nổi loạn của nô lệ ở Manhattan, một số nô lệ – và những người da trắng theo chủ nghĩa bãi nô – đã bị treo cổ trên một hòn đảo nhỏ ở Collect. Hòn đảo này trở thành một pháp trường treo cổ. Một vài nghĩa địa không chính thức và mỏ đất sét đã được tìm thấy trong khu vực.

    Collect là ở chỗ nào nhỉ? Rhyme cố nhớ lại. Gần nơi giao nhau giữa Chinatown và Lower East Side. Nhưng khó nói được chắc chắn vì cái ao đã bị lấp rất lâu rồi. Nó đã là…

    Đúng rồi! Anh nghĩ, tim đập mạnh. Collect bị lấp đi vì nó đã ô nhiễm tới mức ủy ban thành phố coi nó là nguy cơ lớn đối với sức khỏe. Một số nơi gây ô nhiễm chính là những xưởng thuộc da phía Đông.

    Đã khá thuần thục với bộ quay số, Rhyme không quay nhầm số nào và chỉ cần một lần anh đã gọi được cho Thị trưởng. Tuy nhiên, người thư ký nói hiện giờ ông ta đang ăn sáng với Liên Hiệp Quốc. Nhưng khi Rhyme xưng tên, người thư kí nói. “Xin chờ một phút, thưa ngài.” Không phải chờ lâu đến thế, anh đã được nói chuyện với một người đàn ông vừa nói miệng vừa đầy thức ăn: “Nói đi, thám tử. Công việc của các anh có cái mẹ gì hay không?”



    “5885, nghe rõ.” Amelia Sachs trả lời máy bộ đàm. Rhyme nghe thấy sự bực dọc trong giọng nói của cô.

    “Sachs.”

    “Không hay rồi.” Sachs nói với anh. “Chúng ta không gặp may.”

    “Anh nghĩ anh đã tóm được hắn rồi.”

    Cái gì?

    “Khối nhà sáu trăm, East Van Brevoort. Gần Chinatown.”

    “Làm sao anh biết?”

    “Thị trưởng vừa giúp anh liên lạc với giám đốc Hội Sử học. Ở đó có một khu khai quật khảo cổ. Một nghĩa địa cũ. Đối diện với chỗ trước đây từng là một xưởng thuộc da. Ở đó trước đây đã có mấy ngôi biệt thự kiểu liên bang. Anh nghĩ hắn ở gần đấy.”

    “Em đi đây.”

    Anh nghe thấy tiếng lốp xe rít lên, sau đó là tiếng còi hụ.

    “Anh đã gọi cho Lon và Haumann”, anh nói thêm. “Họ cũng đang trên đường tới đó.”

    “Rhyme”, giọng nói khẩn cấp của cô vang lên. “Em sẽ cứu cô bé ra.”

    À, em có một trái tim nhân hậu của một cảnh sát, Amelia, một trái tim chuyên nghiệp, Rhyme nghĩ. Nhưng em vẫn chỉ là lính mới. “Sachs?” Anh nói.

    “Vâng?”

    “Anh đã đọc cuốn sách ấy. 823 đã chọn một kẻ xấu xa làm hình mẫu cho hắn. Một kẻ thực sự xấu xa.”

    Cô không nói gì.

    “Điều anh định nói là”, anh tiếp tục, “bất kể cô bé có ở đó hay không, nếu em tìm thấy hắn và hắn phản ứng, em phải hạ hắn ngay.”

    “Nhưng ta có thể bắt sống hắn, hắn có thể dẫn ta đến chỗ cô bé. Ta có thể…”

    “Không, Sachs. Nghe anh này. Em hạ hắn. Khi có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy hắn lấy vũ khí, bất kỳ thứ gì… em hãy hạ hắn.”

    Tiếng tĩnh điện loạt xoạt. Sau đó anh nghe thấy giọng nói bình thản của cô. “Em đang ở East Van Brevoort, Rhyme ạ. Anh đã đúng. Trông giống như chỗ của hắn.”



    Mười tám chiếc xe không số, hai xe thùng ESU và chiếc RRV của Sachs tụ tập gần một con phố ngắn, hoang vắng ở Lower East Side.

    East Van Brevoort trông như ở Sarajevo. Các tòa nhà bị bỏ hoang, một vài tòa nhà đã bị đốt trụi. Phía đông con phố là một bệnh viện đổ nát, mái của nó đã trũng xuống. Bên cạnh là một cái hố lớn trên mặt đất, không có dây chắn, với tấm biển Cấm vào có đóng dấu của Tòa án Quận – một khu khai quật khảo cổ mà Rhyme đã nhắc đến. Một con chó gầy giơ xương đã chết nằm trong ống máng, bị chuột gặm.

    Ở giữa bên kia phố là một ngôi nhà mặt tiền cẩm thạch, màu hồng nhạt với một nhà xe bên cạnh, trông khả dĩ hơn một chút so với những ngôi nhà đổ nát dọc Van Brevoort.

    Sellitto, Banks và Haumann đứng cạnh chiếc xe thùng ESU trong khi một tá sĩ quan khác đang mặc áo giáp chống đạn và kiểm tra những khẩu M-16. Sachs đi cùng họ, không hỏi han, nhét mớ tóc vào mũ bảo hiểm và bắt đầu mặc áo giáp.

    Sellitto nói: “Này Sachs, cô không phải là lính chiến thuật.”

    Kéo dây chiếc áo khóa dán Velcro xuống, cô nhìn chằm chằm vào viên thám tử, lông mày nhướn cao, cho tới khi anh ta chịu nhượng bộ: “Được rồi, nhưng cô ở hàng chặn hậu. Đó là mệnh lệnh.”

    Haumann nói: “Cô sẽ ở Nhóm Hai.”

    “Vâng, thưa ngài. Tôi chịu được việc này.”

    Một sĩ quan ESU đưa cho cô khẩu súng máy MP-5. Cô nghĩ tới Nick – cuộc hẹn hò của họ ở trường bắn tại Rodman’s Neck. Họ tập bắn súng tự động trong hai giờ, bắn theo hình chữ Z qua cửa, nạp đạn nhanh bằng cái kẹp đạn hình quả chuối và tháo súng M-16 để lau sạch cát. Nick thích bắn từng loạt ngắn nhưng Sachs không thích hỏa lực hỗn loạn của những thứ vũ khí lớn cho lắm. Cô đề nghị một trận đấu giữa chúng với khẩu Glock và đã thắng anh ba lần liên tiếp từ khoảng cách mười lăm feet. Anh cười và hôn cô say đắm khi những vỏ đạn cuối cùng văng ra, nảy trên nền trường bắn.

    “Tôi dùng súng của mình thôi”, cô nói với viên sĩ quan ESU.

    Những Chàng trai Dũng cảm chạy tới, lom khom như thể sợ xạ thủ bắn tỉa.

    “Chúng tôi có tin đây. Chẳng có ai ở đây. Khu này…”

    “Hoàn toàn trống rỗng.”

    “Cửa sổ nhà hắn đều bị chặn. Lối vào phía sau…”

    “Đi theo ngõ. Cửa mở.”

    “Mở?” Haumann hỏi, nhìn các sĩ quan của mình.

    Saul khẳng định: “Không những không khóa mà mở.”

    “Bẫy à?”

    “Chúng tôi không nghĩ vậy. Nhưng không có nghĩa là…”

    “Không có gì.”

    Sellitto hỏi: “Trong ngõ có cái xe nào không?”

    “Không.”

    “Hai cửa vào. Một cửa chính đằng trước…”

    “Trông có vẻ đóng chặt. Cửa vào thứ hai là của nhà để xe. Cửa kép, đủ rộng cho hai xe. Dùng khóa xích.”

    “Nhưng đều nằm trên sàn cả.”

    Haumann gật đầu: “Như vậy có thể hắn vẫn ở trong nhà.”

    “Có thể”, Saul nói, “nói cho anh ta nghe chúng ta nghĩ chúng ta nghe thấy gì.”

    “Rất nhỏ. Có thể là tiếng khóc.”

    “Có thể là tiếng la hét.”

    Sachs hỏi: “Cô bé?”

    “Có thể. Nhưng đã ngừng. Làm sao mà Rhyme nghĩ ra chỗ này?”

    “Các cậu nói tôi nghe đầu óc anh ta làm việc như thế nào?”, Sellitto nói.

    Haumann gọi một chỉ huy của mình lại và ra lệnh. Ngay sau đó, hai chiếc xe thùng của ESU lao tới ngã tư đường và chặn cả hai đầu phố.

    “Nhóm Một, cửa trước. Lấy mìn phá cửa. Cửa gỗ nên để mìn thấp xuống, được chứ? Nhóm Hai, vào ngõ. Nghe tôi đếm đến ba, rõ chưa? Vô hiệu hóa nhưng có thể cô bé còn trong đó nên phải nhìn phông trước khi siết cò. Sĩ quan Sachs, cô chắc là cô muốn làm việc này chứ?”

    Một cái gật đầu chắc chắn.

    “Được rồi, các chàng trai, cô gái. Đi tóm hắn thôi.”
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI HAI

    Sachs và năm sĩ quan khác trong Nhóm Hai chạy vào một con ngõ nóng như điên đã bị những chiếc xe của ESU phong tỏa. Những cây cỏ dại mọc lởm chởm đang ngoi lên khỏi lớp đá cuội và làm nứt nẻ nền móng, sự tiêu điều hoang vắng làm Sachs nhớ lại ngôi mộ bên cạnh đường ray sáng hôm qua.

    Anh ta hy vọng nạn nhân đã chết. Vì chính nạn nhân…

    Haumann đã ra lệnh cho các sĩ quan leo lên nóc những tòa nhà xung quanh, cô nhìn thấy nòng những khẩu Colt của họ dựng đứng lên như những chiếc ăng ten.

    Cả nhóm dừng lại ở cửa sau. Những người đồng sự nhìn cô khi cô kiểm tra những sợi băng cao su đeo trên giày. Cô nghe thấy một người trong số họ thì thầm điều gì đó về sự mê tín.

    Sau đó cô nghe thấy trong tai nghe.

    “Nhóm trưởng Nhóm Một ở cửa trước, mìn đã cài. Chúng tôi sẵn sàng, nghe rõ.”

    “Nghe rõ, nhóm trưởng Nhóm Một. Nhóm Hai?”

    “Nhóm Hai, vào vị trí. Nghe rõ?”

    “Nghe rõ, nhóm trưởng Nhóm Hai. Hai nhóm, tấn công nhanh. Nghe tôi đếm đến ba.”

    Kiểm tra vũ khí lần cuối.

    “Một…”

    Lưỡi tôi chạm vào một giọt mồ hôi đọng ở vết thương đang sưng trên môi cô.

    “Hai…”

    Được rồi, Rhyme bọn em vào đây.

    “Ba!”

    Tiếng nổ nghe rất dịu, một tiếng bốp từ xa, và sau đó các nhóm di chuyển. Nhanh. Cô chạy sau những sĩ quan ESU khi họ luồn vào trong và tản ra, những chiếc đèn pin gắn trên nòng súng quét ngang dọc với những tia sáng chói lóa như ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ. Sachs thấy chỉ có mình cô khi những người còn lại trong nhóm tản ra, kiểm tra tủ, giá quần áo và bóng tối phía sau những bức tượng lố bịch đầy trong căn nhà.

    Cô quay vào góc. Một khuôn mặt nhợt nhạt lờ mờ hiện ra. Một con dao…

    Tim đập thình thịch. Tư thế sẵn sàng chiến đấu, súng giương cao. Cô ấn mạnh cò súng trước khi cô nhận ra rằng mình đang nhìn vào một bức vẽ trên tường. Một tên đồ tể ghê rợn mặt tròn, một tay cầm dao, tay kia là một miếng thịt.

    Người anh em…

    Hắn chọn một chỗ tuyệt vời để làm nhà.

    Những sĩ quan ESU lộp cộp lên cầu thang, khám xét tầng một và tầng hai.

    Nhưng Sachs lại tìm kiếm một thứ khác.

    Cô tìm thấy một cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. Nó hé mở. Được rồi. Tắt đèn. Phải nhìn qua trước đã. Nhưng cô nhớ lại điều Nick từng nói: không bao giờ ngó vào góc ở tầm đầu hay ngực – đó chính là nơi hắn chờ đợi ta. Quỳ xuống. Hít thật sâu. Nhìn!

    Không có gì. Đen ngòm.

    Trở lại nơi ẩn nấp.

    Lắng nghe…

    Đầu tiên cô không nghe thấy gì. Sau đó chắc chắn có tiếng gãi. Tiếng loảng xoảng. Âm thanh thở gấp gáp hay tiếng khụt khịt.

    Hắn đang ở trong đó và đào lối ra!

    Cô nói vào mic: “Tôi thấy có động tĩnh dưới tầng hầm. Cần yểm trợ.”

    “Nghe rõ.”

    Nhưng cô không đợi được. Cô nghĩ đứa bé đang ở dưới đó với hắn. Cô bắt đầu bước xuống cầu thang. Dừng lại và lắng nghe. Sau đó cô nhận ra mình đang đứng với nửa thân dưới hoàn toàn không có bảo vệ. Cô nhảy xuống sàn nhà, tiếp đất với tư thế lom khom trong bóng tối.

    Thở sâu.

    Còn bây giờ, hành động thôi!

    Cây đèn halogen trên tay trái cô xuyên một tia sáng chói lòa khắp căn phòng. Nòng súng nhắm vào giữa chiếc đĩa trắng đang đong đưa từ trái sang phải. Chiếu luồng sáng xuống thấp. Hắn cũng có thể đang lom khom. Nhớ lại điều Nick nói với cô: bọn tội phạm không biết bay.

    Chẳng có gì. Không một dấu hiệu của hắn.

    “Sĩ quan Sachs?”

    Một sĩ quan ESU đang đứng trên đầu cầu thang.

    “Ôi, không”, cô lầm bầm khi luồng sáng chạm vào Pammy Ganz, đang cứng người trong góc tầng hầm.

    “Đừng di chuyển”, cô nói với người lính đặc nhiệm.

    Cách cô bé vài inch là một đàn chó hoang gầy gò, đang hít ngửi mặt, ngón tay, chân của cô bé. Đôi mắt mở to của cô bé nhìn hết con chó này sang con chó khác. Khuôn ngực nhỏ bé của bé phập phồng, nước mắt chan hòa trên mặt. Miệng bé há ra, cái lưỡi nhỏ xinh của nó như thể đã dính chặt vào vành môi bên phải.

    “Cứ ở trên đó”, cô nói với người lính đặc nhiệm. “Đừng làm chúng sợ.”

    Sachs ngắm nhưng không bắn. Cô có thể giết chết hai, ba con nhưng những con còn lại có thể hoảng loạn và vồ lấy cô bé. Một con thôi cũng có thể bẻ gãy cổ cô bé chỉ bằng một cái lắc đầu.

    “Hắn có dưới đó không?” Sĩ quan ESU hỏi.

    “Không biết. Anh gọi bác sĩ tới đây. Chỉ đứng ở đầu cầu thang thôi. Đừng ai xuống.”

    “Rõ.”

    Đầu ruồi súng của cô trượt từ con chó này sang con khác. Sachs chậm rãi tiến lên phía trước. Từng con một, lũ chó cảm nhận được cô và rời khỏi Pammy. Cô bé con chỉ là chút thức ăn; Sachs là thú săn mồi. Chúng gầm gừ, chân trước run rẩy trong khi chân sau duỗi thẳng, sẵn sàng nhảy lên.

    “Cháu sợ”, Pammy rít lên, thu hút sự chú ý của lũ chó.

    “Suỵt, cháu yêu”, Sachs dỗ dành. “Đừng nói gì cả. Yên lặng nào.”

    “Mẹ. Cháu muốn mẹ cháu!” Tiếng gào khóc của cô bé làm lũ chó phát khùng. Chúng nhảy nhót tại chỗ, vung vẫy những cái mũi méo mó sang hai bên, gầm gừ.

    “Từ từ, từ từ…”

    Sachs bước sang trái. Lúc này lũ chó đối mặt với cô, nhìn từ mắt xuống cánh tay cô đang duỗi ra và khẩu súng. Chúng tách làm hai bầy. Một bầy vẫn ở gần Pammy. Bầy kia đi vòng quanh Sachs, cố tấn công bên sườn cô.

    Cô luồn vào giữa cô bé và ba con chó gần nhất.

    Khẩu Glock được nâng lên hạ xuống, một con lắc. Những con mắt đen của chúng dán vào khẩu súng đen bóng.

    Một con chó vàng ghẻ lở gầm gừ và bước sang bên phải Sachs.

    Cô bé con đang thút thít: “Mẹ ơi…”

    Sachs di chuyển chậm rãi. Cô cúi xuống, kẹp tay vào áo cô bé và kéo nó ra sau cô. Con chó vàng tiến lại gần hơn.

    “Xùy…”, Sachs nói.

    Vẫn tiến lại gần hơn.

    “Cút đi!”

    Những con chó đằng sau con chó vàng căng thẳng khi nó nhe bộ răng vàng lởm chởm.

    “Cút con mẹ mày đi!” Sachs gầm lên rồi đập nòng khẩu Glock vào mũi con chó. Con chó chớp mắt vì mất tinh thần, ré lên và chạy lên cầu thang.

    Pammy gào lên khiến những con chó khác phát điên. Chúng bắt đầu đánh nhau, tạo ra một cơn lốc xoáy răng và nước bọt. Một con Rottweiler[135] đầy sẹo ném một con chó lai xuống sàn như một búi giẻ đầy bụi ngay trước mặt Sachs. Cô giẫm mạnh chân cạnh vật thể gầy còm màu nâu và nó nhổm lên, chạy vụt lên cầu thang. Những con chó khác đuổi theo nó như lũ chó săn đuổi một con thỏ.

    Pammy bắt đầu nức nở. Sachs quỳ xuống cạnh cô bé và dùng cây đèn quét tầng hầm lần nữa. Không có dấu hiệu gì của tên tội phạm.

    “Ổn rồi, cháu yêu.Chúng ta sẽ về nhà ngay thôi. Cháu sẽ ổn thôi. Người đàn ông ở đây? Cháu còn nhớ ông ta không?

    Cô bé gật đầu.

    “Ông ta đi chưa?”

    “Cháu không biết. Cháu muốn mẹ.”

    Sachs nghe tiếng những sĩ quan khác báo cáo. Tầng một và tầng hai an toàn. “Chiếc xe và chiếc taxi?” Sachs hỏi. “Có dấu hiệu gì không?”

    Một người lính nói: “Chúng không có đây. Chắc là hắn đã đi rồi.”

    Hắn không ở đó, Amelia. Như thế là phi logic.

    Từ trên cầu thang một sĩ quan gọi: “Tầng hầm an toàn chưa?”

    Cô nói: “Tôi sẽ kiểm tra, chờ chút.”

    “Chúng tôi xuống đây.”

    “Không được”, cô nói. “Chúng ta có một hiện trường vụ án khá sạch sẽ và tôi muốn giữ nó được như thế. Chỉ cần đưa nhân viên y tế xuống đây để kiểm tra cô bé.”

    Một nhân viên y tế trẻ, tóc màu cát đi xuống rồi quỳ xuống cạnh Pammy.

    Chính lúc đó Sachs nhìn thấy một dấu vết dẫn tới phía sau tầng hầm – tới một cánh cửa sắt thấp sơn đen. Cô đi tới đó, tránh không giẫm lên đường để bảo vệ dấu chân, rồi cô quỳ xuống. Cánh cửa khép hờ và có vẻ như có một đường hầm phía bên kia, tối tăm nhưng không hoàn toàn đen kịt, dẫn tới một tòa nhà khác.

    Một đường thoát. Thằng khốn.

    Cô dùng xương nắm tay trái đẩy cánh cửa mở rộng hơn. Nó không kêu rên rỉ. Cô ngó vào trong đường hầm. Có ánh sáng mờ mờ cách đó hai mươi, ba mươi feet. Không có cái bóng chuyển động nào.

    Nếu Sachs nhìn thấy thứ gì trong bóng mờ tối thì đó là thân hình biến dạng của T.J. đang đung đưa trên đường ống màu đen, là cơ thể tròn trịa, yếu ớt của Monelle Gerger lúc con chuột đen trèo lên cổ họng cô ta.

    “5885 báo cáo Trung tâm”, Sachs nói vào mic.

    “Nói đi, nghe rõ”, Haumann trả lời cộc lốc.

    “Tôi thấy một đường hầm dẫn tới một tòa nhà phía nam tòa nhà của thủ phạm. Cho người bọc lót cửa lớn và cửa sổ đi.”

    “Sẽ làm, nghe rõ.”

    “Tôi sẽ vào”, cô nói với anh ta.

    “Vào đường hầm? Chúng tôi sẽ cho người yểm trợ cô, Sachs.”

    “Không. Tôi không muốn hiện trường bị ô nhiễm. Chỉ cần cho người để ý đến cô bé.”

    “Nói lại xem nào.”

    “Không. Không cần yểm trợ.”

    Cô tắt đèn và bắt đầu bò.

    Tất nhiên trong học viện không có khóa học xử lý chuột cống. Nhưng những điều Nick nói với cô về việc bảo vệ hiện trường không thân thiện quay lại với cô. Giữ súng gần người, không chĩa quá xa, vì có thể sẽ bị đánh bật ra. Ba bước – à, lê chân – tới trước, dừng lại. Nghe ngóng. Thêm hai bước. Dừng lại. Nghe ngóng. Lần sau bốn bước. Đừng làm điều gì có thể đoán trước được.

    Quỷ thật, tối quá.

    Nhưng mùi gì thế nhỉ? Cô sởn gai ốc vì kinh tởm khi ngửi thấy thứ mùi nóng nực, kinh khủng.

    Nỗi sợ bị giam cầm bao lấy cô như một đám khói dầu và cô phải dừng lại một lúc, tập trung vào bất kỳ thứ gì ngoài bức tường. Cơn hoảng loạn trôi qua nhưng mùi thì kinh khủng hơn. Cô nôn khan.

    Yên nào, cô bé. Yên nào!

    Sachs kiểm soát được phản xạ và đi tiếp.

    Tiếng gì thế nhỉ? Thứ gì đó như điện. Tiếng rù rì, dâng lên rồi chìm xuống.

    Mười feet nữa là hết đường hầm. Qua ô cửa, cô có thể nhìn thấy một tầng hầm lớn thứ hai. Âm u, mặc dù không tối như tầng hầm nhốt Pammy. Ánh sáng lọt vào qua một cái cửa sổ nhờn dầu. Cô thấy những hạt bụi bay lượn trong bóng tối.

    Không, không được cô bé. Cô giữ súng trước mặt quá xa. Chỉ một cú đánh ra xong. Kéo nó lại gần mặt. Giữ trọng tâm thấp và lùi ra sau! Tay để ngắm bắn, mông giữ thăng bằng.

    Cô đến được chỗ ô cửa.

    Cô lại nôn khan, cố gắng dập tắt âm thanh.

    Hắn có đợi mình không nhỉ?

    Thò đầu ra, nhìn thật nhanh. Mày có mũ bảo hiểm. Nó sẽ chống được mọi thứ trừ đạn bọc kim loại hay Teflon, nhớ rằng hắn chỉ có khẩu .32. Súng nữ.

    Được rồi. Nghĩ đã. Xem nhìn bên nào trước?

    Cẩm nang tuần tra không giúp được gì còn Nick thì không có lời khuyên nào trong lúc này. Tung đồng xu vậy.

    Sang trái.

    Cô thò đầu ra thật nhanh, nhìn sang trái. Rồi thụt vào đường hầm.

    Cô không nhìn thấy gì. Một bức tường trống, bóng tối.

    Nếu hắn đứng phía bên kia chắc chắn hắn đã thấy mày và có vị trí nhắm bắn tốt.

    Được rồi, kệ mẹ nó. Cứ đi thôi. Nhanh lên.

    Khi ta di chuyển…

    Sachs nhảy lên.

    … chúng không thể bắt được ta.

    Cô nặng nề rơi xuống sàn, lăn tròn. Xoay người lại.

    Một hình người trốn trong bóng tối trên bức tường bên phải, phía dưới cửa sổ. Nhắm mục tiêu, cô chuẩn bị bắn. Nhưng rồi đông cứng.

    Amelia Sachs thở dốc.

    Ôi, trời ơi…

    Cô không thể rời mắt khỏi thân thể một người phụ nữ bị dựng đứng vào tường.

    Từ eo trở lên, cô ta là người gầy gò, tóc màu nâu tối, một khuôn mặt gầy hốc hác, ngực nhỏ, tay xương xẩu. Ruồi bâu kín làn da cô ta – tiếng vù vù mà Sachs đã nghe thấy.

    Còn từ eo trở xuống, cô ta…chẳng có gì. Những chiếc xương hông máu me, xương đùi, xương sống, bàn chân…Toàn bộ thịt đã bị hòa tan trong một bể tắm ghê sợ bên cạnh cô ta – một món thịt hầm kinh khủng, màu nâu đậm, những khúc thịt trôi nổi bên trong. Có thể là dung dịch kiềm hay acid. Khói làm mắt Sachs cay sè, trong khi sự khủng khiếp – và cơn giận dữ – sôi sục trong tim cô.

    Tội nghiệp…

    Sachs xua đuổi một cách vô nghĩa lũ ruồi đang túi bụi bay vào mặt kẻ đột nhập mới.

    Cánh tay người phụ nữ đang thư giãn, bàn tay ngửa lên trên như thể cô ta đang trầm tư. Mắt nhắm. Bộ quần áo chạy thể thao đang nằm cạnh cô ta.

    Cô ta không phải là nạn nhân duy nhất.

    Một bộ xương khác – đã bị lóc sạch thịt – nằm cạnh một cái bể chứa tương tự, cũ hơn, không còn chất acid kinh khủng nhưng bị bao bọc bởi lớp cặn máu và thịt đen sì. Bộ xương không có cẳng tay và cánh tay. Và đằng sau nó là một bộ xương khác – nạn nhân này bị chặt nhỏ, những cái xương bị lóc thịt kỹ lưỡng, rửa sạch và đặt cẩn thận trên sàn. Một chồng giấy ráp được xếp cạnh xương sọ. Những đường cong tao nhã của cái đầu bóng loáng lên như một chiếc cúp.

    Rồi cô nghe thấy ở phía sau.

    Một hơi thở. Mờ nhạt nhưng không thể nhầm lẫn. Tiếng khò khè của không khí sâu trong họng.

    Cô quay lại, tự giận dữ với bản thân vì sự bất cẩn của mình.

    Chỉ có tầng hầm trống rỗng nhìn cô. Cô quét tia sáng trên sàn nhà bằng đá, vì vậy không hiện dấu chân rõ như nhà của 823 bên cạnh.

    Một hơi thở nữa.

    Hắn ở đâu? Ở đâu?

    Sachs khom người xuống thấp hơn, chiếu tia sáng sang bên, lên xuống… Không có gì cả.

    Hắn ở chỗ chết tiệt nào nhỉ? Đường hầm khác? Một lối thoát ra phố?

    Cô nhìn xuống nền nhà một lần nữa và phát hiện một thứ mà cô nghĩ là dấu vết mờ nhạt dẫn vào vùng bóng tối của căn phòng. Cô đi theo nó.

    Dừng lại. Nghe ngóng.

    Hơi thở?

    Có. Không.

    Cô quay lại một cách ngu ngốc, nhìn lần nữa vào người phụ nữ đã chết.

    Nào!

    Quay lại nhìn lần nữa.

    Đi dọc nền nhà.

    Chẳng có gì. Làm sao mình nghe thấy nhưng không thể nhìn thấy hắn?

    Bức tường phía trước cô kín mít. Không có cửa hay cửa sổ. Cô lùi lại, về phía những bộ xương.

    Từ đâu đó, lời nói của Rhyme quay lại với cô. “Hiện trường vụ án có ba chiều.”

    Bất thình lình Sachs nhìn lên, chiếu tia sáng trước mặt cô. Hàm răng của một con chó giống Doberman[136] khổng lồ phản xạ ánh sáng về phía cô – những miếng thịt màu xám đong đưa. Cách đó khoảng hai feet trên bờ tường cao. Nó đang chờ đợi cô, như một con mèo hoang.

    Trong một khắc, không ai động đậy. Hoàn toàn chết cứng.

    Sau đó Sachs cúi đầu xuống theo bản năng. Trước khi cô kịp giương súng, nó lao mình vào mặt cô. Hàm răng của nó cắn vào chiếc mũ. Ngậm chặt sợi dây trong miệng, nó giật điên cuồng, những muốn bẻ cổ cô khi họ cũng ngã xuống, bên cạnh cái thùng đựng đầy acid. Khẩu súng bay khỏi tay cô.

    Con chó vẫn giữ chặt mũ bảo hiểm của cô trong khi chân sau của nó nhảy lên, hai hàm răng thọc sâu vào áo giáp, vào bụng và vào đùi cô. Cô đấm nó thật mạnh nhưng nó giống như một khúc gỗ trì độn; nó không hề cảm thấy cú đánh.

    Thả chiếc mũ bảo hiểm ra, nó lùi lại, sau đó lao vào mặt cô. Cô đấm tay trái vào mắt nó khi nó ngoạm cánh tay cô. Cô cảm thấy những chiếc răng kẹp vào da mình, cô lôi con dao gấp trong túi ra và thọc vào xương sườn con chó. Một tiếng tru chói tai, nó lăn ra khỏi người cô và lao thẳng ra cửa.

    Sachs nhặt khẩu súng ngắn và ngay lập tức đuổi theo nó, quờ quạng chạy trong đường hầm. Cô lao ra ngoài để nhìn thấy con thú đang lao thẳng tới chỗ Pammy và nhân viên y tế, anh này đang đứng chết cứng khi nhìn thấy con Doberman lao lên không trung.

    Sachs quỳ xuống bắn hai phát. Một phát trúng đầu con chó, phát thứ hai đập vào bức tường gạch. Con chó ngã vật xuống thành một đống thịt run rẩy dưới chân nhân viên y tế.

    “Tiếng súng”, cô nghe thấy tiếng nói trong bộ đàm và khoảng nửa tá lính đặc nhiệm lao xuống cầu thang, kéo con chó ra và dàn hàng quanh cô bé.

    “Được rồi!” Sachs la lớn. “Là tôi đấy.”

    Nhóm đặc nhiệm đứng lên.

    Pammy đang la hét: “Con chó chết rồi… Cô ấy giết nó.”

    Sachs cất súng và nhấc cô bé lên hông mình.

    “Mẹ ơi!”

    “Cháu sẽ gặp mẹ ngay thôi”, Sachs nói. “Các cô sẽ gọi cho mẹ cháu ngay.”

    Lên trên cầu thang, cô đặt Pammy xuống sàn và quay sang một sĩ quan ESU đang đứng gần đó. “Tôi đánh mất chìa khóa còng rồi. Anh làm ơn tháo cho cô bé, được chứ? Mở nó ra một tờ báo sạch, gói nó vào giấy và cho tất cả vào một cái túi nhựa.”

    Viên sĩ quan đảo mắt. “Nghe này người đẹp, đi tìm lính mới mà ra lệnh.” Anh ta bước ra chỗ khác.

    “Anh lính”, Bo Haumann quát, “anh sẽ làm những gì cô ấy nói.”

    “Thưa ngài”, anh ta chống trả, “tôi là lính đặc nhiệm.”

    “Tin mới đây”, Sachs lầm bầm, “bây giờ anh là dân khám nghiệm hiện trường.”



    Carol Ganz nằm trong phòng ngủ màu be rất đậm, nhìn lên trần nhà, nghĩ tới thời gian khoảng vài tuần trước khi cô, Pammy và nhóm bạn ngồi quanh đám lửa trại ở Winsconsin tại nhà của Kate và Eddie, nói chuyện, kể chuyện, hát.

    Giọng của Kate không hay lắm, nhưng Eddie thì có thể trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Anh ấy chơi được ghita. Anh ấy hát bài Tapestry của Carole King cho mình cô nghe và Carole vừa thì thầm hát vừa khóc. Cô nghĩ, có thể, chỉ là có thể thôi, cô đã thực sự để cái chết của Ron lại phía sau và tiếp tục cuộc sống của mình.

    Cô nhớ tới giọng của Kate đêm đó: “Khi ta giận dữ, cách duy nhất để xứ lý nó là gói nó lại và quẳng đi. Đưa nó cho ai đấy. Cậu có nghe thấy không? Đừng giữ nó bên trong cậu. Cho nó đi.”

    Lúc này cô đang giận dữ. Điên cuồng.

    Một đứa trẻ – một thứ rác rưởi không có suy nghĩ – đã lấy mất chồng cô, bắn vào lưng anh. Còn bây giờ, một thằng điên nào đó đã bắt con gái cô. Cô những muốn nổ tung. Cô đã phải dùng toàn bộ ý chí để không cho phép mình ném các thứ vào tường và tru lên như chó sói.

    Cô nằm trên giường và thận trọng đặt cổ tay bị gãy của mình lên bụng. Cô đã uống Demerol, nó giúp giảm đau nhưng cô không thể ngủ được. Cô không làm gì ngoài việc ở trong nhà cả ngày, cố gắng liên lạc với Kate và Eddie, chờ tin tức của Pammy.

    Cô cứ hình dung ra Ron, hình dung ra cơn giận của cô, thực sự hình dung cô đang cho nó vào trong một cái hộp, gói ghém cẩn thận, đóng dấu…

    Rồi điện thoại reo vang. Cô nhìn nó một lát rồi nhấc máy.

    “Tôi nghe.”

    Carole lắng nghe một nữ cảnh sát nói với cô là họ đã tìm thấy Pammy, rằng con bé đang trong bệnh viện nhưng nó ổn. Một lát sau, Pammy nói vào điện thoại và cả hai cùng vừa khóc vừa cười.

    Mười phút sau, cô đã trên đường đến bệnh viện Manhattan, ngồi ở ghế sau một chiếc xe cảnh sát màu đen.

    Thực sự là Carole đã chạy hết tốc lực theo hành lang dẫn tới phòng Pammy và thấy ngạc nhiên khi bị một cảnh sát đứng gác chặn lại. Như vậy là họ vẫn chưa bắt được thằng khốn ấy ư? Nhưng cô chỉ cần nhìn thấy con gái mình, cô đã quên hắn ta, quên nỗi sợ hãi khi ở trong chiếc taxi và cái tầng hầm ghê rợn. Cô vòng tay ôm đứa con gái bé bỏng của mình.

    “Ôi, con yêu, mẹ nhớ con! Con ổn chứ? Ổn cả chứ con?”

    “Cô ấy, cô ấy giết con chó…”

    Carole quay lại và nhìn thấy một người nữ cảnh sát cao, tóc đỏ đang đứng gần đó, người đã cứu cô ra khỏi tầng hầm của nhà thờ.

    “… nhưng không sao vì nó muốn ăn thịt con.”

    Carole ôm lấy Sachs: “Tôi không biết phải nói gì… Tôi chỉ… Cảm ơn cô. Cảm ơn cô.”

    “Pammy ổn rồi”, Sachs quả quyết với cô. “Vài vết xước… không có gì nghiêm trọng… và con bé bị ho một chút.”

    “Bà Ganz?” Một thanh niên vào phòng, đem theo vali và chiếc ba lô màu vàng của cô. “Tôi là thám tử Banks. Chúng tôi có hành lý của bà ở đây.”

    “Ôi, ơn Chúa.”

    “Có bị mất gì không?” Anh ta hỏi cô.

    Cô nhìn cẩn thận chiếc ba lô. Tất cả các thứ đều ở đó. Tiền, con búp bê của Pammy, gói đất nặn, bồ đồ chơi Mr. Potato Head, đĩa CD, cái đài đồng hồ… Hắn chẳng lấy gì cả. Từ từ đã…” Anh biết không, tôi nghĩ là có mất một tấm hình. Tôi không chắc lắm. Tôi nghĩ tôi có nhiều hơn thế này. Nhưng các thứ quan trọng thì ở đây cả.”

    Viên thám tử đưa cô ký vào tờ biên lai.

    Một bác sĩ nội trú trẻ tuổi vào phòng. Anh ta đùa với Pammy về con gấu Pooh của con bé trong lúc đo huyết áp.

    Carole hỏi anh ta: “Khi nào thì chúng ta đi được?”

    “À, chúng tôi chỉ giữ cháu ở đây vài ngày. Chỉ để đảm bảo rằng….”

    “Vài ngày? Nhưng con bé ổn mà.”

    “Con bé hơi bị viêm phế quản nên tôi muốn theo dõi. Và…”, anh ta hạ giọng. “Chúng tôi cũng có một chuyên gia về chuyện lạm dụng. Chỉ để chắc chắn hơn.”

    “Nhưng ngày mai con bé phải đi với tôi. Đến những buổi lễ của Liên Hiệp Quốc. Tôi đã hứa với nó rồi.”

    Người nữ cảnh sát nói thêm: “Tốt hơn là để con bé được bảo vệ ở đây. Chúng tôi vẫn chưa biết thủ phạm – tên bắt cóc – ở đâu. Chúng tôi sẽ cử một sĩ quan trông cháu.”

    “Vậy thì chắc là được. Tôi có thể ở lại với cháu một lúc, được không?”

    “Chắc chắn rồi”, bác sĩ nội trú nói. “Chị có thể ở lại qua đêm. Chúng tôi sẽ đem một chiếc giường trẻ em đến.”

    Sau đó Carole được ở một mình với con gái. Cô ngồi xuống giường và vòng tay quanh đôi vai hẹp của con bé. Cô có một chút khó chịu khi nhớ lại hắn, tên điên khùng ấy, đã chạm vào Pammy như thế nào. Ánh mắt của hắn khi hắn hỏi cô xem liệu hắn có được lột da cô hay không… Carole sởn gai ốc và bắt đầu khóc.

    Pammy là người đưa cô trở lại thực tại. “Mẹ ơi, kể chuyện cho con nghe… Không, không, hát bài gì đó cho con nghe. Hát bài hát bạn bè đi mẹ. Làm ơn mà!”

    Lấy lại bình tĩnh, Carole hỏi: “Con muốn nghe bài đấy à?”

    “Vâng ạ!”

    Carole đặt con bé vào lòng mình, bắt đầu hát bài You’ve got a friend bằng cái giọng khàn khàn. Pammy hát theo cô từng đoạn.

    Đó là một trong những bài hát ưa thích của Ron và mấy năm qua, từ khi anh mất, cô không thể nghe hết vài đoạn trong bài hát mà không ứa nước mắt.

    Ngày hôm nay, cô và Pammy đã cùng nhau hát hết bài hát này, khá đúng nhạc, mắt ráo lệ và cười vui.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI BA

    Cuối cùng thì Amelia Sachs cũng về đến căn hộ của cô ở Caroll Gardens, Brooklyn.

    Cách nhà cha mẹ cô đúng sáu khối nhà, nơi mẹ cô đang sống. Vừa bước vào trong nhà, cô bấm nút quay số nhanh chiếc điện thoại trong bếp.

    “Mẹ. Con đây. Con sẽ đưa mẹ đi Plaza ăn bữa trưa. Thứ Tư. Đó là ngày nghỉ của con.”

    “Để làm gì? Để ăn mừng nhiệm vụ mới của con? Phòng Quan hệ Công chúng thế nào? Không thấy con gọi điện.”

    Một nụ cười thoáng qua. Sachs nhận ra mẹ cô không hề biết cô đã làm gì trong hơn một ngày qua.

    “Mẹ có xem thời sự không ạ?”

    “Mẹ à? Mẹ là người hâm mộ bí mật của Brokaw[137] mà, con biết đấy.”

    “Mẹ có nghe về kẻ bắt cóc mấy ngày vừa rồi không?”

    “Ai mà không biết… Con định nói gì với mẹ thế, con yêu?”

    “Con có tin nội bộ sốt dẻo đây.”

    Và cô kể cho người mẹ đang kinh ngạc của cô câu chuyện – về việc cứu sống các nạn nhân, về Lincoln Rhyme, và với một chút chỉnh sửa, về những hiện trường vụ án.

    “Amie, cha con sẽ rất tự hào.”

    “Thế thì báo ốm thứ Tư mẹ nhé. Plaza. Được chứ?”

    “Quên nó đi, con yêu. Tiết kiệm tiền chứ. Mẹ có bánh quế và đồ ăn của hiệu Bob Evans[138] trong tủ lạnh. Con có thể đến đây.”

    “Không đắt lắm đâu mẹ ơi.”

    “Không đắt lắm ư? Cả gia tài đấy.”

    “Thế thì thế này”, Sachs nói, cố tỏ ra tự nhiên, “mẹ thích Pink Teacup, đúng không?”

    Một quán nhỏ ở West Village bán món trứng và bánh kếp ngon nhất vùng East Cost với giá gần như cho không.

    Ngừng một lát.

    “Nghe được đấy.”

    Đó là chiến lược mà Sachs sử dụng thành công trong nhiều năm nay.

    “Con phải nghỉ chút, mẹ ạ. Ngày mai con gọi lại.”

    “Con làm việc nhiều quá. Amie, cái vụ này của con… không nguy hiểm chứ?”

    “Con chỉ làm bên kỹ thuật thôi mà mẹ. Hiện trường vụ án. Chẳng có gì an toàn hơn được.”

    “Họ chỉ định đúng con!” Người mẹ nói. Sau đó nhắc lại: “Cha con chắc sẽ rất tự hào về con.”

    Họ cúp máy và Sachs vào phòng ngủ, thả mình xuống giường.

    Sau khi rời khỏi phòng của Pammy, Sachs đến thăm hai nạn nhân còn sống sót khác của thủ phạm 823. Monelle Gerger, băng bó lốm đốm và đã được tiếp đầy huyết thanh phòng dại, đã được ra viện và trở về với gia đình ở Frankfurt “nhưng chỉ đến cuối mùa hè”, cô ta cứng rắn nói, “không phải đi luôn, chị biết đấy”. Và cô chỉ vào bộ dàn và bộ sưu tập CD trong căn hộ đổ nát ở khu Deutsche Haus để chứng minh rằng không có thằng điên nào ở New World có thể xua được cô ra khỏi thành phố.

    William Everette vẫn còn trong bệnh viện. Ngón tay gãy tất nhiên không phải là vấn đề nghiêm trọng nhưng tim ông lại có vấn đề. Sachs ngỡ ngàng khi biết được ông có một cửa hiệu ở Hell’s Kitchen nhiều năm trước và nghĩ có thể ông biết cha cô. “Tôi biết tất cả cảnh sát tuần tra”, ông ta nói. Cô cho ông ta xem bức hình một người đàn ông mặc cảnh phục trong ví cô. “Tôi nghĩ thế, tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ thế.”

    Những cuộc gặp gỡ chỉ có tính xã giao nhưng Sachs vẫn đem theo nhật ký tuần tra. Tiếc là cả hai nạn nhân chẳng thể nói cho cô biết thêm điều gì về nghi phạm 823.

    Lúc này trong căn hộ của mình, Sachs đang nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô nhìn thấy những cây bạch quả và cây phong rung rinh trong cơn gió mạnh. Cô cởi bỏ bộ cảnh phục, gãi ngực – chỗ lúc nào cũng ngứa như điên vì bị ép chặt dưới lớp áo giáp chống đạn. Cô mặc chiếc áo choàng tắm.

    Thủ phạm 823 không nhận được nhiều cảnh báo nhưng chừng đó cũng đủ. Nơi ẩn nấp tại Van Brevoort đã được rửa sạch hoàn toàn. Mặc dù chủ nhà nói hắn chuyển đến đã khá lâu – tháng Một vừa rồi (với một giấy chứng minh giả, không ai ngạc nhiên về điều này) – 823 đã để lại tất cả những gì hắn đem đến, kể cả rác rưởi. Sau khi Sachs khám nghiệm hiện trường, Phòng Mật vụ NYPD đã đến hút bụi tất cả các mặt phẳng có ở đó. Nhưng các báo cáo ban đầu hoàn toàn không đáng khích lệ.

    “Có vẻ cả khi đi ị hắn cũng đeo găng tay”, Banks báo cáo với cô.

    Một đơn vị Cơ động đã tìm thấy chiếc xe hơi và chiếc taxi. Nghi phạm 823 đã ranh mãnh đỗ chúng gần Đại lộ D và Phố Chín. Sellitto đoán chỉ cần bảy, tám phút là các băng nhóm địa phương đã bóc chiếc xe chỉ còn khung. Bất kỳ vật chứng nào có thể còn trong xe lúc này đã nằm trong khoảng một tá cửa hàng phụ tùng quanh thành phố.

    Sachs xoay người quanh bồn tắm và thấy tin mới. Chẳng có gì liên quan tới vụ bắt cóc. Tất cả các câu chuyện đều xoay quanh những buổi lễ khai mạc của hội nghị hòa bình Liên Hiệp Quốc.

    Cô nhìn chằm chằm vào Bryan Gumbel[139], nhìn chăm chú Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, các nhà ngoại giao đến từ Trung Đông, chăm chú hơn nhiều so với mức độ quan tâm của cô. Thậm chí cô còn đọc cả quảng cáo như là cô muốn học thuộc chúng.

    Vì có một điều mà chắn chắn là cô không muốn nghĩ tới: thỏa thuận của cô với Lincoln Rhyme.

    Thỏa thuận rất rõ ràng. Lúc này Carole và Pammy đã an toàn, đến lượt cô vào cuộc. Cho anh một giờ riêng với bác sĩ Berger.

    Giờ là ông ta, Berger… Cô không hề thích vẻ ngoài của ông bác sĩ đó. Ta có thể nhìn thấy một cái tôi lớn tướng trong thân hình rắn chắc, khỏe mạnh của ông ta, trong đôi mắt lẩn tránh của ông ta. Mái tóc đen của ông ta được chải một cách hoàn hảo. Quần áo đắt tiền. Tại sao Rhyme lại không thể tìm được ai đó như Kevorkian[140]? Ông ta có vẻ mưu mô, nhưng ít nhất trông ông ta còn giống một người ông thông thái.

    Mí mắt cô sụp xuống.

    Bỏ qua người đã chết…

    Thỏa thuận là thỏa thuận. Nhưng mà quỷ tha ma bắt, Rhyme…

    Được rồi, cô không thể để anh ta ra đi mà không thử lần cuối. Anh ta đã tóm được cô trong phòng ngủ của anh ta. Cô đã bối rối. Không nghĩ ra được lý lẽ nào thực sự tốt. Thứ Hai. Cô còn có thời gian đến ngày mai để thuyết phục anh ta không làm việc đó. Hoặc ít nhất là đợi một thời gian. Một tháng. Quỷ thật, một ngày.

    Cô có thể nói gì với anh ta? Cô viết ra những lý lẽ của mình. Viết một bài diễn văn ngắn.

    Mở mắt ra, cô trèo ra khỏi giường để tìm cây bút và mấy tờ giấy. Mình có thể…

    Sachs cảm thấy ớn lạnh, hơi thở của cô rít lên trong phổi như gió thổi bên ngoài.

    Hắn mặc bộ đồ đen, chiếc mặt nạ trượt tuyết và đôi găng tay đen như dầu.

    Thủ phạm 823 đang đứng giữa phòng ngủ của cô.

    Cánh tay cô theo bản năng vươn tới cái bàn đầu giường – khẩu Glock và con dao. Nhưng hắn đã sẵn sàng. Chiếc xẻng vung lên thật nhanh và đập vào cạnh đầu cô. Ánh sáng vàng bùng lên trong mắt cô.

    Cô quỳ cả hai chân, hai tay, một bàn chân đá vào lồng ngực làm cô ngã quỵ, và cô cố vùng vẫy để thở. Cô cảm thấy tay cô đã bị còng ra sau, một đoạn băng dính dán trên miệng cô. Chuyển động nhanh, hiệu quả. Hắn lật ngửa cô ra; chiếc áo choàng tắm mở tung.

    Giận dữ khua chân, gắng sức như điên hòng dứt đứt sợi dây còng.

    Một cú đánh nữa vào dạ dày. Cô nôn khan nhưng vẫn cảm thấy hắn giơ tay nắm lấy mình. Tóm dưới nách cô, hắn kéo cô ra cửa sau và đi vào một khu vườn lớn kín đáo phía sau căn hộ.

    Ánh mắt hắn vẫn trên mặt cô, thậm chí không buồn nhìn núm vú của cô, cái bụng phẳng, xương mu với vài sợi lông xoăn màu đỏ của cô. Cô có thể sẵn sàng cho hắn những thứ đó nếu điều đó có thể cứu được mạng sống của cô.

    Nhưng không, chẩn đoán của Rhyme là đúng. Tình dục không phải động cơ của 823. Trong đầu hắn còn có thứ gì khác. Hắn ném thân hình mảnh dẻ của cô xuống một bụi hoa và cây lá dày, mặt ngửa lên trời, khuất tầm mắt hàng xóm. Hắn nhìn quanh, lấy hơi. Hắn nhặt cái xẻng lên và thọc lưỡi xẻng xuống đất.

    Amelia Sachs bắt đầu khóc.



    Anh dụi gáy vào gối.

    Hành vi mang tính bắt buộc, một bác sĩ đã nói với anh như vậy sau khi quan sát hành vi này của anh – một ý kiến Rhyme không yêu cầu hay mong muốn. Rhyme nghĩ việc dụi đầu vào gối của anh cũng giống như việc Amelia Sachs dùng móng tay bóc thịt ngón tay.

    Anh thả lỏng cơ cổ, xoay xoay đầu trong khi nhìn lên tấm áp phích treo trên tường. Rhyme tin rằng toàn bộ câu chuyện về sự điên rồ của người đàn ông đó đang nằm trước mặt anh. Trong những dòng chữ viết tay màu đen, mấp mô – và những khoảng trống giữa các từ. Nhưng anh chưa thể đọc được đoạn kết của câu chuyện. Tạm thời thì chưa.

    Anh nhìn một lần nữa vào những manh mối. Chỉ còn vài thứ vẫn chưa được giải thích.

    Vết sẹo trên ngón tay.

    Nút buộc.

    Mùi nước hoa dùng sau khi cạo râu.

    Vết sẹo đối với họ là vô ích nếu như họ không có được một nghi phạm để có thể kiểm tra ngón tay. Chẳng có gì may mắn trong việc nhận dạng kiểu nút buộc – chỉ có ý kiến của Banks cho rằng đó không phải là nút buộc kiểu hải quân.

    Mùi nước hoa dùng sau khi cạo râu rẻ tiền thì sao? Giả sử phần lớn thủ phạm không xịt nước hoa khi bắt cóc, vì sao hắn lại làm khác? Rhyme chỉ có thể kết luận rằng hắn làm thế để át đi một thứ mùi khác, dễ lộ hơn. Anh điểm qua các khả năng: Thức ăn, rượu, hóa chất, thuốc lá…

    Anh cụp mắt xuống và nhìn sang phải.

    Những điểm đen trong hố mắt xương xẩu của con rắn nhìn về phía chiếc giường Clinitron. Đó là một trong những manh mối không phù hợp. Nó chẳng có mục tiêu gì, ngoài việc nhạo báng họ.

    Bất chợt có điều gì đó nảy ra trong anh. Sử dụng cái khung lật trang, anh chậm rãi lật lại cuốn Tội phạm ở New York xưa. Đến chương nói về James Schneider. Anh tìm thấy đoạn văn mà anh vừa nhớ ra.


    Một bác sĩ thần kinh nổi tiếng (người thực hành môn “tâm lý” đã được báo chí nhắc đến rất nhiều trong thời gian vừa qua) cho rằng ý định thực sự của James Schneider không phải là hãm hại nạn nhân của hắn. Mà thực sự – người bác sĩ giàu kinh nghiệm đó cho rằng – tên tội phạm đang tìm cách báo thù những người mà hắn cho là có hại: sở cảnh sát thành phố và có thể là cả xã hội.

    Ai mà biết được gốc gác sự thù hận của hắn nằm ở đâu? Có thể giống như dòng sông Nile cổ xưa, không ai trên thế giới biết được nó bắt nguồn từ đâu; có thể chính bản thân hắn cũng không hay biết. Tuy vậy, một lý do có thể được tìm thấy trong một sự kiện ít người biết đến là, James Schneider khi còn nhỏ, lúc mới mười tuổi, đã nhìn thấy cha mình bị cảnh sát lôi đi, để rồi chết trong nhà tù vì tội cướp giật và sau đó ông ta đã được chứng minh là vô tội. Sau lần bắt bớ không may đó, mẹ cậu bé sống cuộc sống đường phố và bỏ rơi đứa con, đứa bé lớn lên trong sự bảo trợ của bang.

    Có phải ngẫu nhiên mà tên điên đó gây ra những tội ác này để cười vào mặt chính ngành cảnh sát đã vô ý làm tan nát gia đình hắn không?

    Chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ biết được.

    Tuy nhiên, điều có vẻ rõ ràng nhất là, cùng với việc chế nhạo sự bất lực của những người bảo vệ công dân, James Schneider – “Kẻ Tầm Xương” – đã ném sự trả thù lên chính thành phố cũng như những nạn nhân vô tội của hắn.


    Lincoln ngửa đầu lên gối và nhìn lại bản hồ sơ trên tường.



    Đất nặng hơn tất cả mọi thứ.

    Chính là đất, bụi từ một lõi sắt, và nó không giết người bằng cách chặn không khí vào phổi mà bằng cách nén chặt các tế bào cho tới khi chúng chết đi vì nỗi hoảng loạn.

    Sachs ước gì cô đã chết. Cô cầu nguyện được chết. Thật nhanh. Từ nỗi sợ hãi hay cơn đau tim. Trước khi xẻng đất đầu tiên rơi xuống mặt cô. Cô cầu xin điều đó, khẩn thiết hơn Lincoln Rhyme cầu xin những viên thuốc và cốc rượu của anh.

    Nằm trong nấm mồ mà tên tội phạm đã đào sẵn trong sân sau nhà mình, Sachs cảm nhận được đất màu, dày đặc và đầy giun, đang dịch chuyển dần trên người cô.

    Hắn từ từ chôn cô một cách tàn bạo, chỉ hất xuống từng xẻng đất nhỏ, cẩn thận rắc xuống xung quanh cô. Hắn bắt đầu từ chân cô. Đến bây giờ hắn đã đến ngực cô, đất luồn vào trong áo choàng tắm và quanh bầu vú của cô như những ngón tay của người tình.

    Nặng dần, nặng dần, ép chặt, trói lấy phổi cô; mỗi lần thở, cô chỉ hít vào được một chút không khí. Hắn dừng lại một, hai lần để nhìn cô, rồi lại tiếp tục.

    Hắn thích nhìn…

    Tay bị trói ở dưới, cổ căng cứng để giữ cho đầu cao hơn làn sóng triều của đất.

    Thế rồi ngực cô bị chôn kín hoàn toàn. Vai, rồi cổ họng. Đất lạnh leo lên làn da mặt cô nóng bỏng, chèn quanh đầu làm cô không thể động đậy. Cuối cùng, hắn cúi xuống và giật miếng băng dính ra khỏi miệng cô. Sachs định hét lên thì hắn đổ một ít đất vào mặt cô. Cô sởn gai ốc, ho sặc sụa vì đất đen. Có tiếng rung trong tai, và vì một lý do nào đó, cô nghe thấy một bài hát đã lâu lắm rồi, từ thuở ấu thơ The green leaves of summer, một bài hát mà cha cô đã bật đi bật lại trên máy thu. Một bài hát buồn bã, ám ảnh. Cô há miệng lần nữa và lại nhận được một cốc đầy đất.

    Bỏ qua người đã chết…

    Rồi cô bị lấp kín.

    Tuyệt đối yên lặng. Không có tiếng ho hay tiếng thở hổn hển – đất là chất hàn hoàn hảo. Trong phổi cô không còn không khí, không thể tạo ra bất kỳ tiếng động nào. Im lặng, trừ giai điệu ma quái của tiếng gầm ngày càng lớn lên trong tai cô.

    Rồi áp lực trên mặt cô biến mất khi cơ thể cô tê cứng, tê cứng như cơ thể của Lincoln Rhyme. Đầu cô ngừng hoạt động.

    Bóng tối, bóng tối… Không một lời nào của cha cô. Chẳng có gì từ Nick… Không có những ước mơ đổi số từ số năm sang số bốn để đẩy đồng hồ tốc độ lên ba con số.

    Bóng tối.

    Bỏ qua…

    Sức nặng đè lên cô, đẩy, đẩy xuống. Cô chỉ còn nhìn thấy một hình ảnh: cánh tay thò ra từ nấm mộ buổi sáng hôm qua, vẫy vẫy cầu xin sự may mắn. Khi không có chỗ cho sự may mắn.

    Vậy gọi cô đi theo.

    Rhyme, em sẽ nhớ anh.

    Bỏ qua…
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    BA MƯƠI TƯ

    Thứ gì đó đập vào đầu cô. Rất mạnh. Cô cảm thấy cú đánh mạnh nhưng không thấy đau.

    Gì thế, gì thế nhỉ? Cái xẻng của hắn? Một viên gạch? Có thể là trong một thoáng lòng tốt của 823, hắn cho rằng cái chết từ từ như thế này là quá sức chịu đựng đối với bất kỳ ai và hắn tìm cổ họng cô để cắt đứt mạch máu.

    Một cú nữa, rồi một cú nữa. Cô không mở được mắt nhưng cô cảm nhận được ánh sáng đang bừng lên quanh cô. Màu sắc. Và không khí. Cô phun đám đất trong miệng ra và lấy hết sức mình hít vào một hơi thở mong manh. Bắt đầu ho ầm ĩ, nôn khan, nhổ bọt.

    Cô mở choàng mắt, và qua làn lệ cô nhìn thấy Lon Sellitto người đầy bùn đất đang quỳ bên trên cô, bên cạnh là hai nhân viên y tế EMS, một người đang móc đất trong miệng cô bằng những ngón tay đeo găng cao su và lôi ra đám nhầy nhụa, người thứ hai chuẩn bị sẵn sàng mặt nạ oxy và một thùng nước màu xanh.

    Sellitto và Banks tiếp tục đào, hắt đất ra xung quanh bằng những cánh tay lực lưỡng của họ. Họ kéo cô lên, vứt lại chiếc áo choàng tắm như một lớp da bị lột bỏ. Sellitto, người đàn ông bỏ vợ, trong trắng nhìn ra chỗ khác khi choàng chiếc áo khoác của anh ta lên vai cô. Tất nhiên, chàng thanh niên Jerry Banks có nhìn, nhưng cô vẫn thấy quý anh ta như thường.

    “Các… anh… có?” Cô khò khè nói, nhưng lập tức dừng lại vì một cơn ho nổ phổi.

    Sellitto nhìn Banks một cách trông đợi, anh ta trông kiệt sức hơn. Anh ta chắc đã cố hết sức lúc đuổi theo thủ phạm. Viên thám tử trẻ tuổi lắc đầu: “Hắn chạy mất rồi.”

    Ngồi thẳng dậy, cô thở bình oxy một lúc.

    “Làm thế nào?” Cô khò khè. “Làm thế nào các anh biết được?”

    “Rhyme”, anh ta trả lời. “Đừng hỏi tôi làm thế nào. Anh ấy ra lệnh 10-13 cho tất cả mọi người trong đội. Khi anh ấy biết chúng tôi ổn, anh ấy bảo chúng tôi tới đây càng sớm càng tốt.”

    Sau đó tình trạng tê liệt trôi qua, nhanh như chớp. Và lúc này cô mới thực sự nhận thấy điều gì đã diễn ra. Cô đánh rơi chiếc mặt nạ oxy, lùi lại trong cơn hoảng loạn, lệ tuôn trào, cất tiếng khóc thảm thiết, cơn hoảng loạn của cô lớn dần, lớn dần. “Không, không, không….”

    Tự tát vào mặt, vào đùi, cố gắng phủi đi nỗi kinh hoàng đang bám chặt lấy cô như một bầy ong nhiều vô kể.

    “Trời ơi, trời ơi… Không…”

    “Sachs?” Banks lo lắng hỏi. “Này, Sachs?”

    Viên thám tử lớn tuổi hơn ra hiệu cho cộng sự của mình đi chỗ khác. “Ổn thôi.” Anh ta ôm lấy cô khi cô bò bốn chân trên mặt đất, nôn mửa kịch liệt, nức nở, nức nở, bóp chặt đất giữa các ngón tay như thể cô muốn bóp chết nó.

    Cuối cùng, Sachs cũng bình tĩnh lại và ngồi trên đôi chân trần của cô. Cô bắt đầu cười, đầu tiên thật dịu dàng, sau đó lớn dần, lớn dần, điên dại, cô ngỡ ngàng khi thấy bầu trời rộng lớn hơn và trời đang mưa – những cơn mưa mùa hè nặng hạt – thế mà cô đã không nhận ra.



    Quàng tay quanh cổ anh. Mặt áp vào mặt anh. Họ ngồi như thế một lúc lâu.

    “Sachs... Ôi, Sachs.”

    Cô rời khỏi chiếc giường Clinitron và thả người xuống cái ghế bành cũ ở góc phòng. Sachs – mặc quần thể thao bông màu xanh hải quân và áo phông của trường Cao đẳng Hunter – ngồi lọt thỏm xuống ghế và đong đưa đôi chân tuyệt đẹp của cô như một nữ sinh.

    “Sao lại là chúng ta hả, Rhyme? Vì sao hắn lại đuổi theo chúng ta?” Giọng cô vẫn thì thầm, khàn khàn vì bụi đất mà cô vừa nuốt phải.

    “Vì những người hắn bắt cóc không phải nạn nhân thực sự. Chúng ta mới là nạn nhân.”

    Chúng ta là ai?” Cô hỏi.

    “Anh không chắc. Có thể là xã hội. Hay là thành phố. Liên Hiệp Quốc. Cảnh sát. Anh đọc lại cuốn kinh thánh của hắn – chương viết về James Schneider. Em có nhớ giả thuyết của Terry về việc vì sao hắn để lại manh mối không?”

    Cô nói: “Như thể biến chúng ta thành kẻ đồng loã. Để chia sẻ tội lỗi. Để cho hắn giết người dễ dàng hơn.”

    Rhyme gật đầu, rồi nói: “Nhưng anh vẫn không nghĩ đó là lý do thực sự. Anh nghĩ manh mối là cách hắn dùng để tấn công chúng ta. Mỗi nạn nhân đã chết là một mất mát đối với chúng ta.”

    Mặc bộ đồ cũ, tóc buộc túm ra sau, lúc này trông Sachs đẹp nhất trong hai ngày qua. Nhưng mắt cô vô hồn. Có thể cô ấy đang sống lại cái ký ức với từng xẻng đất, anh nghĩ. Và Rhyme thấy ý nghĩ về việc cô bị chôn sống nặng nề tới mức anh phải nhìn đi chỗ khác.

    “Hắn có gì để chống lại chúng ta?” Cô hỏi.

    “Anh không biết. Cha của Schneider bị bắt nhầm và chết trong nhà tù. Thủ phạm của chúng ta? Ai mà biết được vì sao? Anh chỉ quan tâm đến vật chứng...”

    “... không phải động cơ.” Amelia Sachs nói nốt câu.

    “Nhưng vì sao hắn lại theo chúng ta nhanh như thế?” Banks hỏi, hất đầu về phía Sachs.

    “Chúng ta tìm thấy hang ổ của hắn và cứu được cô bé. Tôi không nghĩ hắn lại muốn chúng ta đến sớm thế. Có thể hắn bực mình. Lon, chúng ta cần có bảo mẫu hai mươi tư trên hai mươi tư giờ, cho tất cả chúng ta. Có thể hắn sẽ biến mất một thời gian sau khi chúng ta cứu được cô bé, nhưng hắn vẫn loanh quanh đâu đó và gây thêm tội ác. Anh và Jerry, tôi, Cooper, Haumann, Polling, tất cả chúng ta đều nằm trong danh sách của hắn, chắn chắc thế. Trong lúc này, chúng ta phải đưa lính của Peretti đến chỗ Sachs. Tôi chắc là hắn đã dọn sạch nhưng có thể còn thứ gì đó. Hắn phải rời đi nhanh hơn hắn dự tính nhiều.”

    “Tốt nhất là em tới đó”, Sachs lên tiếng.

    “Không”, Rhyme nói.

    “Em phải khám nghiệm hiện trường.”

    “Em phải nghỉ ngơi một chút”, anh ra lệnh. “Đó mới là điều em phải làm, Sachs. Em không phản đối anh nói chứ, trông em tệ lắm đấy.”

    “Đúng rồi, sĩ quan”, Sellitto nói. “Đó là mệnh lệnh. Tôi yêu cầu cô nghỉ hết ngày hôm nay. Chúng tôi có hơn hai mươi đặc vụ liên bang nữa.”

    “Tôi có một hiện trường vụ án ở sân sau nhà mình mà tôi lại không được khám nghiệm nó?”

    “Đúng”, Rhyme nói, “tóm lại là như thế”.

    Sellitto đi ra cửa. “Có vấn đề gì không, sĩ quan?”

    “Không, thưa ngài.”

    “Nào, Banks, ta còn có việc phải làm. Cô cần đi nhờ không Sachs? Hay họ vẫn giao xe cho cô?”

    "Không, cảm ơn, tôi có xe dưới nhà rồi", cô trả lời.

    Hai viên thám tử đi ra. Rhyme nghe thấy giọng nói của họ vọng lại từ đại sảnh. Sau đó, cửa đóng và họ đi hẳn.

    Rhyme thấy đèn trần đang bật sáng. Anh bấm vài lệnh và điều chỉnh ánh sáng mờ đi.

    Sachs vươn vai.

    “Được rồi”, cô nói, đúng lúc Rhyme hỏi: “Thế nào đây?”

    Cô nhìn đồng hồ. “Muộn rồi.”

    “Đúng thế.”

    Cô đứng dậy, đi lại chỗ cái bàn nơi cô để chiếc ví. Cô nhặt ví lên, mở ra, tìm chiếc gương nhỏ và bắt đầu xem xét vết cắt trên môi.

    “Trông cũng không tệ lắm”, Rhyme nói.

    “Như quỷ nhập tràng”, cô nói, vẻ kích động. “Sao họ không dùng chỉ khâu có màu tươi hơn chứ?” Cô để chiếc gương sang bên, vắt chiếc ví lên vai. “Anh vừa kê lại giường”, cô nhận ra. Nó được kê lại gần cửa sổ hơn.

    “Thom làm đấy. Anh có thể nhìn xuống công viên nếu anh muốn.”

    “Thế à. Thế thì tốt.”

    Cô bước lại gần cửa sổ. Nhìn xuống.

    Ồ, vì Chúa, Rhyme nghĩ thầm. Nói đi chứ. Có chuyện gì được nhỉ? Anh buột miệng thật nhanh: “Em có muốn ở lại không? Ý anh là, muộn rồi. Nhóm Mật vụ còn hút bụi nhà em mấy tiếng nữa.”

    Anh cảm thấy sự hy vọng bùng nổ trong anh. Được rồi, giết nó đi, anh nghĩ, giận dữ với chính mình. Cho tới khi cô nở một nụ cười thật tươi. “Em cũng muốn thế.”

    “Tốt quá.” Hàm anh nổi gai ốc vì adrenaline. “Tuyệt vời. Thom!”

    Nghe nhạc, uống chút whisky Scotch. Có thể anh sẽ kể cô nghe vài vụ án nổi tiếng. Nhà sử học trong anh cũng tò mò về người cha của cô, về công việc của cảnh sát những năm 1960 và 1970. Về đồn cảnh sát vô danh ở khu Nam Midtown ngày xưa.

    Rhyme la lớn: “Thom! Lấy ít khăn trải giường. Cả chăn nữa. Thom! Anh không biết cậu ta đang làm cái quái gì nữa. Thom!

    Sachs định nói gì đó nhưng người trợ lý đã xuất hiện ngoài cửa và gắt gỏng: “Chỉ cần quát một lần là được rồi, anh biết chứ, Lincoln.”

    “Amelia ở lại đêm nay. Cậu đem giúp mấy cái chăn và gối vào đi văng, được không?”

    “Không, không phải đi văng nữa chứ”, cô nói. “Ngủ trên đó như nằm trên đá ấy.

    Sự từ chối của cô đâm vào người Rhyme như một lưỡi dao. Anh buồn bã nghĩ: Phải mấy năm rồi mình mới có được cảm xúc ấy. Cam chịu, nhưng anh vẫn cười và nói: “Dưới nhà có một phòng ngủ. Thom sẽ sửa soạn cho em.”

    Nhưng Sachs đã để ví xuống. “Được rồi, Thom. Anh không phải chuẩn bị gì đâu.”

    “Không sao mà.”

    “Được rồi. Chúc ngủ ngon, Thom.” Cô đi ra cửa.

    “Thế à, tôi...”

    Cô cười.

    “Nhưng…”, anh ta bắt đầu, nhìn cô rồi quay sang Rhyme, anh đang nhăn mặt, lắc đầu.

    “Chúc ngủ ngon, Thom”, cô nói một cách kiên quyết. “Cẩn thận không vấp đấy.” Và cô chậm rãi đóng cửa khi anh ta quay lại hành lang. Nó đóng lại với một tiếng cạch lớn.

    Sachs tháo giày, cởi quần áo. Cô mặc chiếc áo lót dây và quần lót rộng thùng thình. Cô trèo lên chiếc giường Clinitron rồi nằm cạnh Rhyme, thể hiện tất cả quyền năng mà người phụ nữ đẹp nắm giữ khi ngủ cùng một người đàn ông.

    Cô nằm cuộn tròn và cười.” Đúng là một cái giường hết ý.” Cô nói, vươn người như một con mèo. Mắt vẫn nhắm, cô hỏi.”Anh không phản đối chứ?”

    “Tất nhiên là anh không phản đối.”

    “Rhyme?”

    “Sao?”

    “Kể em nghe về cuốn sách của anh, được chứ? Những hiện trường vụ án khác?”

    Anh bắt đầu kể về một tên giết người hàng loạt ranh mãnh ở Queens, nhưng chưa đầy một phút cô đã ngủ say.

    Rhyme nhìn xuống và thấy ngực cô đang áp vào ngực anh, đầu gối cô gác lên đùi anh. Một sợi tóc phụ nữ vương trên mặt anh, lần đầu tiên sau nhiều năm. Nó cù anh buồn buồn. Anh hoàn toàn quên mất điều đó. Với một người thường xuyên sống trong quá khứ, với trí nhớ tốt như thế, anh rất ngạc nhiên khi thấy mình không thể nhớ tốt như thế, anh rất ngạc nhiên khi thấy mình không thể nhớ được chắc chắn lần cuối cùng mình có được cảm giác này là lúc nào. Điều anh nhớ là sự lộn xộn của những buổi tối với Blaine, anh nghĩ, trước khi tai nạn xảy ra. Anh nhớ rằng anh đã chịu bị cù buồn, không gạt những lọn tóc ra chỗ khác để không làm vợ mình thức giấc.

    Còn bây giờ, tất nhiên anh sẽ không thể gạt những lọn tóc của Sachs sang chỗ khác, thậm chí, nếu chính Chúa Trời ra lệnh. Nhưng anh cũng không nghĩ đến việc gạt nó đi. Ngược lại, anh muốn cảm giác đó kéo dài cho tới khi cả vũ trụ tan tành.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này