Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    HAI MƯƠI LĂM

    “Không đời nào, Rhyme. Anh không thể làm thế.”

    Berger lo lắng quan sát. Rhyme cho rằng trong công việc của mình, ông ta đã từng nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng điên rồ xảy ra vào những lúc như thế này. Vấn đề lớn nhất của Berger không phải là những người muốn chết, mà là những người muốn tất cả những người còn lại phải sống.

    Thom đập cửa.

    “Thom”, Rhyme gọi. “Được rồi. Cậu cứ để chúng tôi một mình.” Sau đó nói với Sachs. “Chúng ta đã nói lời chia tay rồi mà. Tôi và cô. Còn đây là một cách tồi tệ để phá hỏng một sự ra đi hoàn mỹ.”

    “Anh không thể làm thế.”

    Ai là người thổi còi? Có thể là Peter Taylor. Ông bác sĩ này chắc đã đoán được anh và Thom nói dối.

    Rhyme nhìn thấy ánh mặt cô lướt qua ba đồ vật trên bàn. Những thứ quà tặng của Magi: rượu cô nhắc, những viên thuốc và cái túi nhựa. Có thêm sợi dây cao su giống như những sợi dây Sachs dùng buộc giày. (Đã bao nhiêu lần anh từ hiện trường vụ án về nhà và thấy Blaine nhìn chăm chăm vào những sợi dây buộc giày chồng mình, và hoảng sợ? “Mọi người sẽ nghĩ rằng chồng em không có tiền mua giày mới. Anh ấy phải lấy dây chun buộc để đế giày không bị rơi ra. Thật đấy, Lincoln!).

    “Sachs, tháo còng cho bác sĩ đây. Và lần cuối cùng, tôi mời cô ra khỏi nhà.”

    Cô cười lên một tiếng. “Tôi xin lỗi. Đây là một hành vi phạm pháp ở Thành phố New York. Công tố viên quận có thể biến nó thành tội giết người nếu ông ấy muốn thế.”

    Berger nói: “Tôi chỉ nói chuyện bình thường với bệnh nhân.”

    “Đó là lý do vì sao tôi danh chỉ là âm mưu giết người. Cho tới lúc này. Có thể chúng tôi sẽ đưa tên và dấu tay của anh qua NCIC. Để xem chúng tôi tìm được gì.”

    “Lincoln”, Berger nói nhanh, vẻ lo lắng. “Tôi không thể…”

    “Chúng tôi sẽ giải quyết việc này”, Rhyme nói. “Sachs, làm ơn đi.”

    Đứng giạng chân, hai tay chống nạnh, khuôn mặt lộng lẫy của cô đầy vẻ độc đoán. “Đi thôi”, cô quát viên bác sĩ.

    “Sachs, cô không biết điều này quan trọng đến thế nào đâu.”

    “Tôi sẽ không cho phép anh tự giết chết mình.”

    “Cho phép tôi?” Rhyme vặc lại. “Cho phép tôi? Chính xác là vì sao tôi lại cần đến sự cho phép của cô?”

    Berger nói: “Này cô,… sĩ quan Sachs, đấy là quyết định của anh ấy và quyết định này hoàn toàn có ý thức. Lincoln là người hiểu biết hơn tất cả những bệnh nhân tôi đã từng xử lý.”

    “Bệnh nhân? Ý ông là nạn nhân?”

    “Sachs!” Rhyme buột miệng, cố gắng giấu sự tuyệt vọng trong giọng nói. “Mất cả năm tôi mới tìm được người trợ giúp đấy, cô biết không?”

    “Có thể vì điều đó không đúng. Đã bao giờ anh nghĩ thế chưa? Sao lại là bây giờ, Rhyme? Ngay giữa vụ án?”

    “Nếu tôi lên cơn một lần nữa và bị đột quỵ. Tôi có thể mất toàn bộ khả năng giao tiếp. Tôi có thể có ý thức trong bốn mươi năm nữa nhưng không thể cử động. Và nếu tôi chưa bị tê liệt não, sẽ chẳng có một ai trong cả vũ trụ chịu rút phích cắm. Ít nhất là lúc này, tôi vẫn còn có thể truyền đạt quyết định của mình.”

    “Nhưng tại sao?” Cô buột miệng.

    “Sao lại không?” Rhyme trả lời. “Nói tôi nghe. Sao lại không?”

    “Được rồi…” Có vẻ như đối với cô những luận chứng chống lại việc tự sát quá rõ ràng tới mức cô cảm thấy khó mà nói được thành lời. “Là vì…”

    “Vì sao, Sachs?”

    “Thứ nhất, vì hèn nhát.”

    Rhyme cười. “Cô có muốn tranh luận không, Sachs? Muốn không? Được rồi. Hèn nhát là điều cô nói. Điều đó dẫn ta đến với ngài Thomas Browne: Khi cuộc sống kinh khủng hơn cái chết, những người dũng cảm nhất sẽ sống. Can đảm đối mặt với muôn vàn khó khăn… Một luận cứ cổ điển ủng hộ sự sống. Nhưng nếu điều đó đúng thì tại sao lại đánh thuốc mê bệnh nhân khi phẫu thuật? Bán aspirin để làm gì? Sao lại phải bó bột cánh tay bị gãy? Hà cớ gì mà Prozac lại là loại thuốc được kê nhiều nhất ở Mỹ? Xin lỗi, nhưng đau đớn chẳng có gì là tốt đẹp cả.

    “Nhưng anh không đau đớn.”

    “Cô định nghĩa thế nào là đau đớn, Sachs? Không có cảm giác cũng có thể là đau đớn chứ.”

    “Anh có thể cống hiến rất nhiều. Hãy xem anh biết những gì. Mọi thứ về pháp y, mọi thứ về lịch sử.”

    “Luận cứ cống hiến xã hội. Một luận cứ phổ biến.” Anh liếc nhìn Berger nhưng viên bác sĩ giữ im lặng. Rhyme thấy ông ta tập trung sự quan tâm vào khúc xương trên bàn – một chiếc đĩa bạc thếch từ một đốt sống. Ông ta nhặt nó lên, xoa vuốt nó bằng đôi bàn tay bị còng của mình. Ông ta từng là bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, Rhyme nhớ lại.

    Anh tiếp tục nói với Sachs: “Nhưng ai nói là chúng ta bắt buộc phải cống hiến gì đó cho cuộc đời? Ngoài ra, kết cuộc có thể là tôi đóng góp điều gì đó không tốt. Tôi cũng có thể gây tác hại nữa chứ. Cho bản thân tôi hay cho ai đó.”

    “Nhưng cuộc sống là thế.”

    Rhyme cười. “Nhưng tôi chọn cái chết, không phải cuộc sống.”

    Sachs trông không thoải mái khi cô phải vắt óc suy nghĩ. “Chỉ có điều… cái chết không tự nhiên. Cuộc sống thì có.”

    “Không? Freud sẽ không đồng ý với cô. Ông ta đã từ bỏ nguyên tắc khoái lạc và bắt đầu cảm thấy còn có một sức mạnh khác – sự hung dữ phi tình dục bản năng, đó là cách mà ông ta gọi nó. Làm việc để tháo gỡ nhưng kết nối mà chúng ta tạo dựng trong cuộc sống. Sự phá hoại của chính chúng ta là một sức mạnh thiên nhiên hoàn hảo. Mọi thứ đều chết; còn gì để tự nhiên hơn điều đó?”

    Một lần nữa cô lại phải động não.

    “Được rồi”, cô nói. “Cuộc sống đối với anh thách thức hơn với nhiều người khác. Nhưng tôi nghĩ… mọi thứ mà tôi nhìn thấy ở anh nói với tôi rằng anh là một người thích thác thức.”

    “Thách thức? Để tôi nói cô nghe về thách thức. Tôi nằm với ống thông phổi trong suốt một năm. Cô có nhìn thấy vết sẹo mở khí quản này trên cổ tôi không? Rồi nhờ các bài tập thở áp suất dương – và với sức mạnh ý chí vĩ đại nhất mà tôi có thể có – tôi đã thoát ra được cái máy đó. Trên thực tế, tôi có lá phổi hoàn toàn bình thường. Chúng khỏe như phổi của cô. Đối với một người tàn tật C4, đó là trường hợp điển hình, Sachs ạ. Điều nay tiêu tốn của tôi tám tháng cuộc đời. Cô có hiểu tôi nói gì không? Tám tháng chỉ để xử lý một chức năng động vật rất cơ bản. Tôi không nói đến việc vẽ Nhà thờ Sistine hay chơi violin. Tôi chỉ mới nói về sự hít thở chết tiệt ấy thôi.”

    “Nhưng anh có thể khá hơn. Năm tới, họ có thể tìm ra cách chữa.”

    “Không. Không phải năm sau. Không phải mười năm nữa.”

    “Anh không biết việc đó. Chắc chắn là họ đang nghiên cứu.”

    “Chắc chắn là như thế. Cô có muốn biết không? Tôi là một chuyên gia. Cấy mô thần kinh bào thai vào mô hỏng để thúc đẩy việc tái tạo theo trục.” Những ngôn từ đó phát ra một cách dễ dàng từ đôi môi thật đẹp của anh ta. “Không có hiệu quả đáng kể. Một vài bác sĩ sử dụng phương pháp hóa học tại vùng bị ảnh hưởng để tạo ra những loài cấp cao. Những dạng thức thấp của sự sống cho thấy kết quả khá tốt. Nếu là một con ếch thì lúc này chắc tôi đã đi lại được. Thôi được, hy vọng là thế.”

    “Như vậy là vãn người nghiên cứu chuyện đó?” Sachs hỏi.

    “Tất nhiên rồi. Nhưng không ai trông đợi có bước đột phá trong khoảng hai mươi hay ba mươi năm.”

    “Nếu họ đã trông đợi”, cô đối đáp, “thì khi đó sẽ chẳng còn là đột phá nữa, đúng thế không?”

    Rhyme cười. Cô ấy giỏi thật.

    Sachs hất lọn tóc đỏ khỏi mắt và nói: “Sự nghiệp của anh là thực thi pháp luật, nhớ chứ. Tự tử là bất hợp pháp.”

    “Đó còn là tội lỗi nữa”, anh đáp lời. “Những người da đỏ Dakota tin rằng hồn ma của những kẻ tự tử bị kéo lê mãi mãi xung quanh cái cây mà họ tự treo cổ. Nhưng điều này có dừng được việc tự tử không? Không. Họ chỉ dùng những cái cây bé hơn.”

    “Biết không, Rhyme. Đây là luận cứ cuối cùng của tôi.” Cô hất đầu về phía Berger, và nắm lấy sợi xích còng. “Tôi mượn và đăng ký ông ta. Phản biện lại nó đi.”

    “Lincoln”, Berger căng thẳng nói, mắt ông ta hoảng loạn.

    Sachs nắm vai ông bác sĩ và dẫn ông ta ra cửa. “Đừng. Đừng làm thế.” Ông ta nói.

    Nhưng Sachs đã mở cửa và Rhyme gọi với ra: “Sachs, trước khi cô làm thế, trả lời tôi mấy câu.”

    Cô dừng lại. Một tay để trên tay nắm cửa.

    “Một câu hỏi.”

    Cô quay lại.

    “Cô đã bao giờ muốn làm thế chưa? Tự tử?”

    Cô mở khóa cửa với một tiếng tách lớn.

    Anh nói: “Trả lời tôi đi!”

    Sachs không mở cửa. Cô đứng quay lưng lại phía anh. “Không. Không bao giờ.”

    “Cô có hạnh phúc với cuộc sống của mình không?”

    “Giống như những người khác thôi.”

    “Cô có bao giờ bị trầm cảm không?”

    “Tôi không nói thế. Tôi nói tôi chưa bao giờ muốn tự tử.”

    “Cô có nói với tôi là cô thích lái xe. Những người thích lái xe thường thích lái xe nhanh. Cô cũng thế, đúng không?”

    “Đúng thế, đôi khi.”

    “Tốc độ nhanh nhất của cô là bao nhiêu?”

    “Tôi không biết.”

    “Trên tám mươi?”

    Một nụ cười không đồng tình. “Đúng.”

    “Trên một trăm?”

    Cô chỉ ngón tay cái lên trên.

    “Một trăm mười? Một trăm hai mươi?” Anh hỏi, cười vì quá ngạc nhiên.

    “Đã có lần lên một trăm sáu mươi tám.”

    “Trời ơi, Sachs. Cô thật là ấn tượng. Được rồi, lái xe nhanh như thể thì cô có nghĩ là có thể, chỉ có thể thôi, sẽ có chuyện gì đó xảy ra? Tay đòn hay trục xe có thể gãy, lốp có thể nổ, một vết dầu trên đường?”

    “Cũng khá an toàn. Tôi không điên.”

    Khá an toàn. Nhưng lúc lái xe nhanh như lái máy bay cỡ nhỏ thì cũng không an toàn tuyệt đối. Đúng không?”

    “Anh đang mớm cung đấy.”

    “Không, tôi không mớm cung. Theo ý kiến của tôi nhé. Cô lái xe nhanh thì cô phải chấp nhận rằng cô có thể gặp tai nạn và chết, đúng không?”

    “Có thể”, cô nhượng bộ.

    Berger, tay bị còng phía trước, sốt ruột theo dõi, tay vẫn mân mê chiếc đĩa xương sống màu vàng nhạt.

    “Như vậy, cô cũng đến rất gần giới hạn đó rồi, đúng không? À, cô biết tôi nói về điều gì rồi chứ. Tôi biết là cô hiểu – ranh giới giữa nguy cơ tử vong và chắc chắn tử vong. Thấy không, Sachs, nếu cô đem cái chết theo mình thì rất dễ bước qua ranh giới đó. Một bước ngắn là đến với chúng.”

    Cô cúi đầu, khuôn mặt cô trở nên bất động khi mái tóc che lấp đôi mắt của cô.

    “Bỏ qua người đã chết”, anh thầm thì, cầu mong cô đừng đem Berger đi, biết rằng anh đã tới rất gần để đẩy cô vượt qua ranh giới. “Tôi nói đến chuyện rất nhạy cảm. Cô muốn theo người chết đến đâu? Hơn một chút, Sachs ạ. Nhiều hơn một chút rất nhiều.”

    Cô chần chừ. Anh biết anh đã đến rất gần trái tim cô.

    Cô giận dữ quay lại phía Berger, nắm lấy sợi dây còng. “Đi thôi.” Đẩy ông ta ra cửa.

    Rhyme gọi theo: “Cô biết tôi nói gì, đúng không?”

    Cô dừng lại lần nữa.

    “Đôi khi… sự việc xảy ra, Sachs ạ. Đôi khi cô không thể trở thành người mà cô phải trở thành, cô không thể có thứ mà cô phải có. Và cuộc sống luôn thay đổi. Có thể chỉ một chút, có thể là rất nhiều. Và đến một lúc nào đó, không còn đáng để tiếp tục chiến đầu, sửa những sai lầm.”

    Anh nhìn họ đứng đó, bất động ở ô cửa. Căn phòng im lặng một cách đáng sợ. Cô quay lại và nhìn anh.

    “Cái chết chữa lành sự cô đơn”, Rhyme tiếp tục. “Nó chữa khỏi chứng căng cơ. Chữa khỏi những cơn ngứa.” Giống như trước đó cô nhìn chân anh, lúc này anh liếc nhanh những ngón tay nát nhừ của cô.

    Cô thả tay khỏi chiếc còng của Berger và đi về phía cửa sổ. Những giọt lệ trên má cô lấp lánh trong ánh sáng vàng ngoài phố.

    “Sachs, tôi thấy mệt mỏi”, anh nói một cách chân thành. “Tôi không thể nói với cô là tôi mệt mỏi đến thế nào. Cô biết cuộc sống khó nhọc như thế nào khi bắt đầu với. Hàng núi gánh nặng. Rửa ráy, ăn uống, bài tiết, gọi điện thoại, cài cúc áo, gãi mũi… Rồi thì hàng nghìn thứ khác. Và sau đó nữa.”

    Anh im lặng. Sau một lúc lâu, cô nói: “Chúng ta sẽ thỏa thuận.”

    “Gì thế?”

    Cô hất đầu về phía tấm áp phích. “823 đang giữ người mẹ và đứa bé… Giúp chúng tôi cứu họ. Chỉ họ thôi. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ cho ông ta một giờ để nói chuyện riêng với anh.” Cô liếc nhìn Berger. “Với điều kiện sau đó ông ta phải biến khỏi thành phố.”

    Rhyme lắc đầu. “Sachs, nếu tôi bị đột quỵ, nếu tôi không còn giao tiếp được nữa…”

    “Nếu điều đó xảy ra”, cô nói đều đều, “nếu anh không còn nói được một lời, thỏa thuận của chúng ta vẫn còn nguyên giá trị. Tôi sẽ bảo đảm để các anh có một giờ đồng hồ với nhau”. Cô lại khoanh tay, đứng giạng chân, một hình ảnh yêu thích về Amelia Sachs đối với Rhyme. Anh ước anh có thể nhìn thấy cô ở đường tàu sáng nay, lúc chặn đoàn tàu. Cô nói: “Đó là điều tốt nhất tôi sẽ làm.”

    Một khoảnh khắc trôi qua. Rhyme gật đầu. “Được rồi. Thỏa thuận.” Anh nói với Berger: “Thứ Hai?”

    “Được rồi, Lincoln. Cũng được.” Berger, vẫn còn đang run rẩy, cảnh giác nhìn Sachs khi cô mở còng. Có vẻ như ông ta sợ cô sẽ đổi ý. Khi được tự do, ông ta nhanh chóng đi ra cửa. Rồi nhận ra rằng mình vẫn đang cầm mẩu xương đốt sống, ông ta quay lại và đặt nó – gần như cung kính – bên cạnh báo cáo hiện trường vụ án giết người đầu tiên buổi sáng hôm nay.



    “Sướng như lợn vầy bùn”, Sachs nhận xét, thả người xuống chiếc ghế mây kêu răng rắc. Đó là Sellitto và Polling, sau khi cô nói với họ rằng Rhyme đã đồng ý với vụ này thêm một ngày nữa.

    “Đặc biệt là Polling”, cô nói. “Tôi nghĩ anh chàng nhỏ bé này sẽ ôm lấy tôi. Đừng nói với anh ta là tôi gọi anh ta như thế. Anh cảm thấy thế nào? Trông anh khá hơn đấy.” Cô nhấp một ngụm whisky và đặt trả chiếc cốc vào cái bàn cạnh giường, bên cạnh tủ của Rhyme.

    “Không tệ.”

    Thom đang thay ga giường. “Anh đổ mồ hôi như tắm”, cậu ta nói.

    “Nhưng chỉ bên trên cổ”, Rhyme nói. “Ý tôi là đổ mồ hôi.”

    “Đúng thế à?” Sachs hỏi.

    “Đúng thế. Như thế đấy. Nhiệt kế phía dưới đã nổ. Tôi không bao giờ phải dùng đến nước hoa cho tứ trụ.”

    “Trụ?”

    “Các chỗ lõm”, Rhyme cằn nhằn. “Nách. Viên trợ lý thứ nhất của tôi không bao giờ nói nách. Anh ta nói: ‘Lincoln, tôi sẽ cầm trụ nhấc anh lên.’ À, và: ‘Nếu anh muốn nôn, thì cứ thoải mái đi, Lincoln.’ Anh ta tự gọi mình là ‘săn sóc viên’. Anh ta viết cả từ này vào lý lịch. Tôi không hiểu vì sao tôi lại thuê anh ta. Chúng tôi rất mê tín, Sachs ạ. Chúng tôi nghĩ rằng gọi thứ gì đó bằng một cái tên khác có thể làm nó thay đổi. Tội phạm. Thủ phạm. Nhưng người trợ lý đó, anh ta chỉ là một ý tá bị ngập trong phân đến tận nách. Đúng không, Thom? Chẳng có gì phải ngượng ngùng. Đó là một nghề cao thượng. Hỗn loạn nhưng cao thượng.”

    “Tôi lớn nhanh trong sự hỗn loạn. Vì thế mà tôi làm việc cho anh.”

    “Cậu là gì? Trợ lý hay săn sóc viên?”

    “Tôi là một vị thánh.”

    “Ha, đối đáp rất nhanh. Tiêm cũng rất nhanh. Cậu ta đem tôi trở về từ cõi chết. Hơn một lần rồi.”

    Rhyme đột nhiên hoảng sợ, anh lo rằng Sachs đã nhìn thấy anh trần truồng. Mắt chăm chú nhìn vào hồ sơ thủ phạm, anh hỏi: “Nói xem tôi có nợ cô một lời xin lỗi nào không, Sachs? Cô có đóng vai Clara Barton[123] không đấy?” Anh căng thẳng chờ câu trả lời của cô, không biết là anh còn có thể nhìn nữa không nếu cô đã trông thấy.

    “Không”, Thom trả lời. “Một mình tôi cứu anh. Không muốn bất cứ linh hồn nhạy cảm nào bị tổn thương bởi đôi mông xập xệ của anh.”

    Cảm ơn Thom, anh nghĩ. Sau đó quát: “Giờ thì biến đi. Chúng tôi phải bàn về vụ án, Sachs và tôi.”

    “Anh cần phải ngủ một chút.”

    “Tất nhiên là tôi cần. Nhưng chúng tôi vẫn phải bàn về vụ này. Chúc ngủ ngon, chúc cậu ngủ ngon.”

    Sau khi Thom ra về, Sachs rót một ly Macallan. Cô cúi đầu ngửi mùi rượu hơi oi khói.

    “Ai tiết lộ?” Rhyme hỏi. “Peter?”

    “Ai?” Cô hỏi.

    “Bác sĩ Taylor, người của SCI.”

    Cô cố tỏ ra chần chừ để anh biết đó chính là Taylor. Cuối cùng cô nói: “Ông ấy rất quan tâm đến anh.”

    “Tất nhiên là ông ta quan tâm. Đó là vấn đề… Tôi muốn ông ta quan tâm ít đi một chút. Ông ta có biết về Berger không?”

    “Ông ấy nghi ngờ.”

    Rhyme nhăn mặt. “Nghe này, nói với ông ta Berger chỉ là một người bạn cũ. Ông ta… Sao?”

    Sachs chậm rãi thở ra, như thể thổi khói thuốc từ đôi môi mọng của cô. “Anh không chỉ muốn tôi để anh tự tử mà anh còn muốn tôi nói dối với người có thể thuyết phục anh đừng làm việc đó.”

    “Ông ấy không thuyết phục được tôi đâu”, Rhyme đáp lời.

    “Thế thì sao anh muốn tôi nói dối?”

    Anh cười. “Cứ để bác sĩ Taylor hoàn toàn không biết gì trong vài ngày nữa.”

    “Được rồi”, cô nói. “Lạy Chúa, anh là người rất khó xử lý đấy.”

    Anh nhìn cô thật gần. “Sao cô không nói điều đó với tôi?”

    “Điều gì?”

    “Ai là người chết? Những người mà cô vẫn chưa bỏ qua?”

    “Họ, rất nhiều.”

    “Ví dụ?”

    “Đọc báo mà xem.”

    “Thôi nào, Sachs.”

    Cô lắc đầu, uống cạn ly whisky Scotch với nụ cười nhạt nhòa trên môi. “Không, tôi không nghĩ thế.”

    Anh coi sự im lặng của cô là do miễn cưỡng phải nói chuyện thân mật với một người mà cô mới được biết có một ngày. Mọi việc nghe có vẻ mỉa mai, nếu tính đến việc cô ngồi cạnh một tá ống thông tiểu, một ống kem K-Y và mộthộp Depends. Dù vậy anh vẫn không thúc ép và không nói thêm gì nữa. Vì thế anh ngạc nhiên khi bất ngờ cô ngẩng lên và buột miệng, “Chỉ là… chỉ là, ôi quỷ thật.” Khi cơn nức nở bắt đầu, cô đưa tay lên mặt, gạt nửa chai whisky Scotch hạng nhất đổ lênh láng ra sàn.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    HAI MƯƠI SÁU

    “Không thể tin được em lại kể điều đó với anh.” Cô ngồi cuộn mình trên ghế, chân co lên, đôi giày chuyên dụng được tháo ra. Lệ đã khô, mặc dù cô vẫn còn đỏ ửng như màu của mái tóc.

    “Tiếp đi”, anh khuyến khích.

    “Anh chàng mà em đã kể với anh? Bọn em định cùng nhau mua một căn hộ.”

    “Ồ, cùng với một con chó giống collie. Em không nói đó là một anh chàng. Bạn trai của em à?”

    Người tình bí mật? Rhyme băn khoăn.

    “Anh ấy đã từng là bạn trai của em.”

    “Anh đã nghĩ có thể đó là người cha đã mất của em.”

    “Không. Đúng là cha em đã mất – ba năm trước. Bị ung thư. Nhưng gia đình em biết điều đó sẽ đến. Nếu điều đó làm em phải sẵn sàng thì em nghĩ em đã sẵn sàng. Nhưng còn Nick…”

    “Anh ấy bị giết?” Rhyme dịu dàng hỏi.

    Nhưng cô không trả lời. “Nick Carelli. Một người trong hàng ngũ của chúng ta. Một cảnh sát. Một thám tử, cấp ba. Làm việc trong nhóm Tội phạm Đường phố.”

    Cái tên nghe quen quen. Rhyme không nói gì để cô tiếp tục.

    “Bọn em sống với nhau một thời gian. Đã nói đến chuyện hôn nhân.” Cô ngừng lại, có vẻ như đang sắp xếp lại ý nghĩ như sắp xếp lại các tấm bia trong trường bắn. “Anh ấy là mật vụ. Vì thế bọn em giữ bí mật về mối quan hệ của mình. Anh ấy không thể để tin đồn lan trên phố rằng bạn gái anh ấy là cảnh sát.” Cô hắng giọng. “Rất khó giải thích. Anh biết không, bọn em có… một thứ đó giữa hai người. Đó là… điều đó không thường xuyên xảy ra với em. Quỷ thật, điều đó chưa bao giờ xảy ra trước Nick. Bọn em có mối quan hệ thực sự sâu sắc. Anh ấy biết em phải làm cảnh sát và đó không phải là vấn đề đối với anh ấy. Em cũng nghĩ như vậy về công việc cớm chìm của anh ấy. Như một dạng… bước sóng. Anh biết đấy, như lúc anh vừa hiểu được hoàn toàn về một người nào đó? Anh đã bao giờ cảm nhận được điều em đang nói không? Với vợ anh?”

    Rhyme mỉm cười nhợt nhạt. “Anh có cảm thấy. Đúng thế. Nhưng không phải với Blaine, vợ anh.” Và đó là tất cả những gì anh muốn nói về vấn đề này. “Hai người gặp nhau thế nào?” Anh hỏi.

    “Bài giảng nhiệm vụ tại học viện. Khi có người đứng lên và nói cho anh nghe những nhiệm vụ mà đơn vị của họ thực hiện. Nick giảng bài về công tác mật vụ. Anh ấy rủ em đi chơi ngay lập tức. Lần hẹn hò đầu tiên của bọn em là ở Rodman’s Neck.”

    “Trường bắn?”

    Sachs gật đầu, sịt mũi. “Sau đó bọn em tới nhà mẹ anh ấy ở Brooklyn và ăn mì ống, uống một chai Chianti. Bà véo em rất mạnh và nói em quá gầy để có thể có con. Bắt em ăn hai suất cannoli. Bọn em về nhà em và tối hôm đó, anh ấy đã ở lại. Lần hẹn hò đầu tiên đáng kể đấy chứ? Từ đó, bọn em gặp nhau thường xuyên. Chắc chắn sẽ nên chuyện, Rhyme ạ. Em cảm thấy thế, chắc chắn mọi chuyện sẽ tốt đẹp.”

    Rhyme nói: “Chuyện gì xảy ra?”

    “Anh ấy…”

    Một ngụm lớn. “Chuyện là anh ấy đã lợi dụng. Cả quãng thời gian em biết anh ấy…”

    “Thế à?”

    “Ăn trộm. Trộm lớn. Em không hề có bất kỳ manh mối nào. Không một manh mối khốn kiếp nào. Anh ấy giấu nó ở vài ngân hàng quanh thành phố. Anh ấy lấy khoảng hai trăm nghìn đô la.”

    Lincoln im lặng một lúc. “Anh xin lỗi, Sachs. Ma túy?”

    “Không. Chủ yếu là đồ dùng. Đồ điện tử, ti vi. Và quần áo. Họ gọi đó là Liên kết Brooklyn. Báo chí.”

    Rhyme gật đầu. “Đó là lý do anh nhớ đến nó. Có khoảng gần một tá người liên quan, đúng không? Tất cả đều là cảnh sát.”

    “Chủ yếu. Một số người của ICC[124] nữa.”

    “Chuyện gì xảy ra với cậu ấy? Nick ấy?”

    “Anh biết chuyện gì xảy ra khi cớm xử cớm rồi. Họ đánh anh ấy nhừ tử. Nói rằng anh ấy chống cự, nhưng em biết là không phải. Gãy ba xương sườn, hai ngón tay, mặt nát nhừ. Bị kết án nhưng anh ấy vẫn bị tù hai mươi đến ba mươi năm.”

    “Vì tội chiếm đoạt tài sản?”

    “Anh ấy tự làm một, hai vụ. Dùng súng đập một lái xe, bắn người kia. Chỉ để dọa anh ta thôi. Em biết là chỉ để dọa anh ta. Nhưng quan tòa đã quăng anh ấy đi.” Cô nhắm mắt, mím môi thật chặt.

    “Khi anh ấy bị bắt, bên Nội vụ theo anh ấy rất chặt. Họ kiểm tra điện thoại. Bọn em rất thận trọng trong việc gọi điện cho nhau. Anh ấy nói thỉnh thoảng bọn tội phạm nghe trộm điện thoại của anh ấy. Nhưng vẫn có mấy cuộc gọi đến chỗ em. Bên Nội vụ bám theo em luôn. Vì thế Nick gạt em ra. Ý em là anh ấy phải làm thế. Nếu không em sẽ xuống dốc luôn cùng anh ấy. Anh biết bên Nội vụ rồi đấy – lúc nào cũng là những tên thợ săn phù thủy.”

    “Chuyện gì xảy ra?”

    “Để thuyết phục họ rằng em chẳng là gì đối với anh ấy… thì anh ấy đã nói vài câu về em.” Cô nuốt khan, mắt nhìn xuống nền nhà. “Khi bên Nội vụ thẩm vấn, họ hỏi anh ấy về em. Nick nói: ‘ À, P.D. Sachs? Tôi có chơi cô ta vài lần. Hóa ra cô ta cũng vớ vẩn. Nên tôi đá cô ta.” Cô ngửa đầu ra sau, lấy tay lau nước mắt. “Biệt hiệu? P.D.”

    “Lon có nói với anh.”

    Cô nhăn mặt. “Ông ấy có nói nó nghĩa là gì không?”

    “Con gái cớm tuần tra. Từ cha em.”

    Cô cười uể oải. “Nó khởi đầu như thế đấy. Nhưng đó không phải là cách kết thúc. Trong cuộc điều tra, Nick nói em là thứ vớ vẩn đến mức nó phải có nghĩa là ‘săn bướm’, bởi vì có lẽ em thích con gái hơn. Anh đoán xem điều này lan truyền trong sở nhanh đến thế nào.”

    “Chỗ đó có cùng mẫu số mà, Sachs.”

    Cô hít một hơi dài. “Em thấy anh ấy ở tòa vào cuối cuộc điều tra. Anh ấy nhìn em một lần và… em không thể tả được điều gì trong mắt anh ấy. Thực sự là cõi lòng tan nát. Anh ấy làm điều đó để bảo vệ em. Nhưng vẫn cứ… Anh đã đúng, anh biết không. Về sự cô đơn.”

    “Anh không có ý…”

    “Không”, cô nói mà không cười. “Em đánh anh, anh đánh em. Thế là công bằng. Và anh đúng. Em ghét sự cô đơn. Em muốn ra ngoài, em muốngặp ai đó. Nhưng sau Nick, em đã mất hứng thú với tình dục.” Sachs cười chua chát. “Mọi người đều nghĩ rằng có ngoại hình như em là tuyệt vời. Em có thể chọn anh chàng của mình, đúng không? Thật vớ vẩn. Những thằng cha mời em đi chơi là những thằng cha muốn chơi em. Thế nên em đầu hàng. Tự làm còn dễ hơn. Em ghét điều đó, nhưng dễ hơn”

    Cuối cùng thì Rhyme đã hiểu phản ứng của cô khi lần đầu tiên nhìn thấy anh. Cô thoải mái với anh vì đấy là người đàn ông không phải là mối đe dọa đối với cô. Không thúc ép tình dục. Một người mà cô không phải phòng ngự. Có thể có một chút tình đồng nghiệp nữa – như thể họ cũng thiếu mất một loại gen thiết yếu.

    “Em biết đấy”, anh đùa, “anh và em, ta cần đến với nhau và không được có chuyện gì”.

    Cô cười. “Thế thì kể cho em nghe về vợ anh. Hai người lấy nhau được bao lâu?”

    “Bảy năm. Sáu năm trước tai nạn. Và một năm sau đó.”

    “Và cô ấy bỏ anh?”

    “Không. Anh bỏ cô ấy. Anh không muốn cô ấy cảm thấy có lỗi trong việc này.”

    “Anh quá tốt.”

    “Cuối cùng thì anh cũng làm cô ấy bỏ đi được. Anh là một tên khốn. Em mới chỉ nhìn thấy mặt tốt của anh thôi.” Một lúc sau, anh hỏi. “Câu chuyện của Nick… có liên quan gì tới lý do em bỏ Đội Tuần tra không?”

    “Không. Thực ra là có.”

    “Chim bị tên sợ cây cong?”

    Cuối cùng cô gật đầu. “Cuộc sống ngoài phố giờ khác rồi. Đó là thứ đã làm cho Nick như vậy. Thứ làm biến đổi anh ấy. Nó không còn giống như khi cha em đi tuần trong khu của ông nữa. Khi đó mọi thứ tốt hơn.”

    “Ý em là nó không giống như những câu chuyện cha kể cho em nghe?”

    “Có thể”, cô nhượng bộ. Sachs ngồi thụp xuống ghế. “Bệnh than? Đúng như thế nhưng không nghiêm trọng đến mức như em giả bộ.”

    “Anh biết”, Rhyme hỏi.

    “Anh biết? Sao anh biết được?”

    “Anh chỉ cần nhìn vào chứng cứ và rút ra một số kết luận.”

    “Đó là lý do anh theo vụ của em cả ngày? Anh biết là em giả vờ?”

    “Anh theo vụ của em”, anh nói, “vì anh biết em giỏi hơn em nghĩ”.

    Cô nhìn anh thăm dò.

    “À Sachs này, em làm anh nhớ đến chính mình.”

    “Thế ư?”

    “Để anh kể cho em nghe một chuyện. Anh làm công việc khám nghiệm hiện trường được gần một năm thì nhận được một cuộc gọi từ Đội Trọng án. Có một người chết trong một ngõ hẻm ở Greenwich Village. Tất cả trung sĩ chỉ huy đã ra ngoài nên anh được chọn để khám nghiệm hiện trường. Lúc đó, anh nhớ anh mới hai mươi sáu tuổi. Anh tới đó, kiểm tra và phát hiện ra người chết là giám đốc Sở Y tế và Nhân đạo của thành phố. Lúc đó xung quanh ông ta có rất nhiều ảnh Palaroid. Chắc em đã nhìn thấy vài tấm ảnh đó – ông ta đã đến một trong những hộp đêm S&M[125] trên Phố Washington. À, anh quên không nói, khi họ tìm thấy ông ta thì ông ta mặc một bộ váy ngắn màu đen và đi đôi tất chân mắt lưới.

    Thế là anh bảo vệ hiện trường. Bất ngờ ông đại úy xuất hiện và đi qua dây chắn. Anh biết ông ấy có ý định làm cho những tấm ảnh đó biến mất trên đường đến phòng vật chứng nhưng anh lại ngây thơ tới mức không quan tâm đến những tấm ảnh – anh chỉ quan tâm đến việc ai đó đi ngang qua hiện trường.”

    “Peretti là bảo vệ hiện trường vụ án.”

    Rhyme tặc lưỡi. “Thế là anh không cho ông ấy vào. Lúc ông ấy đứng ngoài hàng rào quát tháo thì một nhân viên của Sở đến và cố gắng kết thúc sự việc. Anh nói không với ông ấy. Ông ấy cũng bắt đầu quát tháo anh. Hiện trường phải được giữ nguyên cho tới khi IRD xong việc, anh nói với họ thế. Đoán thử xem cuối cùng là ai đến?”

    “Thị trưởng?”

    “Gần đúng. Phó Thị trưởng.”

    “Và anh bắt cả họ phải đứng ngoài.”

    “Không ai vào được hiện trường, trừ bên chụp ảnh. Tất nhiên cái giá mà anh phải trả là sáu tháng làm nhân viên in ấn. Nhưng bọn anh bắt được thủ phạm nhờ vào một vài manh mối và dấu vân tay trên một bức hình Palaroid – hóa ra đấy là bức hình được tờ Bưu điện in trên trang nhất. Giống như việc em làm sáng hôm qua, Sachs ạ. Chặn tàu và xe trên Đại lộ Mười một.”

    “Em không nghĩ tới điều đó”, cô nói. “Em chỉ làm thôi. Sao anh lại nhìn em thế?”

    “Nào, Sachs. Em biết là em cần ở đâu mà. Ngoài phố. Tuần tra, Các vụ Trọng án, IRD, không quan trọng… Nhưng Phòng Quan hệ Công chúng ư? Ở đó em sẽ thối rữa. Đó là công việc tốt đối với một số người, nhưng không phải dành cho em. Đừng đầu hàng nhanh thế.”

    “Ồ, thế còn anh thì không đầu hàng à? Còn Berger thì sao?”

    “Với anh mọi chuyện hơi khác.”

    Cái nhìn của cô dò hỏi. Đúng thế không? Rồi cô đi quanh tìm khăn giấy. Khi quay lại ghế, cô hỏi: “Anh không đem xác chết nào theo anh đấy chứ?”

    “Cũng có khi. Nhưng giờ chúng đã được chôn cất rồi.”

    “Kể em nghe đi.”

    “Chẳng có gì cả đâu, thật đấy…”

    “Không đúng. Em thấy thế. Nào, em đã kể cho anh nghe chuyện của em rồi.”

    Anh cảm thấy một cơn ớn lạnh lạ lùng. Anh biết đấy không phải cơn sai lệch phản xạ. Nụ cười của anh biến mất.

    “Rhyme, kể đi”, cô dai dẳng. “Em muốn nghe.”

    “Được rồi, có một vụ vài năm trước”, anh nói. “Anh đã phạm sai lầm. Một sai lầm tệ hại.”

    “Kể em nghe.” Cô rót cho hai người thêm một ngấn whisky Scotch nữa.

    “Đó là một cuộc gọi nội địa báo giết người – tự sát. Một cặp vợ chồng trong một căn hộ ở Chinatown. Ông ta bắn vợ, rồi tự sát. Anh không có nhiều thời gian khám nghiệm hiện trường; anh làm rất nhanh. Và anh phạm một sai lầm cũ rích – anh đã biết trước mình sẽ tìm thấy gì trước khi anh bắt đầu tìm kiếm. Anh tìm thấy một ít sợi vải mà anh không biết đặt vào đâu nhưng anh giả định rằng cặp vợ chồng này đã lôi nó vào. Anh tìm thấy mảnh đạn nhưng không so nó với khẩu súng tìm được tại hiện trường. Anh nhận thấy phương cách nạp đạn tự động nhưng không đan lưới để tìm vị trí chính xác của khẩu súng. Anh tìm xong, ký giấy rồi về văn phòng.”

    “Chuyện gì đã xảy ra?”

    “Hiện trường bị dàn cảnh. Thực ra, đó là một vụ cướp của giết người. Tên tội phạm chưa rời căn hộ.”

    “Cái gì? Hắn vẫn ở đó?”

    “Sau khi anh ra về hắn bò từ gầm giường ra và bắt đầu bắn. Hắn giết chết một nhân viên pháp y và làm bị thương một người trợ lý. Hắn chạy ra phố và bắn nhau với mấy cảnh sát tuần tra chạy đến khi nghe gọi 10-13. Tên tội phạm bị bắn – sau đó cũng đã chết – nhưng hắn giết chết một cảnh sát và làm bị thương người khác. Hắn cũng bắn một gia đình vừa ra khỏi nhà hàng Trung Quốc gần đó. Dùng đứa con làm lá chắn.”

    “Ôi, trời ơi.”

    “Colin Stanton là tên người cha. Ông ta không hề bị thương và ông ta là một bác sĩ quân y – EMS nói ông ta đã có thể cứu được vợ và cả hai đứa con nếu ông ta cố gắng cầm máu, nhưng ông ta đã quá hoảng loạn và cứng đơ người. Ông ta cứ đứng, nhìn họ chết dần trước mắt mình.”

    “Lạy chúa, Rhyme. Nhưng đó không phải lỗi của anh. Anh…”

    “Để anh kể nốt. Đó vẫn chưa phải là đoạn kết.”

    “Chưa ư?”

    “Người chồng về nhà – ở phía bắc New York. Ông ta bị suy nhược thần kinh và phải vào bệnh viện tâm thần một thời gian. Ông ta thử tự tử. Đầu tiên ông ta tự cắt cổ tay mình bằng một mảnh giấy – bìa tạp chí. Sau đó ông ta lẻn vào thư viện và tìm thấy một cốc nước trong phòng tắm của người thủ thư, đập nó ra và dùng mảnh kính vỡ cứa vào cổ tay. Người ta đã khâu lại vết thương cho ông ta và giữ ông ta trong bệnh viện tâm thần khoảng một năm. Cuối cùng thì người ta cũng thả ông ra. Khoảng một tháng sau khi ra viện, ông ta lại thử lần nữa. Lần này thì dùng dao.” Rhyme lạnh lùng nói thêm. “Lần này thì có kết quả.”

    Anh biết về cái chết của Stanton nhờ một tờ cáo phó được fax từ nhân viên điều tra đột tử ở Albany tới Phòng Quan hệ Công chúng của NYPD. Ai đó đã gửi nó cho Rhyme bằng đường công văn nội bộ với một tờ giấy vàng dán kèm: FYI – có thể anh sẽ quan tâm, người sĩ quan đó viết.

    “IA điều tra nội bộ. Lỗi chuyên môn. Họ đập cổ tay anh. Anh nghĩ họ có thể đuổi việc anh.”

    Cô thở dài và nhắm mắt trong giây lát. “Và anh nói với em là anh không thấy có lỗi trong chuyện này?”

    “Hết rồi.”

    “Em không tin anh.”

    “Anh đã chịu án rồi, Sachs ạ. Anh sống với những xác chết này một thời gian. Sau đó anh bỏ chúng đi. Nếu không, làm sao anh tiếp tục làm việc được.”

    Sau một lúc lâu, cô nói: “Khi em mười tám tuổi, em bị phạt. Vì chạy quá tốc độ. Em chạy với tốc độ chín mươi ở chỗ chỉ được phép chạy bốn mươi.”

    “Rồi.”

    “Cha em nói, ông sẽ cho em vay tiền nộp phạt, nhưng em phải trả lại ông. Có lãi. Nhưng anh biết ông còn nói gì với em nữa không? Ông nói bố sẽ đánh đòn nếu con vượt đèn đỏ hay lái xe không cẩn thận. Nhưng chạy nhanh thì ông hiểu. Ông nói với em: ‘Bố biết cảm giác của con, con yêu ạ. Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta.’”, Sachs nói với Rhyme. “Nếu em không thể lái xe, nếu em không thể chuyển động, có thể em cũng sẽ làm điều đó. Tự tử.”

    “Anh đã từng đi bộ khắp nơi”, Rhyme nói. “Anh lái xe không nhiều. Không có xe suốt hai mươi năm. Em có xe gì?”

    “Chẳng phải là thứ mà một người Manhattan kiêu kỳ như anh sẽ lái đâu. Một chiếc Chevy. Mác Camaro. Đó là xe của cha em.”

    “Ông đã cho em một cái máy khoan hơi? Để sửa xe, anh đoán thế?”

    Cô gật đầu. “Và một máy hàn hơi. Một bộ tạo khe bugi. Cờ lê bánh cóc – món quà sinh nhật lần thứ mười ba của em.” Cười nhẹ nhàng. “Chiếc Chevy ấy, thật là một chiếc xe với núm tay lỏng. Anh có biết đấy là gì không? Một chiếc xe Mỹ. Đài, quạt và công tắc điện đều lỏng lẻo và hạng bét. Nhưng bộ giảm xóc thì như đá, nhẹ như thùng trứng và em lúc nào cũng qua mặt được BMW[126].”

    “Anh đoán là em đã làm rồi.”

    “Một, hai lần gì đấy.”

    “Xe hơi có địa vị trong thế giới của người tàn tật”, Rhyme giải thích. “Bọn anh ngồi – hay nằm – trong khu cách ly của Viện Phục hồi Chức năng và nói chuyện về những thứ bọn anh có thể lấy được từ công ty bảo hiểm. Xe tải kiểu xe lăn thật là đỉnh. Sau đó là xe điều khiển bằng tay. Tất nhiên là những thứ đó chẳng giúp gì cho anh.” Anh liếc mắt, kiểm tra bộ nhớ thuần thục của mình. “Anh không đi xe đã nhiều năm. Anh không nhớ lần cuối là khi nào cả.”

    “Em có một ý”, Sachs bất ngờ nói. “Trước khi ông bạn của anh – bác sĩ Berger – quay lại, để em đưa anh đi một vòng. Hay có vấn đề? Ngồi dậy? Anh nói là xe lăn không giúp được anh.”

    “À, không, xe lăn không thành vấn đề. Nhưng còn xe hơi? Anh nghĩ chắc là được.” Anh cười. “Một trăm sáu mươi tám? Dặm một giờ?”

    “Hôm ấy là một ngày đặc biệt”, Sachs nói và nhớ lại. “Điều kiện tốt. Không có cảnh sát giao thông.”

    Điện thoại reo và Rhyme tự trả lời. Đó là Lon Sellitto.

    “Chúng tôi đã có các nhóm S&S ở tất cả các nhà thờ mục tiêu trong khu Harlem. Dellray chịu trách nhiệm về việc này – anh ta trở thành một tín đồ thực sự rồi. Anh không còn nhận ra anh ta nữa đâu. Ồ, mà tôi còn có thêm ba mươi cảnh sát tuần tra và hàng tá nhân viên anh ninh Liên Hiệp Quốc để đến bất cứ nhà thờ nào mà chúng ta có thể bỏ qua. Nếu hắn không xuất hiện, chúng tôi sẽ càn quét tất cả các nhà thờ vào lúc bảy rưỡi, trong trường hợp hắn lẩn được vào mà chúng tôi không phát hiện ra. Tôi nghĩ chúng ta sẽ tóm được hắn, Linc ạ.” Viên thám tử nói, nhiệt tình một cách đáng nghi ngờ so với một cảnh sát của Đội Trọng án Thành phố New York.

    “Được rồi, Lon. Khoảng tám giờ tôi sẽ cử Amelia tới Trung tâm chỉ huy của anh.”

    Họ dập máy.

    Thom gõ cửa trước khi vào phòng.

    “Như thể cậu ta sẽ bắt được chúng ta trong tư thế tế nhị.” Rhyme cười thầm.

    “Không lý do gì nữa”, anh ta nói. “Đi ngủ. Ngay bây giờ.”

    Đã 3:00. Từ lâu rồi, Rhyme đã không còn cảm giác kiệt sức. Anh đang bay lượn ở đâu đó. Phía trên cơ thể mình. Anh băn khoăn không hiểu có phải mình gặp ảo giác hay không.

    “Được rồi, thưa mẹ”, anh nói. “Sĩ quan Sachs sẽ ngủ lại đêm nay, Thom. Cậu làm ơn lấy giúp một cái chăn.”

    “Anh nói gì?” Thom quay lại phía anh.

    “Một cái chăn.”

    “Không, trước đó cơ.” Người trợ lý hỏi. “Cái từ ấy?”

    “Tôi không biết. ‘Làm ơn’?”

    Mắt Thom mở to vì cảnh giác. “Anh ổn chứ? Anh có muốn tôi gọi Peter Taylor quay lại không? Hay cha cả của Tu viện Columbia? Bác sĩ phẫu thuật?”

    “Thấy thằng khốn này làm phiền tôi chưa?” Rhyme nói với Sachs. “Hắn không biết là hắn gần đến lúc bị đuổi việc thế nào rồi đâu.”

    “Gọi dậy lúc mấy giờ?”

    “Sáu giờ ba mươi là ổn,” Rhyme nói.

    Khi anh ta đi khỏi, Rhyme hỏi: “Này, Sachs, em có thích nghe nhạc không?”

    “Em thích.”

    “Loại nào?”

    “Nhạc cổ, dòng doo-wop, Motown… Còn anh thì sao? Anh trông có vẻ giống một anh chàng cổ điển.”

    “Em thấy cái tủ chỗ kia chứ?”

    “Cái này hả?”

    “Không, cái khác cơ. Phía bên phải. Em mở nó ra.”

    Cô làm theo và há miệng vì ngạc nhiên. Cái tủ quả là một căn phòng chứa tới gần nghìn đĩa CD.

    “Giống như cửa hàng bán đĩa[127]?”

    “Có một bộ dàn, em thấy nó trên giá không?”

    Cô lướt nhẹ tay trên dàn máy Harmon Cardon dính đầy bụi.

    “Đắt hơn cả chiếc xe hơi đầu tiên của anh”, Rhyme nói. “Anh không dùng nó nữa.”

    “Sao lại không?”

    Anh không trả lời mà nói: “Em cho đĩa gì đó vào đi. Điện còn cắm không? Thế à? Tốt. Em chọn nhạc đi.”

    Một khắc sau, cô bước ra khỏi tủ và đi lại ghế sofa khi Levi Stabbs[128] và Four Tops[129] bắt đầu hát về tình yêu.

    Phải đến một năm rồi mới lại có âm nhạc vang lên trong nhà, Rhyme nghĩ. Anh im lặng, cố gắng trả lời câu hỏi của Sachs vì sao anh lại ngừng nghe nhạc. Nhưng anh không thể.

    Sachs dọn tài liệu và sách ra khỏi ghế. Nằm lên đó và lần giở cuốn Hiện trường vụ án.

    “Tặng em một cuốn được không?” Cô hỏi.

    “Em cứ lấy mười cuốn.”

    “Anh sẽ…”, giọng cô chợt ngừng lại.

    “Ký sách cho em?” Anh cười. Cô cười với anh. “Anh điểm chỉ, được không? Các nhà phân tích nét chữ không bao giờ cho em xác suất trùng lặp nét chữ quá tám mươi phần trăm. Nhưng còn dấu tay? Bất kỳ chuyên gia dấu vân tay nào cũng có thể khẳng định đó là dấu tay của anh.”

    Anh nhìn cô đọc chương một. Mắt cô rũ xuống. Cô gập sách.

    “Anh làm cho em một việc, được không?” Cô hỏi.

    “Việc gì?”

    “Đọc cho em nghe…”

    “Đọc cho em nghe. Thứ gì đó trong sách. Khi Nick và em còn bên nhau…”, giọng cô nhạt dần.

    “Sao cơ?”

    “Khi Nick và em còn ở bên nhau, nhiều lần Nick đọc cho em nghe trước khi bọn em ngủ. Bất cứ thứ gì: sách, báo, tạp chí… Một trong những thứ em nhớ nhất.”

    “Anh đọc rất dở”, Rhyme thú nhận. “Anh đọc như thể anh đang trích dẫn báo cáo khám nghiệm hiện trường. Nhưng anh có trí nhớ… khá là tốt. Để anh kể em nghe về vài hiện trường vụ án, được không?”

    “Thật không?” Cô nằm ngửa, cởi chiếc áo khoác màu xanh hải quân và tháo cái áo giáp chống đạn hiệu American Body Armor, vứt nó sang một bên. Phía trong cô mặc một chiếc áo phông nhàu nát và dưới đó là áo lót ngực thể thao. Cô lại mặc chiếc áo khoác rồi nằm lên ghế, kéo chăn. Xoay người sang bên rồi nhắm mắt.

    Rhyme giảm ánh sáng bằng điều khiển từ xa.

    “Anh luôn thấy ngạc nhiên với hiện trường chết chóc”, anh bắt đầu. “Chúng giống như những đền thờ. Chúng ta luôn quan tâm đến nơi chôn cất người chết hơn là nơi họ được sinh ra. Ví dụ như John Kennedy. Mỗi ngày có hàng nghìn người đến thăm kho sách Texas ở Dallas. Em nghĩ có bao nhiêu người hành hương đến một phòng sản phụ ở Boston?”

    Rhyme ngả đầu vào chiếc gối mềm mại quý phái “Anh có làm em chán không?”

    “Không”, cô nói. “Làm ơn đừng dừng lại.”

    “Em có biết điều làm anh luôn băn khoăn là gì không, Sachs?”

    “Nói cho em biết đi”

    “Điều đó làm anh ngạc nhiên nhiều năm rồi – Tinh thần Hiệp sĩ. Hai nghìn năm trước. Còn bây giờ, có một hiện trường vụ án mà anh thích khám nghiệm. Anh biết em sẽ nói: Nhưng chúng ta biết bọn tội phạm rồi cơ mà. Có phải như vậy không? Điều mà chúng ta thực sự biết được là những gì nhân chứng nói với chúng ta. Em có nhớ là anh đã nói – đừng bao giờ tin nhân chứng. Có thể những câu chuyện trong Kinh thánh là không hề có thực.Bằng chứng đâu? Phải là chứng cứ vật lý. Móng tay, máu, mồ hôi, ngọn giáo, chữ thập, giấm ăn. Dấu dép và dấu vân tay.”

    Rhyme hơi nghiêng đầu sang trái và tiếp tục kể chuyện về những hiện trường vụ án và chứng cứ cho tới khi ngực Sachs phập phồng đều đặn, hơi thở của cô làm những sợi tóc đỏ nhẹ nhàng bay. Ngón tay anh lần tìm nút tắt đèn trên bộ điều khiển ESU, và rồi anh cũng nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.



    Ánh sáng mờ mờ của buổi bình minh xuất hiện trên bầu trời.

    Hoàn toàn tỉnh táo, Carole Ganz có thể nhìn thấy lớp kính lõi lưỡi thép bên trên đầu cô. Pammy, con yêu... Rồi cô nghĩ tới Ron. Và tất cả tài sản của cô còn đang ở trong cái tầng hầm kinh khủng ấy. Tiền bạc, chiếc ba lô màu vàng...

    Cô nghĩ tới Pammy.

    Có thứ gì đó làm cho cô gián đoạn giấc ngủ chập chờn, bất ổn. Gì vậy nhỉ?

    Cơn đau ở cổ tay? Nó giật giật khủng khiếp. Cô xoay người một chút. Cô...

    Tiếng rống khó chịu của đàn organ và giọng hát của dàn đồng ca lại ngập tràn trong phòng.

    Đó là thứ đã đánh thức cô. Âm nhạc. Làn sóng âm nhạc ập tới. Nhà thờ không bị bỏ hoang. Có người ở đây. Cô mỉm cười. Có ai đó sẽ...

    Điều này nhắc cô nhớ tới quả bom.

    Carole nhìn qua khe tủ hồ sơ. Nó vẫn còn đó, bập bềnh ngoài cạnh bàn. Nó mang hình dáng thô thiển của một quả bom thật sự và một thứ vũ khí giết người – không giống những dụng cụ sáng bóng, dễ thương mà ta vẫn thấy trên phim ảnh. Băng dính quấn xộc xệch, dây dẫn bị bóc vỏ nham nhở, xăng vẩn đục… có thể chỉ là bom xịt, cô nghĩ. Trong ánh sáng ban ngày, trông nó không có vẻ nguy hiểm lắm.

    Âm nhạc lại vang lên. Nó vang lên ngay trên đầu cô. Kèm theo tiếng lê chân. Cửa đóng lại. Sàn nhà gỗ kêu kẽo kẹt khi mọi người đi lại. Bụi bay ra từ rầm nhà.

    Giọng hát đang vang lên nửa câu bỗng ngừng lại. Một giây lát sau, họ lại bắt đầu hát.

    Carole đạp chân, nhưng ở đây nền nhà bằng bê tông, tường gạch. Cô cố hét lên nhưng âm thanh bị miếng băng dính dán miệng nuốt chửng. Buổi diễn tập vẫn tiếp tục, tiếng nhạc nghiêm trang, đầy sinh lực lan xuống tận tầng hầm.

    Sau mười phút, Carole kiệt sức ngã vật xuống sàn. Mắt cô lại nhìn về phía quả bom. Lúc này đã sáng hơn và cô có thể nhìn thấy cái đồng hồ hẹn giờ.

    Carole nhăn mặt. Cái đồng hồ hẹn giờ!

    Đó không phải là một quả bom thối. Kim định giờ đặt ở mức 6:15. Kim đồng hồ lúc này chỉ 5:30.

    Bò xa hơn ra phía sau tủ hồ sơ, Carole lấy đầu gối đập vào thành tủ kim loại. Nhưng bất kỳ tiếng động yếu ớt nào phát ra đều ngay tức khắc bị tan biến trong tiếng rền vang của bài hát Sweet Low, Sweet Chariot từ trên cao vọng xuống, đang ngập tràn tầng nhà thờ.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    IV


    ĐẾN TẬN XƯƠNG


    Các vị thần chỉ chối từ một thứ: quyền năng thay đổi quá khứ.
    ARISTOTLE

    HAI MƯƠI BẢY

    5:45 AM Chủ nhật đến 7:00 PM thứ Hai

    Mùi hương làm anh tỉnh giấc. Như mọi khi.

    Và – cũng giống như rất nhiều buổi sáng – anh không vội vàng mở mắt mà giữ nguyên vị trí nửa nằm, nửa ngồi của mình, cố gắng suy đoán xem mùi hương không quen thuộc đó là gì.

    Mùi không khí buổi bình minh? Giọt sương trên những con phố bóng như dầu? Mùi vữa ẩm? Anh cố gắng phân biệt mùi hương của Amelia Sachs nhưng thấy rằng mình không thể.

    Ý nghĩ của anh bỏ qua cô và tiếp tục. Mùi gì thế nhỉ?

    Chất tẩy rửa? Không phải.

    Một thứ hóa chất từ phòng thí nghiệm ngẫu hứng của Cooper?

    Không, anh nhận ra được tất cả những thứ mùi đó.

    Đó là… à, đúng rồi… mùi bút viết bảng.

    Đến lúc này anh đã có thể mở mắt – sau khi liếc nhìn Sachs vẫn đang ngủ để chắc chắn là cô chưa bỏ đi – và thấy mình đang nhìn vào tấm áp phích Monet treo trên tường. Mùi tỏa ra từ đó. Không khí nóng bức, ẩm thấp của buổi sáng tháng tám này đã làm giấy khô đi và mùi xuất phát từ đó.
    [IMG]

    - Hiểu biết quy trình khám nghiệm hiện trường

    - Có thể có tiền án

    - Hiểu biết về dấu vân tay

    - Súng = Colt .32

    - Trói nạn nhân bằng nút thắt khác thường

    - “Cổ xưa” hấp dẫn hắn

    - Gọi một nạn nhân là “Hanna”

    - Biết tiếng Đức cơ bản

    - Thích những chỗ dưới lòng đất


    Những con số nhợt nhạt trên đồng hồ chỉ 5:45. Ánh mắt anh quay lại chỗ tấm áp phích. Anh không thể nhìn thấy rõ ràng, chỉ thấy những hoa văn xám trên nền trắng tuyệt đối. Nhưng ánh sáng nhợt nhạt của bầu trời buổi sáng cũng đủ để đọc được phần lớn các từ.


    - Đa nhân cách

    - Có thể là thầy tu, nhân viên hoạt động xã hội, luật sư

    - Giày mòn kiểu khác thường, đọc nhiều?

    - Lắng nghe khi bẻ gãy ngón tay nạn nhân

    - Bỏ lại con rắn để chế giễu cuộc điều tra


    Những con chim ưng đã tỉnh giấc. Anh cảm thấy những tiếng đập cánh run rẩy bên ngoài. Ánh mắt Rhyme quay lại với tấm áp phích. Trong văn phòng của anh ở IRD, anh treo khoảng một tá bảng trắng và trên đó anh ghi lại những đặc tính quan trọng nhất của nghi phạm trong những vụ án lớn. Anh nhớ lại: đi lại, ngắm nghía, suy nghĩ về những người mà họ mô tả.

    Những phân tử sơn, bùn, phấn hoa, lá cây…


    - Tòa nhà cũ, đá cẩm thạch hồng.


    Nghĩ tới tên trộm đá quý gian xảo mà anh và Lon tóm mười năm trước. Tại Central Booking, tên trộm rụt rè nói họ sẽ không bao giờ tìm được những thứ hắn lấy từ những vụ trước đó, nhưng nếu họ xem xét lệnh ân xá, hắn sẽ nói cho họ biết hắn giấu ở đâu. Rhyme trả lời: ” Được rồi, bọn tao có một chút rắc rối khi tìm xem chúng ở đâu.”

    “Chắc chắn rồi”, tên trộm nói.

    “Xem này”, Rhyme nói. “bọn tao đã biết tới bức tường đá trong phòng đựng than của một ngôi nhà nông thôn kiểu thuộc địa trên sông Connecticut. Cách Long Island Sound khoảng năm dặm về phía bắc. Tao chỉ chưa biết là ngôi nhà này ở bờ phía đông hay bờ phía tây của dòng sông mà thôi”.

    Khi câu chuyện lan ra ngoài, câu nói mà mọi người dùng để mô tả nét mặt của tên trộm lúc đó là: mẹ kiếp, chắc chắn là mày phải đến đấy rồi chứ.

    Có thể đấy chính phép thuật, Sachs ạ. Anh nghĩ.


    - Ít nhất một trăm năm tuổi, có thể là một biệt thự hay cơ quan


    Anh nhìn lướt tấm áp phích một lần nữa rồi nhắm mắt, ngả đầu xuống chiếc gối tuyệt vời của mình. Đúng lúc đó anh cảm thấy choáng váng. Giống như có ai đó tát vào mặt mình. Cơn sốc lan lên đầu anh như lửa cháy. Mắt mở to, nhìn chằm chằm vào tấm áp phích.


    - “Cổ xưa” hấp dẫn hắn


    “Sachs!” Anh la lên. “Dậy ngay!”

    Cô giật mình và ngồi dậy. “Cái gì? Gì thế...?”

    Cổ xưa, cổ xưa, cổ xưa...

    “Anh sai mất rồi”, anh nói cộc lốc. “Có vấn đề rồi.”

    Đầu tiên cô nghĩ đó là vấn đề sức khỏe, vì thế cô nhảy khỏi ghế, vớ lấy túi cứu thương của Thom.

    “Không, manh mối cơ, Sachs, manh mối... Anh hiểu sai.” Hơi thở của anh gấp gáp, anh nghiến răng trong lúc suy nghĩ.

    Cô mặc quần áo, ngồi thẳng dậy, những ngón tay cô tự động đưa lên gãi đầu. “Gì vậy, Rhyme? Điều gì vậy?”

    “Nhà thờ. Có thể nó không phải ở Harlem.” Anh nhắc lại. “Anh sai rồi.”

    Giống như với thủ phạm giết gia đình Colin Stanton. Trong ngành hình sự học, ta có thể xác định chính xác hàng trăm manh mối, nhưng manh mối mà ta bỏ qua lại khiến cho người ta mất mạng.

    “Mấy giờ rồi?” Cô hỏi.

    “Hơn sáu giờ kém mười lăm một chút. Lấy tờ báo đi. Lịch biểu lễ nhà thờ.”

    Sachs tìm thấy tờ báo, lướt qua. Sau đó cô ngẩng lên. “Anh nghĩ gì vậy?”

    “823 đam mê những thứ cổ xưa. Nếu hắn muốn một nhà thờ cổ của người da đen thì có thể ý hắn không phải là khu phố trên. Philip Payton thành lập công ty bất động sản Mỹ-Phi tại Harlem năm 1900. Còn có hai khu người da đen nữa trong thành phố. Khu trung tâm, chỗ tòa án hiện nay và San Juan Hill. Ở đây chủ yếu là người da trắng... Ôi quỷ thật, anh đang nghĩ gì vậy nhỉ?”

    “San Juan Hill ở đâu?”

    “Phía bắc Hell’s Kitchen. West side. Nó được đặt tên để tôn vinh tất cả những người lính da đen đã chiến đấu trong cuộc chiến Mỹ – Tây bannha.”

    Cô đọc lướt qua tờ báo.

    “Các nhà thờ trong khu trung tâm”, cô nói. “Nếu ở khu Battery Park thì ở đó có viện Seamen. Có một nhà thờ tại đây, họ có làm lễ. Chúa ba ngôi. Thánh Paul.”

    “Đó không phải khu của người da đen. Xa hơn nữa về phía bắc và phía đông.”

    “Nhà thờ Trưởng lão trong khu Chinatown.”

    “Có nhà thờ Tin lành hay Phúc âm nào khồng?”

    “Không, không có gì ở khu này. Đây… ôi, quỷ thật.” Ánh mắt cam chịu, cô thở dài. “Ôi, không.”

    Rhyme hiểu ra. “Lễ chào mặt trời.”

    Cô gật đầu: “Tín lành bánh thánh… Không, Rhyme có một lễ hát thánh ca bắt đầu lúc sáu giờ sáng. Đại lộ năm mươi chin và Mười một.”

    “Đó là San Juan Hill! Gọi cho họ đi!”

    Cô vơ lấy điện thoại và quay số. Cô đứng cúi đầu, nhíu mày trong lúc lắc đầu. “Trả lời đi, trả lời đi… Quỷ thật. Máy ghi âm. Mục sư chắc đã rời khỏi văn phòng.” Cô nói vào ống nghe. “Đây là NYPD. Chúng tôi có lý do để tin rằng trong nhà thờ của ngài có bom. Hãy sơ tán càng nhanh càng tốt.” Cô dập máy, rồi đi giày.

    “Đi đi, Sachs. Em phải tới đó ngay. Ngay bây giờ.”

    “Em?”

    “Chúng ta ở gần đó hơn đồn gần nhất. Sau mười phút là em tới đó rồi.”

    Cô chạy ra cửa, vừa chạy vừa đeo thắt lưng thiết bị vào eo.

    “Anh sẽ gọi điện cho đồn.” Anh nói với theo khi cô nhảy xuống cầu thang, tóc như một đám mây đỏ quấn quanh đầu. “Sachs này, nếu em muốn lái xe thật nhanh thì bây giờ là lúc đấy.”



    Chiếc xe RRV trượt bánh trên Phố Tám mươi mốt, lao nhanh về phía tây.

    Sachs lao đến ngã tư ở Broadway, trượt bánh và va phải chiếc máy bán báo Bưu điện New York, hất nó bắn qua cửa sổ hiệu Zabar trước khi cô điều khiển được chiếc xe. Cô nhớ tới tất cả các loại thiết bị khám nghiệm hiện trường vụ án chở phía sau. Một chiếc xe nặng mông, cô nghĩ; không được quặt khi đang chạy với tốc độ năm mươi.

    Sau đó chạy dọc Broadway. Phanh lại ở ngã tư. Nhìn phải, nhìn trái. Không có gì. Nhấn ga!

    Cô thoát ra Đại lộ Chín tại trung tâm Lincoln và sau đó chạy xuống phía nam. Mình chỉ…

    Quỷ tha ma bắt!

    Lốp xe rít lên khi bị phanh gấp.

    Phố bị cấm.

    Một dãy rào cản chặn Đại lộ Chín để chuẩn bị cho hội chợ đường phố buổi sáng nay. Một khẩu hiệu viết Đồ thủ công mỹ nghệ của tất cả các dân tộc. Tay trong tay, chúng ta là một.

    Ôi trời… quỷ tha ma bắt Liên Hiệp Quốc. Cô lùi lại một nửa khối nhà và tăng tốc độ lên năm mươi trước khi lao vào dây rào chắn đầu tiên. Rẽ tung những chiếc bàn gấp bằng nhôm và giá bày hàng gỗ, cô rẽ một đường qua hội chợ không người. Sau hai khối nhà, chiếc xe lao qua rào cản phía nam và cô rẽ về hướng tây sang Phố Năm mươi chín, lao lên vỉa hè một đoạn nhiều hơn cô muốn.

    Có một nhà thờ cách đó khoảng một trăm thước.

    Giáo dân đứng trên bậc cầu thang – cha mẹ, một cô bé con mặc bộ váy diềm màu trắng hồng, những cậu bé mặc vét tối màu và áo trắng, tóc nhuộm bạc hay tạo thành những núm lạ mắt.

    Từ dưới cửa sổ đường hầm, một đám khói xám nhỏ đang bốc lên.

    Cô đạp cần ga chạm sàn, động cơ gầm rú.

    Vớ lấy máy bộ đàm. “RRV Hai gọi trung tâm, nghe rõ?”

    Đúng lúc cô nhìn xuống chiếc bộ đàm Motorola để xem âm thanh đã được vặn lên hết cỡ hay chưa, một chiếc Mercedes lớn lao ra khỏi ngõ, đúng đường đi của cô.

    Một cái liếc nhìn rất nhanh gia đình đang ngồi trong xe, mọi người mắt mở to vì sợ hãi khi người cha đạp phanh.

    Sachs theo bản năng đánh mạnh tay lái sang trái, đưa chiếc xe sang trạng thái trượt có điều khiển. Nào, nào, cô van xin những cái lốp xe… bám vào, bám vào, bám vào! Nhưng mặt đường nhựa trơn trượt đã bị mềm đi dưới sức nóng của mấy ngày qua và bị phủ sương. Chiếc xe trôi trên đường như đi tàu cánh ngầm.

    Đuôi xe va mạnh vào đầu chiếc Mercedes với tốc độ năm mươi dặm một giờ. Sau một tiếng động lớn, chiếc 560 cắt đứt sườn bên trái của chiếc xe thùng. Những chiếc va li khám nghiệm hiện trường bay lên không, mở tung và đổ những thứ bên trong ra phố. Những người đi nhà thờ cúi xuống tránh mảnh kính vỡ, nhựa và kim loại.

    Túi khí tung ra và phồng lên làm Sachs giật mình. Cô lấy tay che mặt khi chiếc xe thùng nhảy tung qua một dãy xe hơi, qua một cửa hiệu báo và trượt trên đường cho tới khi dừng hẳn, lộn ngược. Báo và túi đựng vật chứng trên mặt đất như những người lính dù tí hon.

    Bị dây an toàn treo lộn ngược, tóc che kín mắt, Sachs gạt máu chảy ra từ vết thương trên trán và môi, cố gắng mở khóa. Nó chặt cứng. Xăng nóng chảy vào xe và chảy theo tay cô buồn buồn. Cô rút con dao gấp ở túi sau, mở ra và cắt dây an toàn. Chút nữa bị rơi vào con dao, cô nằm đó, thở hổn hển, ngạt vì khói xăng.

    Nào cô bé, ra thôi. Ra nào!

    Cửa xe bị kẹt, phía sau của chiếc xe thùng đã bị bẹp nên cũng không có đường thoát. Sachs bắt đầu đạp cửa sổ. Kính không vỡ. Cô co chân đạp thật mạnh vào lớp kính chắn gió đã bị nứt. Không ảnh hưởng gì, ngoại trừ việc cô suýt bong gân chân.

    Súng!

    Cô sờ vào hông; khẩu súng đã rơi khỏi bao và lăn lóc đâu đó trong xe. Cảm thấy làn mưa xăng nóng bỏng trên tay và trên vai, cô tìm kiếm điên cuồng trong đám giấy và thiết bị khám nghiệm hiện trường vương vãi trên nóc xe.

    Sau đó cô nhìn thấy khẩu Glock nặng nề của mình gần cái chao đèn. Cô phủi nó và nhắm vào cửa bên.

    Làm đi. Bên ngoài thoáng, vẫn chưa có ai đến xem.

    Sau đó cô ngần ngừ. Liệu lửa nòng có làm xăng bắt cháy không?

    Cô giữ khẩu súng cách xa bộ đồng phục thấm xăng của cô hết mức có thể, suy nghĩ. Rồi bấm cò.



  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    HAI MƯƠI TÁM


    Năm phát, theo hình sao. Mặc dù vậy kính của chiếc General Motors vẫn y nguyên.

    Ba phát nữa, nổ inh tai trong không gian chật hẹp của chiếc xe thùng. Nhưng kính vẫn không vỡ.

    Cô tiếp tục đạp. Cuối cùng cánh cửa sổ bung ra bên ngoài thành một dòng thác những viên băng nhỏ màu xanh. Đúng lúc cô vừa lăn ra ngoài, nội thất của chiếc xe thùng nổ.

    Cởi hết áo chỉ để lại áo phông, cô ném áo khoác và áo chống đạn ngấm xăng, ném tai nghe có mic sang bên cạnh. Cảm thấy mắt cá lung lay nhưng cô vẫn lao về cửa chính của nhà thờ, chạy qua những người đi lễ và dàn đồng ca đang chạy trốn. Tầng trệt đầy khói. Gần đó, một phần của nền nhà bị gợn sóng, nóng lên và bùng cháy.

    Bất ngờ vị mục sư xuất hiện, bị ngạt khói, nước mắt ròng ròng. Ông ta kéo theo một người phụ nữ bất tỉnh. Sachs giúp ông ta đưa người phụ nữ ra cửa.

    “Tầng hầm ở đâu?” Cô hỏi.

    Ông ta ho dữ dội, lắc đầu.

    “Ở đâu?” Cô quát lên, nghĩ tới Carole Ganz và đứa con nhỏ của cô. “Tầng hầm?”

    “Đằng kia, nhưng…”

    Phía bên kia nền nhà đang bốc cháy.

    Sachs gần như không nhìn thấy nó, khói quá dày. Một bức tường đổ xuống trước mặt họ, những cái rầm và cột nhà cũ đằng sau nó kêu lách tách, phun ra những tia lửa và những luồng khí nóng vào căn phòng mù mịt khói. Cô ngần ngại một chút, rồi bắt đầu đến cửa tầng hầm.

    Mục sư nắm tay cô. “Đợi đã.” Ông ta mở kho và lấy một bình cứu hỏa, giật khóa bảo vệ . “Đi thôi.”

    Sachs lắc đầu. “Ông không phải đi. Ông cứ kiểm soát khu vực này. Nói với lính cứu hỏa là có một sĩ quan cảnh sát và một nạn nhân khác đang ở dưới tầng hầm.”

    Lúc này thì Sachs đang tăng tốc.

    Khi ta di chuyển

    Cô nhảy qua lỗ thủng lớn trên nền nhà. Nhưng khói làm cho cô đánh giá sai khoảng cách tới bức tường, nó gần hơn cô tưởng nên cô va phải bức vách gỗ và ngã ra sau, lăn tròn khi tóc cô quét qua ngọn lửa, một vài lọn tóc bắt lửa. Nôn khan vì hít phải mùi, cô dập lửa và cố gắng đứng lên. Nền nhà, đã bị ngọn lửa phía dưới làm yếu đi, vỡ ra dưới chân làm cô ngã đập mặt xuống nền gỗ sồi. Cô cảm thấy lưỡi lửa dưới tầng hầm đang liếm cánh tay và cổ tay mình khi cô giật tay về.

    Lăn ra khỏi rìa lỗ thủng, cô đứng dậy và với tay đến cái nắm tay của cửa xuống tầng hầm. Bất ngờ cô dừng lại.

    Này cô bé, nghĩ cho kỹ vào! Hãy cảm nhận cánh cửa trước khi mở. Nếu bên trong quá nóng và mày lại để oxy lọt vào trong căn phòng siêu nóng, nó sẽ bùng nổ và hơi phản hồi sẽ thiêu cháy mày ngay. Cô chạm vào gỗ. Nóng như thiêu.

    Sau đó cô nghĩ: thế mình có thể làm được gì khác nào?

    Nhổ nước bọt vào tay, cô nắm rất nhanh cái tay nắm cửa, xoay cho nó mở và thả tay ra trước khi bàn tay kịp bị bỏng.

    Cánh cửa mở tung, một đám mây khói và tia lửa cuồn cuộn trào ra.

    “Có ai trong đó không?” Cô gọi và bắt đầu đi xuống.

    Những bậc thang dưới cùng đang cháy. Cô phun một lượt carbon dioxide rồi nhảy xuống tầng hầm ẩm mốc. Cô đạp gãy bậc thang gần cuối cùng, chúi người về phía trước. Bình cứu hỏa rơi loảng xoảng xuống nền nhà khi cô nắm vội lấy tay vịn cầu thang, vừa đúng lúc không để chân bị gãy.

    Kéo mình ra khỏi bậc thang gãy, Sachs liếc nhìn qua làn khói mịt mù. Dưới này khói không đến nỗi quá tệ – nó bay lên trời cao – nhưng còn lửa thì lại bốc cháy quanh cô.

    Bình cứu hỏa lăn xuống dưới cái bàn đang cháy. Quên nó đi! Cô chạy qua đám khói.

    “Có ai không?” Cô la lớn.

    Không ai trả lời.

    Sau đó cô nhớ ra thủ phạm 823 thường dùng băng dính; hắn thích những nạn nhân câm lặng.

    Cô đá tung một cánh cửa nhỏ và ngó vào trong phòng nồi hơi. Có một cánh cửa dẫn ra ngoài nhưng rác thải cháy đã chặn nó lại. Phía trong là một bình nhiên liệu, lúc này đang bị ngọn lửa bao vây.

    Nó sẽ không nổ, Sachs nhớ lại bài học từ học viện – bài giảng về hỏa hoạn. Dầu nhiên liệu không nổ. Đá rác rưởi sang một bên và đẩy cửa mở ra. Dọn đường rút lui cho mình. Sau đó mới đi tìm người phụ nữ và đứa bé.

    Cô chần chừ, nhìn những lưỡi lửa đang liếm quanh thùng dầu nhiên liệu.

    Nó sẽ không nổ, nó sẽ không nổ đâu.

    Cô bắt đầu tiến lên phía trước, lần bước ra cửa.

    Nó sẽ không...

    Thùng nhiên liệu bất thình lình nổ bục như một lon soda và nứt đôi ở đoạn giữa. Dầu phụt lên không trung, bùng cháy thành một đám bọt màu cam khổng lồ. Một bể lửa đang thành hình trên nền nhà và chảy về phía Sachs.

    Nó không nổ. Được rồi. Nhưng lại cháy không tệ chút nào. Cô nhảy lùi qua cửa, đóng sập nó lại. Đường rút lui của cô thế là hết.

    Đi giật lùi về phía cầu thang, ho sặc sụa, người cúi thấp, cố gắng tìm kiếm bất kỳ một dấu vết nào của Carole Ganz và Pammy. Liệu 823 có thay đổi quy luật hay không? Liệu hắn ta có bỏ qua tầng hầm và đưa những nạn nhân này lên tầng gác mái của nhà thờ hay không?

    Rắc...

    Cô ngẩng đầu lên nhìn rất nhanh. Một thanh rầm gỗ sồi, bốc lửa đùng đùng bắt đầu rơi xuống.

    Sachs nhảy sang một bên với tiếng thét lớn nhưng bị vấp rồi ngã ngửa, nhìn lên một thanh gỗ khổng lồ đang lao thẳng xuống mặt và ngực cô. Cô giơ hai tay lên đỡ theo bản năng.

    Một tiếng động ầm ĩ phát ra khi thanh gỗ hạ cánh trúng chiếc ghế học sinh trường Chủ nhật. Nó dừng lại cách đầu cô chỉ vài inch. Cô bò ra và đứng lên.

    Nhìn quanh phòng, nhìn xuyên qua lớp khói đang đen dần.

    Quỷ thật. Không, mình sẽ không đánh mất thêm một nạn nhân nào nữa. Sặc sụa, Sachs quay lại chỗ đống lửa và lần bước tới góc phòng mà cô chưa kiểm tra.

    Lúc cô đang chạy tới trước, một cẳng chân thò ra từ phía sau tủ hồ sơ ngáng ngã cô.

    Tay bay tới trước, Sachs sấp mặt tiếp đất, chỉ cách bể dầu cháy vài cm. Cô lăn nghiêng, rút súng và chĩa nó vào khuôn mặt hoảng loạn của một người phụ nữ tóc vàng đang cố gắng ngồi dậy.

    Sachs gỡ băng dính ra khỏi miệng cô ta và người phụ nữ nhổ ra một bãi nước nhầy màu đen. Cô ta nôn khan một lúc, phát ra những âm thanh trầm, chết chóc.

    “Carole Ganz?”

    Cô ta gật đầu.

    “Con gái chị đâu?” Sachs la lớn.

    “Không có… ở đây. Tay tôi! Cái còng.”

    “Không còn thời gian đâu. Đi nào.” Sachs lấy dao cắt dây, giải phóng mắt cá chân cho Carole.

    Sau đó cô nhìn thấy một chiếc túi nhựa đang nóng chảy đối diện với bức tường gần cửa sổ.

    Manh mối để lại! Những manh mối nói cho ta biết đứa bé gái đang ở đâu. Cô bước lại chỗ nó. Nhưng với một tiếng nổ inh tai, phòng nồi hơi đứt làm đôi, phun ra một làn sóng cao sáu inch dầu sôi lên sàn nhà, bao vây chiếc túi. Nó tan biến tức khắc.

    Sachs nhìn nó trong giây lát rồi cô nghe thấy tiếng thét của người phụ nữ. Cả cầu thang lúc này đang cháy. Sachs đá bình cứu hỏa ra khỏi gầm cái bàn đang âm ỉ cháy. Cái tay cầm và vòi phun đã nóng chảy, không thể cầm vỏ bình kim loại vì quá nóng. Cô dùng dao cắt một mảnh áo khoác đồng phục và nắm cổ chiếc bình cứu hỏa nóng rẫy ném lên trên những bậc cầu thang đang bốc cháy. Nó dừng lại trong một khắc, giống như một con ky sau đó rơi xuống dưới.

    Sachs rút khẩu Glock và khi cái trục đỏ lăn được nửa đường, cô bắn hết một băng.

    Chiếc bình cứu hỏa nổ tung; những mảnh vỏ vỡ bay qua đầu họ. Một đám mây hình nấm carbon dioxide và bột xuất hiện trên cầu thang, ngay lập tức dập tắt phần lớn ngọn lửa.

    “Đi thôi!” Sachs la lớn.

    Họ cùng nhau nhảy ra hai bậc cầu thang một, Sachs mang trọng lượng của cả người cô và một nửa của người phụ nữ, cùng nhau lao qua cửa vào hỏa ngục của tầng trệt. Họ bám vào tường lần mò bước ra cửa, trong khi đó phía trên họ, những cánh cửa sổ kính màu vỡ tan tạo ra một cơn mưa mảnh vụn nóng bỏng – thân hình nhiều màu sắc của Jesus và Mathew, Mary và Chúa trời – xuống hai tấm lưng cúi gập của hai người phụ nữ đang trốn chạy.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    HAI MƯƠI CHÍN

    Bốn mươi phút sau, Sachs đã được xoa thuốc, băng bó, khâu và thở nhiều oxy nguyên chất đến mức cô có cảm giác mình đang say thuốc. Cô ngồi bên cạnh Carole Ganz. Họ đang nhìn những gì còn lại của nhà thờ. Thực ra chẳng còn lại gì ở đó. Chỉ là hai bức tường, thật lạ kỳ là một phần của tầng ba, vươn lên không gian phía bên trên đống tro tàn và mảnh vỡ trong tầng hầm, quang cảnh giống như trên mặt trăng.

    “Pammy, Pammy…” Carole rên rỉ, sau đó nôn khan rồi nhổ. Cô ta cầm chiếc mặt nạ oxy của mình đưa lên mặt, ngửa người ra sau, mệt mỏi và đau đớn.

    Sachs xem xét miếng giẻ tẩm cồn mà cô đang lau máu trên mặt. Đầu tiên chúng có màu nâu còn bây giờ bắt đầu chuyển sang màu hồng. Những vết thương không thực sự nghiêm trọng – một vết cắt trên trán, những vết bỏng độ hai trên cánh tay và cẳng tay. Môi cô không còn hoàn mỹ nữa, môi dưới đã bị cắt rất sâu trong vụ đâm xe, vết rách phải khâu ba mũi.

    Carole bị ngạt khói và gãy cổ tay. Một cái nẹp tạm thời bọc lấy cổ tay trái của cô ta, cô ta nâng nó, đầu cúi xuống, nói qua hàm răng nghiến chặt. Mỗi hơi thở là một tiếng khò khè đầy đe dọa. “Thằng khốn ấy.” Ho. “Vì sao… lại là Pammy? Vì sao vậy? Một đứa trẻ ba tuổi!” Cô ta gạt những giọt nước mắt giận dữ bằng mu bàn tay không bị thương.

    `“Có thể hắn ta không muốn làm hại con bé. Cho nên hắn chỉ đưa một mình cô đến nhà thờ.”

    “Không”, cô ta giận dữ quát. “Hắn không quan tâm đến nó. Hắn là đồ bệnh hoạn! Tôi nhìn thấy cách hắn ta nhìn con bé. Tôi sẽ giết hắn. Tôi sẽ giết chết hắn.” Ngôn từ ác nghiệt biến cơn ho thành ác nghiệt hơn.

    Sachs nhăn mặt vì đau. Cô lại vô thức chọc móng tay vào đầu ngón tay bỏng rát. Cô lấy cuốn nhật ký tuần tra. “Chị có thể kể lại cho tôi những gì xảy ra, được không?”

    Giữa những cơn ho sâu trong họng và tiếng nức nở, Carole kể lại cho cô câu chuyện về vụ bắt cóc.

    “Chị có muốn tôi gọi điện cho ai đó không?” Sachs hỏi. “Chồng chị chẳng hạn.”

    Carole không trả lời. Cô ta kéo đầu gối lên tới cằm, tự ôm lấy mình, khò khè một cách nặng nhọc.

    Bằng cánh tay phải bị bỏng, Sachs bóp chặt bắp tay người phụ nữ và nhắc lại câu hỏi.

    “Chồng tôi…”, cô ta nhìn Sachs với cái nhìn khủng khiếp. “Chồng tôi chết rồi.”

    “Ồ, tôi xin lỗi.”

    Thuốc an thần làm Carole cảm thấy lảo đảo, một nữ nhân viên y tế đưa cô vào nghỉ trong xe cứu thương.

    Sachs nhìn lên, thấy Lon Sellitto và Jerry Banks đang chạy lại phía cô từ nhà thờ cháy trụi.

    “Lạy chúa, sĩ quan.” Sellitto đang khảo sát cảnh thương vong trên phố. “Bé gái sao rồi?”

    Sachs gật đầu: “Hắn ta vẫn giữ con bé.”

    Banks nói : “Cô ổn chứ?”

    “Không có gì nghiêm trọng.” Sachs nhìn về phía chiếc xe cấp cứu. “Nạn nhân, Carole, cô ta không còn tiền, không có chỗ nghỉ ngơi. Cô ta đến đây để làm việc cho Liên Hiệp Quốc. Tôi nghĩ anh có thể gọi vài cú điện thoại, được không thám tử? Để xem họ có bố trí được gì cho cô ta một thời gian không?”

    “Tất nhiên rồi”, Sellitto nói.

    “Có để lại manh mối gì không?” Banks hỏi. Anh ta nhăn mặt khi chạm phải dải băng trên lông mày phải của mình.

    “Mất rồi”, Sachs nói. “Tôi có nhìn thấy chúng. Ở dưới tầng hầm. Không lấy được chúng đúng lúc. Cháy và bị lấp mất tiêu rồi.”

    “Ôi, trời.” Banks lẩm bẩm. “Chuyện gì sẽ xảy ra với đứa bé đây?”

    Anh ta nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra với đứa bé?

    Cô đi lại chỗ chiếc xe thùng IRD và tìm thấy cái tai nghe. Cô đeo nó vào và đã định yêu cầu gọi cho Rhyme nhưng sau đó chần chừ rồi ngắt mic. Cô có thể nói gì với anh được? Cô nhìn nhà thờ. Khám nghiệm hiện trường thế nào được khi không có hiện trường.

    Cô đứng chống nạnh, nhìn chăm chăm vào đống tro tàn khổng lồ đang âm ỉ của tòa nhà, rồi cô nghe thấy một âm thanh mà cô không quen. Một âm thanh rền rĩ của máy móc. Cô không để ý thấy nó cho tới khi cô thấy Lon Sellitton dừng phủi bụi trên chiếc áo sơ mi. Anh ta nói: “Tôi không thể tin chuyện này.”

    Cô quay về phía con phố.

    Một chiếc xe hòm lớn màu đen đỗ cách đó một dãy nhà. Một chiếc cầu thủy lực chìa ra ngoài, bên trên có thứ gì đó. Cô liếc nhìn. Có vẻ như một con rô bốt phá bom. Cái cầu hạ xuống vỉa hè và con rô bốt lăn bánh.

    Cô cười lớn.

    Chiếc máy kỳ quặc quay về phía họ và bắt đầu chuyển động. Chiếc xe lăn làm cô nhớ tới một chiếc Pontiac Thunderbird, màu đỏ kẹo. Đó là kiểu xe lăn chạy điện, bánh sau nhỏ, ắc quy lớn và động cơ lắp bên dưới.

    Thom đi bên cạnh nhưng chính Lincoln Rhyme lái xe – hoàn toàn kiểm soát, cô châm biếm nhận thấy – bằng một cọng rơm ngậm trong miệng. Kỳ lạ là chuyển động của anh trông lại trang nhã. Rhyme ghé vào chỗ cô và dừng lại.

    “Được rồi, anh đã nói dối”, anh bất ngờ nói.

    Cô thở dài. “Về cái lưng của anh? Khi anh nói anh không dùng được xe lăn?”

    “Anh đang thú nhận mình nói dối. Em sẽ điên lên đấy, Amelia. Thế thì cứ điên lên đi rồi vượt qua nó.”

    “Anh có nhận ra là, khi tâm trạng tốt anh gọi em là Sachs, còn lúc nào tâm trạng tệ hại anh gọi em là Amelia không?”

    “Tâm trạng anh không tệ”, anh cáu kỉnh.

    “Anh đúng là rất tệ đấy”, Thom đồng ý. “Anh ta rất ghét bị bắt quả tang.” Người trợ lý hất đầu về phía chiếc xe lăn. Cô nhìn về phía đó. Nó được công ty Action chế tạo, hiệu Storm Arrow[130]. Anh ta cất nó trong kho dưới nhà trong khi lại kể ra câu chuyện thảm hại của mình. Ồ, vì thế tôi sẽ để anh ta chịu đựng.”

    “Không bình luận, Thom, cảm ơn cậu. Tôi đang xin lỗi, được chưa?Tôi. Xin. Lỗi.”

    “Anh ta có nó mấy năm rồi”, Thom tiếp tục. “Học điều khiển nó bằng cách thổi với hút. Điều khiển bằng cọng rơm đó. Anh ta thực sự rất giỏi chuyện này. Và anh ta lúc nào cũng gọi tôi là Thom. Tôi chưa bao giờ được goi bằng họ.”

    “Tôi rất mệt khi bị nhìn ngó”, Rhyme nói một cách thành thực. “Vì thế tôi lái xe nữa.” Sau đó nhìn cánh môi rách của cô, anh hỏi. “Có đau không?”

    Cô chạm tay vào miệng, lúc này nó đã bị bẻ cong thành nét nhăn nhó. “Nhức kinh khủng.”

    Rhyme nhìn sang bên: “Chuyện gì xảy ra với cậu thế, Banks? Cạo râu trên trán à?”

    “Đâm đầu vào xe cứu hỏa.” Anh chàng nói và lại sờ vào chỗ dải băng.

    “Rhyme”, Sachs bắt đầu, không cười nữa. “Chẳng có gì ở đây cả. Hắn ta có đứa bé còn em không kịp lấy được vật chứng để lại”

    “À, Sachs, bao giờ cũng có thứ gì đó. Hãy tin vào lý thuyết của ngài Locard.”

    “Em nhìn thấy chúng cháy hết, manh mối ấy. Và nếu còn lại gì đó thì nó cũng bị chôn dưới hàng tấn mảnh vỡ rồi.”

    “Thế thì ta sẽ tìm kiếm những manh mối mà hắn không định để lại. Ta sẽ cùng khám nghiệm hiện trường, Sachs ạ. Em và anh. Đi thôi.”

    Anh thổi hai hơi ngắn vào cọng rơm và tiến lên phía trước. Họ tiến tới gần nhà thờ thêm ba mét thì bất ngờ cô nói. “Đợi đã.”

    Anh phanh lại.

    “Anh bắt đầu lơ đễnh rồi đấy, Rhyme. Buộc ít dây cao su vào bánh xe đi chứ. Anh không muốn nhầm dấu vết của anh với dấu vết của tội phạm đấy chứ?”



    “Chúng ta nên bắt đầu từ đâu?”

    “Ta cần mẫu tro”, Rhyme nói. “Có mấy hộp sơn sạch ở sau xe. Xem em có tìm được một hộp không?”

    Cô nhặt một cái hộp từ chỗ xác chiếc RRV.

    “Em biết lửa phát ra từ đâu không?” Rhyme hỏi.

    “Cũng biết.”

    “Lấy một mẫu tro – khoảng một, hai hộp – càng gần chỗ phát lửa càng tốt.”

    “Được rồi”, cô nói, trèo lên một bức tường gạch cao năm feet – tất cả những gì còn lại ở mặt phía bắc của nhà thờ. Cô nhìn xuống cái hố bốc khói dưới chân mình.

    Một nhân viên cứu hỏa gọi: “Này sĩ quan, chúng tôi vẫn chưa dọn sạch khu này đâu. Nguy hiểm đấy.”

    “Không nguy hiểm như lần trước tôi đến đây”, cô trả lời. Răng cắn quai hộp sơn, cô bắt đầu trèo xuống.

    Khi Lincoln Rhyme nhìn cô, anh như đang nhìn thấy chính mình, ba năm rưỡi trước, lúc cởi áo vét để trèo xuống công trường xây dựng ở cửa vào của ga tàu điện ngầm gần Tòa Thị chính. “Sachs”, Rhyme gọi. Cô quay lại. “Cẩn thận đấy. Anh đã nhìn thấy chiếc RRV còn lại những gì. Anh không muốn mất em hai lần trong một ngày đâu.”

    Cô gật đầu và biến mất qua bờ tường.

    Sau vài phút, Rhyme quát Banks: “Cô ấy đâu rồi?”

    “Tôi không biết.”

    “Ý tôi là cậu đi xem cô ấy thế nào, hiểu không?”

    “Ồ, tất nhiên rồi.” Cậu ta đi ra chỗ bức tường, nhìn qua.

    “Ổn chứ?” Rhyme hỏi.

    “Lung tung lắm.”

    Tất nhiên là lung tung. Cậu có nhìn thấy cô ấy không?”

    “Không.”

    “Sachs?” Rhyme la lớn.

    Có tiếng gỗ kẽo kẹt khá lâu, sau đó là tiếng chạm. Bụi bốc lên.

    “Sachs? Amelia?”

    Không có tiếng trả lời.

    Đúng lúc anh định gửi nhóm ESU vào tìm cô thì họ nghe thấy giọng của cô. “Tôi lên đây.”

    “Jerry?” Rhyme gọi.

    “Sẵn sàng”, viên thám tử trẻ tuổi trả lời.

    Chiếc hộp bay từ dưới tầng hầm lên. Banks dùng một tay bắt nó. Sachs trèo ra khỏi tầng hầm, chùi tay vào quần, nhăn mặt.

    “Ổn chứ?”

    Cô gật đầu.

    “Bây giờ thì khám nghiệm cái ngõ”, Rhyme ra lệnh. “Chỗ này lúc nào cũng có xe cộ đi lại nên hắn sẽ không muốn đỗ xe ở phố khi hắn lôi cô ta vào trong. Đó là chỗ hắn đỗ xe. Dùng cái cánh cửa ở ngay đây.”

    “Làm sao anh biết?”

    “Có hai cách để mở những cánh cửa khóa – không dùng chất nổ, thế thôi. Khóa và bản lề. Cánh cửa này đã bị bắt vít bên trong nên hắn tháo ốc bản lề. Thấy không, hắn không thèm bắt chúng lại đủ chặt khi hắn bỏ đi.”

    Họ bắt đầu từ cánh cửa và đi dần ra phía sau một khe núi, tòa nhà đang âm ỉ bốc khói nằm phía bên phải họ. Di chuyển từng foot một, Sachs chiếu đèn PoliLight lên lớp sỏi. “Anh muốn tìm vết lốp xe”, Rhyme nói. “Anh muốn biết xe tải của hắn đỗ ở đâu.”

    “Ở đây”, cô nói, kiểm tra mặt đất. “Dấu lốp. Nhưng em không biết lốp trước hay lốp sau. Hắn có thể lùi xe.”

    “Nó mờ hay rõ? Vết lốp ấy?”

    “Hơi mờ.”

    “Thế thì là lốp trước.” Anh cười vẻ mặt hoang mang của Sachs. “Em là chuyên gia về xe cộ, Sachs. Lần sau em thử vào trong xe, khởi động xem thử em có xoay tay lái một chút trước khi đi không nhé. Để kiểm tra xem lốp có thẳng hướng hay không. Vết lốp trước luôn mờ hơn vết lốp sau. Còn bây giờ, chiếc xe bị mất là chiếc Ford Taurus những năm 1997. Chiều dài của nó là 195,7 inch từ đầu đến đuôi, khoảng cách giữa hai bánh là 108,5 inch. Khoảng cách từ tâm bánh sau đến cốp xe khoảng bốn mươi lăm inch. Đo khoảng cách ấy rồi hút bụi đi.”

    “Nào Rhyme, sao anh biết được tất cả những thứ ấy?”

    “Vừa tra cứu sáng nay. Em lấy quần áo nạn nhân chưa?”

    “Rồi. Cả móng tay và tóc nữa. Mà Rhyme này, còn điều này nữa: đứa bé tên là Pammy nhưng hắn gọi nó là Maggie. Giống như hắn đã làm với cô gái người Đức – hắn gọi cô ta là Hanna, nhớ không?”

    “Ý em là nhân cách khác của hắn làm như thế”, Rhyme nói. “Anh băn khoăn không biết ai là nhân vật trong vở kịch nhỏ của hắn.”

    “Em sẽ hút bụi quanh cửa nữa”, cô tuyên bố. Rhyme nhìn cô – mặt bị rạch, tóc rối bù, vài chỗ bị cháy sém. Cô hút bụi phía dưới cửa và đúng lúc anh định nhắc cô là hiện trường vụ án có ba chiều thì cô đã khua máy hút bụi lên lần theo khung cửa.

    “Có thể hắn nhìn vào trong trước khi đưa cô ta vào”, cô nói và bắt đầu hút bụi cả bậu cửa sổ.

    Đó chính là mệnh lệnh tiếp theo của Rhyme.

    Anh lắng nghe tiếng động của máy hút bụi Dustbuster. Nhưng anh dần dần tan biến. Vào quá khứ, mấy giờ trước.

    “Em đang…”, Sachs bắt đầu.

    “Suỵt…”, anh nói.

    Như những lần dạo anh đã đi, như những buổi hòa nhạc anh đã dự, như rất nhiều cuộc trao đổi anh đã có, Rhyme trượt sâu dần vào tâm thức của mình. Và khi anh tới một nơi – anh cũng không biết đó là nơi nào – anh thấy không chỉ có một mình anh. Anh hình dung ra một người đàn ông thấp bé đeo găng tay, mặc bộ quần áo thể thao tối màu, đeo mặt nạ trượt tuyết. Trèo ra ngoài chiếc xe Ford Taurus, tỏa mùi chất tẩy rửa và mùi xe mới. Người phụ nữ – Carole Ganz – nằm trong cốp xe, đứa con gái của cô bị giữ trong một tòa nhà xây bằng đá cẩm thạch hồng và gạch đắt tiền. Anh nhìn thấy người đàn ông kéo người phụ nữ ra khỏi xe.

    Điều đó thật là rõ ràng. Gần như là ký ức.

    Bật bản lề, mở cửa ra, kéo cô ta vào, trói lại. Hắn bắt đầu đi ra nhưng rồi dừng lại. Hắn đến một nơi mà từ đó hắn có thể nhìn lại và thấy rõ Carole. Giống như hắn đã nhìn xuống người đàn ông mà hắn đã chôn cạnh đường ray buổi sáng hôm qua.

    Giống như hắn đã xích Tammie Jean Colfax vào đường ống giữa phòng. Để hắn có thể nhìn cô thật rõ.

    Nhưng mà vì sao? Rhyme băn khoăn. Vì sao hắn ta lại nhìn? Để đảm bảo nạn nhân không thể trốn chạy? Để đảm bảo hắn không để lại thứ gì? Để…

    Mắt anh bật mở; hình ảnh của thủ phạm 823 biến mất. “Sachs! Có nhớ hiện trường Coltfax không? Chỗ em tìm thấy dấu găng tay?”

    “Có chứ.”

    “Em nói hắn nhìn cô ta, đó là lý do hắn xích cô ta ở chỗ thoáng. Nhưng em không biết tại sao. Được rồi, anh đã nghĩ ra. Hắn nhìn nạn nhân vì hắn phải nhìn.”

    Vì đấy là bản chất của hắn.

    “Ý anh là gì?”

    “Nào!”

    Rhyme hút mạnh ống hút hai lần để xoay chiếc xe lăn Arrow ngược lại. Sau đó thổi thật mạnh và anh tiến lên phía trước.

    Anh lăn xe đến vỉa hè, hút mạnh để dừng xe. Anh liếc mắt nhìn xung quanh. “Hắn muốn nhìn nạn nhân, anh cá là hắn cũng muốn nhìn giáo dân nữa. Từ một chỗ nào đó mà hắn nghĩ là an toàn. Chỗ mà hắn không buồn quét trước khi bỏ đi.”

    Anh đang nhìn qua phố, tập trung vào một vị trí hẻo lánh, thuận lợi trong khu nhà: hàng hiên ngoài đường của một nhà hàng đối diện nhà thờ.

    “Đằng kia! Quét nó thật sạch vào, Sachs.”

    Cô gật đầu, nạp một băng đạn mới vào khẩu Glock, lấy chiếc túi đựng vật chứng, một cặp bút chì và cái máy hút bụi. Anh nhìn thấy cô chạy qua phố và thận trọng đi lên cầu thang, vừa đi vừa kiểm tra các bậc thang. Hắn đã ở đây, cô nói to. “Có vết găng tay, và cả dấu giày – nó bị mòn giống như cái dấu giày kia.”

    Đúng rồi! Rhyme nghĩ. Ồ, cảm giác thật dễ chịu. Mặt trời ấm áp, không khí, những người xem. Và sự phấn khích của cuộc săn đuổi

    Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta.

    Được rồi, nếu chúng ta di chuyển nhanh hơn, chúng ta có thể.

    Rhyme tình cờ nhìn vào đám đông và thấy có mấy người nhìn anh chằm chằm. Nhưng còn nhiều người nhìn Amelia Sachs hơn.

    Cô mải mê khoảng mười lăm phút tại hiện trường và khi quay lại cô giơ chiếc túi nhỏ đựng vật chứng.

    “Em tìm thấy gì thế, Sachs? Giấy phép lái xe của hắn? Giấy khai sinh?”

    “Vàng”, cô mỉm cười nói. “Em tìm được một ít vàng.”
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này