Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
  1. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chiếc vương miện gắn ngọc berin


    - Holmes!
    Buổi sáng hôm đó, tôi đang đứng bên cạnh cửa sổ căn phòng của chúng tôi ở đường Baker.
    - Holmes! Tôi gọi lại một lần nữa - Một người điên đang đi dạo ngoài đường. Thật là một cảnh đáng buồn. Đáng lẽ người ta không nên để ông ta đi như thế...
    Holmes uể oải rời khỏi ghế bành, tiến đến cửa sổ, nhìn xuống. Lúc bấy giờ là tháng hai, không khí lạnh giá. Dưới ánh mặt trời yếu ớt của mùa đông, lớp tuyết rơi xuống đêm qua vẫn sáng lấp lánh, trắng xóa và trơn trợt. Con đường vắng ngắt, duy nhất chỉ có một người đàn ông...
    Ông ta khoảng năm mươi tuổi, thân hình cao lớn, vạm vỡ, dáng dấp có vẻ uy nghiêm trong bộ y phục màu sẫm sang trọng với chiếc áo rơ đanh gót đen, chiếc nón mới toanh, đôi giầy sạch bóng và quần tây dài đúng mốt, nhưng trong lúc này cái phong cách uy nghiêm đã biến mất! Ông ta vừa chạy vừa nhảy như một người điên, hai tay huơ lên xuống loạn xạ, cái đầu lắc qua lắc lại và gương mặt nhăn nhó một cách thảm hại.
    - Chuyện gì đã xảy đến cho ông ta? Dường như ông ta đang tìm số nhà? - Tôi nói.
    - Ông ta sẽ đến đây! - Holmes đáp. Vừa xoa hai bàn tay vào nhau.
    - Đến đây à?
    - Phải ông ta đến gặp tôi để nhờ giải quyết một vấn đề khó khăn. Nhìn những triệu chứng của ông ta là tôi biết ngay. Ấy, bạn thấy chưa, tôi nói có sai đâu?
    Thật vậy, người đàn ông đó lao mình đến trước cửa nhà chúng tôi: ông ta giật dây chuông mạnh đến nỗi tiếng reo ầm ĩ khắp nhà.
    Một lát sau, ông ta lao vào phòng, miệng thở hồng hộc, hai tay vẫn còn quơ lia lịa, nhưng đôi mắt ông ta ẩn chứa một nỗi tuyệt vọng ghê gớm. Thoạt đầu ông ta không thể nói được một tiếng nào cả, chỉ lắc lư thân hình và vò đầu vò tóc như một người sắp lên cơn điên. Rồi thình lình ông ta lao đầu vào vách tường. Chúng tôi vội kéo tay ông ta ra giữa phòng. Holmes đỡ ông ta ngồi xuống một chiếc ghế, rồi cùng ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay ông ta và dịu dàng nói :
    - Ông đến với tôi để kể tôi nghe câu chuyện của ông, phải không? Ông bị mệt vì phải chạy gắp đến đây. Ông hãy ngồi nghĩ cho đến lúc lấy lại bình tĩnh, sau đó tôi rất vui lòng nghe ông trình bày cái vấn đề nho nhỏ đang làm cho ông điên đầu.
    Người đàn ông ngồi im trong một hai phút. Chiếc cằm sệ xuống: ông ta đang cố gắng kiềm chế chống lại cơn xúc động rồi ông ta lấy khăn tay thấm mồ hôi trán, lau khô môi, và quay về phía chúng tôi :
    - Chắc các ông nghĩ là tôi điên, phải không?
    - Tôi chỉ thấy ông đang có một tay họa lớn - Holmes đáp.
    - Và chỉ có Chúa mới biết nó lớn đến mức nào! Một tai họa đủ để làm cho tôi phải mất hết lý trí: nó đã đổ ụp xuống đầu tôi với một sự đột ngột khủng khiếp!... Hơn nữa, không phải chỉ có một mình tôi dính líu vào vụ này. Nhân vật cao quý nhất trong xứ này có thể bị đau khổ, trừ khi tìm được một cách giải quyết êm thấm.
    - Xin ông hãy bình tĩnh lại, rồi cho tôi biết ông là ai, và chuyện gì đã xảy ra - Holmes nói
    - Tôi là Alexandre Holder, thuộc công ty ngân hàng Holder & Stevenson, ở đường Threadneedle.
    Đó là tên của người hùn vốn trọng tuổi nhất trong ban điều hành của một công ty ngân hàng đứng thứ nhì ở thủ đô. Chúng tôi tò mò chờ ông ta kể lại câu chuyện.
    - “Ngay khi viên thanh tra cảnh sát bảo tôi: Chỉ có Sherlock Holmes mới giúp được ông tôi liền đi đến đường Baker bằng xe điện ngầm và từ đó tôi chạy bộ đến đây, bởi vì với lớp tuyết dày như thế này, xe ngựa đi rất chậm... Hẳn các ông cũng biết rằng một trong những cách thức bỏ tiền ra có lợi nhất là cho vay. Trong những năm vừa qua, chúng tôi đã cho các gia đình quý tộc vay những số tiền rất lớn, thế chấp bằng những bức tranh, sách quý hoặc vàng bạc. Sáng hôm qua tại ngân hàng, một người thư ký đem đến cho tôi một tấm danh thiếp. Đọc cái tên ghi trên đó, tôi giật nẩy mình, bởi vì... đó là một trong những gia đình thế gia vọng tộc lớn nhất. Đó là một vinh dự lớn cho tôi, và khi ông khách được đi vào, tôi tìm cách khen một câu. Nhưng ông ta cắt ngang lời tôi :
    - Ông Holder, tôi biết rằng ngân hàng của ông thường cho vay tiền.
    - Ngân hàng chúng tôi vẫn thường cho vay, khi người vay có cái gì để bảo đảm.
    - Tôi cần ngay tức khắc 50 ngàn đồng bảng. Dĩ nhiên, tôi vẫn có thể mượn của các bạn tôi một số tiền mười lần lớn hơn số tiền nhỏ mọn này, nhưng tôi thích xem việc này là một việc riêng mà tôi phải tự giải quyết lấy. Với địa vị của tôi, mang ơn người khác là một điều nên tránh.
    - Tôi có thể hỏi ngài muốn giữ số tiền đó trong bao lâu không?
    - Thứ hai tới, người ta sẽ trả cho tôi một số tiền lớn, và chắc chắn tôi sẽ hoàn lại ông cả vốn lẫn lãi. Nhưng điều quan trọng nhất đối với tôi là phải có ngay 50 ngàn đống bảng.
    - Tôi sẽ lấy tiền túi của tôi ra cho ngài vay mà không đòi hỏi bảo đảm gì cả. Nhưng vị trí của tôi không cho phép tôi có được cái vinh dự đó. Mặt khác, vì lẽ tôi hoạt động cho công ty, nên tôi có bổn phận yêu cầu ngài có những bảo đảm cần thiết.
    - Tôi thích như thế hơn - Ông ta đáp rồi đưa ra một chiếc hộp da màu đen, hình vuông - Ông có nghe nói đến chiếc vương miện nạm ngọc berin không?
    - Đó là một trong những vật châu bảo quý giá nhất của đất nước.
    - Đúng vậy!
    Ông lấy chiếc hộp ra: chiếc vương miện đẹp lộng lẫy được đặt nằm trên một lớp nhung màu hồng.
    - Nó có tất cả 39 viên ngọc berin thật lớn, và cái khung bằng vàng của nó thì thật là vô giá. Trị giá của chiếc vương miện này tính ra ít nhất cũng là 100 ngàn đồng bảng. Tôi sẵn sàng giao nó cho ông giữ làm vật bảo đảm.
    Tôi cầm lấy chiếc hộp quý báu, nhìn chiếc vương miện rồi nhìn người thân chủ.
    - Phải chăng ông nghi ngờ giá trị của nó? - Ông ta hỏi.
    - Không, hoàn toàn không.
    - Đúng hơn, tôi tự hỏi... Vì sao tôi dám giao cho ông giữ một vật quý giá như thế, phải không? Ông đừng lo ngại gì cả! Ông tưởng rằng tôi sẽ hành động như thế sao, nếu tôi không tuyệt đối chắc chắn có thể thu hồi nó lại trong bốn ngày nữa? Đây chỉ là một vấn đề thủ tục thôi. Theo ông, vật bảo đảm này có đủ không? - Nhà quý tộc hỏi.
    - Quá đủ!
    - Ông Holder, xin ông hãy hiểu rằng tôi tin cậy sự kín đáo của ông và nhất là sự cảnh giác của ông: chắc ông cũng hiểu rằng một vụ tai tiếng lớn sẽ xảy ra nếu có chuyện gì xảy đến cho chuyện này. Một vết xước nhỏ cũng nghiêm trọng gần bằng với sự mất mát của nó: ông hãy nghĩ rằng trên khắp thế giới không có những viên ngọc berin nào có thể sánh được với những viên ngọc này! Tuy nhiên, tôi vẫn giao chiếc vương miện cho ông giữ. Sáng thứ hai, tôi sẽ đích thân đến lấy nó lại.
    Tôi gọi người thủ quỹ và ra lệnh cho anh ta giao ngay 50 ngàn đồng bảng. Tuy nhiên, khi còn lại một mình với chiếc hộp, tôi không khỏi lo sợ khi nghĩ đến cái trách nhiệm lớn lao đè nặng trên vai. Và tôi bắt đầu cảm thấy hối tiếc khi đã nhận lãnh bảo vật quốc gia này. Nhưng đã muộn rồi, không thể làm gì khác hơn, tôi bèn cất nó trong tủ sắt riêng và tiếp tục làm việc. Chiều đến, trước khi về nhà, tôi tự bảo không nên dại dột để lại trong văn phòng một vật quý báu như thế. Hàng năm tủ sắt của ngân hàng đã từng bị phá rồi! Và nếu chiếc tủ sắt của tôi bị phá...., nếu chiếc vương miện biến mất?.... Không! Không thể để chuyện đó xảy ra! Tôi quyết định mang nó về nhà. Và sau đó cất kỹ bảo vật trong chiếc bàn giấy của phòng rửa mặt ở tầng hai.
    Bây giờ, thưa ông Holmes, tôi cần phải cho ông biết qua về những người ở trong nhà tôi. Tôi có hai người tớ trai, đều ngủ ở bên ngoài nhà, ba người tớ gái đã giúp việc cho tôi từ nhiều năm nay, và họ là những người rất ngay thật. Một người tớ gái khác, tên là Lucy, mới vào được vài tháng, nhưng cô ấy có một bản tính tốt. Đó là một cô gái khá xinh đẹp, lôi cuốn nhiều chàng trai si tình thỉnh thoãng đến lảng vảng chung quanh ngôi nhà của tôi. Đó là những gia nhân. Còn gia đình tôi thì không có bao nhiêu người. Tôi góa vợ, và chỉ có một đứa con trai duy nhất, tên là Arthur. Thằng bé này là cả một sự thất vọng của tôi. Thưa ông Holmes, khi vợ tôi qua đời, tôi dồn tất cả tình thương cho nó. Tôi không bao giờ từ chối nó một cái gì cả.
    Dĩ nhiên, tôi có ý định chuẩn bị cho nó kế nghiệp tôi ở ngân hàng, nhưng nó không có khiếu và cũng không ưa thích kinh doanh. Tính tình của nó không được thuần. Đến tuổi thành niên, nó gia nhập câu lạc bộ quý tộc, và trở thành bạn thân của những nhà quý tộc giàu có, sang trọng, giết thì giờ bằng những trò ăn chơi xa xỉ. Cùng với họ, nó vung tiền vào những canh bạc và những cuộc đua ngựa. Nó thường xuyên xin thêm tiền tôi, ngoài số tiền trợ cấp hàng tháng, để thanh toán những món nợ.. Hơn một lần nó cố gắng đoạn tuyệt với cái câu lạc bộ nguy hiểm, nhưng lần nào cũng vậy, George Burnwell lại lôi cuốn nó trở về cái nhóm đó.
    Sự thật, tôi không ngạc nhiên khi thấy George Burnwell có ảnh hưởng rất lớn đối với Arthur. Ông ta lớn tuổi hơn Arthur: một con ngưới của giới thượng lưu, hào hoa phong nhã và thật là đẹp trai. Tuy nhiên, đôi lúc nhớ lại một vài lời khinh bạc và vô sỉ của George Burnwell, nhớ lại một vài ánh mắt tinh ma quỷ quái của ông ta, tôi bỗng cảm thấy nghi ngại: con người này khó có thể tin cậy được.
    Thưa ông Holmes, buổi tối hôm đó, trong phòng khách, tôi kể lại cho Arthur và Mary nghe câu chuyện về cái vương niệm, nhưng không tiết lộ tên của người chủ món hàng. Sau khi pha café xong, Lucy đã rời khỏi phòng, tôi nhớ chắc như thế, nhưng tôi không nhớ rõ là cửa phòng có được đóng lại hay không. Mary và Arthur tỏ ra vô cùng thích thú và yêu cầu được xem vương niệm. Tôi từ chối.
    - Ba cất nó ở đâu? - Arthur hỏi.
    - Trong bàn giấy riêng của ba.
    - Con hy vọng ngôi nhà này sẽ không bị trộm đến viếng trong đêm nay.
    - Bàn giấy đã được khóa kỹ.
    - Ăn thua gì! - Arthur nói. - Bất cứ chiếc chìa khóa cũ nào cũng có thể mở nó ra được. Khi còn bé, chính con đã mở nó ra với chìa khóa của chiếc tủ bỏ trong căn phòng chứa đồ đạc.
    Arthur có tật hay nói đến bất cứ điều gì, và tôi thường không chú ý đến những điều nó nói. Tuy nhiên, buổi tối hôm đó, nó đi theo tôi vào tận trong phòng tôi với vẻ mặt rất nghiêm trọng :
    - Thưa ba, ba có thể cho con hai trăm đồng bảng được không? - Arthur nói, đôi mắt nhìn xuống.
    - Không. Ba đã quá rộng rãi đối với con về vấn đền tiền bạc rồi! - Tôi xẵng giọng đáp.
    - Ba đã rất tử tế với con, nhưng con rất cần hai trăm đồng bảng đó, nếu không, con sẽ không bao giờ có thể chường mặt đến câu lạc bộ nữa!
    - Đó là một điều rất tốt.
    - Vâng, nhưng chắc ba không muốn con trai của ba trở thành một kẻ bị mất danh dự chứ! Con phải tìm cho ra tiền, nếu ba không cho con số tiền đó, con sẽ tìm cách khác.
    - Con sẽ không có một xu nào hết. Đừng nài nỉ nữa vô ích! - Tôi giận dữ, trả lời.
    Nó nghiêng mình, và lặng lẽ rời khỏi phòng.
    Khi nó đi rồi, tôi mở chiếc bàn giấy ra để chắc chắn là cái kho tàng vẫn còn nằm trong đó, rồi tôi khóa lại. Xong, đi một vòng khắp chung quanh nhà để xem có điều gì bất thường không. Công việc này thường do Mary đảm nhiệm, nhưng buổi tối hôm đó, tôi đích thân làm lấy. Khi đi xuống cầu thang, tôi thấy Mary đang đứng ở cửa sổ trước; lúc tôi đến gần, nó đóng cửa sổ lại và gài thật cẩn thận. Nó có vẻ hơi bối rối hỏi tôi :
    - Thưa ba, tối nay ba có cho phép Lucy đi ra ngoài không?
    - Không!
    - Cô ta vừa mới trở lại bằng cửa sau. Con dám chắc là cô ta đã đi gặp một anh chàng nào đó tại cửa nhỏ bên cạnh nhà. Thật là một hành động không đứng đắn tí nào? Con thấy có lẽ chúng ta phải chấm dứt cái trò đú đởn này.
    - Sáng mai con hãy nói với cô ta. Con chắc chắn là tất cả cửa giả đều đã được đóng kỹ không?
    - Dạ chắc.
    - Vậy, chúc con ngủ ngon!
    - Thưa ông Holmes, tôi cố gắng nói cho ông biết hết tất cả, không bỏ quên một chi tiết nhỏ nhặt nào có liên hệ đến vụ này. Nhưng nếu ông thấy có một điểm nào không được rõ, xin ông cứ hỏi lại, đừng ngại gì cả”.
    - Bản tường thuật của ông khác rõ ràng đãy.
    - “Tôi ngủ không say lắm. Đêm hôm đó do có một nỗi lo âu tiềm tàng trong tâm trí nên tôi càng khó ngủ hơn. Khoảng hai giờ sáng, một tiếng động trong nhà làm tôi giật mình: tiếng động đó im bặt khi tôi hoàn toàn tỉnh ngủ, nhưng tôi có cảm giác như thể một cánh cửa sổ ở đâu đó đã được đóng lại thật êm. Tôi cố lắng tai nghe. Thình lình, tôi ngồi nhổm dậy: tiếng chân đi rất nhẹ trong căn phòng kế bên. Tôi liền nhảy xuống giường và chạy đến mở cửa phòng rửa mặt ra.
    - Arthur! - Tôi kêu lên - Ố! Thằng vô lại! Thằng ăn cắp! Sao mày dám đụng đến chiếc vương niệm đó?
    Bên cạnh chiếc đèn chong đã được tôi vặn nhỏ lại hồi đầu hôm, thằng khốn nạn chỉ mặc áo sơ mi với quần dài, hai tay đang cầm chiếc vương niệm. Dường như nó đang cố gắng hết sức để vặn hay bẻ cong chiếc vương niệm lại. Nghe tiếng kêu của tôi, nó buông chiếc vương niệm rơi xuống sàn nhà, gương mặt tái mét. Tôi nhặt chiếc vương niệm lên thật nhanh và xem xét nó. Một góc bằng vàng, với ba viên ngọc berin gắn vào đó, đã bị sứt mất.
    - Thằng bất hiếu! - Tôi giận dữ hét lên. - Mày đã phá hỏng nó rồi! Thế là tao bị ô nhục suốt đời. Mày ăn cắp ba viên ngọc rồi phải không?
    - Ăn cắp? - Nó lặp lại.
    - Phải, mày đã ăn cắp mất ba viên ngọc berin! - Tôi hét lớn, nắm vai nó, lắc mạnh.
    - Nhưng có thiếu viên ngọc nào đâu!
    - Thiếu ba viên! Mày vừa là một thằng nói láo, vừa là một thằng ăn cắp.
    - Ba đã gọi con bằng những danh từ mà con không thể chấp nhận được, con không thể chịu đựng những lời nhục mạ của ba được nữa. Con sẽ không nói thêm một tiếng nào về vụ này. Con sẽ rời khỏi nhà của ba và sẽ tự lo lấy thân con.
    - Mày sẽ rời khỏi nhà tao giữa hai người cảnh sát! - Tôi hét lớn giận dữ - Vụ này sẽ được đưa ra công lý, tao thề như thế.
    - Con sẽ không nói gì cả! - Nó đáp với một vẻ quyết liệt mà tôi chưa bao giờ trông thấy nơi nó. - Ba đã muốn gọi cảnh sát đến thì hãy để cảnh sát làm việc.
    Trong lúc đó, mọi người trong nhà đã thức dậy. Mary là người đầu tiên chạy vào, trông thấy chiếc vương niệm và nhìn khuôn mặt của Arthur, nó đoán biết câu chuyện, kêu lên một tiếng và ngã qụy xuống sàn nhà, bất tỉnh. Tôi cho chị bồi phòng đi gọi cảnh sát đến. Lát sau, một thanh tra và một cảnh sát viên đến. Arthur, nãy giờ vẫn khoanh tay đứng im, vẻ mặt bực tức, lên tiếng hỏi tôi có ý định tố cáo nó về tội trộm cắp hay không. Tôi trả lời với nó rằng vụ này không còn là một chuyện riêng tư nữa, và tôi muốn pháp luật được thi hành triệt để.
    - Ít nhất, xin ba đừng cho bắt con ngay bây giờ! Vì quyền lợi của ba cũng như của con, xin ba hãy để cho con đi ra ngoài trong năm phút.
    - Phải chăng mày muốn bỏ trốn hay mày muốn cất giấu mấy viên ngọc?
    Ý thức được tất cả tình trạng khủng khiếp của tôi, tôi năn nỉ nó nên nhớ rằng vụ này có thể gây ra một tai tiếng ghê gớm, ảnh hưởng tai hại đến uy tính của quốc gia. Tất cả những nguy cơ đó hãy còn có thể tránh được, chỉ cần nó cho tôi biết ba viên ngọc bây giờ ở đâu.
    - Con đủ khôn lớn để nhận thức được tất cả tầm quan trọng của vụ này và nhìn thẳng vào nó. Con đã bị bắt quả tang: không một lời thú nhận nào có thể làm giảm tội lỗi của con được. Nhưng con có thể được khoan hồng bằng cách nói cho ba biết những viên ngọc đó ở đâu. Ba sẽ tha thứ hết.
    - Ba hãy để dành sự tha thứ cho những kẻ nào cần đến nó! - Arthur quay lưng lại với tôi và cười gằn.
    Thấy không còn cách nào thuyết phục được nữa, tôi đành giao nó cho viên thanh tra cảnh sát. Liền đó, nó bị lục soát, cảnh sát cũng lục soát phòng riêng của nó và tất cả những góc, khe kẽ ở trong nhà. Nhưng vẫn không tìm thấy gì. Và nó vẫn không nói một tiếng nào. Sáng nay, nó đã bị tống giam, còn tôi, sau khi làm xong tất cả những thủ tục cần thiết, tôi liền chạy đến đây. Hiện tại, cảnh sát đã thú nhận bất lực. Thưa ông Holmes, nếu thấy cần phải tiêu xài những gì, xin ông hãy cứ tự nhiên: tôi đã treo một phần thưởng 1000 đồng bảng.. Chúa ơi! Chỉ trong một đêm, tôi đã mất hết danh dự và đùa con trai duy nhất! Ôi, làm sao bây giờ?”
    Ông ta đưa hai bàn tay lên ôm lấy mặt, lắc qua, lắc lại, miệng nói lầm bầm những lời vô nghĩa như một kẻ tâm thần.
    Sherlock Holmes ngồi im lặng trong vài phút, đôi mày nhíu lại, mắt nhìn đăm đăm vào ngọn lửa trong lò sưởị
    - Ông có thường tiếp khách không? - Holmes hỏi.
    - Tôi không tiếp ai cả, ngoài người hùn vốn và gia đình của ông ta, hoặc thỉnh thoảng một người bạn của Arthur. Thời gian gần đây George Burnwell có đến nhà tôi nhiều lần. Ngoaì ra, không có ai khác.
    - Ông có thường hay đến chỗ này chỗ kia chơi không?
    - Arthur thì có. Mary và tôi ở nhà. Cả Mary và tôi đều không thích đi chơi.
    - Đó là một điều lạ lùng đối với một thiếu nữ!
    - Nó có một bản tính trầm lặng. Vả lại nó cũng không còn bé gì nữa: đã hai mươi bốn tuổi rồị
    - Theo lời ông kể lại, vụ này cũng đã gây cho cô ấy một cơn xúc động ghê gớm, phải không?
    - Phải.
    - Cả cô ấy lẫn ông đều không còn một chút nghi ngờ gì nữa về sự có tội của con trai ông?
    - Còn nghi ngờ gì nữa khi chính mắt tôi trông thấy chiếc vương niệm nằm trong hai bàn tay của nó?
    - Đó chưa phải là một bằng chứng để buộc tội. Có phải phần còn lại của chiếc vương niệm bị hư hại không?
    - Phải, bị cong vẹo.
    - Vậy ông không nghĩ rằng con trai của ông đang tìm cách uốn nắn nó lại hay sao?
    - Ông đang cố gắng làm những gì có thể làm được cho nó và cho tôi! Nhưng đó là một công việc quá khó khăn. Tại sao nó lại có mặt ở đó, để làm gì? Với chiếc vương niệm trong tay? Và nếu nó vô tội, tại sao nó không nói, mà cứ im lặng?
    - Đúng! Và nếu cậu ấy có tội, tại sao cậu không bịa ra một điều nói láo thay vì im lặng? Trong vụ này còn có nhiều chi tiết kỳ lạ.. Về tiếng động đã đánh thức ông dậy, ý kiến của cảnh sát như thế nào?
    - Cảnh sát nói tiếng động đó có thể do Arthur gây ra khi nó đóng cửa phòng của nó lại.
    - Rất khó tin! Không một người nào sắp sửa làm một hành động bất lương lại đóng sầm cửa phòng của mình lại để đánh thức người khác dậy! Còn về ba viên ngọc?
    - Họ tiếp tục lục lọi trong nhà với hy vọng sẽ tìm lại được chúng.
    - Họ có nghĩ đến việc tìm kiếm ở bên ngoài ngôi nhà không?
    - Có. Tất cả khu vườn đã được xem xét rất tỉ mỉ, không sót một chỗ nào.
    - Thưa ông, vụ này phức tạp hơn là ông cảnh sát đã nghĩ lúc ban đầu. Xin ông hãy xét kỹ lại giả thiết của ông: Ông cho rằng con trai ông đã rời khỏi phòng của cậu ấy, để đi vào phòng rửa mặt của ông. Một hành động rất liều lĩnh, mở bàn giấy của ông ra, lấy chiếc vương niệm, dùng hết sức lực bẻ gãy một góc nhỏ của nó, rồi trở ra khỏi phòng, đi đến một chỗ nào đó để cất giấu ba viên ngọc.. và cất giấu một cách tài tình đến độ không ai có thể tìm ra được.. rồi cậu ấy lại mang 36 viên ngọc còn lại đi trở vào văn phòng.. nơi mà cậu ấy rất dễ dàng bị phát giác. Nào, tôi xin hỏi ông. Một giả thiết như thế có đứng vững không?
    - Nhưng, như vậy thì theo ông, còn giả thiết nào khác nữa? - Ông chủ ngân hàng kêu lên với một cử chỉ tuyệt vọng. - Mà nếu những động cơ của nó là ngay thật, tại sao nó không nói cho tôi biết?
    - Công việc đầu tiên của chúng ta là sẽ làm sáng tỏ điểm này. Vậy, nếu ông bằng lòng, chúng ta sẽ cùng đi đến Streatham, ở đó chúng ta sẽ xem xét thật kỹ một số chi tiết.
    * * * * *
    Holmes yêu cầu tôi cùng đi với anh và ông Holder. Tôi nhận lời ngay. Thú thật, cũng như tôi ông Holder, tôi thấy người thanh niên đó đã phạm tội rõ ràng. Nhưng tin tưởng tài nhận xét và suy luận ít khi sai lần của Holmes, tôi vẫn còn một vài hy vọng: ngay từ đầu, Holmes đã bác bỏ về giả thiết quá đơn giản về sự phạm tội của Arthur.
    Fairbank là một ngôi nhà bằng đá trắng, hình dáng vuông vức, nằm hơi cách xa đường một chút. Một con đường vòng khá rộng để hai chiếc xe có thể chạy song song với nhau và một lối đi chạy dài đến hai chiếc cổng sắt chắn ngang lối vào. Ở bên phải có một rặng cây nhỏ đưa đến lối đi nằm giữa hai hàng rào cây xanh: lối đi này đưa đến cửa nhà bếp và là lối đi dành cho gia nhân. Ở bên trái có một lối đi khác hướng về chuồng ngựa, nó chạy quanh co bên ngoài khu vực ngôi nhà, và thỉnh thoảng những người lân cận cũng đi theo lối này.
    Holmes dừng lại trước cửa lớn, chậm chạp đi khắp xung quanh nhà: anh đi qua hết mặt trước của ngôi nhà, đi xuống lối đi dành cho gia nhân và đi vòng quanh khu vườn rồi trở lên bằng lối đi đưa đến chuồng ngựa. Thấy anh không có gì vội vã cả, ông Holder và tôi bèn đi vào phòng ăn, ngồi chờ bên lò sưởi. Chúng tôi ngồi im lặng được một lúc thì một thiếu nữ xuất hiện. Nàng hơi cao hơn truing bình một chút, thân hình mảnh dẻ, tóc vàng và mắt đen huyền nổi bật trên làn da trắng muốt. Gương mặt nàng xanh xao, đôi môi nhợt nhạt và ánh mắt biểu lộ một sự van xin câm lặng, nhưng vô cùng tha thiết. Khi nàng tiến vào phòng với một dáng đi nhanh nhẹn và đều đặn, tôi nhận thấy nỗi đau buồn của nàng còn có phần sâu xa hơn về đau buồn của ông chủ ngân hàng. Không quan tâm đến sự hiện diện của tôi, nàng tiến thẳng về phiá người chủ lâu đài và đặt hai bàn tay lên gương mặt ông.
    - Ba đã bảo người ta thả anh Arthur ra chưa?
    - Không, con ạ.. Ung nhọt cần phải được cắt bỏ.
    - Nhưng con tin chắc rằng anh ấy vô tội! Ba biết không, trực giác của một phụ nữ ít khi sai lầm. Ba sẽ hối hận khi đã tỏ ra quá khắc nghiệt.
    - Nếu nó vô tội, tại sao nó lại làm thinh?
    - Ai có thể biết được? Có lẽ anh ấy đã giận ba đã nghi ngờ anh ấy.
    - Làm sao ba không nghi ngờ nó được. Chính mắt ba trong thấy nó cầm chiếc vương miện mà.
    - Ồ, anh ấy chỉ xem thôi... ba hãy tin con, anh ấy không có tội! Ba hãy bỏ qua cái vụ này đi. Thật là một điều ghê gớm khi nghĩ rằng Arthur bị ở tù!
    - Ba sẽ không bỏ qua vụ này trước khi tìm được mấy viên ngọc. Thay vì bỏ qua, ba đã mời từ Luân Đôn về một vị thám tử đại tài sẽ làm sáng tỏ tất cả, ba tin chắc như thế.
    - Có phải là ông đây không? - Nàng hỏi, vừa nhìn vào mặt tôi.
    - Không, bạn của ông ấy. Trong lúc này, thám tử đang đi vòng theo lối đi tới chuồng ngựa.
    - Lối đi tới chuồng ngựa?.. - Nàng nhướn đôi mày đen lên. - Ông ấy có thể tìm được hy vọng gì ở đó vậy, và chắc là ông ấy đây rồi. Thưa ông, tôi hy vọng rằng ông sẽ chứng tỏ được sự vô tội của anh Arthur. Tôi tin chắc là anh ấy bị hàm oan.
    - Tôi hoàn toàn đồng ý với cô, và cũng như cô, tôi hy vọng sẽ chứng tỏ được sự vô tội của anh ấy. - Holmes đáp, vừa quay trở lại tấm chùi chân để chùi sạch lớp tuyết bám vào đôi giày. - Chắc là tôi đang được hân hạnh nói chuyện với cô Mary phải không. Cô có thể cho phép tôi hỏi cô một vài câu không?
    - Xin ông cứ hỏi! Tôi rất muốn điều bí mật khủng khiếp này được sáng tỏ..
    - Về phần cô, cô không nghe thấy gì cả trong đêm vừa qua?
    - Không, cho đến khi bác tôi bắt đầu kêu to lên. Lúc đó tôi mới chạy xuống.
    - Khi đóng những cửa lớn và cửa sổ, cô có đóng kỹ tất cả những cửa sổ không?
    - Có.
    - Sáng nay, tất cả những cửa sổ đó vẫn còn được đóng kín chứ?
    - Vâng.
    - Một trong những chị bồi phòng có một tình nhân, phải không? Và tối hôm qua, cô có báo cho ông chủ biết rằng chị ấy đã ra ngoài để gặp anh ta?
    - Phải. Lúc chị ấy pha café trong phòng khách. Có lẽ chị ấy đã nghe bác tôi nóí về chiếc vương niệm.
    - Tôi hiểu. Cô suy ra rằng chị ấy có thể đã đi ra ngoài để báo cho tình nhân biết, và cả hai người đó đã sắp đặt kế hoạch để lấy trộm chiếc vương miện.
    - Nhưng chúng ta còn đặt ra những giả thiết phiêu lưu đó để làm gì? - Ông chủ ngân hàng nóng nảy kêu lên. - Bởi vì tôi đã nói rằng chính mắt tôi trông thấy Arthur đang cầm chiếc vương niệm trong tay mà!
    - Xin ông hãy kiên nhẫn một chút. Chúng ta còn phải trở lại với giả thiết này, với chị bồi phòng ấy. Cô Mary, cô đã trông thấy chị ấy trở vào bằng cửa nhà bếp, phải không?
    - Cô có biết anh ta không?
    - Có chứ! Anh ta tên là Francis.
    - Anh ta đứng ở bên trái của nhà bếp, nghĩa là hơi xa một chút trong lối đi? - Holmes hỏi.
    - Phải.
    - Và anh ta có một cái chân gỗ?
    Một thoáng lo sợ hiện lên trong đôi mắt của người thiếu nữ.
    - Phải chăng ông là một vị thánh? - Nàng mỉm cười kêu lên. - Làm sao ông biết được điều đó?
    Nhưng Holmes không đáp lại nụ cười của nàng. Anh nói tiếp.
    - Tôi cần xem xét trên lầu. Và có thể là tôi sẽ quan sát lại khắp chung quanh nhà một lần nữa.. nhưng trước khi lên gác, có lẽ tôi nên xem xét kỹ những cửa sổ của tầng dưới..
    Anh nhanh chóng đi từ cửa sổ này đến cửa sổ khác và dừng lại một lúc trước cửa sổ lớn ngó ra lối đi đưa đến chuồng ngựa. Anh mở nó và dùng chiếc kính lúp xem xét thật tỉ mỉ bờ cửa sổ.
    - Tốt! Bây giờ chúng ta có thể đi lên gác. - Sau cùng anh nói.
    Phòng rửa mặt của ông chủ ngân hàng là một căn phòng nhỏ đày đủ tiện nghi. Nó có một tấm thảm màu xám, một chiếc bàn giấy lớn và một tấm gương soi hình chữ nhật. Holmes tiến đến chiếc bàn giấy và nhìn chăm chú vào ổ khóa.
    - Ông thường mở nó bằng chìa nào?
    - Chiếc chìa mà con trai tôi đã chỉ: chìa khóa của chiếc tủ để trong phòng để đồ dạc không dùng đến nữa.
    - Nó có ở đây không?
    - Nó ở trên bàn.
    Holmes lấy chiếc chìa khóa và mở bàn giấy ra :
    - Chìa khóa này không gây một tiếng động nào cả. Do đó, kẻ gian mở bàn giấy ra mà vẫn không làm cho ông thức giấc. Chắc cái hộp này đựng chiếc vương niệm? Ông cho phép tôi xem nó một chút.
    Anh mở chiếc hộp, lấy vương niệm ra đặt lên bàn. Một đầu của vương niệm bị cong và bị gãy: một góc chứa ba viên ngọc đã bị bẻ đi mất.
    - Ông Holder, đây là cái góc đối xứng với cái góc đã bị mất. Tôi có thể yêu cầu ông thử bẻ gãy nó được không?
    Ông chủ ngân hàng kinh hãi, lùi lại.
    - Không! Tôi không thể làm được chuyện đó!
    - Văy thì tôi sẽ thử..
    Holmes lấy hết sức mạnh bẻ một cái, nhưng không kết quả.
    - Tôi chắc nó chỉ hơi cong một chút xíu thôi. - Anh bình tĩnh nhận xét. - Nhưng dù cho những ngón tay của tôi khỏe đến mấy, tôi cũng không thể bẻ gãy nó được. Nhưng, ông hãy thí dụ là tôi bẻ gãy nó đi: nó sẽ phát ra một tiếng kêu khá lớn, gần như tiếng nổ của một phát súng lục vậy. Và nếu một tiếng động như vậy mà chỉ phát ra cách giường ông vài mét, có thể nào ông lại không nghe thấy gì cả?
    - Tôi như người đang ở trong đêm tối.
    - Có lẽ tất cả sáng tỏ nếu chúng ta tiếp tục. Cô Mary, cô nghĩ sao?
    - Tôi cũng không biết nghĩ sao nữa.
    - Con trai của ông không mang giày dép gì cả, khi ông trông thấy cậu ấy?
    - Trên mình chỉ có một chiếc áo sơ-mi và chiếc quần tây dàị
    - Cám ơn ông. Chúng ta được một sự may mắn lạ thường, vậy nên nếu chúng ta không làm sáng tỏ được vấn đề, thì đó là lỗi của chúng ta.
    Holmes ra ngoài một mình, làm việc trong một tiếng đồng hồ, rồi trở vào nhà với hai bàn chân dính đày tuyết và một gương mặt lạnh lùng khó hiểu.
    - Thưa ông, bây giờ, điều hay nhất mà tôi có thể làm giúp ông, là trở về nhà tôi.
    - Nhưng còn mấy viên ngọc?
    - Tôi chưa thể nói được.
    Ông chủ ngân hàng vặn vẹo hai bàn tay vào nhau :
    - Vậy là tôi sẽ không bao giờ trông thấy lại chúng! - Ông ta kêu lên.. - Còn con trai tôi?
    - Tôi vẫn không thay đổi ý kiến về cậu ấy.
    - Vậy, tôi van ông, xin ông giải thích, nó như thế nào?
    - Nếu sáng mai, ông có thể đến nhà tôi, trong khoảng từ 9 đến 10 giờ, tôi sẽ giải thích cho ông thấy rõ tất cả. Có phải ông đã giao cho tôi toàn quyền chi tiêu, miễn sao thu hồi lại được ba viên ngọc?
    - Tôi sẵn sàng chi cả gia tàị
    - Tốt lắm. Bây giờ tôi đi lo việc đó. Xin chào ông.
    Trong chuyến đi trở về, tôi tìm cách dò hỏi nhưng Holmes trả lời rất hờ hững. Chúng tôi về đến nhà trước ba giờ chiều. Holmes chạy thẳng vào phòng, vài phút sau anh trở ra, cải trang thành một anh bồi: cổ áo và đôi giày mòn gót.
    - Như thế này là được rồi. - Anh nói, vừa ngắm nghía mình trong gương. - Trong vụ này, có thể là giả thiết của tôi đúng, nhưng cũng có thể là tôi sai lầm. Dầu sao, rồi ra tôi cũng sẽ biết rõ sực thật.
    Anh cắt một lát thịt bò nướng, kẹp nó vào giữa hai miếng bánh mì và ra đi.
    Khi anh trở về, tôi vừa uống xong tách chè. Trông anh có vẻ vui tươi thấy rõ: anh cầm một chiếc giày cũ ở đầu sợi dây giày, đong đưa nó qua lại rồi ném nó vào một góc phòng, tôi rót cho anh một chén chè.
    - Ở đâu vậy?
    - Ồ, ở tận kia của vùng West End. Và tôi không biết giờ nào tôi sẽ về. Văy anh không cần chờ tôi!
    - Có triển vọng không?
    - Không tệ lắm! Tôi đã đi đến Streatham, nhưng không vào nhà. Vụ này có một vấn đề nhỏ rất lý thú. Thôi, tôi chỉ còn vừa đủ thì giờ để thay đồ.
    Qua những lời nói có vẻ hơi mơ hồ của anh, tôi hiểu anh đã đạt được những kết quả rất khả quan. Chờ đến khuya vẫn chưa thấy anh về, tôi bèn đi ngủ.
    Tôi không biết Holmes về lúc mấy giờ, nhưng sáng hôm nay, khi xuống phòng khách để ăn điểm tâm, tôi đã thấy anh ngồi đó tự bao giờ, tươi tỉnh và khỏe khoắn, tay này cầm một tờ báo, tay kia một tách café.
    - Xin lỗi đã không đợi anh để cùng ăn, nhưng chúng ta có hẹn với thân chủ, và bây giờ đã hơn chín giờ rồi.
    - Thật vậy, dường như tôi vừa mới nghe có tiếng chuông reo.
    Quả đúng là nhà tài chính của tôi. Nhưng chỉ mới có một đêm mà ông tiều tụy hẳn! Ông tiến vào phòng với một vẻ mệt mỏi và đờ đẫn. Tôi đẩy một chiếc ghế bành đến cho ông và ông liền ngồi phịch xuống.
    - Không biết tôi đã làm gì nên tội! Cách đây hai hôm, tôi còn là một người thịnh vượng và sung sướng. Nhưng hôm nay tôi là một người khốn khổ nhất trên đời. Họa vô đơn chí, con bé đã ra đi rồi.
    - Mary bỏ đi rồi à?
    - Phải, sáng nay. Phòng nó trống trơn, trên bàn có một lá thư. Ngày hôm qua, trong cơn đau buồn, tôi có trách nó rằng tất cả câu chuyện thê thảm này sẽ không xảy đến nếu trước kia nó bằng lòng kết hôn với Arthur. Trong thư, nó nhắc đến lời trách móc đó.
    “Thưa bác rất thân yêu của con.
    Con thấy rằng con là nguyên nhân gây ra tai họa cho bác, rằng nếu con đã hành động khác hơn thì tai họa đó đã không xảy đến. Với ý nghĩ này ám ảnh trong đầu, con sẽ không bao giờ có thể sung sướng được ở trong nhà bác nữa; vậy tốt hơn con nên vĩnh viễn từ biệt bác. Xin bác đừng lo lắng gì cả cho tương lai của con; con không thiếu thốn gì đâu. Nhất là xin bác đừng tìm kiếm con, mà mất thì giờ vô ích. Dù còn sống hay chết, mãi mãi con vẫn là cháu Mary thương yêu của bác”.
    - Ông Holmes, Mary có tự tử không?
    - Không! Cô ấy đã chọn giải pháp tốt nhất. Ông Holder, tai họa của ông sắp chấm dứt rồi.
    - Ông có nghĩ rằng 1000 đồng bảng cho mỗi viên ngọc là một số tiền quá lón không?
    - Tôi sẵn sàng trả 10.000 đồng!
    - Không cần thiết như thế. Chỉ cần ba ngàn đồng. Cộng thêm một số tiền thưởng nhỏ nữa, phải không? Đây, bút đây. Ông chỉ cần viết một ngân phiếu bốn ngàn đồng bảng; thì mọi việc sẽ êm đẹp cả.
    Ông chủ ngân hàng mừng quýnh, tay run run viết tờ ngân phiếu. Holmes đi đến bàn giấy của anh, lấy ra một miếng tam giác nhỏ bằng vàng có gắn ba viên ngọc berin và ném nó lên bàn.
    - Nó đây rồi! Ông đã tìm ra nó! - Người chủ ngân hàng nói lắp bắp. - Tôi thoát nạn rồi! Thoát nạn rồi!
    Ông siết chặt những viên ngọc sát ngực.
    - Ông còn mắc nợ một điều khác nữa, ông Holder. - Holmes nói với một vẻ nghiêm khắc.
    - Tôi còn mắc nợ? - Ông ta hỏi lại, vừa cầm cây bút lên. - Hãy nói cho tôi biết bao nhiêu, tôi vui lòng trả.
    - Không, ông không mắc nợ tôi gì cả. Nhưng ông phải thiết tha xin lỗi con trai ông. Đó là một tâm hồn cao quý. Trong vụ này, cậu ấy đã hành động một cách dũng cảm và cao thượng.
    - Arthur không ăn cắp sao?!
    - Tôi đã nói với ông ngày hôm qua, và tôi nói lại với ông hôm nay: Không!
    - Chắc chắn chứ? Vậy chúng ta hãy chạy đến nhà giam báo cho nó hay.
    - Cậu ấy đã biết rồi! Sau khi tìm ra được sự thật, tôi có đến nhà giam nói chuyện với cậu ấy. Vì cậu ấy không chịu mở miệng, nên tôi đã nói cho cậu ấy biết hết mọi điều. Cậu ấy nhìn nhận tôi suy diễn đúng sự thật. Và cậu ấy giải thích thêm vài chi tiết hãy còn hơi lờ mờ. Cái tin về cô Mary sẽ khiến cậu ấy nói hết mọi sự việc cho ông biết.
    - Tôi van ông, xin ông hãy nói hết cho tôi nghe.
    - Vâng. Nhưng tôi buộc phải bắt đầu bằng sự việc đau lòng nhất cho ông: Thủ phạm là Mary và George Burnwell. Bây giờ họ đã trốn rồi.
    - Con bé à? Không thể có chuyện đó!
    - Khốn thay, đây không phải là chuyện có thể hay không có thể, mà đây là chuyện có thật! Cả ông lẫn con trai ông đều không hiểu rõ bản chất của George Burnwell. Đó là một trong những người nguy hiểm nhất ở nước Anh: một con bạc bị sạt nghiệp, một tên lưu manh bất trị, một kẻ không có lương tâm. Cô cháu gái của ông hoàn toàn không biết gì cả về hắn. Khi hắn ta bắt đầu tán tỉnh cô ấy (cũng như hắn đã tán tỉnh hàng trăm phụ nữ trước cô ấy), Mary đã hãnh diện, nghĩ rằng cô là người đầu tiên và cũng là người duy nhất làm cho trái tim hắn ta rung động. Chỉ có quỷ mới biết được những gì tên lưu manh đó nhỏ to với Mary; có điều chắc chắn là trong vòng tay của hắn, nàng đã trở thành một món đồ chơi: gần như đêm nào hai người cũng lén lút gặp nhau.
    - Tôi không tin, không thể tin được! - Ông chủ ngân hàng hét to lên, gương mặt màu xám như trọ
    - “Tốt. Vậy tôi sẽ kể cho ông nghe những gì đã xảy ra ở nhà ông đêm hôm đó. Khi ông đi vào phòng ông thì Mary lẻn ra khỏi phòng cô ấy và đến đứng bên chiếc cửa sổ hướng ra lối đi dẫn tới chuồng ngựa và nói chuyện với tình nhân đứng ở bên ngoài. Dãu chân của gã bất lương in rõ trên tuyết trong suốt thời gian hắn ta đứng gần bên cửa sổ. Mary đã nói với hắn về chiếc vương miện. Lòng tham của kẻ bẩn thỉu liền nổi dậy và y thuyết phục nàng đánh cắp bảo vật. Vừa nghe xong những lời dụ dỗ đó, Mary bỗng trông thấy ông đang đi xuống cầu thang, cô vội vã đống cửa sổ lại và kể cho ông nghe về chuyện chị bồi phòng.
    Về phần con trai ông, sau khi xin tiền ông không được, cậu trở về phòng mình nằm trằn trọc mãi, tâm trí lo âu vì những món nợ... Lúc nửa đêm, cậu nghe có tiếng bước chân đi nhẹ qua cửa phòng mình. Cậu liền ngồi dậy, nhìn ra ngoài hành lang và kinh ngạc thấy Mary đi vào trong phòng rửa mặt của ông. Sinh nghi, cậu liền mặc vội vào người một chiếc sơ mi và chiếc quần dài rồi đứng núp trong bóng tối. Một lát sau, Mary xuất hiện dưới ánh sáng của chiếc đèn đặt ở dãy hành lang, và cậu ấy thấy rõ nàng cầm chiếc vương miện đi xuống cầu thang. Kinh hãi, cậu liền chạy đến ẩn mình sau tấm màn, gần cửa phòng ông. Tại đó, cậu thấy cô gái nhẹ mở cửa sổ lớn, trao vương niệm cho một kẻ nào ở bên ngoài, rồi nhanh chóng đóng cửa sổ lại rồi trở về phòng mình.
    Cho tới khi nào Mary vẫn còn đứng đó, Arthur không thể làm gì được mà không gây tai tiếng cho người mà cậu thương yêu.
    Nhưng khi nàng đi rồi, cậu liền chạy xuống cầu thang với đôi chân trần. Cău mở chiếc cửa sổ lớn, nhảy ra ngoài tuyết và lao mình trên lối đi dẫn đến chuồng ngựa. Phía trước cậu hiện ra lờ mờ bóng một người đàn ông đang chạy: George Burnwell cố gắng chạy trốn, nhưng Arthur đã tiến sát đến hắn ta. Hai người đánh nhau: con ông nắm giữ được một đầu của vương niệm và gã Sở Khanh nắm giữ đầu kia. Con trai ông đã nện cho tên lưu manh một vết khá nặng ở phía trên mắt. Rồi thình lình một tiếng rắc khô khan vang lên. Con trai ông nhận thấy mình đã giật lại đượ chiếc vương niệm, liền chạy trở về nhà, đóng cửa lại, leo lên phòng rữa mặt của ông. Chính lúc ấy cậu nhận thấy chiếc vương niệm đã bị bẽ cong và cố gắng uốn cho nó thẳng lại thì ông xuất hiện”.
    - Có thể nào như thế chăng? - Ông chủ ngân hàng thì thầm.
    - Và lúc đó, ông đã làm cho cậu giận dữ với những lời mắng nhiếc thậm tệ... Nhưng cậu đã chọn giải pháp cao thượng nhất: im lặng để giữ bí mật cho nàng.
    - Thế là bây giờ tôi mới hiểu tại sao con nhỏ đã kêu lên một tiếng và bất tỉnh khi nó trông thấy chiếc vương niệm! - Ông Holder đau đớn nói. - Chúa ơi, tôi thật là u mê. Và con tôi đã xin tôi để nó đi ra ngoài trong 5 phút! Thằng bé muốn trở lại chỗ nó đã đánh nhau với tên ác ôn để tìm miếng vương niệm bị gãy... Ôi, tôi rất có lỗi với con tôi.
    - “Khi đến nhà ông, tôi liền đi một vòng khắp chung quanh, hy vọng tìm được những dấu chân trong tuyết. Tôi biết rằng đêm hôm trước đó tuyết không rơi, và không khí lạnh giá giữ được nguyên vẹn những dấu vết. Tôi men theo lối đi dành cho gia nhân, nhưng ở đây đã có quá nhiều dấu chân dẫm lên nhau và tôi không thể phân biệt được gì nữa. Tuy nhiên, tôi cũng nhận ra rằng cách cửa nhà bếp không xa, một người đàn bà đã đúng lại và nói chuyện với một người đàn ông: một dấu tròn ở một bên chứng tỏ người đàn ông này có một cái chân gỗ.. Sau đó, tôi đi khắp khu vườn, nhưng tôi chỉ tìm thấy ở đó những dấu chân loạn xạ khắp nơi: tôi cho đó là những dấu chân của các cảnh sát. Trái lại, khi đi theo lối đi dẫn đến chuồng ngựa, tôi đã khám phá được cả một câu chuyện rất dài và phức tạp: chính những dấu chân còn in rõ mồm một trên tuyết đã kể cho tôi biết.
    Có hai loại dấu chân song song với nhau: dấu chân của người mang giày và dấu chân của người đi chân không. Những dấu chân trần này chỉ có thể là của con trai ông. Lần theo những dấu chân đó về phía ngôi nhà, tôi đi đến chiếc cửa sổ lớn: ở đó tôi thấy dấu chân của người mang giày in rất sâu xuống lớp tuyết, chứng tỏ người đó đã đứng đây một lúc khá lâu, có lẽ là để chờ đợi. Rồi, vẫn lần theo những dấu chân, tôi quay trở lại đầu kia của lối đi. Cách chừng 100 mét, tôi nhận ra đuợc chỗ hai người đã dừng lại đối diện với nhau: lớp tuyết bị chà đạp nát bấy, ở đây chứng tỏ đã có một cuộc vật lộn dữ dội xảy ra. Sau cùng, tôi thấy có vài giọt máu: vậy là tôi đã không lầm. Người mang giày đã tháo chạy xuống phía dưới lối đi: môt vết máu nhỏ ở đây chứng tỏ là hắn đã bị thương. Hắn chạy ra đến con đường lớn, nhưng đến đây thì mất dấu của hắn, bởi vì lề đường và lòng đường đã được quét sạch.
    Tuy nhiên, khi trở lại căn nhà, tôi dùng kính lúp xem xét thật kỹ bờ và khung của chiếc cửa sổ lớn. Tôi liền nhận ra ngay có một người đã nhảy qua đó để trở vào nhà. Tôi thấy rõ dấu của một bàn chân còn ướt trên bờ cửa sổ. Lúc bấy giờ, với những chi tiết được thu nhận và phân tích như thế, tôi đã có thể dựng lên một giả thuyết:
    Có một người đàn ông đã đứng chờ ở bên ngoài chiếc cửa sổ lớn, một kẻ nào đó ở trong nhà đã đem chiếc vương niệm xuống trao cho hắn, con trai ông đã phát hiện được việc này. Cậu đã đuổi theo tên trộm, đã đánh nhau với nó, mỗi người cố gắng giằng chiếc vương niệm về phía của mình, và sức lực của hai người cộng lại đã làm cho chiếc vương niệm bị gãy mất một góc. Con trai ông đã lấy lại được chiếc vương niệm nhưng đã bỏ lại viên ngọc trong tay gã ăn trộm. Cho tới đó, mọi sự đều rõ ràng, hợp lý. Vấn đề đặt ra bây giờ là tìm xem tên trộm đó là ai và kẻ nào ở trong nhà đã đem chiếc vương miện xuống cho hắn.
    Trong vụ này, chắc chắn ông không phải là người đã đem chiếc vương niệm xuống cho tên trộm. Vậy chỉ còn cô cháu gái của ông và những chị bồi phòng. Nhưng nếu thủ phạm là chị bồi phòng thì không có lý do gì Arthur lại im lặng. Vậy thì chỉ còn có Mary, và tôi biết rằng Arthur rất thương yêu cô ta, điều này đủ để giải thích tại sao cậu chịu câm như hến.. Tôi nhớ lại rằng ông đã bắt gặp Mari đứng ở bên chiếc cửa sổ đó, và cô ta đã ngất xỉu khi trông thấy chiếc vương niệm mà cô tưởng rằng đang ở trong tay kẻ đồng lõa của cô: thế là giả thuyết của tôi đã trở thành sự thật.
    Nhưng ai có thể là kẻ đồng lõa của cô ta? Dĩ nhiên đó phải là một gã tình nhân. Bởi vì không ai đủ sức làm cho cô ấy quên được ông! Tôi biết rằng ông rất ít khi đi ra ngoài chơi, và con số những người bạn thân của gia đình ông cũng rất ít. Nhưng trong số đó có George Burnwell, một người đàn ông bị tai tiếng rất nhiều đối với giới phụ nữ. Có lẽ chính hắn ta là người đồng lõa của Mary và chính hắn đang giữ những viên ngọc bị mất. Dầu Arthur có biết rõ hắn là tên trộm, hắn ta vẫn có thể được an toàn, bởi Arthur sẽ không dám tiết lộ ra một điều sẽ gây tai tiếng cho gia đình cậu.
    Lúc bấy giờ tôi cải trang thành một người bồi, đi đến nhà gã quý tộc và tìm cách bắt chuyện với anh hầu của hắn. Anh này cho tôi biết là đêm vừa qua ông chủ của anh ta đã vô ý tự gây ra một vết thương ở mặt. Và sau cùng, với 6 xu, tôi mua được một đôi giày cũ của chủ hắn ta. Tôi liền chạy thẳng một mạch đến Streatham để so xem những dấu chân ở đó có đúng với kích thước và hình dạng của bàn chân hắn ta không: nó giống hệt”.
    - Tối hôm qua - Holder nói - Tôi có trông thấy trên lối đi đưa đến chuồng ngựa một gã bụi đời ăn mặt rách rưới.
    - Chính tôi đó. Sau khi đã biết chắc tên trộm đó chính là George Burnwell, tôi trở về nhà thay quần áo. Đến đây vai trò của tôi trở thành khó khăn. Bởi vì tôi hiểu rằng không nên làm rùm beng vụ này, cốt để tránh cho ông khỏi bị tai tiếng; tôi cũng biết rằng George Bvurnwell là một tên táng tận lương tâm, chắc chắn hắn sẽ khai thác cái thế tiến thoái lưỡng nan của ông. Lúc đầu hắn chối leo lẻo. Nhưng khi tôi kể rõ từng chi tiết sự việc xảy ra đêm hôm đó, hắn liền trở mặt xấc xược và chụp lấy một cái chùy treo trên vách tường. Tôi lập tức dí súng vào thái dương hắn. Tôi đề nghị với hắn cho tôi chuộc lại ba viên ngọc với giá 3000 đồng bảng. Hắn chặc lưỡi: Thật là xui! Tôi chỉ bán có 600 đồng mà thôi!. Tôi bèn bắt buộc hắn phải cho tôi địa chỉ người mua, đổi lại tôi hứa sẽ không lôi hắn ra tòa. Tôi chạy thẳng một mạch đến nhà người mua, và sau một hồi trả giá, tôi chuộc lại được ba viên ngọc với giá 1000 đồng bảng mỗi viên. Xong, tôi liền đi gặp con trai ông để cho cậu ấy biết rằng tất cả đã được giải quyết tốt đẹp. Lúc bấy giờ đã hai giờ sáng, tôi chỉ còn nghĩ đến có một việc: đi ngủ. Sau một ngày làm việc cực nhọc như thế, đây là một sự nghỉ ngơi rất.. xứng đáng đãy chứ!
    - Và đó là một ngày đã cứu nước Anh thoát khỏi một vụ tai tiếng xấu xa! - Ông chủ ngân hàng kết luận, vừa đứng lên. - Thưa ông, tôi không thể tìm ra được những lời nào để bày tỏ hết lòng biết ơn của tôi đối với ông, nhưng xin ông tin chắc rằng mãi mãi, tôi không bao giờ quên ơn ông. Bây giờ tôi chạy đến gặp con trai tôi để xin nó tha thứ cho tôi. Về phần con bé Mary đáng thương đó, hành động dại dột của nó đã làm cho tôi tan nát cả cõi lòng. Với khả năng xét đoán tài tình của ông, ông có thể cho tôi biết bây giờ nó ở đâu không?
    - Cô ấy đang ở nơi mà George Burnwell đang ở; chẳng bao lâu, hắn ta sẽ nhận một sự trừng phạt còn lớn hơn cả tội lỗi của hắn ta nữa!
    HẾT
  2. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Vùng đất “Những cây dẻ đỏ”


    Bên ngoài, làn sương mù dày đặc lơ lửng giữa những dãy nhà xám xịt. Cửa sổ nhà đối diện hiện ra những vết đen lờ mờ, không ra hình thù gì rõ rệt. Ngọn đèn khí đốt chiếu sáng mấy chiếc đĩa sứ và bộ đồ ăn vẫn còn trên bàn. Sherlock Holmes vẫn giữ im lặng, không ngừng lật những trang bố cáo trong các tờ báo. Cuối cùng anh không lục lọi nữa mà ngắm nghía ngọn lửa nhảy múa trong lò sưởi, rồi nói :
    - Anh không đáng bị gán cho là một người chuyên viết truyện “giật gân”, bởi vì phần lớn những vụ án mà anh đề cập tới thì không phải là những vụ hình sự. Các câu chuyện nhỏ về ông vua xứ Bohemia, chuyện tình của tiểu thư Mary Sutherland, chuyện người đàn ông môi trề và lễ thành hôn của nhà quý tộc độc thân... không nhất thiết thuộc phạm vi pháp luật. Nhưng nếu tránh các chuyện giật gân, thì sẽ rơi vào chỗ tầm thường.
    - Trong các truyện do tôi viết, các đoạn kết thì có thể là tầm thường, nhưng phương pháp viết thì vừa mới lạ vừa thú vị.
    - Chà chà! Anh bạn thân mến, phải chăng bây giờ độc giả lại chịu khó để ý tới những tia sáng tinh tế của phép phân tích và phép diễn dịch? Nhưng nếu anh rơi vào chỗ tầm thường, tôi cũng không thể trách anh được, và hiện nay, đâu còn những vụ quan trọng nữa. Giờ đây cái nghề hèn mọn của tôi đang biến thành công việc tìm kiếm những đồ vật thất lạc hoặc làm cố vấn cho các công chức về hưu. Như ngày hôm nay đây, cái thư này cho ông biết tôi đã “hết thời” rồi. Anh hãy đọc đi!
    “Thưa ông Holmes thân mến,
    Tôi rất cần ý kiên của ông để quyết định xem nên nhận hay từ chối một chỗ dạy trẻ. Nếu không có gì phiền ông, tôi sẽ đến gặp ông vào lúc 10 giờ 30 ngày mai. Chúc ông mạnh khỏe.
    Violette Hunter”.
    - Anh quen biết cô này chớ? - Tôi hỏi.
    - Tôi đấy à? Đâu có.
    - Đã mười giờ rưỡi rồi.
    - Vâng. Cô ta đang gọi cửa.
    - Việc này có thể đáng chú ý hơn anh tưởng. Anh có nhớ vụ “con ngỗng” không. Lúc đầu nó như một chuyện khôi hài, sau đó phát triển thành một cuộc điều tra công phu. Lần này cũng dễ như vậy lắm.
    - Hãy hy vọng thế! Nhưng sự ngờ vực của chúng ta sẽ sáng tỏ ngay thôi, vì cô ta đã tới.
    Cửa mở và một thiếu nữ bước vào. Cô ta ăn mặc giản dị nhưng duyên dáng. Gương mặt lanh lợi lấm tấm những nốt tàn nhang. Tóc cô vàng óng. Cử chỉ của cô cho thấy cô là người tháo vát. Khi bạn tôi đứng lên chào, cô nói ngay :
    - Xin tha lỗi đã làm phiền ông. Nhưng tôi vừa gặp một chuyện lạ lùng, mà tôi không có bà con hay bạn bè để hỏi ý kiến. Thế là tôi nghĩ tới ông. C lẽ ông vui lòng chỉ bảo tôi cách hành động?
    - Thưa cô, mời cô ngồi đã. Tôi rất sung sướng được phục vụ cô.
    Tôi nhận thấy là Holmes có ấn tượng tốt về ngôn ngữ và cử chỉ của người khách hàng. Đầu tiên anh ta quan sát theo thói quen cố hữu, rồi mới ngồi xuống, nghe trình bày.
    “Tôi đã làm nghề dạy trẻ suốt 5 năm trong gia đình đại tá Spence Munro. Cách đây hai tháng, đại tá được bổ nhiệm đến Halifax, Nova Scotia. Ông đem theo các con nhỏ đến Mỹ, nên tôi thất nghiệp. Tôi đăng báo tìm việc, gửi thư đến các nơi đăng tin tìm người. Tất cả đều không có kết quả. Sau cùng, tiền dành dụm đã cạn, tôi không còn biết phải làm
    gì nữa. Ở khu West End có cơ sở Westaway chuyên tìm việc cho người dạy trẻ. Mỗi tuần một lần, tôi tới đó xem có chỗ nào không. Cô Stoper là người quản lý cơ sở này, cô làm việc trong văn phòng nhỏ, những người lạ tìm việc ngồi trong phòng đợi, lần lượt được đưa vào. Cô Stoper nghiên cứu các hồ sơ rồi tìm chỗ phù hợp cho mỗi người.
    Tuần vừa rồi, tôi được đưa vào văn phòng đó như thường lệ. Nhưng lần này ở trong phòng, ngoài cô Stoper ra, còn có một người đàn ông rất béo, khuôn mặt tươi cười với một cái cằm rất to; ông ta mang kính, nhìn đăm đăm những người bước vào phòng. Khi trông thấy tôi, ông ta đứng phắt lên và quay sang cô Stoper :
    - Thật thích hợp! Tôi không mơ ước gì hơn nữa! Tuyệt vời! Tuyệt vời! - Ông ta xoa tay mừng rỡ. - Cô tìm việc làm, phải không?
    - Thưa ông, vâng.
    - Cô là người dạy trẻ?
    - Thưa ông, vâng.
    - Lương cô bao nhiêu?
    - Đại tá Spence Munro trả tôi bốn bảng một tháng.
    - Ồ! Cái tên lợi dụng! Cái tên bóc lột! - Ông ta xoa xoa tay, rồi vung vẩy tay, giận sôi sùng sục - Tại sao có những kẻ lại có thể trả số lương tệ mạt như vậy cho một người xuất sắc và hoàn bị như cô?
    - Về sự hoàn bị, có lẽ không được như ông mong mỏi. Một chút tiếng Pháp, một chút tiếng Đức, âm nhạc và trẻ...
    - Suýt suýt! Chuyện đó chỉ là phụ. Điểm chính yếu là thế này: cô có cái vẻ của một tiểu thư đài các. Nếu cô không được thế, cô không xứng đáng làm người giáo dục cho một đứa trẻ có thể đóng một vai trò đáng kể trong lịch sử nước này. Nếu ngược lại, thì tại sao lại có những người nhẫn tâm trả cho cô cái đồng lương chết đói đó? Thưa cô, tôi sẽ trả cho cô lương khởi điểm ở nhà tôi là 100 bảng một năm.
    Nói xong, con người hào phóng ấy mở ví và rút ra một tờ giấy bạc :
    - Tôi cũng có thói quen ứng trước một nửa tiền lương để các tiểu thư có thể trang trải phí tổn di chuyển và mua sắm áo quần - Ông ta vừa nói vừa mỉm cười rất khả ái, đến nỗi đôi mắt ông ta thu nhỏ lại thành hai điểm sáng giữa khối mỡ trắng bệch.
    Tôi hầu như chưa hề gặp một người nhiệt thành và lịch thiệp hơn ông ta. Tôi đang thiếu nợ: số tiền ứng trước thật đúng lúc! Nhưng dù sao một sự giao dịch như vậy cũng có vẻ bất thường, nên tôi muốn biết thêm cho rõ, trước khi nhận lời.
    - Tôi có thể biết ông ở đâu không?
    - Tại hạt Hampshire. Một mảnh đất nhỏ đẹp mê hồn. “Những cây dẻ đỏ” [1] cách Winchester 5 dặm. Thưa cô, đó là một xứ sở xinh đẹp, và nhà tôi là ngôi nhà đáng yêu nhất trong số những ngôi nhà xưa trong quận.
    - Công việc của tôi như thế nào?
    - Tôi chỉ có một thằng bé vừa lên 6. À, nếu cô thấy được cái cách nó dùng đôi dép hạ những con gián? Trước khi nó nhíu mày, đã có ba con bị hạ.
    Ông ta dựa ngửa vào ghế và lại cười, nụ cười làm cho đôi mắt như mất hút trong khối thịt phì nộn. Tôi hơi ngạc nhiên về trò chơi mà cậu bé ưa thích, nhưng tiếng cười của ông bố khiến tôi nghĩ rằng có lẽ ông ta chỉ đùa thôi.
    - Tôi chỉ phải chăm nom cho một mình cậu bé thôi chứ? - Tôi hỏi lại.
    - Ồ không! Không phải chỉ có thế, thưa cô thân mến! Cô còn phải tuân lệnh vợ tôi, tất nhiên đó luôn luôn là những mệnh lệnh mà một thiếu nữ có phẩm hạnh có thể tuân theo, và tôi chắc là một người thông minh như cô đã đoán được. Đâu có gì khó, phải không cô?
    - Tôi rất sung sướng được phục vụ ông bà.
    - Tuyệt. Nhưng, nhân tiện, xin nói về trang phục. Vợ chồng tôi là những người kỳ cục, nhưng tốt bụng. Nếu chúng tôi yêu cầu cô mặc một cái áo nào đó vào một ngày nào đó thì cô không phản đối chứ.
    - Thưa ông, không. - Tôi trả lời, hơi ngơ ngác.
    - Hoặc yêu cầu cô ngồi chỗ này thay vì chỗ kia, hoặc ngồi chỗ kia hay vì chỗ này, cô không coi là bị xúc phạm chớ?
    - Ồ không đâu?
    - Và yêu cầu cô cắt tóc ngắn?
    - Thưa ông, tôi có một mái tóc màu hạt dẻ. Mọi người đều khen là rất đẹp. Tôi sợ rằng điều này không thể được, thưa ông.
    - Còn tôi, tôi sợ rằng đây là điều chính yếu. Đó là một sở thích nho nhỏ của vợ tôi. Vậy, cô sẽ cắt tóc chứ?
    - Thưa ông, tôi sẽ không cắt tóc!
    - A, tốt! Thôi chúng ta không bàn nữa... Thật đáng tiếc. Thưa cô Stoper, trong trường hợp này, tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm một ứng cử viên khác.
    Trong suốt thời gian chúng tôi thảo luận, cô quản lý chúi mũi vào đống hồ sơ và không hề mở miệng. Nhưng tới lúc đó, cô ta nhìn tôi với vẻ thù ghét, khiến tôi hiểu ngay rằng việc tôi từ chối sẽ làm cho cô ta mất một số tiền hoa hồng béo bở. Cô ta hỏi tôi :
    - Cô có muốn chúng tôi giữ tên cô trong sổ đăng ký không?
    - Vâng, thưa cô Stoper.
    - Cô đã từ chối những đề nghị tuyệt vời! Cô chớ mong chúng tôi mất thì giờ tìm cho cô một việc khác. Chào cô, cô Hunter! - Cô Stoper ấn chuông và người ta đưa tôi ra.
    Tôi trở về. Khi tôi kiểm lại số thực phẩm trong nhà, khi tôi thấy hai hay ba tờ hóa đơn trên bàn, tôi bắt đầu tự hỏi phải chăng tôi đã làm một điều ngu xuẩn. Ít có cô dạy trẻ nào được trả 100 bảng một năm... vả chăng, bộ tóc dài của tôi có giúp ích gì cho tôi đâu. Nhiều phụ nữ đã cắt tóc ngắn, thế mà họ chẳng xấu đi chút nào.
    Ngày hôm sau, tôi tự coi mình là một con ngốc.
    Hôm sau nữa, tôi chắc chắn là tôi đã làm một điều dại dột. Vào lúc tôi dẹp bỏ lòng tự ái, định trở lại cơ sở tìm việc hỏi xem chỗ đó còn trống không, thì tôi nhận được một bức thư. Tôi xin đọc ông nghe :
    “Những cây dẻ đỏ, Winchester,
    Thưa cô Hunter thân mến.
    Cô Stoper đã có nhã ý cho tôi địa chỉ của cô, nên tôi viết thu này cho cô, hỏi xem cô có xét lại quyết định trước đây không. Nhà tôi rất muốn cô đến đây, vì qua sự mô tả của tôi, bà ấy rất thích cô. Chúng tôi sẵn sàng trả cho cô 30 bảng mỗi quý. Vậy là 120 bảng một năm, ấy là để đền bù những bất tiện nho nhỏ do tính kỳ quặc của chúng tôi gây ra cho cô. Dù sao, đó cũng không phải là những đòi hỏi quá đáng! Nhà tôi rất thích màu xanh và bà ấy muốn cô mặc áo màu này mỗi sáng. Tuy nhiên, cô không cần bỏ tiền mua sắm, vì chúng tôi có sẵn một cái như thế trước đây của con gái tôi. Alice hiện nay đang ở Philadelphia.
    Mặt khác, về chỗ ngồi hay nơi cô đi đứng, chúng tôi sẽ chỉ cho cô, cô sẽ không gặp bất tiện gì đầu. Về bộ tóc, tôi rất tiếc nhưng tôi cương quyết giữ nguyên quyết định. Tôi hy vọng rằng số thù lao tăng lên sẽ đền bù được sự mất mát đó! Về phần đứa bé, công việc của cô sẽ rất nhẹ nhàng. Cô cố gắng đến với chúng tôi nhé, tôi sẽ đem xe đón cô ở Winchester. Xin cho tôi biết giờ xe lửa khởi hành.
    Chúc cô mạnh khỏe.
    Jephro Rucastle”
    Đó là nội dung bức thư. Và tôi đã quyết định nhận lời. Tuy vậy, trước khi lao vào khoảng không, tôi muốn ông cho một lời khuyên.
    - Nhưng, thưa cô, nếu cô đã quyết định rồi thì đâu còn vấn đề gì nữa!
    - Có phải là ông khuyên tôi nên từ chối?
    - Đó không phải là chỗ tôi mơ ước cho cô em gái của tôi, nếu tôi có một đứa em gái.
    - Điều đó có nghĩa gì, thưa ông Holmes?
    - Chẳng có một dữ kiện nào cả, nên tôi không thể nói gì hơn. Nhưng có lẽ cô cũng có ý kiến riêng chứ?
    - Tôi thấy ông Rucastle có vẻ là người tốt và lịch thiệp, nhưng có lẽ vợ chồng họ có những sở thích ngông cuồng nên ông ta nhượng bộ cho gia đình được êm ấm và để tránh những bất trắc có thể buộc phải đưa bà Rucastle vào viện an dưỡng. Giả thiết của tôi có vô lý không?
    - Chẳng những không vô lý; mà còn là giả thiết có nhiều khả năng nhất. xem xét về mọi mặt thì một cô gái trẻ hẳn không lấy gì làm dễ chịu trong gia đình này.
    - Nhưng còn tiền lương, ông Holmes ơi!
    - Vâng, đúng vậy. Tiền thù lao cao, rất cao! Chính điều đó làm cho tôi khó chịu! Tại sao họ lại trả cho cô 120 bảng. Trong khi họ có thể mướn bất kỳ ai với giá 40 bảng?
    - Bởi vậy tôi đã rất có lý, khi đến đây hỏi ý kiến của ông. Tôi yên tâm biết bao khi ông biết sẽ ủng hộ tôi.
    - Tôi ủng hộ cô! Tôi sẽ hết sức chú ý tới câu chuyện này. Hãy thật lòng nói cho tôi biết cô có cảm thấy bất an, hay nguy hiểm gì không?
    - Nguy hiểm? Ông dự đoán có nguy hiểm?
    Holmes lắc đầu, nghiêm nghị nói :
    - Nguy hiểm không còn nữa, nếu ta nhận diện được nó. Nói vắn tắt, bất kỳ lúc nào, dù ngày hay đêm, hễ cô gửi một điện tín là tôi sẽ tức tốc tới đó ngay.
    - Như vậy, tôi an tâm.
    Cô gái đứng dậy, mặt rạng rỡ :
    - Tôi ra đi với tinh thần thư thái. Tôi sẽ viết thư ngay cho ông Rucastle; chiều nay tôi đi cắt tóc; ngày mai tôi sẽ có mặt ở Winchester.
    Cô nói lời cám ơn, chúc sức khoẻ, rồi ra về. Lắng nghe tiếng chân nhanh nhẹn, vững chắc của cô gái đang đi xuống cầu thang, tôi nói :
    - Ít ra cô ta cũng có vẻ biết cách xoay xở.
    - Chỉ trong một thời gian ngắn thôi, cô ta sẽ cầu cứu với chúng ta.
    Mười lăm ngày đã trôi qua. Trong thời gian này, tâm trí tôi cứ hướng về “Những cây dẻ đỏ”. Tôi tự nhủ cô gái đang dấn thân vào một cuộc phiêu lưu kỳ lạ biết bao. Số tiền lương cao bất thường, những điều kiện kỳ quặc, công việc nhẹ nhàng (theo lời người cha hứa), tất cả những cái đò cho thấy một điều gì đó không bình thường. Điều gì đó là do tính tình kỳ quặc hay có một âm mưu? Ông kia là một kẻ thương người hay là một tên vô lại? Về phần Holmes, tôi nhận thấy đôi khi anh trầm ngâm hàng mấy giờ liền. Và mỗi khi tôi nhắc tới cô gái, anh khoát tay ngắt lời: “Tôi chờ tin tức. Những dữ kiện! Không thể làm bánh nếu không có bột?”. Anh rít lên nho nhỏ rằng nếu là em gái thì anh không chịu để cô nhận một chỗ làrn như vậy.
    Chúng tôi nhận được điện tín vào một buổi tối, bấy giờ đã khuya. Holmes mở phong bì, liếc qua bức điện tín rồi ném cho tôi :
    - Anh hãy kiểm tra lại giờ tàu chạy.
    Bức điện tín rất ngắn :
    “Vui lòng có mặt ở khách sạn “Thiên nga đen” ở Winehester lúc 12 giờ trưa. Tôi kiệt sức. Hunter”.
    Khi tôi đọc xong, Holmes hỏi :
    - Anh đi với tôi chứ?
    - Tôi không mong mỏi gì hơn.
    - Vậy cho tôi biết giờ tàu khởi hành.
    - Có một chuyến lúc 9 giờ rưỡi tới Winchester lúc 11 giờ rưỡi.
    - Tốt lắm.
    Vào lúc 11 giờ ngày hôm sau, chúng tôi đã gần tới thủ đô của nước Anh. Holmes nấp sau một đống nhật báo suốt cuộc hành trình, nhưng sau khi qua khỏi địa phận Hampshire, anh chui ra ngắm cảnh. Bầu trời xanh nhạt, những đám mây trong, trôi êm ả từ tây sang đông, mặt trời chói lọi, có thể ngửi thấy mùi nhựa sống trong không khí. Vạn vật mời gọi con người hoạt động. Trên những cánh đồng trải dài đến các ngọn đồi quanh Aldershot, những mái ngói đỏ tươi hoặc trắng xám của các trang trại in hình lên màu xanh lá mới.
    - Tươi mát và xinh đẹp tuyệt vời, có phải không? - Tôi bất giác thốt lên, với sự phấn khởi của người thường giam mình trong thành phố. Holmes khẽ gật đầu.
    - Anh có biết không, Watson. Đầu óc tôi bị ám ảnh đến nỗi cứ nhìn mọi vật dưới khía cạnh nghề nghiệp. Tôi cũng nhìn thấy những ngôi nhà đó như anh, nhưng chỉ có một ý nghĩ độc nhất ở trong đầu tôi. Chúng ở lẻ loi quá, hẻo lánh quá, nên tội ác xảy ra ở đây dễ dàng thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.
    - Trời đất ơi! - Tôi nói lớn, giận hờn - Tại sao anh lại ghép chung tội ác với những tổ ấm thân thiết kia?
    - Những ngôi nhà như vậy luôn luôn làm tôi kinh sợ. Dựa theo kinh nghiệm, tôi có cảm giác những con hẻm tồi tàn nhất ở Luân Đôn còn ít chứa chấp tội lỗi hơn cánh đồng xinh tươi này!
    - Anh làm tôi kinh hãi đấy, Holmes.
    - Lý do thật hiển nhiên. ở thành thị, áp lực của dư luận có thể làm được điều mà pháp luật phải bó tay. Không có nơi nào ở Luân Đôn mà tiếng kêu than của một đứa trẻ bị hành hạ, tiếng đấm đá của một anh chàng say sưa lại không làm nổi dậy lòng bất bình của hàng xóm. Và bộ máy pháp luật ở gần người dân đến nỗi một lời tố giác yếu ớt cũng buộc nó phải vận động: từ chỗ phạm tội tới vành móng ngựa chỉ có một bước ngắn; còn những ngôi nhà lẻ loi này, anh hãy nhìn kỹ đi? Mỗi nhà rào kín trong khu đất của mình, trong đó phần đông là những người nghèo khó, không thông hiểu pháp luật. Những hành vi thô bạo có thể diễn ra tự do mà không ai hay biết. Nếu cô gái đang cầu cứu chúng ta đang sống ở Winchester thì tôi không lo ngại gì hết. Năm dặm ngăn cách cô ta với thành phố làm tôi không yên. Chỉ còn may một điều là bản thân Hunter chưa bị đe doạ...
    - Chắc chắn Hunter không bị đe doạ! Nếu cô tới gặp chúng ta ở Winehester được, thì có nghĩa là cô còn được tự do đi lại.
    - Đúng vậy.
    - Vậy thì có vấn đề gì? Anh có thể giải thích cho tôi không?
    - Tôi có cả thảy bảy giải pháp riêng biệt, mỗi giải đáp phù hợp với những sự kiện như chúng ta đã biết, chỉ còn phải tìm xem giải đáp nào là đúng. A! Đây là tháp chuông nhà thờ lớn, chúng ta sắp gặp cô em rồi.
    Khách sạn “Thiên nga đen” là một quán trọ nổi tiếng, gần nhà ga. Chúng tôi gặp ngay cô giáo, và bữa điểm tâm đã sẵn sàng. Cô reo lên :
    - Tôi sung sướng biết bao, khi thấy các ông tới. Các ông thật tốt! Nói thật tình, tôi không biết phải làm sao nữa, nên mới cầu cứu.
    - Nói ngay chuyện gì đã xảy ra!
    - Vâng. Tôi phải nói gấp vì tôi phải trở về trước ba giờ
    - Cô hãy kể theo thứ tự - Holmes nói, vừa ngồi duỗi đôi chân quá khổ về phía lò sưởi, chuẩn bị tư thế thoải mái để nghe chuyện.
    - Trước hết, tôi phải nói là tôi không hề bị hai ông bà ấy ngược đãi. Nhưng tôi không hiểu nổi họ, và tôi lo ngại.
    - Cô không hiểu cái gì?
    - Nguyên nhân hành động của họ...
    “Khi tôi tới đây thì ông Rucastle đã có mặt với chiếc xe, và đưa tôi về. “Những cây dẻ đỏ” quả là một địa điểm tuyệt vời, nhưng ngôi nhà thì không đẹp, nó là một khối vuông đồ sộ loang lổ. Chung quanh là ruộng, những rừng cây mọc ở cả ba phía. Phía còn lại là một cánh đồng dốc thoai thoải chạy xuống quan lộ đi Southampton, con đường này vòng lại cách cổng trước độ 100 yard. Miếng đất đó thuộc sở hữu của ông Rucastle, còn rừng cây là của huân tước Southerton. Mấy đám cây dẻ đỏ mọc trước cổng, nên trang trại được gọi là “Những cây dẻ đỏ”.
    Ông chủ giới thiệu tôi với bà chủ và cậu con vào buổi chiều. Và tôi đã lầm, thưa ông Holmes: bà Rucastle không phải là người điên. Bà ít nói, mặt trắng bệch, trẻ hơn ông chồng nhiều. Nghe họ nói chuyện, tôi biết họ lấy nhau đã bảy năm, rằng lúc đó ông ta góa vợ và đứa con duy nhất của người vợ trước là cô gái đang sống ở Philadelphia. Ông Rucastle cho tôi biết sở dĩ cô ấy bỏ đi vì không hòa thuận với kế mẫu. Vì cô ấy chỉ vào khoảng 20 tuổi nên tôi hiểu là cô ta không cảm thấy thoải mái với người dì ghẻ của mình. Bà Rucastle không có cảm tình mà cũng không ác cảm với tôi. Rõ ràng bà ta rất yêu chồng và đứa bé. Ông chủ rất lịch sự với vợ, dường như họ rất hòa hợp và hạnh phúc. Tuy thế, bà ấy giấu kín một nỗi u sầu bí mật. Bà thường ngồi trầm tư, ánh mắt buồn rầu. Nhiều lần tôi thấy bà khóc một mình. Tôi tưởng bà khổ tâm vì tính nết của đứa con hư đốn. Thì giờ của nó dành cho những ham mê man dại xen với những cơn hờn dỗi. Thú tiêu khiển ưa chuộng nhất của nó là hành hạ những con vật yếu đuối: nó bắt chuột nhắt, những con chim nhỏ và côn trùng. Nhưng tôi không muốn dài dòng về chú bé này vì thực sự nó ít liên quan đến câu chuyện của tôi”.
    - Tôi muốn biết hết mọi chi tiết, cả những chi tiết mà cô thấy là vô vị.
    - “Điều bực bội duy nhất ở trong nhà này, là thái độ của hai gia nhân: họ là một cặp vợ chồng. Anh chồng Toller là một người thô lỗ, có mái tóc hoa râm, lúc nào cũng sặc sụa mùi rượu. Bà vợ là một người cao lớn, mạnh mẽ và là một người đàn bà khó ưa.
    Trong hai ngày đầu, cuộc sống thật dễ chịu. Sáng sớm ngày thứ ba, bà chủ xuống nhà ngay sau khi ăn điểm tâm. Bà thì thầm vài tiếng bên tai ông chồng.
    - Ừ, ừ! - Ông chồng vừa trả lời vợ vừa quay sang tôi - Thưa cô Hunter, chúng tôi rất biết ơn cô đã cắt tóc ngắn. Bây giờ chúng ta sẽ thử xem cái áo màu xanh kim quýt có vừa với cô không. Cái áo trên giường của cô.
    Cái áo đã có người mặc qua. Tuy vậy, nó rất vừa vặn với khổ người tôi. Hai ông bà Rucastle đều rất hài lòng. Họ chờ tôi trong phòng khách có ba cửa sổ lớn. Một chiếc ghế đã được đặt sẵn gần bên cửa sổ giữa, lưng ghế quay ra phía ngoài ánh sáng. Họ yêu cầu tôi ngồi lên đó. Bấy giờ ông Rucastle vừa đi ngang dọc phòng khách vừa kể lể những chuyện khôi hài mà tôi chưa bao giờ được nghe. Tôi cười nôn ruột. Bà chủ chỉ mỉm cười vài lần. Bà ngồi khoanh tay trước ngực, mắt buồn bã, lo âu. Khoảng một giờ sau, ông thấy đã tới giờ làm việc, nói rằng tôi có thể đi thay áo và dạy học.
    Hai ngày sau, cảnh đó lại diễn ra tương tự. Một lần nữa, tôi lại đi thay áo, một lần nữa người ta lại yêu cầu tôi ngồi gần cửa sổ. Và một lần nữa tôi lại cười chảy nước mắt vì những câu chuyện của ông chủ. Rồi ông đưa cho tôi một quyển tiểu thuyết, khẽ xoay chiếc ghế tôi đang ngồi cho tôi khỏi chói mắt và yêu cầu tôi đọc to lên. Tôi bắt đầu đọc chừng 14 phút, ông bảo tôi dừng lại, và ra lệnh cho tôi đi thay áo.
    Tôi để ý là họ hết sức quan tâm về việc phải ngồi quay lưng về phía cửa sổ. Tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ. Sẵn cái gương cầm tay của tôi bị vỡ, tôi lấy một mảnh giấu trong khăn tay. Ngay giữa một tràng cười, tôi đưa khăn lên ngang mắt và khéo léo nhìn xem có cái gì ở phía sau lưng mình. Tôi thất vọng: chẳng có gì cả.
    Lần thứ hai, tôi thấy một người đàn ông trên đường đã nhìn trộm tôi.
    - Một người bạn của cô, phải không? - Ông chủ hỏi.
    - Không đâu! Tôi không quen ai ở đây.
    - Chúa ơi! Trơ tráo thật! Tôi xin cô quay lại và ra hiệu cho anh ta đi đi!
    - Làm như không nhìn thấy anh ta có hay hơn không? - Tôi đưa ra ý kiến.
    - Không, không nên! Anh ta sẽ la cà mãi ở đây. Tôi xin cô, cô hãy quay lại và ra hiệu cho anh ta đi đi! Làm như thế này này!
    Tôi làm theo lời ông ta trong khi bà chủ kéo rèm.
    Chuyện đó cách đây một tuần. Từ ngày đó chưa bao giờ tôi lại phải ngồi bên cửa sổ, chưa bao giờ tôi phải mặc chiếc áo xanh và chưa bao giờ tôi thấy lại người đàn ông”.
    - Cứ tiếp tục đi cô giáo. - Holmes nói - Câu chuyện hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn.
    “Ngay hôm tôi tới, ông Rucastle có dẫn tôi đến một gian nhà phụ, bên cạnh nhà bếp. Khi tới gần, tôi nghe có tiếng xích sắt khua và tiếng một con vật to đang trở mình.
    - Cô hãy nhìn vào xem! Nó có đẹp không? - Ông Rucastle chỉ vào một khe hở giữa hai tấm ván. Tôi nhìn vào, thấy một cặp mắt sáng và một hình thù mơ hồ trong bóng tối.
    - Đừng sợ! - Ông chủ vừa nói vừa cười khi tôi lùi lại một bước - Đó là Carlo, con chó chăn bò. Nó chỉ tuân lệnh lão Toller. Chúng tôi chỉ cho nó ăn mỗi ngày một bữa, nên nó rất hung dữ. Ban đêm, Toller mới thả nó ra. Vô phúc cho tên lang thang nào bén mảng vào nhà tôi. Ban đêm, cô chớ có ra khỏi nhà, có thể nguy hiểm đấy.
    Hai đêm sau, vào lúc 2 giờ sáng, tôi tình cờ nhìn qua cửa sổ, trăng sáng vằng vặc, lối đi trước nhà lung linh ánh bạc. Vẻ đẹp bình yên của cảnh vật xâm chiếm tâm hồn tôi, nhưng tôi vẫn nhận biết có cái gì đó cựa quậy trong đám cây dẻ. Khi cái hình thù đó ra khỏi bóng cây, tôi thấy rõ đó là một con chó khổng lồ, to bằng một con bê, răng nanh dài, mõm đen, gầy trơ xương. Nó bằng ngang lối đi và mất hút vào bóng tối. Tôi lạnh toát cả người.
    Bây giờ tôi xin kể ông nghe một chuyện kỳ dị. Như ông biết, tôi đã cắt tóc ở London và mang những lọn tóc đó theo, kết lại thành một cuộn. Một buổi tối, lúc thằng bé đã đi ngủ, tôi xem xét đồ đạc trong phòng và sắp xếp lại quần áo. Có một cái tủ cũ, hai ngăn trên trống và không khoá, ngăn dưới cùng khóa kín. Tôi xếp quần áo vài hai ngăn trống mà vẫn còn thừa nên tôi hơi bực bội, vì không sử dụng ngăn thứ ba được. Tôi tự nhủ có lẽ người ta đã khóa tủ do lơ đãng, nên tôi lấy chùm chìa riêng mở thử.
    Cái chìa đầu tiên đã mở được ngay: trong ngăn kéo đó chỉ chứa một vật duy nhất: bộ tóc. Tôi cầm lên, quan sát. Cũng một màu hơi đặc biệt, cũng mai mại. Nhưng đột nhiên tôi biết ngay đó không phải là tóc của tôi, vì làm sao nó lại ở đây được? Tay run run, tôi mở rương và thấy bộ tóc của mình vẫn còn nguyên ở đáy rương. Tôi đặt hai bộ tóc bên nhau và thấy chúng giống hệt. Tôi suy nghĩ mãi mà vẫn không hiểu gì cả. Tôi đặt “bộ tóc lạ” vào chỗ cũ và không hé môi với ai về chuyện này. Sự thật, tôi đã có lỗi khi mở một cái ngăn kéo có khoá.
    Thưa ông Holmes, ông có thể nhận thấy rằng tôi có óc quan sát tự nhiên. Vì vậy nên chẳng bao lâu tôi đã thuộc lòng sơ đồ ngôi nhà. Có một căn phòng dường như không có người ở, ở đó có một cánh cửa đối diện với cửa phòng của vợ chồng Toller, nhưng luôn luôn khoá. Một bữa, khi lên thang gác, tôi chạm mặt ông Rucastle đang từ phòng đó đi ra, tay nắm chìa khóa và nét mặt hầm hầm; ông khóa cửa, và đi qua mặt tôi, không nói một lời, dường như không nhìn thấy tôi vậy.
    Việc đó làm tôi đâm ra tò mò, vì vậy khi dẫn thằng bé đi chơi, tôi đi về phía có thể nhìn thấy các cửa sổ của dãy phòng đó. Có bốn cửa sổ: ba cái thì đầy bụi bặm, còn cái thứ tư có cửa chớp kín. Rõ ràng là góc nhà này bị bỏ hoang. Khi tôi lang thang ở đó thì ông Rucastle đi về phía tôi: vẻ tươi cười vui vẻ đã trở lại.
    - Xin bỏ lỗi cho tôi khi đi ngang qua cô lúc nãy mà không chào cô. Lúc đó tôi bận quá.
    - Thưa ông, không có gì ạ? Nhân đây tôi có nhận xét ông có nhiều phòng bỏ trống quá, một phòng trong số đó có cả cửa chớp che kín nữa.
    - Nhiếp ảnh là một trong số những say mê của tôi. Phòng tối đặt ở đó. Nhưng, thưa cô thân mến, cô thật là inột người có mắt quan sát. Ai có thể tin được? Ai có thể tin được chứ?
    Ông ta nói bằng giọng đùa cợt, nhưng đôi mắt ông ta nhìn tôi chằm chằm không có vẻ đùa cợt tí nào: ông ta đã nghi ngờ
    Từ lúc tôi hiểu rằng cái gì đó ở trong các gian phòng kia thì tôi chỉ còn mơ tới chúng. Tôi có linh cảm rằng nếu tôi đột nhập vào nơi đó, tôi sẽ làm được một điều rất tốt, rất thiện.
    Cơ hội đến vào ngày hôm qua. Tôi phải cho ông biết là không chỉ một mình ông Rucastle có việc gì phải làm trong mấy gian phòng vắng đó, mà cả vợ chồng ông Toller cũng có đến đó. Tôi đã thấy Toller mang vào đó một túi vải đen lớn. Gần đây, ông ta uống rượu nhiều và chiều qua ông ta say mèm. Khi lên thang gác, tôi thấy chìa khóa cắm ở cánh cửa đó. Chắc chắn ông ta đã bỏ quên Tôi có một cơ hội tuyệt vời: ông và bà Rucastle đang ở dưới nhà với cậu con. Tôi nhẹ nhàng vặn khoá, mở cánh cửa và lướt thẳng tới đầu kia.
    Trước mặt tôi là một hành lang trần trụi, sàn không lót thảm mà tường cũng không dán giấy. Cuối hành lang là một góc ngoặt. Sau góc ngoặt có ba cánh cửa liên tiếp. Cửa thứ nhất và cửa thứ ba thì mở ngỏ, phòng trống, dơ bẩn và u ám. Phòng giữa có khoá: một cái nhíp xe chặn ngang cửa, một đầu móc vào một cái vòng gắn trong tường, đầu kia được buộc dây. Bản thân cánh cửa thì có khóa, nhưng không có chìa khóa trong ổ khoá. Cánh cửa được chặn kỹ đó ứng đúng với cửa sổ có cửa chớp bị bịt kín phía ngoài. Qua khe hở dưới cửa, tôi thấy là phòng có ánh sáng. Hiển nhiên là có một khung cửa kính ở trên cao để cho ánh sáng lọt vào phòng. Trong lúc tôi đang loay hoay trước cánh cửa hắc ám đó, tự hỏi bên trong căn phòng chứa đựng một bí mật gì, thì thình lình tôi nghe có tiếng bước chân trong phòng và qua khe hở dưới cửa, tôi có thể phân biệt được một cái bóng đang đi tới đi lui. Lúc đó tôi sợ quá, tôi quay lưng bỏ chạy. Tôi chạy như có một bàn tay khủng khiếp cố tóm lấy tôi. Tôi vượt qua hết hành lang, đâm bổ ra cửa và... ngã vào tay ông Rucastle.
    - Nào, nào! Thế ra là cô? - Ông vừa nói vừa cười - Khi tôi thấy cửa mở, tôi đã ngờ là cô.
    - Tôi sợ quá, tôi sợ quá! - Tôi hổn hển nói.
    - Ồ, cô thân mến! Tiểu thư thân mến! Nào, việc gì mà cô sợ hãi quá vậy?- Giọng ông ta quá mơn trớn, quá ngọt ngào khiến tôi cảnh giác.
    - Tôi dại dột đi vào cái chái vắng vẻ này. Trong đó tối và yên lặng quá, nên tôi đâm sợ. ôi, trong đó yên lặng đến rợn người?
    - Chỉ có vậy thôi ư? - Ông ta dò xét.
    - Còn thế nào nữa? Ông cho là thế nào?
    - Tại sao cô nghĩ rằng cửa này được khóa kín?
    - Tôi không biết gì chuyện cửa nẻo cả.
    - Tôi khóa cửa chỉ là để những kẻ vô can khỏi chúi mũi vào đấy. Cô hiểu không? - Ông ta vẫn tiếp tục mỉm cười một cách khả ái.
    - Nếu tôi biết thế, thì...
    - Tốt lắm. Bây giờ thì cô biết rồi. Nếu cô còn đặt chân tới sau cánh cửa này nữa, thì... - Lúc đó nụ cười của ông ta biến thành một cái nhếch mép giận dữ, và ông ta nhìn tôi từ đầu đến chân với bộ mặt của một con quỷ - Thì... tôi sẽ cho con chó ăn thịt cô đấy!
    Tôi kinh hoàng đến nỗi không nhớ tôi đã làm gì nữa. Tôi nghĩ là tôi đã chạy nhào về phòng. Tôi không còn nhớ gì hết. Nằm trên giường mà tôi run rẩy cả người. Tất cả mọi người đều làm tôi sợ hãi: ngôi nhà, ông chồng, bà vợ, hai người gia nhân và cả cậu con nữa. Hiển nhiên là tôi có thể bỏ trốn, nhưng sự tò mò cũng mạnh mẽ như sự sợ hãi vậy. Vì thế sau khi gửi cho ông một điện tín, lòng tôi rất nhẹ nhõm. Khi về tới nhà, một mối lo khủng khiếp nảy sinh, nếu họ thả con chó rồi thì sao? Nhưng tôi nhớ là Toller đang say bí tỉ, và anh ta là người duy nhất trong nhà có thể sai khiến con vật và có phận sự thả nó ra. Thế là tôi chuồn êm vào nhà và đêm qua hầu như tôi không ngủ vì quá vui mừng với ý nghĩ là ông sắp tới đây. Sáng nay họ để tôi đi Winchester mà không làm khó dễ gì; tôi chỉ phải trở về trước ba giờ, vì ông bà Rucastle sẽ vắng nhà cả buổi tôi và tôi phải trông nom cậu con”.
    Holmes và tôi bị câu chuyện lạ lùng thu hết tâm trí. Khi cô Hunter kết thúc câu chuyện, bạn tôi đứng dậy, thọc tay vào túi áo, đi tới đi lui khắp phòng, nét mặt rất trầm trọng.
    - Gã Toller vẫn còn say chứ?
    - Vâng. Tôi nghe vợ ông ta phàn nàn với bà Rucastle là chẳng hỏi han gì ông ta được cả.
    - Tối nay ông bà sẽ ra khỏi nhà?
    - Vâng.
    - Nhà có hầm và có khóa?
    - Vâng, có hầm rượu.
    - Cô đã hành động như một cô gái can đảm và nhạy cảm. Cô có nghĩ là cô có thể làm thêm một việc nữa không?
    - Tôi sẽ cố. Tôi phải làm gì?
    - Tôi và bạn tôi đây sẽ tới điền trang “Những cây dẻ đỏ” lúc bảy giờ tối. Lúc đó vợ chồng ông Rucastle đã ra khỏi nhà và lão Toller thì vô dụng, tôi hy vọng thế. Chỉ còn bà Toller có khả năng báo động. Nếu cô dụ được bà ta xuống hầm rượu và nhốt bà ta dưới đó, thì công việc của chúng ta dễ dàng đi rất nhiều!
    - Tôi sẽ làm được.
    - Hoan hô! Trong trường hợp này, chúng ta sẽ giải quyết vấn đề tận gốc. Chắc chắn chí có một lời giải thích cho trường hợp của cô: Cô được đưa tới “Những cây dẻ đỏ” để thay thế cho một người. Cô giống người đó và người đó đang bị giam cầm. Người bị giam trong phòng kia chắc chắn là tiểu thư Alice. Tóc cô ấy cắt ngắn, và bộ tóc trong ngăn kéo thứ ba là tóc của Alice. Người đàn ông trên đường có thể là một người bạn, có thể là hôn phu của Alice. Cô mặc chiếc áo xanh của Alice, tóc cũng giống như Aliee và có cử chỉ xua đuổi anh ta, nên anh chàng kia tin rằng Alice không còn yêu anh ta nữa. Đêm đêm, con chó chăn bò được thả ra là để ngăn mọi cuộc tiếp xúc với cô gái. Mọi chi tiết hoàn toàn sáng tỏ. Điểm quan trọng trong câu chuyện này là thái độ của cậu con trai.
    - Chuyện đó có gì đáng chú ý? - Tôi hỏi.
    - Anh Watson, nếu người ta có thể nghiên cứu cha mẹ để đoán ra các khuynh hướng của một đứa bé, thì người ta cũng có thể nghiên cứu đứa bé mà “hiểu được” cha mẹ nó. Những khuynh hướng độc ác của thằng bé này, có thể đã được kế thừa từ người cha “thơn thớt nói cười” của nó, hoặc từ mẹ nó. Chính vì thế mà ta có thể tiên liệu rằng cô gái đáng thương đang bị giam cầm có thể phải chịu nhiều khổ sở.
    - Tôi chắn chắn rằng ông nói đúng, ông Holmes - Cô giáo kêu lên - Bây giờ tôi mới nhớ lại nhiều sự kiện chứng tỏ ông đã lần tới được điểm mấu chốt. Mau lên, đừng mất thì giờ nữa. Chúng ta phải cứu cô gái đó!
    * * * * *
    Bảy giờ chúng tôi có mặt ở đám cây dẻ đỏ. Cô giáo tươi cười tiếp đón chúng tôi.
    - Cô đã thu xếp được chưa? - Holmes hỏi. Một tiếng động trầm trầm, mơ hồ phát ra từ dưới lòng đất.
    - Các ông vừa nghe bà Toller cử động dưới hầm rượu đó. Còn chồng bà ta thì đang ngáy ầm ĩ trong nhà bếp. Chìa khóa đây.
    - Tuyệt vời! - Holmes phấn khởi nói - Cô dẫn đường.
    Chúng tôi lên cầu thang, mở cánh cửa cấm, đi theo một hành lang và tới trước căn phòng mà cô giáo đã mô tả. Holmes cắt dây và gạt thanh sắt chặn sang một bên. Lấy chìa khóa thử mở cửa, nhưng không mở được.
    Bên trong không có một tiếng động. Sự im lặng đó làm mặt Holmes tối sầm lại. Anh nói :
    - Chúng ta tới quá trễ! Cô đừng vào, Watson, anh kê vai phụ đẩy cánh cửa với tôi.
    Cánh cửa đã bị mọt ăn nên chúng tôi phá ra dễ dàng. Chúng tôi cùng lao vào phòng. Phòng trống trơn. Khung cửa kính trên cao mở rộng: người nữ tù đã đi rồi.
    - Đáng giận thật! Tên tinh ma ấy đã đoán được ý định của cô Hunter nên đã dời tù nhân đi chỗ khác - Holmes nói.
    - Nhưng bằng cách nào?
    - Qua khung cửa kính. Ta sẽ qua đó xem.
    Holmes đu mình lên mái nhà, nhanh như một con sóc.
    - Đây rồi - Anh la lên - Có một cái thang dài đưa xuống hầm rượu. Tôi hiểu ra rồi.
    - Không thể thế được? - Cô giáo nói - Lúc ông bà ấy ra đi thì không có cái thang ở đó.
    - Vậy thì ông ta đã trở lại và ông ta đã dựng cái thang. Tôi đã nói rằng ông ta là một người nguy hiểm mà! Anh Watson, anh lên đạn khẩu súng đi, ông ta đang tới kìa.
    Holmes vừa dứt lời thì một người đàn ông xuất hiện ở cửa: một người to mập, có vẻ rất khỏe mạnh, tay cầm một cây gậy bự. Khi trông thấy ông ta, cô Hunter rú lên, nhưng Holmes đã nhảy tới, đối mặt với ông ta.
    - Này, tên cướp. Con gái của anh đâu?
    Con người to bự kia nhìn quanh mình, rồi nhìn lên khung cửa kính. ông ta thét :
    - Chính ta mới có quyền hỏi các người. Quân trộm cướp! Quân gián điệp và trộm cướp! Ta bắt được chúng bay rồi. Chúng bay đang ở trong tay ra! Được lắm, ta sẽ lo cho chúng bay.
    Ông ta tháo lui và chạy xuống thang.
    - Ông ta đem chó đến! - Cô giáo rên rỉ.
    - Tôi có súng. - Tôi nói, để trấn an cô.
    - Đóng cửa lại! - Holmes la lên.
    Chúng tôi chạy xuống thang. Vừa tới cửa thì nghe có tiếng chó sủa, rồi có tiếng gào khủng khiếp và tiếng vật lộn ầm ầm. Một người đứng tuổi, gương mặt đỏ gay và tay chân run rẩy đang lảo đảo tiến ra từ một cửa hàng.
    - Trời ơi! Ai đã thả con chó ra rồi? - Ông ta kêu thét lên - Đã hai ngày nay nó chưa ăn. Mau lên, mau lên kẻo trễ mất.
    Holmes và tôi lao ra ngoài và chạy vòng ngôi nhà. Toller chạy theo sau. Cái mõm đen ngòm của con vật đang cắn vào cổ họng của ông Rucastle. Tôi nhảy tới bắn vỡ sọ con vật. Chúng tôi phải khó nhọc lắm mới gỡ người chủ nhà ra khỏi hàm răng của con chó và mang ông ta vào nhà, đặt lên trường kỷ. Toller giờ đã tỉnh rượu. Tôi bảo Toller thả vợ anh ta ra, và săn sóc cho ông Rucastle. Bỗng nhiên cánh cửa bật mở: một người đàn bà dữ tợn đi vào.
    - Bà Toller! - Cô giáo la lên.
    - Phải. Ông Rucastle đã thả tôi ra khi ông ấy vừa quay về nhà. Thật là đáng tiếc, thưa cô Hunter, cô đã mất thì giờ vô ích!
    - Tôi thấy dường như bà Toller biết rõ câu chuyện hơn bất cứ ai ở đây - Holmes nói.
    - Phải, tôi biết rõ và tôi sẵn sàng nói ra tất cả.
    - Vậy, mời bà ngồi đây và nói đi. Còn vài điểm tôi chưa chắc lắm.
    - “Có lẽ tôi đã kể cho các ông nghe sớm hơn nếu tôi không bị kẹt ở hầm rượu. Khi vụ này ra trước pháp luật xin các ông nhớ cho rằng tôi là người duy nhất đứng về phía các ông và tôi cũng là bạn của cô Alice.
    Chưa bao giờ cô Alice được sung sướng ở trong căn nhà này. Nhất là từ khi cha cô tái giá. Người ta khinh rẻ cô, cô không có quyền có ý kiến. Nhưng mọi chuyện hỏng cả khi cô gặp gỡ ông Fowler ở nhà bạn bè. Theo chỗ tôi biết, cô Alice có một phần tài sản thừa kế do mẹ cô để lại, nhưng cô giao quyền lợi của mình cho người cha. Người cha biết rằng ông ta không gặp khó khăn gì với cô con gái. Nhưng nếu cô lấy chồng và nếu người chồng đòi hỏi những quyền lợi hợp pháp của mình, thì ông bố sẽ sạt nghiệp. Vì vậy ông ấy ép cô gái ký một văn tự nhượng mọi quyền lợi cho cha, dù cô có lấy chồng hay không. Khi cô ấy từ chối, ông quát mắng một trận đến nỗi cô gái uất ức và ngã bệnh suýt chết. Rồi cô bình phục, từ đó cô như một cái bóng, và người ta đã cắt tóc cô. Nhưng tất cả những chuyện đó không làm thay đổi tình cảm của chàng trai”.
    - Cảm ơn bà có lòng tốt cho biết nội vụ một cách rành mạch - Holmes nói - Tôi có thể suy ra phần sau của câu chuyện: Sau đó người cha quyết định giam cô gái vào một chỗ kín đáo, phải không?
    - Thưa ông, đúng vậy.
    - Và ông ta đưa cô Hunter từ London về đây để tìm cách tống khứ anh chàng cứng cổ Fowler phải không?
    - Thưa ông, đúng vậy.
    - Nhưng cái gã si tình tài giỏi ấy đã bao vây nhà này, anh ta có gặp bà, đã thuyết phục bà, dùng lời lẽ cảm động hoặc đe doạ, cuối cùng đã làm cho bà thấy được là quyền lợi của anh ta cũng có nghĩa là quyền lợi của bà.
    - Ông Fowler là một người rất lễ độ, rộng lượng - Bà Toller thản nhiên xác nhận.
    - Và anh ta sắp đặt để cho bà thực hiện: làm sao cho ông Toller luôn luôn say mèm, làm sao cho có được một cái thang vào lúc ông bà chủ vắng nhà, có phải không?
    - Chính xác như vậy.
    - Xin cảm ơn bà. Bà đã làm sáng tỏ mọi chuyện. Kìa bà Rucastle đã về, cùng với một ông y sĩ. Hãy để cho họ săn sóc ông Rucastle, còn chúng ta đưa cô Hunter trở lại London.
    Vậy là câu chuyện bí ẩn về “Những cây dẻ đỏ” kết thúc. Ông Rucastle vẫn còn sống, nhưng ông ta chỉ còn là một cái bóng vật vờ, phải nương tựa vào bà vợ. Họ vẫn giữ những gia nhân cũ tại nhà. Ông Fowler và Alice đã lấy nhau và sang lập nghiệp ở đảo Mauritius. Cô Hunter thì điều khiển một trường tư thục ở Walsall và tôi tin rằng cô sẽ thành công.
    [1] Nguyên văn: The Copper Beeches
    HẾT
  3. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Kẻ dị dạng
    Mt bui ti, tôi ng gà ng gt trên mt cun tiu thuyết. Nhà tôi đã lên trên lu. Tiếng then cài cánh ca ra vào báo cho tôi biết là nhng người giúp vic đã lui v. Tôi còn ch thêm chút na ri mi đng lên khi ghế. Đúng vào lúc đó, tiếng chuông vang lên.
    Tôi nhìn đng h: 11 gi 45. Mun thế này thì ch có th là khách, mt ca bnh s làm tôi phi thc thâu đêm. Hơi cáu knh, tôi ra phòng ngoài d m ca: Sherlock Holmes.
    - A Watson! - Anh reo lên. - Tôi đến thăm quá mun.
    - Có gì đâu. Vào đi ch!
    - Anh t v ngc nhiên... Anh có th cho tôi ng nh đêm nay không?
    - Sn sàng. Anh ăn ti?
    - Không, xin cm ơn, tôi đã dùng ri, ga Waterrloo.
    Tôi đưa cái túi đng thuc cho anh. Anh im lng hút. Tôi biết rõ là ch có mt v quan trng mi có th đưa anh ti đây vào mt gi mun như vy. Vy là tôi kiên nhn ch anh vào chuyn.
    - Ngày mai anh ti Aldershot được không?
    - Tôi nh mt bác s bn thay tôi chăm sóc các bnh nhân.
    - Tt lm! Tôi mun đáp chuyến tàu 11 gi 10 ga Waterloo.
    - Rt thun tin cho tôi.
    - Vy thì, nếu anh chưa bun ng, tôi xin tóm tt nhng s vic và nhng gì cn làm.
    - Trước khi anh ti, tôi đã ng gà ng gt nhưng bây gi thì hoàn toàn tnh táo.
    - Đó là v ám sát đi tá Barkerclay thuc sư đoàn Royal Munsters Aldershot. S vic xy ra cách đây hai ngày.
    "Royal Munsters là mt trong nhng trung đoàn Ailen ni tiếng trong quân đi Anh. Ti th hai va qua, trung đoàn đt dưới quyn ch huy ca đi tá James Barkerclay, mt lính già can đm đã được lên lon nh vào lòng dũng cm. Barkerclay ly v khi ông còn là trung sĩ. Ông kết hôn vi cô Nancy Devoy, con gái thượng sĩ Devoy trong cùng đơn v. V chng Barkerclay đã thích nghi mau chóng vi đa v mi ca h. Bà v sng ăn ý vi các bà v sĩ quan cũng như chng bà đi vi các bn đng đi. Tôi xin thêm bà là mt ph n rt đp và cho mãi đến bây gi, sau ba chc năm lp gia đình, s xut hin ca bà còn gây n tượng mnh.
    "Thot nhìn, cp v chng này đã được hưởng mt hnh phúc hin hòa. Tôi đã đến hi ông thiếu tá Murphy, thì ông này đoán chc vi tôi là ông chng bao gi thy có s bt hòa trong gia đình đó. Tôi hi ông cn k hơn. Thiếu tá nói rng s gn bó ca ông Barkerclay đi vi v thì ln mnh hơn là s gn bó ca bà Barkerclay đi vi chng. Nếu phi xa v trong mt ngày, ông rt bun phin; nhưng bà v thì không chng t mt s mãnh lit đến thế. Du sao, trong trung đoàn, h vn được coi như là mt cp v chng lý tưởng.
    "Dường như là đi tá Barkerclay có mt tính khí khác thường. Bình thường, ông là mt quân nhân già, vui tính, hăng hái. Nhưng đôi khi ông cũng hung bo và thù hn. Tuy vy, bà v không bao gi chu đng nhng tt xu đó. Có mt điu khác là: theo đnh kỳ, mt tâm trng gì đó như trm ut li giáng xung ông. Viên thiếu tá mà tôi hi chuyn đã ghi nhn điu đó và h đã ly làm ngc nhiên. Nói theo ông thiếu tá thì n cười biến mt trên mt ông Barkerclay ta h như có mt bàn tay vô hình đã xua đui nó. Và các hin tượng đó xy ra trong nhng bui hp mt xã giao cũng như ti bàn ăn ca sĩ quan đơn v. Có khi trong nhiu ngày liên tc, ông như b giày vò bi sưu su đen ti nht.
    "Tiu đoàn 1 (trước là tiu đoàn 117) trung đoàn Royal Munsters h tri ti Andershot t vài năm qua. Các sĩ quan lp gia đình thì ng ngoài doanh tri. Ông đi tá đã chn bit th Lachine, cách tri bc chưa ti na dm, nhưng mt nhà phía tây cách đường cái 30 yard. Gia nhân gm có bác xà ích và hai người hu gái. V chng Barkerclay không con, rt ít khi tiếp khách trong nhà. Tóm li, có năm người sng trong bit th đó.
    "Bà Barkerclay là mt tín đ Thiên Chúa Giáo. Bà rt bn rn vi Hi Thánh Georges và hết lòng vi vic lo cp qun áo cho nhng người nghèo trong vùng. Ti hôm đó, mt bui hp được khai mc vào lúc 8 gi. Bà vi vàng ăn ba ti đ kp đi hp. Khi ri khi nhà, bà báo cho chng biết là bà s không vng mt lâu. Theo li chúng ca người xà ích, bà đón mt cô láng ging còn tr Morrison, ri c hai cùng đi. Bui hp kéo dài bn mươi phút. Ti chín gi mười lăm phút, bà cho ngng xe đ cô gái xung trước ca và v nhà cô.
    "Ngôi bit th ca đi tá có mt căn phòng được dùng làm phòng khách nh, có ca hướng ra ngoài đường. T bên ngoài, mun vào phòng đó phi băng qua mt bãi c tròn, đường kính ba mươi mét. Nó được ngăn cách vi con đường băng mt bc tường thp, phía trên có gn lưới st, bà đi tá đã vào nhà qua ng đó. Bà thp đèn và gi chuông ri sai cô hu phòng đem ti mt tách trà: đó là điu trái ngược vi nhng thói quen ca bà. Ông đi tá li trong phòng ăn; biết v mình đã v nhà, ông đi sang phòng khách nh đ gp bà. Bác xà ích trông thy ông đi ngang qua gian tin snh ri vào trong đó.
    "Mười phút sau khi được lnh, cô hu phòng đem trà lên cho bà ch, cô ngc nhiên nghe ông ch và bà ch cãi nhau kch lit. Cô gõ ca, không có tiếng tr li. Cô mun m ca nhưng cánh ca đã b khóa t bên trong. Cô hi h chy xung bếp, báo đng vi bà bếp. Thế ri hai người đàn bà cùng bác đánh xe vào trong gian tin snh, gióng tai lên mà nghe cuc cãi ln. C ba người đu nht trí rng h ch nghe thy có hai ging nói: ging ca ông đi tá và ca bà v. Nhng câu ca ông Barkerclay thì thô bo, nói vi ging tht thanh, khiến người nghe không hiu được. Còn nhng câu nói ca bà Barkerclay thì li còn ác lit hơn na. Ba người giúp vic nghe rõ ràng: "Anh là mt thng hèn!" Bà không ngt lp đi lp li câu đó. Và bà còn nói: “Biết làm sao bây gi? Hãy tr li cho tôi được t do! Không bao gi ta còn có th th chung mt bu không khí vi mi! Đ hèn!“ Bt cht người đàn ông hét lên mt tiếng khng khiếp ri tiếp đó là tiếng đ ngã, tiếng thét xé tai ca bà ch. Bác đánh xe lao mình vào cánh ca, c sc bt nó ra. Bên trong nhng tiếng thét ni tiếp nhau. Người đánh xe không phá được cánh ca và hai người t gái li quá lo s nên chng giúp được gì. Mt ý kiến cht lóe lên trong trí bác. Bác b ra ngoài, đi vòng ngôi nhà, ngang qua bãi c trên đó có m ra cánh ca s sát đt. Ca m rng, bác vào trong phòng khách nh. Bà ch đã ngưng kêu gào. Bà nm im trên đi-văng; ông đi tá thì hai chân vt ngang trên cái tay da ca ghế bành, đu gc xung đt; ông chết trong mt vũng máu.
    "Người đánh xe đnh m ca ra. Nhưng chìa khóa không có trong khóa và cũng không thy đ đâu trong căn phòng. Vy là bác li nhy qua ca s sát đt, đi mi mt cnh sát và mt y sĩ, ri tr li. Bà Barkerclay được chuyn sáng phòng riêng ca bà, vn còn hôn mê. Thi hài ông đi tá được đt nm dài trên ghế trường k. Và người ta tiến hành cuc điu tra.
    "Vết thương trên người nn nhân là mt vết đt dài 2 inch phía sau đu, được gây ra bi mt loi hung khí có mũi nhn. Trên sàn nhà, gn bên xác chết, người ta tìm thy mt th như cây gy ngn bng g rn, có mt cái cán bng xương: Ông đi tá có mt b sưu tp ln nhng khí gii mà ông đã đem v t nhiu Quc gia khác nhau, ti nhng nơi mà ông đã tham chiến. Cnh sát cho rng cây gy đó là mt trong nhng vũ khí sưu tp ca ông. Nhưng các gia nhân thì nói là trước đó, h chưa tng trông thy nó. Cnh sát không khám phá ra được điu gì khác. Và đây là vic quái l mà chưa ai có th gii thích được: trên người bà Barkerclay, trên người nn nhân, cũng như bt c ch nào trong phòng khách nh, người ta không th tìm thy cái chìa khóa. Cn phi gi mt người th khóa t Aldershot ti đ m cánh ca ra. Trường tình hình bế tc như vy, thiếu tá Murphy mi tôi xung Aldershot đ ph giúp cnh sát.
    "Trước khi quan sát căn phòng, tôi thm vn nhiu gia nhân, nhưng không thu được gì hơn là nhng điu mà tôi va trình bày vi anh. Tuy nhiên, cô hu phòng có cung cp cho tôi mt chi tiết đáng chú ý: s là khi nghe tiếng cãi c, cô ta xung bếp và đi lên cùng vi hai người đy t khác. Nhưng cô nói rng lúc đu, khi ch có mình cô, nhng ging nói ca ông bà ch b nght đến mc cô gn như chng th nào hiu được điu gì và rng chính là do nhng ng điu nhiu hơn là nhng tiếng nói mà cô hiu ra rng hai người đang cãi nhau. Tôi dn dp đt nhiu câu hi. Sau chót cô nh rng có hai ln cô đã nghe thy bà ch tht lên cái tên "David". Đim đó có tm quan trng cao đ soi sáng cho chúng ta v nhng nguyên c gây ra cãi vã.
    "Mt điu gây ra cm tưởng sâu đm cho mi người là: nhng nét nhăn nhó ca ông đi tá. Theo li chúng ca h, v mt ông có mt nét biu l s khiếp s và s kinh hoàng chưa tng thy. Rõ ràng là ông biết mình sp chết và rng s trông thy cái chết đã làm cho ông kinh hoàng. Điu đó, phù hp vi lý thuyết ca cnh sát: ông đi tá hn đã thy v mình chun b giết mình. Và cái vic cú đánh đã được giáng xung t đng sau cũng không mu thun vi lý thuyết đó, bi vì ông đi tá rt có th quay mình đ né tránh cú đánh. V phía bà Barkerclay, người ta không có mt tin tc nào c. Bà b mt cơn cp phát st thuc não và tm thi b mt lý trí.
    "Cnh sát đã cho biết là cô Morrison (người đã cùng đi vi bà Barkerclay vào bui ti hom đó), qu quyết là cô không biết chút gì v nguyên c đã gây ra cơn tc gin ca bn mình. Anh Watson, khi tp hp nhng d kin đó, tôi đã chú ý đến vic mt cái chìa khóa. Căn phòng đó đã được lc soát hết sc k lưỡng mà ch ung công. Do đó cái chìa khóa đã b ly. Nhưng c ông đi tá ln bà v đu không ly. Vy thì mt người th ba hn đã vào trong phòng và cái người th ba đó đã ch có th vào được qua ng ca s sát đt. Ngay tc khc tôi đã tin rng mt cuc quan sát k căn phòng khách nh và bãi c có th phát hin ra mt du vết nào đó ca nhân vt bí mt kia. Tôi không b sót mt du vết nào. Và sau chót tôi đã tìm ra nhiu du vết. Đã có mt người trong căn phòng khách nh. Người đó đã đi qua bãi c t ngoài đường vào. Tôi phát hin 5 du chân rt rõ: mt trên đường, nơi mà người đó đã leo lên đường, hai trênbãi c, và hai trên ván sàn gn khuôn ca s mà qua đó người l đã vào trong phòng. Chc chn là người đó đã chy băng qua bãi c, bi vì du nhng ngón chân thì sâu hơn du nhng gót chân. Nhưng không phi người đó đã làm cho tôi ngc nhiên đến bi ri. Chính là cái đi kèm vi người đó."
    - Cái đi kèm?
    Holmes rút t túi áo ra mt t giy la ln và m ra mt cách thn trng trên đu gi anh.
    - Anh nghĩ sao v cái này?
    T giy ph đy nhng tranh v phng sao li nhng du chân mt con vt nh. Có năm ngón chân, có móng dài. Mi du ln bng mt cái mung dùng đ ăn món tráng ming.
    - Đây là mt con chó. - Tôi nói.
    - Con chó làm sao leo lên được nhng tm ri-đô? Tôi đã phát hin ra nhng du vết này trên mt tm ri-đô.
    - Thế thì mt con kh?
    - Không phi.
    - Thế thì là cái gì?
    - Đây không là con chó, không là con mèo, cũng chng là con kh, cũng chng là con vt nào mà ta biết. Tôi đã th hình dung ra con vt đó theo các kích thước ca du chân nó. Đây là bn du chân mt nơi mà con vt đng bt đng. Gia chân trước và chân sau cách nhau vào khong gn 15 inch. Anh hãy thêm vào đó chiu dài ca cái c và ca cái đu thì anh s có mt con vt mà chiu dài thân mình chưa ti 2 feet, và nó có th còn ngn hơn thế na, hoc dài hơn nếu nó có mt cái đuôi. Nhưng khi con vt di chuyn, ta có chiu dài ca bước chân nó. Du bước chân là 3 inch. Vy là con vt này có cái thân mình dài vi nhng chân rt ngn. Tóm li, đó là mt thú leo được lên tm riđô và là con thú ăn tht.
    - Làm sao mà anh suy din ra được điu đó?
    - Bi vì khuôn ca s có treo mt lng chim hoàng yến. Dường như mc tiêu ca nó khi leo lên ri-đô là đ bt con chim.
    - Thế thì con vt đó là gì?
    - Đó là mt loi chn ht d, mõm nhn, ln hơn nhng con chn mà tôi đã tng thy.
    - Nhưng nó dính dáng gì đến ti ác?
    - Điu đó cũng li ti tăm. Nhưng chúng ta biết là có mt người đng trên đường và rình mò cuc cãi vã ca hai v chng, bi vì nhng mành sáo còn chưa buông xung và ngn đèn còn được thp sáng. Chúng ta cũng còn biết là người đó dã chy băng ngang bãi c, đã vào trong phòng khách nh, có đem theo mt con thú bí mt, và y đã đánh ông đi tá (nếu không, thì va lúc trông thy y, ông đi tá đã té bt nga xung thanh gác ci và b tét đu). Sau chót y b đi vi chiếc chìa khóa ca.
    - Nhng khám phá ca anh làm cho ni v ti tăm hơn, thay vì làm cho nó được sáng t!
    - Anh có lý! Nhưng tôi đã làm cho anh thc quá khuya! Vy ngày mai, trên đường đi Aldershot, tôi s k tiếp.
    - Cm ơn! Anh c k tiếp.
    - Khi ra khi nhà vào hi by gi rưỡi, bà Barkerclay không gin hn gì chng; người đánh xe đã nghe bà nói chuyên vi ông đi tá theo li thân tình. Mt khác, ngay sau khi v nhà, bà đã vào trong căn phòng và kêu người hu pha trà; bt c người ph n nào b bn chn cũng đu làm như vy, và ngay sau khi ông đi tá hin ra là bùng n. Thế mà cô Morrison đã không ri khi bà trong sut khong thi gian đó, cho nên mc dù cô ta có chi cãi, nhưng chc chn cô có biết mt cái gì đó.
    "Ý nghĩ đu tiên ca tôi là có s dan díu gia cô Morrison và ông lính già, và cô này hn đã ít nhiu th l vi người v. Điu đó gii thích rõ v cơn tc gin khi tr v nhà cũng như nhng li chi b ca cô gái trong cuc. Và điu đó cũng không mâu thun lm vi nhng t mà 3 người giúp vic nghe được. Nhưng li có mt người tên là David, li có s trìu mến ca ông đi tá đi vi v, và sau chót còn có s ln vào ca mt người đàn ông khác. Tht khó mà chn ra đường đ tiến hành điu tra. Dù sao đi na, tôi không thiên v vic cô Morrison có "tình ý" vi ông đi tá, nhưng tôi li vng tin rng chính cô y là người biết rõ s bí mt vì sao bà Barkerclay thình lình thay đi tính khí. Vy là tôi tìm ti nhà cô Morrison, gii thích rng tôi tin chc là cô biết rõ nhng s vic, và tôi đã báo cho cô biết là bà Barkerclay s b đt vào ghế ca b cáo v ti ám sát chng, nếu ni v được làm sáng t.
    Morrison là mt cô gái bé nh, thanh khiết, có cp mt e l và mái tóc vàng hoe. Sau khi nghe chuyn, cô ngi suy tư trong mt lúc, ri quay sang phía tôi và vi dáng vè ca người đã có mt quyết đnh dt khoát:
    - Tôi đã ha vi bn tôi rng tôi s không nói ra bt c điu gì. Nhưng nay bà y lâm trng bnh và đang trên b ca s tù ti, vy thì tôi không th làm thinh. Thưa ông, ti th hai đó chúng tôi t Hi quán tr v. Lúc y vào khong 9 gi kém 15. Khi băng ngang qua đường Hudson - mt con đường rt ln và rt yên tĩnh- tôi thy mt người đàn ông tiến li phía chúng tôi: lưng rt còng và đeo mt cái hp chéo qua vai, đu cúi thp và bước đi vi hai đu gi co gp li. Ông ta ngước mt lên đúng vào lúc chúng tôi bước vào trong cái vòng ánh sáng ca ngn đèn đường. Ngay tc khc, ông ta đng li và kêu lên bng mt ging khng khiếp:" Ly Chúa tôi, đây đúng là Nancy!" Bà Barkerclay bng tái mét. Bà hn đã sp xung nếu con quái vt đó không đ ly bà. Tôi trc kêu c, nhưng bà li du dàng nói vi người đàn ông.
    - Henry, em c tin rng anh đã chết t 30 năm qua.
    - Tôi đã tng b chết! - người kia tr li.
    Tht là kinh khng khi nghe cái ng điu trong tiếng nói ca ông ta. Ông có mt b mt rám nng, đáng lo ngi, vi mt ánh chói trong tia mt. Tóc, râu má đã lm tm nhng si xám. Nhng nếp nhăn, nhng vết nhăn hn trên mt ông.
    - Hãy đi tiếp mt quãng, em gái! - Bà Barkerclay bo tôi. - Ch mun nói chuyn vi ông đây. Không có gì phi lo s c.
    Bà nói vi v qu quyết, nhưng bà vn còn tái xanh. Tôi đi trước mt quãng đ cho hai người t do nói chuyn trong vài phút. Sau đó bà đi xung ph. Cp mt bà long lanh. Tôi thy người dàn ông khn kh đng li bên ngn đèn đường và vung nm đm lên không khí, ta h như ông ta b điên vì tc gin. Bà không nói mt li nào cho ti khi chúng tôi v đến ca nhà tôi. Lúc đó bà mi nm ly bàn tay tôi, yêu cu tôi đng nói gì vi bt c ai v cuc gp g này.
    - Đó là mt người quen cũ ca ch, nay li hin ra.
    Tôi ha, bà hôm hôn tôi. Gi đây vì li ích ca bà, tt c chuyn đó phi được biết đến."
    "Anh Watson, nhng li khai ca Morrison như là ánh sáng trong đêm. Tt c nhng gì trước đây không li ích liên lc vi nhau thì nay li ràng buc nhau trong mt trt t bình thường. Tôi ch còn vic tìm gp cái người d dng đó. Nếu anh ta còn Aldershot thì vic đó s d dàng. Ban ngày tôi dò hi và bui ti hôm đó, tôi đã biết đa ch. Đó là Henry Wood tr trong cùng mt đường ph và bà Barkerclay đã gp ông ta. Ông ta ch mi ti đó có năm ngày. Tôi đến gp bà ch nhà tr và t xưng là nhân viên mi đến thu nhng phiếu thuc cnh sát và bà ta đã bép xép: "Cái ông Henry Wood là nhà o thut và ngh sĩ din rong. Ông ta đi din quanh các tri lính và các quán cà phê bui chiu". Trong cái hp, có mt con vt đã làm cho bà ch nhà tr phi nhiu phen s b vía: đó là con thú mà ông đem ra trình din. Bà y còn cho biết đôi lúc ông nói mt th tiếng l hoc và hai đêm va qua ông ta c rên r và khóc lóc trong phòng. V tin bc, ông sòng phng, nhưng du sao trong s tin ng trước thì ông đã tr cho bà mt đng florin gi. Bà đưa cho tôi xem; đó là mt đng rupi n Đ.
    “Gi đây, tht hoàn toàn sáng t rng: hai người đàn bà chia tay nhau, người d dng đã đi theo h trong khong cách xa, ông ta chng kiến cnh cãi c gia hai v chng, ông ta vi vã chy vào trong phòng khách nh và con thú mà ông ta mang theo đã trn ra khi hp. Nhưng ông ta là người duy nht có th cho chúng ta biết nhng gì đã xy ra."
    - Và anh có ý đnh hi ông ta?
    - Tt nhiên! Nhưng hi trước mt mt người chng.
    - Người chng s là tôi?
    - Phi, điu đó làm sáng t vn đ. Nhưng nếu ông ta t chi, chúng ta buc lòng đưa ni v cho cnh sát.
    - Liu ông ta còn đó không?
    - Mt trong nhng chú nhóc ca tôi đã lng vng trước nhà tr và nếu ông ta b đi thì chú bé s bám sát ông ta như mt con đa. Ngày mai chúng ta s gp li chú bé. Nhưng trong lúc ch đi, chính tôi là k gây ra ti ác nếu tôi còn bt anh thc lâu hơn na.
    Chúng tôi ti nơi xy ra tm thm trng vào hi gia trưa ri ti đường Hudson ngay lp tc.
    - Đây là đường Hudson. A! Kìa, chú nh ti báo cáo.
    - Ông ta vn còn đó, thưa ông! - Mt cu bé va chy ti va kêu lên vi chúng tôi.
    - Tt! - Holmes nói khi vut ve má chú bé. - Li đây, Watson. Chúng ta ti nơi ri.
    Holmes đưa vào tm thiếp trên đó ch vài li ng ý mun được gp ông Henry Wood v mt vic quan trng. Ngay sau đó chúng tôi được mi vào nhà. Mc dù đang mùa nóng nc, ông ta vn thu mình bên ngn la và căn phòng đúng là mt cái lò. Henry Wood hoàn toàn d hình và co rúm trên mt cái ghế da. Nhưng khuôn mt ông hướng v chúng tôi, thu trước hn là rt đin trai. Ông nhìn chúng tôi vi v nghi hoc. Không nói mà cũng chng đng lên, ông ch cho chúng tôi hai cái ghế da.
    - Ông t bên n Đ v, tôi nghĩ thế? - Holmes hi vi mt ging nhã nhn. - Tôi ti v cái v nho nh mà ông đã biết: cái chết ca đi tá Barkerclay.
    - V đó thì can h gì ti tôi?
    - Tôi cũng mong mun s vic như thế. Bi vì nếu ni v không được làm sáng t thì bà Barkerclay - vn là mt người bn cũ ca ông - s b gán cho ti giết người.
    Người đó git ny mình, kêu lên:
    - Tôi không biết ông là ai, cũng chng hiu vì sao ông li biết được điu đó.
    - Người ta ch còn ch đi bà tnh li đ bt giam bà.
    - Ly Chúa! Ông là cnh sát h?
    - Không.
    - Thế thì sao ông li can thip vô?
    - Tôi can thip là đ cho công lý được th hin.
    - Ông có th tin nơi tôi, bà y vô ti.
    - Thế thì chính ông là phm ti.
    - Không. Tôi không gây ra ti ác.
    - Vy, ai giết đi tá James Barkerclay?
    - Chúa giết ông ta. Nhưng ông hãy nh ly điu này: nếu như tôi có đp v óc y ra thì cũng rt đáng vi cái ti ca y. Ông mun tôi khai à? Được, tôi chng có gì phi h thn c. Đây, hin gi trên lưng tôi có mt cái bướu lc đà và nhng xương sườn xiêu vo. Nhưng đã có mt thi, h sĩ Henry Wood này là người đp trai nht trong tiu đoàn b binh 117. Thu đó, chúng tôi bên n Đ, ti vùng Bhurtee. Barkerclay là trung sĩ trong cùng mt đi đi vi tôi. Còn người đp ca trung đoàn... đúng thế! Là Nancy Devoy; thân ph cô là thượng sĩ trưởng đi. Hai chàng trai cùng yêu cô và ch có mt được cô yêu thương: Tôi. Tôi đã chiếm được trái tim cô, nhưng cha cô li ưa Barkerclay hơn. Tôi là mt người mo him, mt tay phiêu lưu, còn Barkerclay là người có hc và người ta đã d đoán trước là anh s thành sĩ quan. Nhưng Nancy li tha thiết yêu tôi và tôi tin là tôi s ly được nàng. Than ôi, cuc ni lon ca lính bn x Cipayes bùng n và khp x ngp chìm trong máu la!
    "Toàn th trung đoàn, thêm phân na đi pháo binh, mt đi đi lính người Sikhs và nhiu người thường dân cùng đàn bà, tr con b bao vây trong min Bhurtee. Ti tun th hai thì nước bt đu khan hiếm. Cn phi liên lc vi binh đoàn ca tướng Neill đang ngược lên x đó. Đó là cơ may duy nht. Tôi t ý tình nguyn ln ra khi vòng vây và báo cho tướng Neill biết v tình trng nguy ngp ca chúng tôi. Đ ngh ca tôi được chp thun. Tôi bàn bc vi trung sĩ Barkerclay, là người biết rõ thc đa hơn bt c ai. Ông ta đã v cho tôi mt bn đ đ ra khi vòng vây. Ti 10 gi ti tôi lên đường. Có c ngàn sinh mng cn được cu sng, nhưng tht tâm tôi ch nghĩ đến có mt người: Nàng.
    "Con đường men theo mt dòng nước cn: tôi hy vng là đi như thế s thoát được s canh chng ca bên đch. Nhưng trong lúc đang bò, tôi rơi vào tay sáu tên lính gác đang ch đi tôi. Trong hai giây, tôi b choáng váng vì mt cú đánh ri b trói. Cú đánh đó làm cho tôi đau đn trong lòng người hơn là trên đu, bi vì tôi nghe quân Cipayes nói vi nhau rng chính Barkerclay đã cho mt đy t đa phương đến báo tin cho h, nh vy h mi bt được tôi. Ngày hôm sau, vùng Bhurtee được quân ca tướng Neill gii cu, nhưng quân ni lon đem tôi cùng trong cuc rút lui. Tôi b tra tn. Tôi đào thoát. Tôi b bt li và b hành h thành người tàn phế. Mt phn quân phiến lon b trn qua Népal; tôi phi theo đoàn đó. Chúng tôi còn đi xa hơn, đi ti tn Darjeeling. đó dân sơn cước giết quân phiến lon và tôi tr thành nô l ca h. Tôi li b trn na. Nhưng thay vì đi v hướng nam, tôi li ngược lên hướng bc, đến x người Afghans. Tôi lang thang đó trong người năm, ri tr xung Punjab là nơi tôi đã sng vi dân đa phương, kiếm ăn bng cách làm trò o thut. Tôi làm sao dám tr v nước Anh. Thà c đ cho Nancy và các bn cũ c gi mãi cái hi c v mt gã Henry Wood đã chết vi mt cái lưng thng, hơn là thy tôi trong mt cái hình th ca mt k d dng gm ghiếc như vy. H tin chc là tôi đã chết. Như thế li càng hay! Tôi nghe nói Barkerclay đã cưới Nancy và đã được thăng cp trong trung đoàn.
    "Nhưng khi v già, người ta tha thiết nh c hương. Trong nhng năm dài, ri nhng năm dài, tôi đã đeo đui theo hình nh bao đng c xanh và các hàng rào bên nước Anh. Sau cùng tôi mun nhìn li chúng mt ln chót trước khi lìa đi".
    - Câu chuyên ca ông tht là cm đng,- Sherlock Holmes nói. - Tôi dã biết có cuc gp mt gia ông và bà Barkerclay. Ông đã đi theo bà y v nhà, nhìn qua cánh ca s, ông thy h cãi nhau, chc hn là người v trách móc ông chng v câu chuyn ngày xưa. Nhng tình cm cá nhân ca ông lúc đó đã thng, ông lin chy băng qua bãi c và vào trong phòng.
    - Đúng, thưa ông. Và khi thy tôi, y té gc đu xung thanh gác ci. Nhưng y đã chết trước khi gc xung: tôi trông thy cái chết trên mt y, cũng rõ ràng như tôi đc sách này. Vic nhìn thy tôi ta như viên đn súng lc bn thng vào trái tim ti li ca y.
    - Ri sau đó?
    - Nancy ngt đi. Tôi rút trong bàn tay nàng cái chìa khóa, đnh m ca đi tìm người cp cu. Nhưng tôi ny ra cái ý đnh nên đ nàng li đó, còn mình thì b trn. Tôi nhét cái chìa khóa vào túi và đánh rơi cây gy trong lúc đui theo Teddy đang lên lên tm ri-đô. Khi tôi nht được nó vào trong cái hp, tôi chy đi vi tc đ nhanh nht.
    - Teddy là ai? - Holmes hi.
    Henry cúi xung và lôi ra mt con vt bé nh xinh đp màu đ lt, mnh mai và mm mi, mt cái mũi dài màu hng và cp mt đ tuyt đp.
    - Mt con chn đen.
    - Vâng, người ta gi như thế, hoc còn gi nó là cy ăn rn. Tôi gi nó là con bt rn. Tôi có nuôi mt con rn h đã b hết răng nanh, và mi ti Teddy li bt rn đ mua vui cho nhng người trong x. Còn có chuyn gì ông mun biết na không, thưa ông?
    - Rt có th là chúng tôi s cn đến ông, nếu bà Barkerclay b gp khó khăn.
    - Trong trường hp đó, xin ông hãy tuyt đi tin cy nơi tôi!
    - Gi đây, ông đã va ý khi biết rng trong ba mươi năm qua, lương tâm ông đi tá đã không ngng cn rt v cái hành vi phn bi ca mình. A, ông thiếu tá Murphy đang đi bên kia đường. Xin chào, ông Wood.
    Chúng tôi đui kp ông thiếu tá.
    - A, Holmes, - thiếu tá reo lên, - ông đã biết tin gì chưa.
    - Chuyn gì ?
  4. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bệnh nhân thường trú

    Tri đang tiết tháng Mười, mt ngày nng n, mưa nhiu. Mành ca được buông xung na vi. Holmes nm cun mình trên ghế tràng k đ đc đi đc li lá thư mà anh va nhn được. V phn tôi, thi gian bên n Đ đã tp cho tôi chu đng được nóng hơn là chu lnh. Nhưng t báo li chng có gì đáng đc. Mi người đã b đi khi th đô và tôi thèm mun đi ngh mát b bin, nhưng không đ tin. Holmes quá mi mê, không tin nói chuyn, tôi bèn ling t báo, ngi thoi mái trong ghế bành và chìm vào trong mt giác mơ. Bt thình lình ging nói ca anh chen vào trong tư tưởng tôi:
    - Bui ti đem đến mt chút mát m. Ta đi do thành ph nhé.
    Tôi tán thành ngay. Trong ba tiếng đng h, chúng tôi đi lang thang, chăm chú vào cái kính vn hoa ngàn đi thay đi không ngng ca cuc sng trong đi l và khu b sông. Cuc nói chuyn ca Holmes luôn luôn gây thích thú. Chúng tôi tr v ph Baker lúc 10 gi. Mt xe nga bn bánh đu trước ca nhà chúng tôi.
    - Hm! Mt bác s... tôi nhn thy thế. - Holmes nói. - Ông này hành ngh chưa bao lâu, nhưng rt bn rn. Ông ti hi ý kiến chúng ta.
    Ánh sáng lung linh đng sau khuôn ca s chng t người khách đang ch đi chúng tôi. Tôi theo Holmes vào nhà. Mt người xanh xao có b mt dài và đ râu má vàng hoe đng lên khi chúng tôi bước vào. Ông ta chưa quá bước mươi hoc ba mươi bn tui, đang nhìn nhn nhác. Đó là thái đ ca mt người rt rè và d kích đng: bàn tay trng mà ông tì lên lò sưởi khi đng dy khi ghế hn thích hp vi mt ngh sĩ hơn là mt y sĩ. Ông ta ăn mc đàng hoàng vi qun áo màu sm. Mt cái áo rơ-đanh-gt đen, qun màu sm, tht cà vt trang nhã.
    - Xin chào bác s! - Holmes vui v nói. - Tôi vui mng được thy bác s không phi ch chúng tôi quá lâu.
    - Vy là ông đã nói chuyn vi người đánh xe ca tôi?
    - Không. Ngn đèn nến trên bàn đã nói. Xin mi ông ngi xung và xin cho biết tôi có th giúp ông điu gì.
    - Tôi là bác s Percy Trevelyan s 403 ph Brood.
    - Có phi ông là tác gi ca mt cun sách chuyên kho v các thương tn thn kinh không? - Tôi hi.
    Nim vui sướng làm cho cp má xanh xao ca ông ta tr thành có mu sc.
    - Tôi ít khi được nghe nhc ti cun sách đó. - ông tr li. Nhà xut bn nói nó bán rt ế. Ông cũng là bác s?
    - Bác s quân y đang ngh phép.
    - Tôi mun chuyên v bnh thn kinh, nhưng chúng ta buc phi “có gì ly ny”. Nhưng đó là chuyn ngoài đ. Thưa ông Holmes, mut chui s vic xy ra nơi nhà tôi đã khiến tôi ti đây đ xin ông mt li khuyên.
    Holmes ngi xung và mi tu thuc.
    -Hoan nghênh ông đã đến. Câu chuyn như thế nào?
    - Tôi theo hc đi hc London và các giáo sư đã coi tôi như mt đi tượng có nhiu ha hn. Sau khi tt nghip, tôi tiếp tc chuyên tâm vào vic nghiên cu chng gin huyết: sau chót, tôi được tng gii thưởng và mt huân chương cho cun sách chuyên kho v nhng thương tn thn kinh mà bn ông va nhc ti hi nãy. Nhưng chướng ngi chính ngăn chn con đường lp nghip ca tôi là s thiếu vn. Mun khi nghip, tôi bt buc phi đnh cư ti mt trong mười hai con đường trong khu sang trng Cavendish: tin thuê nhà rt cao và mt s đ đc đt giá, li còn phi nuôi k ăn người , phi nuôi mt con nga và mt c xe coi được. Điu đó vượt quá kh năng ca tôi. Tôi hy vng s ăn ung dè sn trong mười năm, mi có th gn được tm bng hiu lên trước ca nhà mình. Nhưng mt bui sáng, có mt người khách tên là Blessington đến tìm tôi. Tôi va mi mi ông ta ngi xung là ông ta lin nói mt hơi:
    - Ông có phi là cái ông Percy Trevelyan, người va được trao gii thưởng không?
    Tôi nghiêng mình.
    - Hãy thng thn tr li tôi, - người khách nói tiếp. - Ri ông s không phi hi tiếc. Tài năng ca ông s còn đưa ông tiến xa hơn na. Ông có khéo x s không?
    Tôi không th mm cười trước câu hi.
    - Tm được.
    - Và không có các thói hư tt xu đy ch? Không có nhng tính ham... ung rượu chng hn?
    - Nhưng mà, thưa ông! - Tôi kêu lên.
    - Rt tt! Hoàn toàn tt! Nhưng tôi buc phi đt ra nhng câu hi đó. Ông có tài, có đc, ti sao không lo lp nghip.
    Tôi nhún vai.
    - Coi nào, coi nào, - người khách nói. Trong đu ông có nhiu th hơn là trong bóp. Ông nghĩ sao nếu tôi b trí cho ông m phòng mch đường Brook?
    Tôi nhìn người khách vi v ngc nhiên.
    - , nếu như tôi làm vic đó, thì chính là vì li ích ca tôi, ch chng phi đ làm va lòng ông đâu. - Người khách kêu lên. - Tôi s hết sc thành tht vi ông. Tôi có vài ngàn bng và tôi mun đu tư. Phi, tôi mun đu tư vào đu óc ông.
    - Như thế nào?
    - Cách đu tư này ăn chc.
    - Nhưng tôi phi làm gì.
    - Tôi mướn nhà. Tôi sm đ đc. Tôi tr lương cho k hu h. Nghĩa là tt c mi khon chi tiêu. Ông ch ngi trong cái ghế bành nơi phòng khám bnh. Ông chia cho tôi 3/4 tin thu được, ông hưởng 1/4 còn li.
    Tôi nhn li, ti ng ti đường Brook và bt đu hành ngh, làm theo nhng điu kin mà ông ta đưa ra. Ông ta ti trong nhà tôi như mt người khách tr được hưởng bng lc. Tôi nhn thy ông ta b yếu tim và tình trng sc khe ca ông ta cn được chăm sóc thường xuyên. Ông ta sa đi hai căn phòng trên lu thành phòng khách và phòng ng đ dùng riêng. Đó là mt con người kỳ quc: ông trn tránh xã hi và ít khi đi ra ph. Ti nào cũng vy, c đúng gi là ông ta li vào phòng mch tôi, xem s khám bnh, ri chia tin cho tôi và ct k s còn li vào cái két st đt trong phòng. Vic đu tư ca ông ta có kết qu. Mt vài thành công trong nhng ca bnh khó đã mau chóng đưa tôi lên hàng đu. Trong hai năm, tôi đã làm cho ông ta tr thành người giàu có.
    “Cách đây vài tun, ông ta ti gp tôi trong mt trng thái cc kỳ bn chn. Ông nói vi tôi v mt v trm va mi xy ra trong khu West End. Ông cho tôi hay là trong vòng hai mươi bn tiếng đng h na, then ca an toàn s được đt vào các ca s và ca ra vào nhà tôi. S căng thng thn kinh ca ông kéo dài khong chng mt tun. Luôn luôn ông đng rình bên ca s và không ra khi nhà đ đi do chơi như ông vn làm đu đn trước ba ăn ti. Nhìn thái đ ông, tôi suy lun rng ông đang có mt mi s hãi kinh khng đi vi mt ai đó hoc mt cái gì đó. Tôi nêu ra vi ông vài câu hi, nhưng ông t v h hng ti mc tôi không mun tìm hiu thêm na. Thi gian trôi qua, mi lo s ca ông dường như tan biến dn. Ông đã ni li nhng thói quen ngày trước.
    “Cách đây hai ngày, tôi nhn được mt lá thư không đ ngày tháng và không ghi đa ch người gi, ni dung như sau: “Mt thành viên thuc gii quý tc Nga s rt sung sướng được bác s nhn chăm sóc. T nhiu năm qua, người này b chng gin huyết. Khi được biết bác s rt gii v môn này, bnh nhân mun đến khám bnh vào chiu mai, lúc 6 gi 45 phút.”
    “Lá thư đó làm tôi thích thú bi vì s khó khăn chính trong vic nghiên cu v bnh gin huyết là căn bnh này ít có bnh nhân đ thc tp. Vy là tôi có mt phòng mch vào gi hn. Thân ch tôi là mt người đng tui, gày gò, ung dung. B ngoài khá tm thường: chng có chút nào ging vi cái ý nghĩ mà chúng ta thường có v mt nhà quý phái Nga. Nhưng tôi li ngc nhiên nhiu hơn v người cùng đi. Đó là mt thanh niên cao ln, đp l lùng, vi b mt ru rĩ và d tn, mt thân hình mnh kho. Khi hai người vào phòng, người tr tui đang giang vòng tay đ ly ông già ri đt ngi xung vi mt s âu yếm và du dàng.
    - Tôi xin được th li, thưa bác s, - anh ta nói vi tôi bng tiếng Anh vi mt ging nói yếu t - Tôi phi cùng đi vi cha tôi, vì cha tôi rt yếu.
    S hiếu tho đó làm tôi cm đng.
    - Phi chng ông mun li bên ông c trong lúc tôi chn bnh.
    - , không! Không đi nào. - anh ta kêu lên, tay phác ra mt c ch hong s. - Tôi s rt đau bun khi phi thy ba tôi trong nhng cơn cp phát kinh hoàng đó. H thn kinh ca tôi rt nhy cm. Tôi xin ngi phòng đi.
    “Người thanh niên b ra ngoài. Tôi nói chuyn vi người bnh và ghi chú. Ông già không thông minh, nhng câu tr li ca ông thường ti nghĩa, tôi cho là ông không đ t ng tiếng Anh. Tuy nhiên, bt thình lình, trong lúc tôi đang lúi cúi ghi chép, thì ông ngưng không tr li. Tôi ngng đu lên, thy ông ta ngi thng trong ghế bành mà ngó nhìn tôi, mt ông tái mét, cng đơ: Cơn bnh li tái phát. Tôi đếm s mch đp và đo nhit đ ca người bnh, cơ bp đã cng. Tôi không phát hin ra điu bt thường đc bit nào. Trng thái ca ông phù hp vi điu mà nhng cuc quan sát trước đó đã cho tôi biết. Bnh này tr bng cách cho xông cht nitrat amyl. Tôi t nh rng mình đang gp mt cơ hi tuyt vi đ chng t s hu hiu. Vì chai thuc đt tng dưới trong phòng thí nghim, tôi đ thân ch ngi đó, chy đi ly. Phi mt năm phút mi tìm ra nó: khi tr li phòng mch thì người bnh đã b đi.
    “Tôi chy ra ngoài. Người con trai cũng đã b đi. Cánh ca ra vào được khép li, nhưng không đóng kín. Người đy t, k đưa khách vào, mi vào làm và li hơi đn đn. Y c bên dưới và ch lên lu đ ch đường cho người bnh hoc khi tôi gi chuông. Y chng nghe thy gì và chúng tôi lúng túng trong s bí mt hoàn toàn. sau đó mt lát, ông Blessington tr v sau khi đi do. Tôi không nói vi ông mt li nào v s vic xy ra.
    “Tôi đinh ninh mình s chng bao gi gp li người Nga n cùng cu con trai! Thế mà chiu nay h li ti phòng mch tôi.
    - Tôi phi xin li ông nhiu vì đã b đi bt thình lình ngày hôm qua, thưa bác s! - Thân ch ca tôi nói.
    - Qu tht vic đó làm tôi hơi ngc nhiên...
    - Khi ra khi cơn cp phát, đu óc ri rm, tôi không còn nh gì v điu đã xy ra trước đó. Tôi thy mình tnh li trong mt căn phòng l, thế là tôi b đi và tôi đã đi ngoài ph như đi trong sương mù.
    - Còn tôi, - người con trai nói thêm, - khi thy ba tôi đi ra ngoài, tôi tưởng là cuc khám bnh đã xong. Tôi ch biết s tht khi đã v ti nhà.
    - Vy thì, - tôi cười, - chng có gì là phin hà c. Bây gi, ông có th lui ra ngoài phòng khách, tôi tiếp tc chn đoán cho thân ph ông.
    Trong vòng na tiếng đng h, tôi khám xong, kê toa. Sau đó ông ra v, vn tay vào người con trai. Mt lát sau, Blessington v nhà và leo lên phòng. Lin ngay sau đó, tôi nghe tiếng chân ông lao xung cu thang và ùa vào trong phòng mch tôi như mt viên đi bác.
    - Ai đã vào phòng tôi? - Ông ta hét lên.
    - Không ai c.
    - Ông nói di! Hãy lên mà xem!
    “Tôi b qua li l l mãng ca ông ta. Khi lên ti nơi, ông ch cho tôi thy nhiu vết chân trên tm thm màu nht.
    - Đây đâu có phi là các du chân ca tôi - Ông ta kêu toáng lên.
    ”Qu tht đó là nhng du chân mi có. Nó ln hơn du chân ca ông ta. Bui chiu đó tri mưa nhiu, khách đến nhà tôi đu là bnh nhân. Vy là, trong lúc tôi đang khám bnh cho người cha, thì anh thanh niên đã ri phòng đi và đã leo lên phòng ca ông Blessington. Không có nơi nào b đng ti hoc b ly đi, nhưng rõ ràng căn phòng đã b xâm nhp. Blessington b kích đng cc kỳ mnh m. Ông ngi sp xung ghế bành và khóc. Phi rt lâu tôi mi làm ông tnh li đôi phn. Ông ta khuyên tôi đến đây đ gp ông, thưa ông Holmes. Nếu ông vui lòng đi cùng vi tôi, có th ông s trn an được ông y”.
    Holmes, đã nghe câu chuyn k dài dòng y vi mt s chú tâm mãnh lit. Khi người khách chm dt, Holmes không nói mt li, đưa cái mũ cho tôi ri anh đi theo thân ch.
    Mười lăm phút sau, chúng tôi dng li trước ngôi nhà ca bác s. Mt người đy t m ca và chúng tôi leo ngay lên cái cu thang rng có tri thm. Ngn đèn trên thm cu thang đt ngt b gió thi tt. T trong bóng ti, mt ging nh, run ry vng ti chúng tôi.
    - Ông Blessington, ông quá đáng ri đy. - Bác s Percy kêu lên.
    - , thế ra là ông đy à, bác s? - Ging nói tht ra có kèm theo mt tiếng th dài nh nhõm. - Nhưng còn nhng người kia, ông có bo đm cho h không?
    Blessington quan sát t m chúng tôi.
    - Tt. Được ri. - Sau cùng ông ta nói, - Các ông có th lên. Tôi xin li nếu s đ phòng đã làm quý ông khó chu.
    Ông ta đt gas lên và chúng tôi thy trước mt mình là mt người kỳ l. Ông ta rt mp, nước da bnh hon. Mi tay cm mt khu súng lc; ông nhét súng vào túi khi chúng tôi tiến lên.
    - Xin chào ông Holmes. Tôi tht rt mang ơn ông đã ct công đến đây. Bác s đã cho ông biết v v xâm nhp ti t vào nhà tôi?
    - Có, hai người đó là ai vy, ti sao h li đnh hi ông?
    - Thế thì, đó là ... Tht là khó nói. Tôi chng biết tr li ông ra làm sao, thưa ông Holmes.
    - Nói cách khác, ông không biết h là ai?
    - Xin mi vào. Xin vui lòng đi ngang qua đây.
    Ông dn chúng tôi vào trong phòng ông. Đó là mt căn phòng đp, đ đc bày bin mt cách thích đáng.
    - Quý ông thy cái này ch? - Ông nói khi ch vào mt cái hp đen ln đ dưới chân giường. - Tôi chưa bao gi giàu có. Trn đi, tôi ch đu tư vào mi mt vic như bác s Percy s nói cho quý ông rõ. Tôi chng bao gi tin mt ch ngân hàng nào c, thưa ông Holmes. Chút ít vn mn mà tôi có được đ ct giu trong cái rương này, vy là ông hiu điu tôi cm nhn khi có nhng k vô danh ln vào nhà tôi.
    Holmes nhìn k Blessington vi con mt dò hi và lc đu.
    - Tôi không th giúp gì cho ông nếu ông tìm cách nói di tôi. - Anh nói.
    - Tôi đã nói tt c ri.
    Holmes xoay gót vi mt c ch chán ghét:
    - Xin chúc anh mt đêm an lành, bác s Percy.
    - Ông b đi mà chng nói vi tôi điu gì ư? - Blessington kêu lên vi mt ging kit qu.
    - Thưa ông, tôi ch có mt li khuyên: đó là hãy nói s tht.
    Mt phút sau, chúng tôi đã ra ti ngoài ph và chúng tôi li trên đường v nhà.
    - Anh Watson, tôi rt tiếc đã làm anh phi ra khi nhà vì mt cuc do chơi ca nhng người điên. Thc ra, đây là mt chuyn lý thú đy. Holmes nói.
    - Tôi chng hiu gì hết!
    - Có hai người... Có th hơn hai người... oán thù gã này, cái chàng trai n đã hai ln ln vào phòng ca Blessington trong lúc người đng lõa kim gi bác s trong phòng mch.
    - Thế còn bnh gin huyết?
    - Mt chng-bnh-gi và đó là mt chng rt d bt chước. Tôi đã tng bt chước chng đó. Tôi, người đang nói vi anh đây này.
    - Thế ri sao?
    - Bn chúng mà đến khám bnh mun như thế là vì lúc đó trong phòng đi không còn khách. Tuy nhiên, gi đó li trùng hp vi mt thói gàn ca Blessington. Vy là bn chúng biết rõ thói quen hàng ngày ca ông ta. Nếu chúng ch mun “xoáy” mt món nh thôi thì hn chúng đã đ li du vết ca chuyến ăn hàng. V chăng, tôi có kh năng đc được trong mt mt người đ biết là người đó lo s cho mng sng ca mình. Ông y có hai k ham tr thù đến thế mà li không biết h là ai ư? Không. Ông ta phi biết h. Nhưng ông ta đã nói di. Có th là ngày mai chúng ta s gp li ông ta trong mt trng thái ci m hơn!
    - Liu có gi thiết nào khác không? Liu có th nào câu chuyên người Nga b bnh vi con trai ông ta ch là sn phm tưởng tượng ca bác s Percy không?
    Dưới ánh sáng mt ngn đèn đường thp bng khí đt, tôi thy Holmes cười vi v thích thú.
    - Chàng trai đã đ li nhng vết chân rt rõ ràng: giày c anh ta có mũi vuông ch không nhn như giày ca Blessington và giày đó ln hơn giày ca ông bác s ti 3 inch. Vy du chân trên các tm thm là không h b lm ln. Nhưng tt hơn chúng ta nên đi ng, bi vì sáng sm mai s có tin mi.
    Sáng hôm sau, vào hi 7 gi rưỡi, trong ánh sáng li m đu tiên ca bui sm mai, tôi đã thy Holmes mc áo ng đng ngay đu giường tôi. Anh nói:
    - Watson! Mt c xe đang đi chúng ta.
    - Đ làm gì?
    - V v đường Brook.
    - Anh nhn được tin mi?
    - Nghiêm trng, nhưng chưa rõ ràng.
    Anh ti kéo tm mành sáo lên, đon quay li bên tôi
    - Anh hãy xem cái này. Đây là mt miếng giy nh bt ra t mt cun s tay, vi nhng t đơn gin này: “vì lòng kính Chúa, xin hãy ti ngay tc khc. P.” viết nguch ngoc bng bút chì. Ông bn bác s đã không có đ thì gi! Đi thôi, đây là mt li kêu gi khn cp.
    Mười lăm phút sau, chúng tôi tr li nhà bác s Percy. Ông chy ra đón chúng tôi. V mt kinh hoàng.
    - , mt v như thế này! – ông kêu lên khi giơ hai bàn tay ôm ly trán.
    - Chuyn gì vy?
    - Blessington đã t t.
    Holmes huýt sáo.
    - Phi, ông y đã treo c trong đêm. - Bác s Percy nói.
    Ông bác s dn chúng tôi vào căn phòng đi.
    - Tôi không còn biết làm gì hơn. - ông nói vi chúng tôi. - Cnh sát đang trên lu. Tôi b kit qu đến lúc chết được.
    - Ông phát hin chuyn đó vào lúc nào?
    - Mi bui sáng người hu đem lên phòng ông y mt tách trà. Vào khong by gi, cô vào trong phòng, thy ông y đang toòng teng ngay gia phòng.
    Holmes ngi yên lng mt hi lâu, đm chìm trong suy tư, lo lng.
    - Nếu được ông cho phép, tôi s lên trên đó đ coi s vic.
    Chúng tôi vào trong phòng, quang cnh tht chng ly gì làm đp! Treo lơ lng và đu đưa trên cái móc, người chết chng còn chút gì là dáng người. C ông ta giãn ra như mt con gà giò b nh lông, làm tăng thêm s phì nn trong phn còn li ca cơ th. Trên người ông ta ch có mt cái áo ng dài. Cnh xác ông có mt viên thanh tra đang đng viết trên mt cun s tay.
    - A, ông Holmes! - Ông thanh tra nói khi thy bn tôi. - Tôi vui mng được gp ông.
    - Chào anh, Lanner. - Holmes đáp. - Tôi không quy ry đy ch? Anh có biết nhng tình hung trước khi v này xy ra không?
    - Có
    - Quan đim ca anh như thế nào?
    - Theo tôi. Blessington đã t t trong mt cơn s hãi. Ông ta đã ng say trên giường, ông nhìn đây này: du vết ca thân th lún khá sâu. Ông ta đã treo c vào lúc năm gi sáng. Dường như đây là mt hành đng hoàn toàn c ý.
    - C xét theo s cng đ ca các cơ thì cái chết đã xy ra lúc 3 gi. - Tôi nói.
    - Không có gì đc bit trong phòng sao? - Holmes hi.
    - Trên cái bàn nh chu ra, có mt cái vn đanh c và vài con đanh c. Ông ta hn cũng đã hút nhiu trong đêm. Đây là bn mu xì gà mà tôi va ly trong lò sưởi ra.
    - Hm! Anh đã coi cái hp đng xì gà ca ông y chưa? Holmes hi.
    - Không. Không thy nó đâu c.
    - Thế thì ng đng xì gà đâu?
    - Nó trong túi áo vét ca ông ta.
    Holmes mng ra và ngi hơi ca điếu xì gà duy nht.
    - Điếu này là xì gà Havana đây! Nhng điếu kia là xì gà do người Hà Lan nhp t nhng thuc đa ca h bên Đông n. Anh cm ly bn mu thuc và quan sát chúng qua kính lúp.
    - Hai điếu này được hút qua mt cái đót, hai điếu kia thì được hút trc tiếp bng ming. Hai điếu được ct đu bng mt con dao nhíp rt bén, hai điếu kia thì được cn đu bng mt hàm răng rt tt. Đây không phi là mt v t sát. Đây là mt v ám sát được d mưu t lâu và được thc hin mt cách khéo léo.
    - Không th được! - Viên thanh tra kêu lên.
    - Ti sao li không th được?
    - Ti sao li ám sát mt người bng cách treo c?
    - Đó điu chúng ta cn phi chng minh.
    - Người ta lt vào nhà bng cách nào?
    - Qua li ca ra vào.
    - Bui sáng, nhng then chn đã được cài.
    - Chúng đã được cài li sau khi h đã b đi..
    - Làm thế nào ông biết được?
    - Tôi đã thy nhng du vết ca h. Xin th li cho tôi trong chc lát: tôi sp cung cp cho ông nhng thông tin chính xác hơn.
    Anh đi ra phía ca, xoay xoay khóa và quan sát nó. Đon anh rút cái chìa khóa cm phía trong ra và chăm chú nhìn nó. Sau đó anh quan sát liên tc tm thm, nhng cái ghế, lò sưởi, xác chết và cun dây thng. Anh t ra hài lòng, yêu cu viên thanh tra và tôi, ci dây đưa người bt hnh xung, đt lên mt tm vi tri ging.
    - Si dây này đâu ra? - Holmes hi.
    - Nó đã được ct ra trong cun dây này. - Bác s Percy tr li khi kéo t dưới gm giường ra mt cun dây thng. - Ông ta lo s ho hn mt cách không lành mnh và ông luôn gi cun dây này gn mình, ngõ hu gp trường hp cu thang nhà đã b cháy thì ông có th trn thoát qua ng ca s.
    - Đây là điu giúp cho bn chúng bt vt v. - Holmes thì thào trong lúc suy nghĩ tht lung. - Phi, s vic rt đơn gin. Ti bui chiu tôi s gii thích tn tường ni v vi các ông. Tôi xin mang theo tm nh ca Blessington đang đt trên mt lò sưởi đây.
    - Nhưng ông chưa cho chúng tôi biết gì hết. - Bác s Percy kêu lên.
    - Bn chúng có ba người: chàng thanh niên, ông già và mt người th ba mà tôi chưa tìm ra. Hai người đu, chính là nhng người đã gi trang thành nhng nhà quý tc Nga. Chúng được mt k đng lõa đưa vào nhà. Nếu ông mun có mt li khuyên, thưa ông thanh tra, thì ông hãy bt gi người đy t tr tui, mi vào giúp vic.
    - Không thy thng qu đó đâu c. - Bác s tr li. - Cô hu phòng và bà bếp đã kiếm nó c bui sáng nay.
    Holmes nhún vai...
    - Y không gi mt vai trò quan trng lm trong tn thm kch này. Thây k! Ba người đã leo lên cu thang, nhón trên đu ngón chân, người già dn đu, người trai tr đi sau và mt người vô danh đi cui đoàn...
    - Holmes ơi! - Tôi reo lên.
    - , mt chút nghi ng nh nht cũng b cm đoán dây, ch vic nhìn các du chân chng lên nhau cũng thy rõ. Vy là bn h leo lên ti phòng ông Blessington. Ca đã khóa. Dùng cng dây km, chúng đã m ra. Chng cn dùng kính lúp, ta cũng nhn thy, qua nhng vết xước, trên cái khe răng khóa này là nơi sc ép đã được nhn xung. Khi đã vào phòng, đu tiên chúng nhét gi vào ming Blessington. Có th là ông đang ng. Có th là ông b đ người vì khiếp s. Có điu là ông đã không kêu lên được tiếng nào. Mt khác, nhng bc tường này li rt dày, có th ông đã kêu cu, nhưng chng ai nghe.
    Sau khi đã kim chế ông xong. Chúng bình tĩnh ngi tho lun. Rt có th là dưới hình thc mt phiên tòa. Cuc tho lun t hn đã kéo dài trong mt thi gian, bi vì nhng điếu xì gà đã được hút trong khong thi gian đó. Người ln tui hơn ngi trên cái ghế da đan lát này. người tr hơn, ch kia: anh ta đã vy tàn thuc vào cái t com-mt. V phn người th ba, y đi đi li li. Có l Blessington vn ngi trên giường, nhưng v đim này tôi không chc lm. Đ kết thúc, chúng tóm ly và treo c ông lên. V này đã đựơc suy tính k vì chúng đã mang theo mt th như cái ròng rc có th được dùng làm giá treo c. Cái vn con c cùng nhng con óc này d liu dùng gn cái giá đó. Nhưng khi chúng trông thy cái móc ca b đèn treo, chúng mng lm. Khi công vic đã làm xong, chúng b đi và thanh chn ca được mt đa gài tr li sau lưng chúng.
    Tt c chúng tôi đã lng nghe vi mt s chú tâm say sa bn tóm tt nhng vic xy ra trong đêm. Nhng suy din ca Holmes khi đi t nhng tin đ quá tinh tế và quá chi tiết khiến cho ngay c khi anh đã ch cho chúng tôi thy, chúng tôi vn còn gp khó khăn khi theo cái dòng suy lun ca anh. Viên thanh tra gp gáp b ra ngoài đ thúc đy s truy lùng người đy t tr. Holmes và tôi tr v ph Baker đ ăn đim tâm. Xong ba, anh nói:
    - Tôi s tr v đây vào lúc 3 gi. Viên thanh tra và ông bác s s có mt nơi đây vào gi đó. Tôi hy vng có th trình bày rành mch vi h v vn đ dã hoàn toàn đựơc làm sáng t.
    Các v khách ca chúng tôi có mt vào gi đã hn, thế nhưng anh bn tôi li ch tr v vào lúc 3 gi 45. Nhìn anh, tôi biết ngay là mi vic đu m mãn.
    - Có gì mi l không ông thanh tra?
    - Chúng tôi đã bt được người đy t.
    - Tuyt vi! Còn tôi, tôi đã bt được ba người kia. Tôi ch bt được danh tánh ca chúng mà thôi. Cái người được gi là Blessington, là k rt quen biết vi cnh sát, còn nhng người tn công y cũng vy. Đó là Biddle, Hayward và Moffat.
    - Cái băng đã đánh cướp ti ngân hàng Worthingdon đó h? - Viên thanh tra kêu lên.
    - Đúng thế.
    - Như vy, Blessington chính là Sutton.
    - Đúng thế.
    - Vy thì tt c đu đã rõ ràng! - Viên thanh tra kết lun.
    Percy và tôi, chúng tôi nhìn ln nhau: chúng tôi chng hay biết gì v chuyn đó hết.
    - Trong v ni cm v ngân hàng Worthingdon có năm người tham d: bn tên va k và người th năm, tên là Cartwright. Người bo v tên là Tobin thì b h sát; bn trm b trn vi by ngàn bng. Chuyn xy ra vào năm 1875. Tt c năm tên đu b bt gi, nhưng chng c li thiếu. Tên Sutton đã bán đng bn bè, Cartwright b x gio, còn ba người kia b pht tù mười lăm năm. Vài năm trước khi mãn hn tù, chúng bt đu tìm kiếm tên phn bi. Khi va được phóng thích, chúng tìm cách tr thù: hai ln chúng tìm cách đến gn sát hn, nhưng hai ln đu b tht bi. Đến ln th ba này mi thành công. Ông có thy cn hi thêm tôi mt li gii thích nào khác na không, bác s Percy.
    - Ông đã làm sáng t ni v mt cách đáng khâm phc. - Ông bác s tr li. - Chng còn chút nghi ng gì, cái ngày mà Blessington b ri lon quá mc là ngày hn va đc báo, thy tin my người bn cũ va được phóng thích.
    - Đúng vy. Chuyn v trm là điu ba đt.
    - Ti sao hn không mun th l vi ông?
    - Bi vì, hn biết rõ v tính hay tr thù ca nhng người bn cũ. Hn c che giu căn cước đích thc ca hn càng lâu càng tt.
    Đó là nhng s kin liên quan ti người khách tr đựơc hưởng bng lc và ông bác s đường Brook. Cnh sát chng tóm được tên nào. Người ta thuật lại.
  5. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Người thông ngôn Hy Lạp

    Chưa bao gi tôi thy Holmes nhc ti gia đình và quãng đi thơu ca anh. Tôi thì tôi coi anh như mt người kỳ d cá bit. Lòng ghét cay ghét đng đàn bà, s ghê s có thêm nhng người bn mi, s khăng khăng không nhc đến nhng người bn thân là đc tính ca anh. Tôi đã tin rng anh là tr m côi và là k “vô gia đình”, nhưng ngày n tôi ngc nhiên khi nghe anh nói v người anh ca anh.
    Mt bui chiu hè, sau lúc ung trà, câu chuyn có v ri rc. T nhng Câu lc b chơi golf, chúng tôi chuyn ti tranh lun v s lai ging cùng nhng kh năng di truyn. Cái kh năng quan sát và suy din mà anh có được là do anh được giáo dc có h thng.
    - T tiên tôi là nhng người đin ch nh nông thôn, nhng người đã sng mt cuc sng phù hp vi giai cp xã hi ca h. Tuy nhiên tôi li chn mt li sng hoàn toàn khác hn, có th là do bà ni tôi là em gái Vernet, mt ha s người Pháp. Ngh thut trong dòng huyết thng có th ny n thành nhng phong cách rt khác nhau.
    - Nhưng làm thế nào mà anh biết được nhng đc tính đó là di truyn?
    - Bi vì anh Mycroft ca tôi tha hưởng nhng đc tính đó mt mc đ cao hơn tôi nhiu.
    - Nếu đây có mt người nào đó có nhiu thiên tư hơn anh, thì ti sao người ta chưa biết đến anh y. Phi chăng anh khiêm tn mà nói như vy?
    Holmes cười vi tt c chân tâm.
    - Anh bn thân mến! Đó là s tht.
    - Thế sao anh y li không ni danh.
    - Anh y rt ni tiếng ti Câu lc b.
    - Câu lc b nào?
    - Câu lc b Diogenes.
    Tôi hoàn toàn không biết gì v hi quán đó. Holmes rút đng h trong túi ra:
    - Câu lc b Diogenes là hi quán kỳ l nht London, và Mycroft luôn luôn đến đó trong khong t 4 gi 45 đến 7 gi 40. Bây gi là 6 gi, ta đến đó chơi.
    Năm phút sau, chúng tôi đã ra ngoài đường. Holmes nói:
    - Anh ngc nhiên khi thy Mycroft có kh năng suy din gii hơn tôi nhưng không tr thành thám t ch gì? Tôi xin tr li thc mc đó: Mycroft không th làm thám t được,..
    - Nhưng anh đã nói là...
    - ... anh y quan sát và suy din gii hơn tôi. Nếu ngh thut ca nhà thám t ch gm có mi mt vic ngi nhà mà suy lun thì anh tôi s là mt cnh sát gii nht trên đi. Nhưng tiếc thay, anh y li thiếu tham vng và ngh lc. Anh chng bun b công kim tra nhng điu đã khám phá được. Tôi đã thm vn anh mt vài v và anh đã giúp tôi thành công.
    - Như vy, đó không phi là ngh ca anh y hay sao?
    - Không, đó ch là mt thú tiêu khin ca anh y mà thôi. Nh có năng khiếu khác thường v nhng con s, anh được người ta mi vào vic kim tra tài khon trong các b. Anh làm vic đu đn như mt cái đng h: sáng đi ti Câu lc b, chiu tr v nhà... Sut năm, anh không làm bt c mt vic nào khác và chng cn xut hin bt c nơi nào, ngoi tr Câu lc b Diogenes, nm ngay trước nhà ca anh.
    - Câu lc b đó rt xa l vi tôi.
    - Đương nhiên. London có nhiu người không thích giao du vi ai c. Câu lc b Diogenes được lp ra đ giành riêng cho nhng người y. Không mt thành viên nào ca Câu lc b Diogenes chu quan tâm ti bt kỳ mt bn đng s nào. Ngoi tr trong phòng khách dành cho người l, còn thì không mt ai được nói chuyn, dù vi bt c lý do nào; vi phm ti ln th ba, k ba hoa đó có th b trc xut. Anh tôi là mt trong nhng người sáng lp ra Câu lc b đó.
    Va đi va nói, lát sau chúng tôi đã ti Pall Mall. Holmes dn tôi gi yên lng, ri đi trước, dn tôi vào trong tin snh. Qua mt tm vách bng kính, tôi thy mt phòng rng mênh mông và bày bin đ đc sang trng, bên trong có nhiu người, mi người ngi mt góc, đc nht báo, hoc tp chí. Holmes đưa tôi ti mt phòng khách nh hơn, đ tôi đó mt phút, ri tr li cùng vi mt người; có th đó là anh ca Holmes. Mycroft ln hơn và mnh khe hơn Holmes nhiu, cp mt xám lt, tia nhìn sc so, sâu thm, tràn ngp mt s linh hot.
    - Tôi sung sướng được gp ông, thưa ông. - Mycroft nói vi tôi trong lúc chìa ra mt bàn tay rng. - Tôi nghe thiên h nhc ti Sherlock khp nơi k t khi ông viết v chú y trên báo. - Quay sang phía Holmes, anh nói tiếp - À, tun qua, anh có ý mong gp chú v cái v Manor House. Chú b khó khăn, phi thế không?
    - Không. Em đã gii quyết xong v đó ri. - Holmes cười, tr li.
    - Đúng là Adams.
    - Phi, chính hn.
    - Anh đã tin chc ngay t đu mà.
    Hai anh em ngi bên nhau trong ch khuôn ca s nhô ra. Mycroft nói tiếp:
    - Đây là mt nơi lý tưởng cho k nào mun tìm hiu nhân loi. Hãy nhìn nhng cái mu tuyt đp kia mà coi! Hãy nhìn hai gã đang đi v hướng chúng ta.
    - Người ghi đim billiard và người kia?
    - Phi. Chú nghĩ sao v người kia?
    Hai người kia dng li ngay trước khuôn ca s, mt trong hai người có vài vết phn viết bng trên túi áo gi-lê. Người kia rt nh con, tóc nâu, đi cái nón ht v đng sau và dưới cánh tay có cp nhiu gói đ.
    - Mt cu quân nhân.
    - Và mi va được gii ngũ - Mycroft nhn xét.
    - Anh ta đã phc v bên n Đ.
    - Như mt h sĩ quan.
    - Trong pháo binh.
    - Và góa v.
    - Nhưng có mt đa con, chú nó. Nhiu đa con.
    - Coi nào. Điu đó hơi quá đáng chăng. - Tôi cười, nói xen vào.
    - Mt người có cái tư thế đó, cái dáng và quyn thế đó và cái da b mt tri nung đó, thì anh ta phi là “mt quân nhân” có “cp bc h sĩ quan” và đã “tn Đ tr v”. - Holmes nói mt hơi.
    - Ông ta va mi được gii ngũ bi vì hin gi ông ta vn còn mang giày nhà binh. - Mycroft gii thích.
    - Ông ta không có mt li đi ca k binh, y thế mà ông ta li đi mũ lch sang mt bên, bi vì mt bên vng trán có màu sm hơn bên kia; thân hình ông ta không phi là ca mt công binh. Vy thì ông là “lính pháo binh”. - Holmes nói tiếp.
    - Ông ta đang có tang ln: chúng ta có th suy din ra là ông ta mt mt ai đó rt gn gũi. Vic phi đi mua sm chng t là ”v ông đã chết“. Ông ta đi mua nhiu món linh tinh cho các con. Có mt cái lúc lc cho con nít chơi, vy là mt trong nhng đa con ông ta còn rt nh. V ông ta hn đã t trn t khi sinh con. Vic ông ta kp dưới cánh tay mt cun truyn tranh cho thy là “ông ta còn có mt đa con khác”.
    Tôi bt đu tin rng Mycroft qu tht có nhiu thiên tư sc bén hơn Holmes. Holmes liếc mt nhìn tôi và mm cười. Mycroft nói:
    - Này chú, người ta va đưa ti anh mt vn đ rt hp vi chú. Anh không có can đm nghiên cu nó tn tường, nhưng nếu chú mun nghe.
    - Em rt vui sướng!
    Mycroft viết vài dòng ch trên mt t giy, goi chuông, ri đưa lá thư cho mt người hu.
    - Tôi mi ông Melas li đây. Ông y tng lu bên trên lu tôi, tôi ch biết sơ thôi. Đó là mt nhà ng hc người Hy Lp, làm thông ngôn trong các tòa án và làm hướng dn cho nhng tay nhà giàu Đông Phương.
    Mt lát sau, mt người thp và béo lùn đến, ông ta có nước da màu ôliu và mái tóc đen. Ông nng nhit siết tay Holmes.
    - Cnh sát chng bao gi tin nhng li khai ca tôi. - Ông nói bng mt ging giu ct. - H cho rng tôi pha ra câu chuyn đó.
    - Tôi vnh tai lên mà nghe ông đây! Holmes nói.
    - Chuyn xy ra vào ngày hôm kia. Tôi biết rt nhiu th tiếng. Nhưng vì tôi là người Hy Lp nên được yêu cu dch tiếng Hy Lp nhiu hơn c. Tôi thường b gi vào nhng lúc “ngoài gi” vì du khách ti mun. Bui ti ngày th hai, ông Latimer ti git chuông nhà tôi và yêu cu tôi đi theo ông trong mt c xe nga thuê đang đi trước ca.
    - Mt người Hy Lp đã ti gp tôi đ bàn công vic làm ăn, - ông ta bo tôi, - người y ch nói được tiếng m đ. Ông ta ng trong vùng Kensington.
    Trong chiếc xe nga sang trng, ông Latimer ngi trước mt tôi. Xe đi ngang qua bùng binh Charing và đi l Shaftessbury, khi ti đường Oxford, tôi đánh liu đưa ra ý kiến nên cho xe đi theo con đường ngn nht đ ti Kensington, nhưng tôi ngưng bt trước thái đ bt thường ca người khách. Ông ta rút ra khi túi mt cây dùi cui rt ln và khua nó nhiu ln, ta h như ông ta mun th sc nng ca nó. Ri ông ta đt nó xung bên cnh. Sau đó ông ta kéo kính hai bên xe lên: các kính đó được dán giy kín đến mc tôi chng còn trông thy gì còn bên ngoài.
    - Rt tiếc phi che mt ông bn li, thưa ông Melas! - ông ta nói. - Chúng tôi không mun cho ông biết nơi ông s ti, đ ông khi b rc ri v sau.
    Tôi hoàn toàn choáng váng. Latimer còn tr, cường tráng vi nhng b vai rng. Ngay c khi anh ta không có vũ khí đi na, tôi cũng không th nào đch ni anh ta.
    - Đây là mt cách cư x rt khác thường. - Tôi p úng nói.
    - Tôi đã sung sã đi vi ông. - Anh ta tr li tôi. - Nhưng tôi s đn bù cho ông. Tuy nhiên, tôi phi báo trước, nếu ông tìm cách báo đng hoc làm bt c điu gì chng li tôi thì ông s hi hn đy!
    Anh ta nói bng mt ging trm tĩnh, nhưng rt ư đe da. Tôi lng thinh, không ngng t hi vì sao hn bt cóc tôi. Nhưng rõ ràng mi s kháng c đu vô ích. Xe chy gn hai tiếng đng h và tôi không h biết hướng xe đi. Thnh thong tiếng m m ca bánh xe lăn cho tôi biết xe chy trên mt đường lát: nhiu lúc xe chy êm ru, gi ra mt đường tri nha. ánh sáng không lt được qua ca kính b dán giy và mt tm ri-đô màu xanh đã được kéo ph tm kính đng trước. Chúng tôi ri Pall Mall vào hi 7 gi kém 15 và dng li vào lúc 9 gi kém 10. Chàng trai h kính xe và tôi nhn ra mt vòm cng trên có mt ngn đèn lng thp sáng. Khi tôi xung xe thì cng đã m ra.
    Trong nhà có mt có mt cây đèn mà ngn la quá nh đến mc tôi ch va đ phân bit được mt gian tin snh tht ln, có trang hoàng nhiu ha phm. Tôi cũng quan sát thy người ra m ca là mt người đàn ông trc năm mươi tui, nh bé gy gò, đôi vai còng, mt kiếng. Ông ta hi.
    - Có phi ông Melas đy không, Harold?
    - Phi.
    - Xin ông đng gin chúng tôi, chúng tôi rt cn đến ông. Nếu ông x s đàng hoàng thì ông s không có gì phi hi tiếc c.
    Ông ta nói mt cách đt khúc, vi nhiu tiếng cười nh ct ngang mi câu nói. Tôi thú nhn là tôi s ông ta hơn là s người thanh niên.
    - Ông mun gì nơi tôi?
    - Chúng tôi nh ông phiên dch. Dch chính xác và không được thêm bt tí gì c.
    Ông ta li phát ra tiếng cười nho nh, ri m mt cánh ca ra và đưa tôi vào mt căn phòng tht rng rãi, tm thm rt dày, ghế bành bc nhung, mt cái lò sưởi cao màu trng. Dưới ngn đèn có mt cái ghế da: người ln tui mi tôi ngi xung đó. Người tr tui đã ra khi phòng, nhưng ri anh ta quay li qua mt ng ca khác, dn theo mt nhân vt mc mt loi áo ng rng và bước đi chm chp. Khi người đó ti trong vùng ánh sáng, tôi thy ông ta cc kỳ tái mét, gương mt hc hác, đôi mt li ra, mt ông ta qun chng cht nhiu lp vi mng có phết h dán: ngay c cái ming cũng b che kín bng mt di rng làm cho ming ông b nghn kín hoàn toàn.
    - Cu có cái bng nh đó không, Harold? - người ln tui kêu lên trong lúc người b qun vi buông rơi mình xung mt cái ghế da. - Đã ci trói cho ông y chưa? Tt. Đưa cho ông y cây viết chì. Chúng tôi s đt ra nhng câu hi, thưa ông Melas, và ông y s viết ra các câu tr li. Trước hết, xin ông hi xem ông y có sn sàng ký giy không.
    Đôi mt người l phóng ra nhng tia la. Không bao gi ông ta chu viết trên bng đen.
    - Không ký vi bt c điu kin nào hay sao? - Tôi dch, sau khi bn kia nêu ra câu hi.
    - Tôi ch ký khi mà cô y làm l cưới trước mt tôi, do mt linh mc Hy Lp mà tôi quen biết đng ch l.
    Người n tht ra n cười him đc:
    - Thế thì, anh biết cái gì ch đi anh ch?
    - Tôi chng s cái gì c.
    Đó là mt mu nhng câu hi và câu tr li trong cuc nói chuyn kỳ l, phân na hi, phân na viết. Mt cách đu đn, tôi phi hi xem ông ta có chu nhượng b và ký tên vào bn cam kết không. Cũng không kém đu đn, tôi luôn luôn nhn được câu tr li phn n. Nhưng ngay sau đó mt ý nghĩ cht đến vi tôi. Tôi t ý thêm nhng câu ngn (do chính mình nghĩ ra) vào sau nhng câu hi: thot đu tht vô hi, ngõ hu đ th xem hai tay bo ngược đó có biết chút ít tiếng Hy Lp không. Khi thy chúng không có phn ng nào, tôi chơi bo hơn. Cuc đi thoi ca chúng tôi lúc đó ging như thế này:
    - Anh s chng được li ích nếu c ngoan c mãi. Ông là ai?
    - Tôi cóc cn. Tôi là mt người l London.
    - Ông thí mng đó. Ông đã đây t bao lâu?
    - Thây k. Ba tun.
    - Nhng ca ci đó s không bao gi còn thuc v ông na. Ông b đau ra sao?
    - Ca ci s không rơi vào tay bn vô li. Bn chúng b đói tôi.
    - Ông s được t do, nếu như ông chu ký. Nhà này là nhà nào?
    - Tôi s không bao gi ký. Tôi không biết.
    - Ông chng giúp ích được chút nào cho cô y đâu. Ông tên là gì?
    - Cô y c vic đến đây nói cho tôi biết! Kratides.
    - Ông s gp cô y nếu ông chu ký. Ông t đâu ti.?
    - Thế thì tôi s chng bao gi gp li cô y. T Athènes
    Thưa ông Holmes, ch cn thêm năm phút na là tôi có th làm sáng t câu chuyn, nhưng ngay lúc đó, cánh ca li m ra và mt người đàn bà bước vào. Cô ta cao, mnh mai, tóc nâu và mc mt cái áo trng rng thùng thình.
    - Harold, - cô ta kêu lên vi mt âm tiết ti. - Em không th nơi đó được na. Em cm thy quá cô đơn. , anh Paul đây mà!
    y nói câu sau chót bng tiếng Hy Lp. Cùng lúc, nn nhân trong mt n lc mnh m, đã bt lp vi mng có phết h dán trên đôi môi ra và hét lên:
    - Sophy! Em!
    Ông lao vào trong vòng tay người ph n. Hai người ch ôm nhau trong mt thoáng, bi vì người tr tui đã nm ly người đàn bà, đy ra khi phòng, trong lúc người già kia túm ly người tù nhân và dn ra ngã ca kia. Còn li mình tôi. Tôi đng lên, suy nghĩ xem tôi có th nào tìm ra nơi đây là đâu. Nhưng tht may là tôi đã không đng đy. Va ngước mt lên, tôi thy người đng tui đang quan sát tôi.
    - Thế là đ ri, ông Melas! Chúng tôi đánh giá cao nhng phm cht ca ông.
    Tôi nghiêng mình.
    - Đây là 5 sovereigns. - Ông ta nói, khi tiến li bên tôi. - Mt món thù lao trng hu. Nhưng ông hãy nh đy! - Ông ta nói thêm, tay v nh lên vai tôi và buông ra tiếng cười nho nh. - Nếu ông nói ra chuyn này vi bt c ai... vi bt c ai, ông nghe rõ chưa? Thì lúc đó Chúa cũng không cu ni ông. Xe đang ch ông.
    Tôi gn như b ném ra căn phòng ngoài, ri vào trong c xe. Mt ln na tôi li thy cây ci và tha rung. Gã Latimer ngi trước mt tôi. Sau mt chuyến đi bt tn, chúng tôi dng li:
    - Ông hãy xung đây, thưa ông Melas. Tôi rt tiếc phi b ông xung cách nhà ông quá xa, nhưng tôi không được quyn chn la.
    Anh ta m cánh ca xe và tôi có va đ thì gi đ nhy xung, bi vì người đánh xe đã qut roi vào con nga và c xe phóng đi tht nhanh. Tôi nhìn chung quanh, thy mình đang trong mt đng c, ri rác có nhng bi kim tước. Đng xa có mt dãy nhà, ri rác đó đây nhng ánh sáng ht ra ngoài khuôn ca s trên nhng tng lu. Nhìn v phía bên kia, tôi thy nhng tín hiu đèn đ ca đường st. C xe đã vượt ngoài tm mt. Tôi đang phân vân không biết mình đang đâu thì cht thy mt người tiến ti. Đó là mt phu khuân vác nhà ga.
    - Xin ông vui lòng cho tôi biết đây là đâu?
    - Ht Wandsworth.
    - Làm sao đáp tàu đi London.
    - Cách đây hai cây s. Nếu đi nhanh thì còn kp chuyến chót.
    Thưa ông Holmes, chuyến phiêu lưu ca tôi kết thúc như vy đó”.
    Chúng tôi ngi yên lng hi lâu. Sau cùng Holmes liếc sang Mycroft.
    - Anh có thy mt hướng điu tra nào không?
    Mycroft ly t báo Daily News trên mt bàn:
    - “Mt phn thưởng được tng cho người nào biết ch ca công dân Hy Lp tên là Paul Kratides, t Athènes ti; và là người không biết nói tiếng Anh. Mt phn thưởng khác s được đi ly bt c tin tc nào liên quan đến mt ph n Hy Lp tên là Sophy. Tr li v X2473.” Tt c các nht báo đu đăng li nhn tin này. Cho ti nay chưa có hi âm.
    - Thế còn đi din ca nước Hy Lp?
    - Tôi đã ti hi thăm. Người ta chng biết gì hết.
    - Mt bc đin gi cho cnh sát Athènes, thế nào?
    - Sherlock có tt c ngh lc ca gia đình. - Mycroft nói vi tôi. - Vy thì, hãy nhn ly trách nhim và hãy báo cho anh biết tin, nếu chú thành công.
    - Em s báo tin cho anh biết cũng như s báo cho ông Melas rõ. Trong khi ch đi, thưa ông Melas, ông hãy đ phòng cn thn.
    Trên đường, Holmes dng li bưu cc và đánh đi nhiu bc đin tín.
    - Anh Watson, chúng ta đã không lãng phí bui ti nay. Vn đ này có vài d kin không kém tm thường.
    - Anh gii quyết được ch?
    - Khi đã biết được phân na mà không khám phá ra nt phn còn li, thì còn bt hnh nào hơn!
    - Cô gái Hy Lp đó đã b chàng trai người Anh tên là Harold Latimer bt cóc - Tôi nói.
    - Bt cóc t đâu?
    - T Athènes.
    Sherlock lc đu nói:
    - Người thanh niên đó không nói được mt tiếng Hy Lp, còn cô gái nói được tiếng Anh. Vy là cô ta đã sng trong mt thi gian nước Anh, nhưng còn hn thì không sang Hy Lp.
    - Được. Thế thì chúng ta gi thiết rng cô y lưu li nước Anh và gã lưu manh d d được cô ta. - Tôi nói.
    - Rt có lý.
    - Anh rut cô ta ti nước Anh đ can thip, nhưng ông rơi vào tay bn chúng. Chúng giam gi ông, dùng vũ lc buc ông phi ký vào mt văn kin chuyn tài sn ca cô gái cho chúng, bi vì ông ta là người qun lý tài sn đó. Ông t chi. Đ có th đt ti s tho hip, chúng cn có mt người thông ngôn và chúng đã chn ông Melas, sau khi đã dùng mt người khác t trước đó. Cô gái không biết là anh cô đã ti đây và cô ch biết được s kin này nh s tình c.
    - Hoan hô, Watson. - Holmes kêu lên. - Anh đã gn đoán ra. Chúng ta nm tt c mi quân bài, ch còn lo ngi chúng dùng bo lc.
    - Làm sao tìm ra sào huyt chúng.
    - Nếu cô gái tên là Sophy Kratides, chúng ta s d dàng tìm ra cô. Bi vì gã Harold đã làm quen vi cô ít ra đã được vài tun. Nếu h cùng mt nơi thì tin nhn ca Mycroft được hi âm.
    Chúng tôi v ti nhà Holmes lên cu thang trước và ca m, anh rt ngc nhiên khi thy Mycroft đang ngi trong ghế bành và bình thn hút thuc.
    - Vào đi, Sherlock. Hãy vào đi, ông Watson. - Mycroft nói, khi thy chúng tôi. - chú không ng là tôi chu dn thân vào v này, phi thế không Holmes? V này làm tôi thích thú.
    - Anh đến đây bng gì?
    - Xe nga.
    - Có tin gì mi chăng?
    - Anh đã nhn được hi âm.
    - A!
    - Phi, thư tr li ti anh vài phút, sau khi các chú ra v.
    - Thư nói gì?
    Mycroft rút ra mt t giy.
    - Nó đây này. Tôi xin đc nhé. ”Thưa ông, đ tr li cho tin nhn ca ông v ngày hôm nay, tôi cho ông biết rng tôi hiu rt rõ v người ph ny. Nếu ông đến gp tôi, tôi s cho ông biết vài chi tiết liên quan ti câu chuyn đau bun ca cô y. Hin nay cô đang ti bit th Myrtles ti Beckenham. Người bn tn tâm ca ông J.DavenPorlockt“. Ông y viết t H Brixton. Này Holmes, em có nghĩ rng chúng ta nên đi ti không?
    - Mng sng ca anh cô ta quan trng hơn câu chuyn đau bun ca cô ta. Chúng ta cn ti ngay Scoland Yard đ tìm thanh tra Gregson và cùng nhau đi ti Bekenham. Mt cái chết đang được tính tng gi!
    - Chúng ta ti r ông Melas đi cùng. Biết đâu chúng ta chng cn ti mt người thông ngôn. - Tôi gi ý.
    - Ý kiến tuyt vi! - Holmes nói. - Hãy sai người đi ti mt c xe.
    Holmes m ngăn kéo và nhét khu súng lc vào túi.
    - Phi, - anh nói đ tr li cho tia nhìn ca tôi. - Chúng ta phi đi phó vi mt băng nhóm đáng s.
    Màn đêm buông xung khi chúng tôi ti Pall Mall. chúng tôi gi chuông căn h ca ông Melas.
    - Bà vui lòng cho tôi biết ông Melas có nhà không? - Mycroft hi.
    - Tôi không biết ông đi đâu. - Người đàn bà m ca cho chúng tôi tr li. - Tôi ch biết là ông y đã ra đi cùng vi mt ông trong mt c xe.
    - Ông kia có xưng tên không?
    - Không, thưa ông.
    - Có phi người đó là mt thanh niên tóc nâu, vm v?
    - Đó là mt người nh con, mang mt kiếng, gày gò nhưng rt ng nghĩnh: ông ta c cười luôn trong khi nói.
    - Đi thôi! - Holmes kêu lên vi chúng tôi. - Chuyn nghiêm trng lm ri!
    Trong lúc chúng tôi cho xe chy ti tr s ca Scotland Yard, anh nói vi chúng tôi: - Bn cướp đã bt cóc Melas, rt có th là chúng còn cn ti ông. Nhưng sau khi dùng ông xong ri, chúng s trng pht ông.
    Ti Scoland Yard, phi mt mt gi, chúng tôi mi tiếp xúc được vi thanh tra Gregson, ri sau đó vi vã ti ngay bit th Myrtles: ngôi nhà ln ti tăm, nm trên mt tha đt cách xa đường. Sau khi cho xe nga v, chúng tôi đi trên li vào nhà.
    - Các ca s đu không có ánh đèn vào cái t đã trng trơn. - Holmes nói.
    - Ti sao anh li nói vy?
    - Cách đây gn mt tiếng đng h, mt c xe ch đy hành lý đã đi ngang qua đây: nó t trong nhà chy ra.
    Viên thanh tra ct tiếng cười vang:
    - Ngn đèn hàng rào đã ch cho tôi thy nhng vết bánh xe, nhưng còn hành lý thì...
    - Ông hãy quan sát nhng vết ca cùng nhng bánh xe đó, trong chiu ngược li: nhng vết đi ra cánh đng thì hn rõ hơn trong nn đt. Vy là xe phi chu đng mt trng ti nng hơn rt nhiu.
    - Thế là ông đã đi xa hơn tôi. - Viên thanh tra nhún vai mà tr li. - Cánh ca này chng d gì m được. Nhưng trước hết, chúng ta hãy th gi ca xem sao?
    Ông dùng búa gõ rt d di, git mnh dây chuông, nhưng không có kết qu. Holmes lnh đi. Vài phút sau, anh tr li, nói:
    - Mt ca s đã m.
    - Tht may mà anh li đng v phía cnh sát. - Viên thanh tra quan sát và khâm phc cái cách mà Holmes ny then móc ca s ra. - Chúng ta có th vào nhà mà không cn được mi.
    Chúng tôi ln lượt vào trong mt gian phòng ln, hin nhiên là nơi ông Melas đã được đưa vào. Viên thanh tra thp đèn. Trên bàn có hai cái ly, mt chai brandy đã cn và vài món ăn dư.
    - Cái gì vy nh? - Đt nhiên Holmes hi.
    Chúng tôi ging tai lên nghe ngóng, đng bt đng. T mt nơi nào đó trên lu vng xung mt tiếng rên r nh, nghn. Holmes vi leo lên, viên thanh tra và tôi bám theo bén gót, anh Mycroft cũng đui theo chúng tôi. Lên ti thm cu thang lu hai, chúng tôi thy có ba cánh ca: tiếng kêu xé rut phát ra t phía sau cánh ca gia. Cánh ca b đóng, nhưng chìa khóa li cm bên ngoài. Holmes m ca, lao vào, nhưng ri anh quay ra ngay sau đó và giơ tay chn ly cung hng.
    - Khói quá! - Anh kêu lên. - Chúng ta ch mt chút.
    Liếc vào bên trong, chúng tôi thy gia phòng có mt ngn la xanh, bc lên t mt cái giá ba chân đng. Ngn la v trên sàn nhà mt vòng tròn nh, nht nht; chúng tôi nhn ra hai bóng người co qup da vào tường. Holmes leo lên bc thang trên cao đ hít th không khí ít khói, đon tr vào phòng, m mt ca s ra và ling cái giá ba chân nóng rc xung dưới vườn.
    - Trong mt phút na, chúng ta có th vào được. - Anh hn hn nói khi tr ra ngoài. - Làm sao có ngn nến nh. Không khí như vy không th đánh diêm qut được. Mycroft, anh hãy cm ly cây đèn lng đng ngay ca, ri sáng đ chúng tôi khiêng h ra ngoài. Nào! Chúng ta xông vào!
    Chúng tôi nín th, túm ly nhng k bt bnh, lôi h ra ngoài cu thang. C hai đu bt tnh. Mt trong hai người là viên thông ngôn Hy Lp. Ông b trói chân và tay, mt con mt sưng vù. Người kia cũng b trói tương t, cao và gy trơ xương, mt ông ta trông kỳ quái vi nhng di vi mng có phết h dán. Khi chúng tôi đt ông ta xung đt thì ông ta ngng rên r: ông đã chết, Melas thì còn sng.
    Câu chuyn ca Melas rt đơn gin: người khách đến kêu ca, khi nhìn thy cây dùi cui, ông đã khiếp s, đành đ cho b bt cóc mt ln th hai, b đem v Beckenham và phi làm thông ngôn cho mt cuc đi thoi còn bi thm hơn cuc nói chuyn ln đu. Sau chót, thy rõ là không th nào lay chuyn được còn mi, chúng đưa ông v ch giam cũ. Sau khi nói vi ông Melas rng chúng đã đc được tin nhn trên các báo; chúng nn mt cú dùi cui, và ông b ngt đi... cho ti lúc chúng tôi đến cu ông.
    Chúng tôi khám phá ra được v này nh người viết thư H Brixton. Người này cho biết rng thiếu ph bt hnh thuc mt gia đình Hy Lp giàu có và cô sang nước Anh chơi nơi nhà bn bè. Cô gp Harold, gã này thuyết phc cô b trn theo y. Các bn cô ngao ngán báo tin cho anh cô Athènes ri sau đó h không còn bm tâm gì na. Nhưng khi va ti nước Anh, anh ca cô rơi vào tay Harold và Wilson Kemp. Hai tên lưu manh đó giam gi ông và ra sc ép buc ông ký tên vào mt văn kin chu t b tài sn ca hai anh em ông. Chúng đã giam gi ông và ngy trang ông bng nhng di vi mng có phết h dán, ng tưởng cô em
    gái không nhn ra người anh, trong trường hp cô nhìn thy ông. Tuy nhiên, cái trc giác ca người đàn bà giúp cô nhn ra anh mình. Thế là đến phiên cô b cm gi trong nhà người đánh xe nga và cô v y. Khi hai tên bt lương biết rng bí mt ca chúng b phát giác và người b chúng giam khăng khăng không chu ký tên, thì chúng b trn cùng vi cô gái. Nhưng trước khi b đi, chúng ra tay tr thù con người đã c gan thách thc chúng.
    Vài tháng sau, mt bn tin kỳ l đánh đi t Budapest được đăng trên các báo. Tin cho hay hai người anh du hành cùng mt thiếu ph đã có mt kết cuc bi thm. C hai người đàn ông đu b đâm chết.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này