Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Người Đàn Ông Bí Ẩn

    Bàn Tay Của Chúa


    Vị thẩm phán nói những lời cuối cùng với bồi thẩm đoàn:

    - Thưa quý vị, vậy là tôi đã làm gần như xong phần việc của mình. Nhiệm vụ của các vị bây giờ là kiểm tra lại xem các bằng chứng có đủ để buộc tội bị cáo đã giết Vivien Barnaby. Các vị đã nghe các nhân chứng liên quan tới thời khắc vang lên tiếng súng nổ: không có sự mâu thuẫn nào. Các vị cũng biết rằng bức thư Vivien Barnaby viết cho bị cáo là vào đúng buổi sáng xảy ra vụ án, ngày thứ sáu, 13 tháng 9, vì thế mà bên bị thậm chí không hề có cố gắng nào để phủ nhận sự việc. Các vị cũng biết rõ là khi bị bắt, lúc đầu bị cáo không công nhận là đã đi đến Deering Hill: Sau đó, trước những chứng cứ của phía cảnh sát, anh ta mới chịu. Các vị cần cố kết luận về sự thay đổi 180 độ ấy. Trong vụ việc này, toà không có những chứng cứ rõ ràng, các vị phải đưa ra phán xét của chính các vị dựa trên những dự kiện về động cơ, phương tiện và hoàn cảnh của sự việc. Bên bị khẳng định có ai đó đã vào phòng hòa nhạc sau khi bị cáo ra khỏi đó và giết chết Vivien Barnaby bằng khẩu súng mà anh ta để lại vì một sự cẩu thả mà chúng ta không tưởng tượng nổi. Các vị đã được nghe bị cáo giải thích vì sao anh ta mất tới nửa tiếng đồng hồ để trở về nhà. Nếu các vị không tin vào bản tường thuật sự việc của anh ta và nếu các vị tin chắc bằng cả tâm hồn và ý chí của các vị rằng chính anh ta là người đã chĩa súng bắn vào đầu Vivien Barnaby với âm mưu giết chết người này thì các vị tuyên bố khép tội anh ta. Ngược lại, nếu các vị còn có những hoài nghi xác đáng nhiệm vụ của các vị là xử cho anh ta trắng án. Bây giờ xin mời quý vị nghỉ để thảo luận.

    Mất gần một tiếng đồng hồ, bổi thẩm đoàn đi đến bản án mà tất cả mọi người chờ đợi: "có tội".

    Ông Satterthwaite rời tòa sau khi bản án được tuyên bố, mày chau lại. Vốn dĩ ông không mấy quan tâm đến các vụ xử tội phạm như thế này. Nó mang tính hiếu kỳ, quá ư tế nhị để có thể tìm thấy cái gì đó hay ho trong những chi tiết vớ vẩn của một cái chết tầm thường. Nhưng vụ việc của Wylde thì không phải như vậy. Martin Wylde là người xứng đáng được gọi là "quý ngài" hơn thế nữa, anh ta đã từng có mối quan hệ quen biết cá nhân với nạn nhân, người vợ trẻ của ngài George Barnaby.

    Mãi suy nghĩ, ông đã lên đến Holborn lúc nào, rồi bước vào những ngõ phố nghèo khổ, ngoắt nghéo dẫn tới Soho. Có một nhà hàng nhỏ nằm trong những con phố ấy, được những người thuộc tầng lớp thượng lưu như Satterthwaite biết tiếng. Hẳn nhiên, giá cả ở đây đắt cắt cổ và chỉ dành cho giới khách sành ăn đến từ các cung điện buồn tẻ. Khung cảnh yên ả và hơi tối. Không có một phím nhạc jazz nào len được tới đây hòng khuấy động không gian êm đềm đó. Người phục vụ làm việc trong yên ắng tranh tối tranh sáng, đi qua đi lại với những chiếc khay đĩa bằng bạc, trang trọng như thể họ đang tham gia một nghi lễ thiêng liêng nào đó. Quán có tên gọi là Arlecchino.

    Vẫn đang chìm đắm trong suy nghĩ, ông Satterthwaite bước vào quán, đi về phía chiếc bàn quen thuộc nằm ở một góc khuất nơi cuối phòng. Do cảnh trí mờ tồi, mãi tới khi đến nơi ông mới thấy bàn đã có người, một người đàn ông cao gầy, tóc hung. Bóng tối che khuất khuôn mặt nhưng ánh sáng hắt lên từ một tấm kính màu khiến bộ, như bộ cánh của anh hề trong triều đình.

    Ông Sarrerthwaite đang định quay, bỗng người khách lạ từ từ thay đổi tư thế.Và ông nhận ra người quen.

    - Chúa ơi! - Satterthwaite kêu lên ( ông già vốn thích cách biểu đạt cổ) - Đây là ngài Quinn đây mà!

    Ông đã gặp Quinn ba lần và lần nào cũng để lại trong ông những ấn tưọng sâu sắc. Một con người kỳ lạ, cái ông Quinn ấy, ông ấy luôn luôn sẵn lòng chỉ cho bạn thấy nét mới hoàn toàn của sự việc mà bạn tưởng như đã biết rõ từ lâu.

    Ông Satterthwaite rùng mình dễ chịu vì phấn khích. Ông biết lắm, trong cuộc đời này, ông tự giới hạn mình trong vai trò một khán giả; nhưng có đôi khi, được tiếp xúc với Quinn, ông lại ảo ảnh rằng mình là diễn viên, lại còn là diễn viên chính nữa.

    Nụ cười làm khuôn mặt khô gầy của ông sáng lên.

    - Thật ngạc nhiên quá! - Ông nói - Thật lòng là tôi ngạc nhiên lắm! Ông có thấy phiền, nếu tôi ngồi cùng không?

    - Rất hân hạnh ! - Quinn nói - Ông thấy đấy, tôi còn chưa bắt đầu cơ mà.

    Người quản lý từ trong bóng tối bước ra, đầy vẻ tôn kính - Satterthwaite gọi đồ theo thực đơn, đúng với cung cách một quý ông của những lâu đài quý phái. Viên quản lý rút lui với nụ cười tán thưởng kín đáo và anh bồi trẻ bắt đầu công việc của mình. Satterthwaite quay lại với Quinn.

    - Tôi đến từ Old Bailey - Ông nói - Câu chuyện thật là buồn.

    - Anh ta đã bị kết tội rồi à ? - Quinn hỏi ?

    - Vâng, bồi thẩm đoàn chỉ mất có nửa giờ để kết án.

    Quinn nghiên đầu :

    - Dựa trên các chứng cớ thì không thể tránh được kết cục đó.

    - Nhưng mà ...

    Ông Sartterthwaire ngập ngừng. Quinn tiếp tục :

    -Tuy nhiên, ông đứng về phía bị cáo chứ gì ? Có phải ông dịnh nói vậy không ?

    Vâng, có lẽ thế. Martin Wylde là một chàng trai tốt bụng. Tôi không thể hiểu nổi làm sao mà anh ta lại có thể gây ra tội ác như vậy. Nhưng phải thừa nhận rằng trong thời đại này, dù xét ở phương diện nào đi nữa, có một số thanh niên tự biến mình thành kẻ sát nhân bỉ ổi máu lạnh.

    Quá nhiều nữa là đằng khác - Quinn thủng thẳng nói, thoáng ngạc nhiên.

    - Quá nhiều, đối với Martin Wylde. Ngay từ đầu, người ta đã có ý gán tội cho anh ta, hơn nữa còn thêm thắt vào câu chuyện, kiểu tội ác do người đàn ông tìm cách vứt bỏ một người phụ nữ để cưới một ngưòi khác.

    - Nếu người tin vào các phỏng đóan ... Ngài Satterthwaite nói giọng hoài nghi - À!- Quinn trở nên sôi nổi- Tôi sợ là mình không biết hết tất cả những phỏng đoán kia.

    Ông Satterthwaite bỗng nhiên thấy mình lấy lại được sự tự tin. Một thứ tình cảm giống như sức mạnh tràn ngập trong ông, thôi thúc ông vào vai kịch.

    - Tôi xin giải thích ngay đây. Ông cũng biết là tôi có quen gia đình Barnaby. Tôi hiểu rất rõ các tình tiết của sự việc. Qua tôi, ông sẽ biết cái gì là mặt trái của sự việc, sẽ nhìn nhận sự việc từ bản thân bên trong đó.

    Quinn nghiêng người về phía trước:

    - Nếu như có ai có thể chỉ cho tôi rõ thì đó chính là ngài Satterthwaite- Ông ta thì thầm và không quên mỉm cười khích lệ.

    Satterthwaite níu cả hai tay vào bàn, cảm thấy mình trở nên lớn lao, hoan hỉ, bơi đi trongmột trạng thái lạc ý thức. Lúc này ông là một nghệ sỹ, giản dị và tự nhiên như vốn dĩ là như thế, một nghệ sỹ với phương tiện để biểu đạt nghệ thuật là ngôn từ.

    Ông mô tả một cách ngắn gọn chân dung cư dân ở Deering Hill. Ngài George Barbany đã giàm béo phì, rất tự hào về gia sản của mình, suốt đời lo lắng vì mọi thứ nhỏ nhặt. Ông ta lên giây đám đồng hồ quả lắc của mình vào các chiều thứ sáu, tính toán các khoản chi dùng trong nhà vào các buổi sáng thứ ba, và tối tối tự mình đi kiểm tra xem cửa ra vào đã cài chốt kỹ càng chưa. Một người cẩn trọng.

    Satterthwaite chuyển sang giới thiệu về bà Barnaby, Lời lẽ có vẻ dễ nghe hơn những vẫn rất tỉ mỉ. ông mới chỉ gặp bà có một lần duy nhất nhưng đọng lại trong ông ấn tượng rõ nét và dai dẳng. Một con người sống động, nổi loạn, vẫn còn trẻ lắm. Một "bé gái" bị mắt bẫy: đó là hình ảnh ông Satterthwaite mô tả về Barnaby phu nhân.

    - Cô ấy ghét ông ta, ông có hiểu không? Cô ấy lấy ông ta nhưng không hề biết mình làm gì. Kết quả là...

    Theo Satterthwaite thì đó là một phụ nữ đang tuyệt vọng, không còn tin vào bản thân cũng như vào sắc đẹp của mình nữa, mà không biết làm sao để thoát ra. Không có chút tài sản riêng, cô sống phụ thuộc hoàn toàn vào ông chồng già. Và cô ta rất ham sống. Ông Satterthwaite đặc biệt nhấn mạnh vào điểm này. Đó là sự pha trộn của tính nổi loạn, niềm ham sống mãnh liệt.

    - Còn Martin Wylde- Ông Satterthwaite tiếp tục- Tôi chưa gặp bao giờ nhưng đã nghe nói về anh ta: làm nông nghiệp, sống cách Deering Hill khoảng một nghìn năm trăm mét. Mà quý bà Barnaby lại quan tâm đến nông nghiệp, hay ít ra là cũng có ý định như vậy. Theo thiển ý của tôi, thì đấy mới chỉ là hoàn cảnh thôi. Quý bà còn phải gặp được cơ hội chào hỏi có một không hai rồi bám lấy anh ta một cách tuyệt vọng, như một đứa trẻ con.Tóm lại nguồn cơn sự việc là vậy. Ta biết được diễn tiến tiếp theo nhờ vào bức thư được đọc ở toà. Wylde gìn giữ tất cả các bức thư mà Barnaby phu nhân viết cho anh. Ngược lại, cô ta không giữ bức thư nào của người tình cả. Nhưng nội dung các bức thư của quý bà chứng tỏ rằng Wylde bắt đầu chán mệnh phụ phu nhân rồi. Hơn thế, anh ta cũng nhận ra điều đó, và đi lại với một cô gái trẻ khác cũng sống trong làng Deering Hill- con gái vị bác sỹ. Có khi ông đã gặp cô ta ở phiên toà đấy. Mà không, ông đã bảo ông không ở toà mà. Vậy thì tôi phải kể cho ông nghe về cô ta. Đó là một cô gái tóc vàng, dịu dàng, có lẽ không được thông minh cho lắm. Một người rất trầm tĩnh. Và trung thực. Đáng quý nhất là đức tính trung thực.

    Satterthwaite nhìn đối phương, chờ đợi một cử chỉ khích lệ. Quinn mỉm cười vẻ tán đồng. Ông nói tiếp:

    - Chắc ông biết nội dung của bức thư cuối cùng mà bà Barnaby viết sáng ngày 13 tháng chín. Hoặc giả ông không được nghe đọc trong phiên xét xử thì ông đã đọc được trên các báo. Một bức thư với lời lẽ trách cứ đầy tuyệt vọng, phẫn nộ và đe doạ. Cuối thư cô van xin Martin Wylde hãy đến Deering Hill vào mười tám giờ cùng ngày. "Em sẽ mở cửa phụ để không ai biết là anh đến. Em đợi anh trong phòng hoà nhạc."

    Satterthwaite dừng một lúc trước khi tiếp tục:

    - Như ông cũng biết, khi bị bắt, Martin Wylde đã chối là không đi đến nhà bà Barnaby tối hôm đó. Anh ta khai rằng mang súng đi là để đi săn trong rừng. Nhưng trước những chứng cứ mà cảnh sát đưa ra, lời khai của anh ta không còn giá trị nữa. Thực ra người ta đã lấy được dấu vân tay của anh ta, ông còn nhớ chứ?- trên cánh cửa và ở một trong hai ly cốc tai tìm thấy trên bàn trong phòng hoà nhạc. Vậy là anh ta đổi lại lời khai rằng: anh ta có đến gặp bà Barnaby, họ đã cãi nhau kịch liệt nhưng cuối cùng anh ta cũng khiến quý bà bình tĩnh trở lại. Anh ta thề là đã để khẩu súng của mình ở bên ngoài, dựa nó vào tường, ngay cạnh cửa, khi tạm biệt bà Barnaby, khoảng sau mười tám giờ mười lăm một chút, bà vẫn còn sống và hoàn toàn khoẻ mạnh. Ngay sau đó anh ta quay trở về tới trang trại lúc mười tám giờ bốn mươi lăm. Mà anh ta chỉ phải đi có một nghìn năm trăm mét, như tôi đã kể với ông khi trước, nghĩa là anh ta không thể mất tới nửa tiếng đồng hồ. Còn về khẩu súng, anh ta khai là đã quên nó. Tất cả những điều đó thật khó nghe cho lọt tai...Tuy nhiên...

    - Tuy nhiên sao?- Quinn hỏi.

    - Theo tôi, không thể như thế được. Việc luật sư của toà không dựa vào lời chứng này là một sai lầm. Ông cũng biết, tôi rất hiểu đám thanh niên ở tuổi này, và tôi có thẻ nói với ông rằng những cảnh tượng như thế này làm họ rất rối trí, nhất là những anh chàng như Martin Wylde, hiền nhưng cục tính. Còn với đám đàn bà, sau trận cãi cọ dữ dội như vậy, rất có thể họ lại cảm thấy dễ chịu hơn và lấy lại được tinh thần. Cái đó được gọi là van an toàn, Nó làm giảm căng thẳng thần kinh. Nhưng tôi thì hình dung rất rõ một Martin Wylde đang dao động, chán chường và bất hạnh, đi lang thang mà quên hẳn đi mất khẩu súng anh ta đã dựng ở chân tường.

    Ông Satterthwaite im lặng một lúc rồi tiếp:

    - Dù sao thì điều đó cũng không còn mấy quan trọng nữa vì sau đấy mọi sự đã quá rõ ràng. Chính xác là tiếng súng vang lên lúc mười tám giờ hai mươi phút. Tất cả gia nhân đều nghe thấy: bà nấu bếp, chị phụ bếp, ông bếp trưởng, người ở gái, chị phục vụ riêng của Barnaby phu nhân. Họ nằm rũ trên thành ghế phô tơi. Tên sát nhân đã bỏ lại khẩu súng ngay cạnh đó, như thể nó không hề rời xa đích bắn của mình. Ít nhất là có hai viên đạn đã găm vào não.

    Satterthwaite ngừng lại. Quinn hỏi với giọng dửng dưng:

    - Chắc hẳn đám gia nhân đã đứng ra làm chứng?

    - Vâng. Ông bếp trưởng đến hiện trường trước những người khác vài giây, song tất cả các lời khai đều giống nhau.

    - Như thế có nghĩ là tất cả đều làm nhân chứng?- Quinn phác một cử chỉ rất có vẻ suy nghĩ- Không có ngoại lệ nào sao?

    - Tới giờ tôi mới nhớ, người ở gái chỉ ra trình toà trong quá trình điều tra. Từ sau đó, hình như cô ta đi Canada thì phải.

    - Tôi biết- Quinn nói.

    Im lặng bao trùm. Có sự bất ổn nào đó làm xáo động không khí trong nhà hàng nhỏ bé này. Bất chợt ông Satterthwaite cảm thấy phải giữ thế đề phòng.

    - Điều gì ngăn cản cô ta đi tới đó?- ông đột ngột hỏi.

    - Điều gì đã buộc cô ta phải đi tới đó mới đúng, ông có nhầm lẫn không? -Quinn nhún vai hỏi lại.

    Thật là kỳ, câu hỏi trái ngược hẳn với ý của ông Satterthwaite. Ông muốn tránh khéo ý ấy và muốn trở lại chuyện gia đình kia.

    - Không có mấy điều khả nghi quanh cái chết. Thật ra, có vẻ như đám gia nhân biết rất ít các sự việc đã xảy ra. Không một ai ở trong nhà để chứng kiến tận mắt. Câu chuyện đã diễn ra khá lâu trước khi có một người trong bọn họ nghĩ ra là phải gọi điện cho cảnh sát, mà khi định gọi thì họ mới phát hiện ra điện thoại không dùng được nữa.

    - Ra vậy! Điện thoại không dùng được nữa?

    - Không.

    Ông Satterthwaite bỗng tin rằng các sự kiện này có tầm quan trọng cốt yếu. Bằng một giọng chậm rãi, ông nói tiếp:

    - Tất nhiên, có lẽ kẻ nào đó đã suy nghĩ cân nhắc để đặt nó ngoài tầm tay. Nhưng như thế cũng đâu để làm gì: cái chết đền gần như tức thì.

    Quinn không nói gì. Ông Satterthwaite lại cho rằng lời giải thích của mình không được thuyết phục.

    - Không có ai ngoài Wylde bị nghi ngờ. Theo nhu bị cáo xác nhận, anh ta ra khỏi toà nhà đúng ba phút sau khi súng nổ. Hơn nữa, còn ai khác có thể nổ súng ở đây nữa? Ngài George đang chơi bài bên hàng xóm. Ông ta ra khỏi nhà lúc mười tám giờ ba mươi và rời khỏi đó đúng lúc một gia nhân chạy tới báo cho ông hay tin dữ. Không nghi ngờ gì về điểm này được. Henry Thompson, viên thư ký của ngài George ngày hôm đó đang ở Luân Đôn và có cuộc gặp công vụ vào lúc tội ác xảy ra. Còn Sylvia Dale có chứng cớ ngoại phạm hoàn hảo, chứng tỏ không liên quan gì tới cái chết của bà Barnaby vì cô đang ở ga Deering Vale, đưa bạn lên chuyến tàu lúc mười tám giờ mười lăm. Còn lại chỉ có đám gia nhân. Không một ai trong số bọn họ có lý do để gây ra chuyện đó. Vả lại, tất cả bọn họ chạy tới nơi xảy ra án mạng gần như cùng một lúc. Không, thủ phạm chỉ có thể là Martin Wylde.

    Nhưng nghe giọng thì biết là ông không thoả mãn với kết luận kia.

    Họ dùng bữa trong yên lặng. Quinn Không phải người thích ba hoa hàu hước, còn Satterthwaite đã nói tất cả những gì ông cần nói. Sự yên lặng nghe chừng khó thở vì càng lúc ông Satterthwaite càng thấy không hài lòng trước thái độ trung lập của Quinn.

    Đột nhiên, ông Satterthwaite dằn mạnh dao dĩa của mình xuống bàn.

    - Nếu như chàng trai trẻ hoàn toàn vô tội thì sao?Ông nói- Vậy mà anh ta sẽ bị treo cổ!

    Ông có vẻ rung động với ý nghĩ này. Quinn vẫn không nói gì.

    - Thâm tâm thì tôi không...

    Ông ngừng lại. Đáng ra phải nói hết câu thì ông lại hỏi một ý chẳng ăn nhập gì với câu chuyện từ nãy tới giờ:

    - Có gì không bình thường trong việc người đàn bà đi Canada không?

    Quinn ngẩng đầu lên, chẳng nói chẳng rằng.

    - Tôi thậm chí không biết là cô ta ở vùng nào ở Canada- Satterthwaite nói tiếp với giọng gắt gỏng.

    - Làm sao mà ông biết được điều đó?- Đối phương bắt đầu lên tiếng.

    - À, là tôi nghĩ vậy. Chắc là ông bếp trưởng có biết việc này. Hoặc là viên thư ký Thompson.

    - À, là tôi nghĩ vậy. Chắc là ông bếp trưởng có biết việc này. Hoặc là viên thư ký Thompson.

    Satterthwaite lại im lặng. Khi ông lên tiếng, giọng ông nghe như năn nỉ:

    - Thật sự thì những chuyện này không liên quan gì đến tôi...

    - Vấn đề ở chỗ là chàng trai kia sẽ bị treo cổ trong ba tuần nữa.

    - Phải rồi, nếu nói như vậy...vâng, đúng thế. Tôi hiểu điều ông định nói. Cái sống, cái chết. Rồi cả cô gái tội nghiệp kia nữa. Không phải tôi thiếu thiện chí nhưng thực ra thì có giúp ích được gì đâu? Tất cả chuyện này không phải là lố lăng sao? Thậm chí nếu tôi tìm được cô ta ở đâu... có khi tôi phải đích thân đi đến tận nơi!

    Ông Satterthwaite có vẻ rất phiền lòng.

    - Và tôi đang có ý định đi Riviera vào tuần sau- ông nói giọng đầy thương cảm.

    Ánh mắt ông hướng về Mr Quinn, dường như van vỉ: "Làm ơn đừng nói là tôi nên đi"

    - Chưa bao giờ ông đến Canada à?

    - Chưa bao giờ.

    - Đất nước này có nhiều điều rất thú vị.

    Quinn ngả người trên ghế, châm thuốc hút. Đợi hết hơi thuốc, ông thong thả nói:

    - Thưa ngài Satterthwaite, ngài là một người giàu có, tôi biết chứ. Không phải tỷ phú nhưng ngài có thể cho phép mình làm gì đó, rất tuỳ hứng, mà không cần để ý đến chi phí cho việc đó. Cho tới bây giờ, ngià hài lòng với vị trí của một người đứng ngoài lề những thảm kịch và nỗi đau của con người. Đã bao giờ ngài có ý muốn được là người trong cuộc, được đóng một vai trò nào đấy trong tấn bi kịch đó? Có khi nào ngài tự tưởng tượng ra, dù trong nửa phút thôi, ngài nắm trong tay sự sống và cái chết? Ngài sẽ phán xử số phận của người khác như thế nào?

    Satterthwaite cúi người về phía trước. Ông lại cảm nhận được nhiệt tình sôi sục đã xâm chiếm con người mình:

    - Ý ông là liệu tôi có đi khắp mọi nơi ở Canada không ấy à?

    Quinn mỉm cười nhẹ nhàng đáp lời:

    - Ồ , chính là ông tự nêu ý đó đấy chứ đâu phải tôi.

    - Ông không nên tránh né như vậy- Satterthwaite phản đối- Mỗi khi tôi gặp ông trên con đường mình đi...

    Satterthwaite dừng lại.

    - Thì sao kia?- Quinn khuyến khích.

    - Ông có điều gì đó thật đặc biệt mà tôi không hiểu, mà có khi không bao giờ tôi có thể hiểu nổi. Lần cuối cùng tôi gặp ông...

    - ...Một buổi tối ở Saint- Jean.

    Ông Satterthwaite rùng mình, như thể những gì mà người đàn ông trước mặt vừa thốt ra kia chứa đựng một dấu hiệu nào đó mà ông không hiểu rõ.

    - Có đúng là buổi tối ở Saint-Jean không?- Ông hỏi đầy bối rối.

    - Đúng. Nhưng đã qua rồi. Và không có gì đáng nói chứ?

    Satterthwaite cảm thấy rõ ràng những điều ẩn ý sau lời nói kia như đang trượt trên ngón tay mình. Ông trả lời với giọng trang trọng:

    - Nếu ông nói vậy...Khi từ Canada về...(ông ngừng lời, vẻ lúng túng), tôi...tôi rất mong được gặp lại ông.

    - Nhưng mà tôi không có địa chỉ cố định- Quinn nói giọng đầy tiếc rẻ- Tuy nhiên, tôi thường xuyên tới đây. Nếu ông cũng là khách quen ở đây thì chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau nơi này thôi.

    Rồi họ thân ái chia tay nhau.

    Đầy phấn khích, ông Satterthwaite vội vã đến văn phòng hãng Cook để hỏi ngày khởi hành các chuyến tàu đi Canada. Rồi gọi điện cho Deering Hill. Trả lời ông là giọng nhũ nhặn tôn kính của ông bếp trưởng.

    - Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Satterthwaite... làm việc cho một văn phòng luật sư. Tôi muốn hỏi một vài thông tin về một cô hầu trẻ làm việc chỗ các ông chưa lâu.

    - Thưa ngài, có phải là Louisa không? Louisa Bullard?

    - Đúng cô gái ấy đấy- Satterthwaite nói- Rất cảm ơn ông cho biết thông tin.

    - Tôi rất tiếc thưa ông, cô ấy không còn ở trong nước nữa mà đã đi Canada cách đây sáu tháng rồi.

    - Ông làm ơn cho tôi xin địa chỉ của cô ấy ở bên đó?

    Nhưng ông bếp trưởng không biết, ông chỉ nghe loáng thoáng đó là một làng ở miền núi, tên kiểu Ê-cốt. Phải rồi, Banff. Tất nhiên là đám gia nhân trong nhà cũng rất muốn biết tin tức về cô nhưng Louisa không hề viết thư cũng chẳng để lại địa chỉ.

    Satterthwaite cảm ơn rồi gác máy. Ông không hề nhụt chí; thấy rõ cảm giác phiêu lưu tràn ngập tâm tưởng. Ông sẽ đi Banff, sẽ kết thúc cuộc hành trình khi tìm ra Louisa Bullard, nếu cô ta ở đó.

    Satterthwaite rất hài lòng, chuyến đi sẽ mang đến cho ông đôi điều ngạc nhiên. Đã bao năm nay ông không đi chuyến nào dài ngày như vậy. La Riviera, Le Touquet, Deauville và Ecosse: những địa danh mới quen thuộc làm sao. Giờ đây, tinh thần của chuyến vượt biển còn là nắm giữ một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Nếu những người đồng hành mà biết được mục đích của cuộc kiếm tìm, chắc chắn họ sẽ cho điều đó là ngớ ngẩn hết chỗ nói. Hẳn nhiên rồi, vì họ đâu có biết "Ngài Quinn".

    Khi tới Banff, các kế hoạch của ông không gặp phải bất kỳ trở ngại nào. Louisa Bullard làm việc ở Đại khách sạn trong vùng. Mười hai giờ sau khi đến nơi, Satterthwaite đã gặp được cô gái.

    Đó là một phụ nữ chừng ba nhăm tuổi, vẻ bạc nhược dù dáng vóc rất cao lớn. Mái tóc màu hạt dẻ xoăn tít, đôi mắt cũng màu hạt dẻ nhìn thẳng. Theo ông, cô ta có vẻ hơi khờ khạo nhưng hoàn toàn có thể tin tưởng được.

    Louisa Bullard tin lời ông ngay khi ông nói mình có nhiệm vụ thu thập thông tin đầy đủ về bi kịch ở Deering Hill. Cô nói:

    - Tôi đã đọc được trên báo thấy Martin Wylde bị kết tội. Thật không hay chút nào!

    Cô ta không có vẻ gì là ngạc nhiên về thảm kịch xảy ra.

    - Một chàng trai dễ thương nhưng lại có một kết cục buồn. Tôi không định nói xấu người đã chết nhưng anh ta chỉ muốn chống lại việc quý bà dắt mũi anh ta thôi. Bà thì lại không muốn buông tha cho anh ta. Kết cục, cả hai đều đã bị trừng phạt. Khi tôi còn bé, có một bài khoá treo trên tường trong phòng tôi viết: " Không được nhạo cười thượng đế". Đấy là chân lý đấy! Tôi đã biết chắc là thể nào cũng xảy ra chuyện, mà đúng thế thật.

    - Cô biết gì về chuyện này?

    - Lúc đó tôi đang thay quần áo trong phòng mình, lơ đãng nhìn qua cửa sổ. Một con tàu chạy ngang qua, rồi- ông có tin hay không thì tuỳ- làn khói trắng thoát ra từ ống khói đầu tàu có hình một bàn tay khổng lồ. Một bàn tay màu trắng in hình trên nền trời đỏ rực. Những ngón tay quắp lại như muốn nắm lấy vật gì đó. Tôi không khỏi liên tưởng mà tự nhủ: "Đây là dấu hiệu của bất hạnh sẽ đến...". Và thực sự thì đúng lúc ấy tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Vừa nghĩ "thôi, thế là xong" tôi vừa chạy vội xuống dưới nhà, gặp Carrie và những người khác ở đại sảnh. Bước vào phòng nhạc, chúng tôi thấy bà ấy ở đó, đầu đầy máu...Thật là kinh khủng. Tôi vội vàng đi báo cho ngài George nhưng ông ấy hình như không để ý gì đến cảnh tượng đã diễn ra. Ngày hôm ấy là ngày của bất hạnh. Tôi cảm nhận được rõ rệt điều đó ngay từ lúc sáng. Cũng không quá ư kì lạ vì hôm đó là thứ sáu ngày 13...

    Ông Satterthwaite kiên nhẫn lắng nghe cô Louisa vẫn đang tiếp tục nói với giọng đều đều. Mất khá nhiều lần nhắc nhở. đặt nhiều câu hỏi cụ thể về vụ án, ông hướng thẳng cô ta vào chủ đề chính của vấn đề. Cuối cùng ông phải tự nhận là mình đã bị khuất phục. Louisa Bullard đã kể cho ông nghe tất cả những gì cô ta biết, lời kể của cô ta rất rõ ràng, cụ thể.

    Tuy thế, ông cũng phát hiện ra một điểm quan trọng: công việc mới mà cô đang làm là do ông Thompson, thư ký của ngài George giới thiệu. Cô đã đồng ý đi làm vì được trả lương rất cao, cho dù buộc phải rời Anh quốc đi xa thật xa. Có một ông Denman nào đó đã chuẩn bị tất cả những việc cần thiết, đồng thời dặn cô không được viết thư cho bất kỳ gia nhân nào ở Anh, nếu không muốn "có rắc rối với phòng xuất nhập cảnh". Lưu ý là cô Louisa đã đồng ý mà không hỏi một câu nào.

    Mức lương mà cô Louisa có nói quá cao đến độ ông Satterthwaite thấy thật sự sửng sốt. Sau một hồi lưỡng lự, ông quyết định đi gặp ngài Denman nổi tiếng kia.

    Không có gì khó khăn lắm để lấy tin tức từ ông Denman. Ông này tình cờ gặp Henry Thompson ở Luân Đôn và có được ông ta giúp cho ít việc. Vào tháng chín, ông thư ký kia viết thư cho ông giải thích rằng ông chủ của mình muốn cô Louisa Bullard xuất ngoại vì những lý do cá nhân. Liệu ngài Denman có thể giúp sắp xếp cho cô ta công việc nào đó không? Kèm theo bức thư là một khoản tiền đủ để trả thêm vào mức lương mà ông đã đề xuất.

    - Tôi nghĩ câu chuyện khá rối rắm- Ngài Denman vừa nói vừa uể oải ngả người trên ghế- Cô ta có vẻ tốt tính.

    Về phần mình. Satterthwaite lại không thấy đây là câu chuyện dây cà dây muống mà ông đóan chắc Louisa Bullard không phải là đồ chơi nhất thời của ngài George Barnaby. Nhưng vì lý do gì mà phải rời xa cô? Ai là người đã bày ra chuyện này? Chính là ngài George, nhưng thông qua Thompson? Hay anh thư ký kia đã lợi dụng danh nghĩa của ông chủ?

    Satterthwaite trở về, trong lòng cứ lấn cấn mãi, lại thêm cảm giác thất vọng và thất bại, vì chuyến đi không mang lại điều gì. Ngay hôm sau, ông tìm đến quán L⬙ Arlencchino. Hơn cả mong đợi, ông nhận ra gương mặt thân quen của Quinn nơi cuối phòng, nụ cười cởi mở, sáng rỡ.

    - Vậy đấy! Giờ thì ông có thể huênh hoang vì đã xỏ mũi được tôi rồi đấy. Satterthwaite vừa nói vừa với tay quết bơ, làm tôi đuổi theo những cái vớ vẩn.

    Quinn nhướng đôi lông mày:

    - Sao lại là tôi? Chính ông đề xướng ý tưởng đó chứ?

    - Đâu cần biết ai là người khơi mào, nhưng tóm lại chuyến đi là công cốc. Louisa Bullard chẳng biết gì mà nói.

    Rồi ông Satterthwaite kể lại chi tiết cuộc chuyện trò với cô hầu gái và với ông Denman. Quinn lặng yên nghe.

    - Nói gì thì nói, cũng không hẳn là không có manh mối gì. Người ta hẳn phải nghĩ nát óc trước khi chịu cách xa Louisa Bullard. Nhưng vì sao kia? Tôi nghĩ mãi vẫn không ra.

    - Không nghĩ ra ư?- Quinn hỏi giọng thẽ thọt lấy lòng khiến ông Satterthwaite đỏ cả mặt.

    - Không lẽ ông cho là tôi không khéo hỏi? nhưng xin bảo đảm là tôi đã khiến cô ta kể đi kể lại câu chuyện. Làm sao có thể đổ lỗi cho tôi nếu không có được những thông tin cần thiết.

    - Thế ông có chắc là ta không tìm được manh mối gì không?- Quinn hỏi.

    Bị bất ngờ, Satterthwaite đưa mắt nhìn Quinn, bắt gặp ánh nhìn buồn bã và đầy giễu cợt đã thân thuộc với ông lắm lắm. Ông lắc đầu, rồi mải đuổi theo bao ý nghĩ.

    Quinnn tiếp chuyện, giọng khác hẳn:

    - Một ngày gần thôi, ông sẽ hoạ lên bức tranh hoàn hảo về các nhân vật trong câu chuyện này. Mới có vài từ nhưng hình ảnh của họ hiện lên sắc nét như thể một bức điêu khắc. Cũng theo cách ấy, ông mô tả lại ngôi nhà tôi nghe xem nào. Không ai để ý đến nó cả.

    Ông Satterthwaite được khích lệ.

    - Deering Hill...? Một ngôi nhà như chúng ta vẫn thấy, tường gạch đỏ lô nhô cửa sổ. Trông qua thấy vẻ bình thường nhưng bên trong rất tiện nghi. Ngôi nhà không lớn lắm, chừng độ một hecta đất. Những ngôi nhà quanh cái sân golf cho mấy người giàu đều giống nhau. Nhà được bài trí như khách sạn: các phòng toát lên vẻ sang trọng nhờ các bồn tắm, lavabo- nước nóng lạnh, những bộ chân nến mạ vàng. Dù tiện nghi thật đất nhưng phỏng có giá trị gì vì ngôi nhà toạ trốn điền thôn. Mà Luân Đôn lại chỉ cách đó có ba mươi cây số.

    Quinn chăm chú lắng nghe.

    - Đường sắt không đựoc thuận tiện lắm phải không?

    - Sai rồi- Satterthwaite bắt vào ngay- Hè năm ngoái tôi có về đây nhgỉ nên biết chứ, đi từ Luân Đôn về rất dễ dàng. Giờ nào cũng có tàu khởi hành từ Waterloo, từ sáng đến hai mươi hai giờ bốn mươi tám phút.

    - Đi bao lâu thì đến Deering Hill?

    - Bốn mươi phút.

    - Đúng rồi, lẽ ra tôi phải nhớ tới điều này chứ- Quinn ra ý ngắt lời- Trong một buổi tối đáng nhớ ấy, cô Dale đã đi với một cô bạn lên chuyến tàu lúc mười tám giờ hai mươi tám phút đúng không?

    Ông Satterthwaite vẫn lặng yên. Bất chợt ông nhớ tới khúc mắc chưa có lời đáp của mình. Cuối cùng ông lên tiếng:

    - Vừa rồi, khi hỏi tôi có chắc là ta không lấy được tin không hẳn là ông có ý gì chứ?

    Câu hỏi rất chỉn chu và khó nhưng Quinn không nao núng:

    - Tôi tự hỏi , không biết ông có phải người cầu toàn không thôi. Không lẽ ông không thấy việc Louisa Bullard phải rời xa nước Anh đã được cân nhắc rất kỹ? Hẳn phải có lý do rồi. Mà lý do phải bộc lộ trong những câu chuyện cô ấy kể với ông.

    - Phải rồi, cô ta dã nói gì? - Ông Satterthwaite suy luận- Nếu là nhân chứng trước toà, cô ta nói gì đây?

    - Có thể là cô ta sẽ kể lại những gì nhìn thấy.

    - Mà cô ấy thấy gì?

    - Một dấu hiệu trên trời.

    Ông Satterthwaite nhìn Quinn sững sờ.

    - Ông nghĩ đến cả điều phi lý ấy? Rằng đó là bàn tay của Chúa trời?

    - Dựa vào những điều chúng ta biết, đó có thể là bàn tay của Chúa lắm chứ.

    Sự tò mò của ông Satterthwaite rõ ràng là bị kích thích ghê gớm trước cách nói nghiêm trang của ông bạn. Ông phản đối:

    - Thật vô lý! Chính cô ta đã nói đó là khói tàu kia mà.

    - Con tàu này đi Luân Đôn hay từ Luân Đôn tới? - Quinn thì thào.

    - Giờ nào cũng có tàu đi Luân Đôn, lúc kim dài đồng hồ chỉ số mười. Vậy đương nhiên đó phải là tàu từ Luân Đôn đến, chuyến tàu mười tám giờ hai mươi tám phút...Không đúng, như vậy cũng không hợp lý vì cô hầu gái khẳng định là nghe thấy tiếng súng ngay sau đó, mà ta đều biết súng nổ lúc mười tám giờ hai mươi phút. Chắc chắn là con tàu không thể đến sớm mười phút được.

    - Có thể lắm chứ, ông chẳng nói đây là miền quê còn gì?- Quinn thuyết phục.

    Ông Satterthwaite nhìn thẳng vào Quinn, giọng trùng xuống:

    - Có thể đó là tàu chở hàng, nhưng nếu thế thì...

    - Thì việc đưa Louisa Bullard đi Canada không có ích lợi gì cả- Quinn nói tiếp vào- Đồng ý.

    Ông Satterthwaite đăm đăm nhìn Quinn, chậm rãi nói từng tiếng rõ ràng:

    - Chuyến tàu lúc mười tám giờ hai mươi tám phút... Nhưng, nếu súng nổ vào lúc đó, tại sao tất cả đều khẳng định tiếng nổ vang lên trước đó?

    - Đương nhiên là đồng hồ bị chậm.

    - Tất cả sao?- ông Satterthwaite kêu lên đầy nghi hoặc- ông muốn nói có sự trùng hợp!

    - Tôi không nghĩ đó là sự trùng hợp- Quinn chữa lại- Tôi nghĩ đến vụ giết người đã xảy ra vào một ngày thứ sáu.

    - Thế thì sao?

    - Chính ông đã nói là ngài George lên giây đồng hồ vào mỗi chiều thứ sáu- Quinn giải thích.

    Sững sờ trước phát hiện soi sáng trí não mình, ông Satterthwaite thì thầm, gần như nín thở:

    - Ông ta đã chỉnh đồng hồ chậm mười phút...rồi đi chơi bài. Có thể ông ta đã xem bức thư mà cô vợ vừa viết cho Martin Wylde sáng hôm đó...Phỉa rồi, chắn chắn là ông ta đã xem. Ông ta rời chiếu bạc lúc mười tám giờ ba mươi phút, lấy đi khẩu súng mà Martin dựa vào tường gần cửa; sau đó quay về nhà giết vợ từ phía sau, rồi trở ra, quẳng khẩu súng vào bụi rậm chỗ mà sau này người ta tìm thấy vật chứng, khi gia nhân chạy sang hàng xóm để báo tin, anh ta có thẻ tin là ngià George vừa rời khỏi đó. Nhưng ...người ta giải thích ra sao về sự cố điện thoại? À mà tôi hiểu rồi: Ông ta cắt điện thoại để không ai gọi cho cảnh sát được và cảnh sát thừa sức ghi lại giờ gọi điện. Bây giờ sự vụ sẽ đổ lên đâu Wylde. Anh chàng ra khỏi nhà lúc mười tám giờ hai lăm phút, mà không, lúc mười tám giờ hai lăm phút, rảo bước từ tốn, đến nhà ngài George lúc mười tám giờ bốn mươi nhăm. Đúng thế, mọi việc rõ ràng. Còn duy nhất một sự đe doạ là Louisa và những chuyện mê tín của cô ấy. Ai đó có thể nghĩ ra chuyến tàu và thế là âm mưu hoàn hảo của ngài George bị lật tẩy.

    - Rất hùng biện- Quinn bình luận.

    Satterthwaite quay lai, ngượng ngịu.

    - Sự việc là vậy, nhưng bây giờ làm sao để giải quyết đây?

    - Nên chăng chúng ta đi gặp Sylvia Dale- Quinn nói.

    - Nhưng tôi đã nói với anh rồi đấy- Satterthwaite bĩu môi ngờ vực- Tôi thấy cô ấy không mấy thông minh.

    - Nhưng ngược lại- Ông bố và mấy ông anh của cô ấy luôn sẵn lòng.

    - Đúng thế, ông Satterthwaite đồng tình.

    Lát sau, ông kể lại toàn bộ câu chuyện cho cô gái trẻ nghe. Cô chăm chú nghe, không hỏi câu nào, khi ông ngừng kể, cô ngẩng đầu lên.

    - Tôi cần một xe taxi. Ngay lập tức.

    - Cháu định làm gì vậy?

    - Cháu đi tùm ông George Barnaby.

    - Không được đâu. Cách đó không hay đâu. Nghe bác này...

    Ông rảo bước theo cô can ngăn nhưng cô không nghe. Cô để ông lên xe cùng mình nhưng giả điếc trước mọi lời lẽ của ông. Vào trong thành phố, cô để ông đợi trong xe còn mình vào văn phòng ông George.

    Nửa giờ sau cô trở ra, mệt mỏi. Vẻ sáng rỡ biến mất thay vào đó là nét xanh xao nhu bông hoa không cắm nước. Ông Satterthwaite ân cần đón cô.

    - Cháu đã làm đúng- Vừa ngả người ra ghế cô vừa thì thầm, mắt khép nhẹ.

    - Cháu bảo sao cơ?- Ông kêu lên ngạc nhiên- Cháu đã làm gì, nói gì thế?

    Cô gái hơi nhổm dậy.

    - Cháu bảo là Louisa Bullard đã tới đồn cảnh sát khai báo rồi, cảnh sát đã tìm được những nhân chứng nhìn thấy ông ấy vào nhà sau mười tám giờ ba mươi phút và trở ra sau đó một lát; là mọi chuyện hỏng rồi. Tới lúc đó, ông ta suy sụp. Cháu bảo vẫn còn thời gian để trốn, rằng cảnh sát sẽ không tới đây trước một giờ. Và nếu ông ta viết bản tự thú tội giết chết Vivien, cháu sẽ không làm gì. ngược lại nếu ông ta từ chối, chúa sẽ loan báo sự thật cho tất cả mọi người trong toà nhà này biết. Ông ta hoảng loạn đến mức không còn biết phải làm gì nữa, ký vào bản nhận tội mà không buồn xem lại.

    Cô đưa cho ông tờ giấy.

    - Bác cầm lấy đi. Bác biết phải làm sao để trả tự do cho Martin mà.

    - Đây đúng là chữ ký của ông ta- Ông Satterthwaite kêu lên sửng sốt.

    - Bác vẫn biết ông ta là người hơi đần mà- Thoáng chút suy nghĩ cô nói thêm- mà cháu cũng thế. Nhờ vậy mà cháu hiểu được phản ứng của những kẻ ngu ngốc. Con người là vậy, khi hoảng hốt thì làm những điều không được phép để rồi sau đó ăn năn.

    Cô rùng mình. Ông Satterthwaite nắm lấy tay cô.

    - Cháu phải lấy lại sức đã. Vừa may đã đến L⬙Arlecchino, đây là một quán ăn ưa thích của bác, cháu đã bao giờ đến nơi này chưa?

    Cô gái lắc đầu.

    Ông Satterthwaite ra đáu bảo lái xe đỗ lại. Họ bước vào quán. Lòng chứa chan hi vọng. ông đưa cô tới chiếc bàn nơi cuối phòng nhưng không có ai ngồi đó cả.

    Sylvia Dale nhận thấy vẻ thất vọng của ông. Cô hỏi:

    - Bác sao thế?

    - Không sao. À mà có. Ít nhiều bác cũng mong gặp một người bạn. Nhưng không sao. Có thể một hôm nào đó, bác sẽ gặp lại anh ta...
  2. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Người Đàn Ông Bí Ẩn

    Đêm Ở Monte - Carlo


    Ông Satterthwaite đang tận hưởng ánh nắng mặt trời ở Monte-Carlo. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày chủ nhật thứ hai của tháng giêng là ông tạm biệt nước Anh sang Bờ biển Ngà. Ông đúng hẹn như con chim én báo hiệu mùa xuân sang, Đến tháng tư, ông về nước,ở lại Luân Đôn cả tháng năm và tháng sáu, bao giờ cũng nhớ tới Ascot. Sau khi tham dự trận đấu giữa Eton- Harow, ông thăm thú bè bạn ở nông thôn rồi đi tĩnh dưỡng ở Deauville hay Touquet. Tháng chín và tháng mười, phần lớn thời gian dành để đi săn trước khi trở về Luân Đôn và ở lại đó cho đến hết năm. Ông quen tất cả mọi người ở những nơi ông đến, và đương nhiên họ cũng biết ông cả.

    Sáng hôm nay, ông thấy trong người không được thoải mái. Khu vườn trông ra mặt biển mênh mông xanh ngắt vẫn lấp lánh như mọi ngày nhưng con người khiến cảnh tượng xấu đi, vì ông thấy họ thật khó coi và thô kệch. Thì vẫn có những kẻ ham vui không cưỡng lại được sự quyến rũ của tấm thảm xanh dương ấy, họ góp phần tôn thêm giá trị của bức tranh. Nhưng vẫn còn thiếu, là thiếu cái hồn, những gì mà người ta gọi là tinh tuý trong bức tranh quen thuộc kia.

    Ông Satterthwaite ưu tư lẩm bẩm. "Ta bắt gặp đủ mọi loại người ở đây, có bao nhiêu người trong số kia chưa từng dám tưởng tượng có một ngày họ tới được nơi này? Còn mình ngày một già đi...Đám trẻ đang phất lên giờ đổ xô về Thụy Sỹ."

    Đi đâu rồi những ngài nam tước, bá tước thanh lịch, những đại công tước và các bậc thân vương quyền quý? Tính đến ngày hôm nay, vị thân vương duy nhất mà ông còn được gặp là một con người coi thang máy trong một khách sạn tầm tầm. Còn các "quý bà" xinh đẹp và giàu có nay ra sao? Các bà vẫn ở trên đời nhưng còn ít lắm.

    Ông Satterthwaite là một kẻ gàn dở đang quan sát cái mà người ta vẫn gọi là cuộc đời, nhưng lại thích nhìn nhận sự việc theo chiều sâu sắc màu. Sự buồn chán choán lấy ông. Các giá trị đổi thay...mà ông thì già mất rồi, không đủ sức theo kịp trào lưu.

    Ông đắm chìm trong suy tưởng. Và nhận ra bà bá tước Czarnova đang đi tới. Đã bao năm nay năm nào ông cũng gặp bà ở Monte- Carlo. Lần đầu tiên, bà là phu nhân một đại công tước. Lần sau là phu nhân một bá tước người Áo. Lần kế tiếp bà kết bạn với những người Do Thái: Những người đàn ông có cái mũi khoằm, nước da vàng bủng và các món đồ trang sức quái dị. Từ một hai năm nay người ta lại thấy bà đi với đám thanh niên, chủ yếu là các cậu choai choai.

    Sáng hôm nay, bà khoắc tay một chàng trai còn rất trẻ đi dạo. Ông Satterthwaite còn biết anh ta, trông cảnh ấy thì trong lòng thấy không đành. Franklin Rugge là một người Mỹ đặc sệt phong cách vùng Trung Đông. Cởi mở, ít học nhưng dễ thương, ở anh ta là sự pha trộn kỳ lạ giữa một thiên tính minh mẫn và chất duy tâm. Anh ta đến Monte-Carlo cùn một đám thanh niên nam nữ, lần đầu tiên đến châu Âu nhưng họ chẳng ngại ngần lớn tiếng phê phán hay ngợi khen.

    Nhìn chung, đám thanh niên với mấy người Anh ở cùng khách sạn không ưa gì nhau. Nhương Satterthwaite thì khác, ông đã đi đây đó nhiều, ông nhìn họ với nhiều thiện cảm, yêu mến sự thẳng thắn và mạnh mẽ của họ, dù đôi khi ông cũng không chịu nổi những câu nói cẩu thả sai cú pháp của những người trẻ này.

    Theo ông, bà bá tước Czarnova và anh chàng Franklin chẳng hợp nhau tí nào.

    Ông lịch sự ngả mũ chào họ khi họ tới gần, bà bá tước nghiêng đầu duyên dáng chào đáp lại. Bà ấy cao dong dỏng, gọn gàng. Tóc đen, mắt đen, cứ như thể chưa bao giờ tạo hóa vẽ lên đôi mày, đôi mi đen diệu kỳ đến vậy. Làn da mịn màng với lớp kem thoa không một khiếm khuyết. Ấy, không còn lạ gì phụ nữ nhưng ông Satterthwaite cũng thầm phục nghệ thuật trang điểm của bà bá tước. Hơn bao giờ hết, những vầng thối thanh tao nhấn thêm nét đẹp của đôi mắt. Cánh môi tô son màu đỏ đậm huyền bí, không phô sắc đỏ sẫm hay rói tươi. Phục sức đen trắng của bà hôm nay rất ấn tượng, thêm chiếc dù xinh xinh rực đỏ tôn da.

    Franklin có vẻ hạnh phúc và hài lòng.

    "Một chàng ngốc cứ tự phỉnh phờ mình", ông Satterthwaite nhủ thầm, "mà dù gì thì cũng là chuyện người đời, ta quan tâm mà chi. Thời trẻ ta cũng vậy thôi, để bây giờ mới hiểu được đôi điều."

    Nhưng cứ có một cô gái xinh đẹp trong đám người Mỹ kia không thích gì câu chuyện giữa Franklin Rudge với bà bá tước.

    Khi quay về ông Satterthwaite gặp cô trên lối đi, đứng ngay trước ông. Cô diện bộ cánh rất vừa vặn, sơ mi bằng mút-xơ-lin trắng, đôi giày hợp thời trang, tay cầm quyển sách hướng dẫn. Có không ít thiếu nữa Mỹ khi tới Paris ăn vận theo kiểu nữ hoàng Saba; nhưng Elizabeth Martin không ở trong số ấy. Cô hấp thụ văn hóa châu Âu thật sự nghiêm tức, và tìm cách ứng dụng ngay. Say mê nghệ thuật và văn hóa, cô rất biết cách sử dụng tiền cho niềm đam mê ấy.

    Nhưng ông Satterthwaite chưa bao giờ nhĩ rằng cô gái được dạy dỗ hay có khả năng để cảm thụ nghệ thuật. Cô ta còn trẻ quá.

    - Chào ông Satterthwaite - Elizabeth chào - Ông có gặp Franklin... À, anh Rudge không?

    - Cậu ta vừa mới đi qua đây mấy phút.

    - Chắc là đi với bà bạn bá tước phải không ông - Cô hỏi giọng khô khan.

    - Ừ...với bà bá tước - Cuối cùng ông thừa nhân.

    - Bà bá tước này làm tôi mất hứng - Cô bỗng cất giọng lảnh lót - Franklin như phát cuồng vì bà ta, mà vì cái gì đâu cơ chứ!

    - Bà ấy là một thương gia khá dễ chịu - Ông e dè.

    - Ông quen bà ấy à?

    - Chút ít thôi.

    - Franklin làm tôi thấy không yên lòng. Thường thì đám con trai có định hướng tốt. Chưa bao giờ tôi nghĩ anh ấy chạy theo người đang bà có nhan sắc mê hoặc kia. Anh ấy thậm chí chẳng buồn cho vào đầu cái gì, còn nổi khùng khi người khác khuyên giải. Bà ấy có phải là bà bá tước thật sự không ạ?

    - Tôi cũng không rõ lắm. Nhưng chắc là thế.

    - Rõ là câu trả lời kiểu Anh- Elizabeth thốt lên - Nếu ở Sargon Spring chỗ chúng thôi, bà ấy sẽ có một vai hề xiếc ấn tượng.

    Satterthwaite không phản đối cô gái, nhưng nhắc cô rằng họ đang ở công quốc Monaco. Ở đây, bà bá tước trang phục khéo hơn cô Martin nhiều.

    Họ im lặng. Rồi Elizabeth đi về phía sòng bạc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá. Lát sau, Frankin quay trở lại. Anh ra rất phấn khởi.

    - Ông không biết là tôi vui tới cỡ nào đâu - Anh ta hồ hởi - Thế mới gọi là sống chứ,...một cuộc sống làm thay đổi cả người Mỹ chúng tôi.

    Ông già quay lại, khuôn mặt đăm chiêu.

    - Cuộc đời ở đâu cũng na ná như nhau cả - Ông nói giọng uể oải - Có điều cái toa-lét thì mỗi nơi có khác đi một ít.

    Franklin tròn mắt nhìn ông.

    - Ông bảo sao cơ?

    - Không có gì cả. Là vì anh còn cả một chặng đường rất dài phải vượt qua. Xin lỗi anh nhé, những ông già ở tuổi tô cứ hay có thói quen lên lớp người khác.

    Rudge phá lên cười, phô hàm răng đẹp hoàn hảo.

    - Ồ, không sao. Thật ra, tôi vô cùng thất vọng khi đến casino. Tôi nghĩ nó khá hơn kia, một không gian hừng hực. Nhưng nó buồn tẻ và bẩn thỉu quá.

    - Với những kẻ đắm chìm trong trò chơi này, đó là cả chuyện sống hay chết nhưng nó lại chẳng có gì ấn tượng. Sách vở thì vẫn hay ho chứ không như đời thực.

    Chàng thanh niên lắcđầu đồng tính.

    - Hẳn ông là người có tiếng tăm trong giới thượng lưu? - Anh rụt rè hỏi, rất thật thà, dễ làm người khác phải phật ý vì câu hỏi - Ý tôi là ông làm bạn với các nam tước, bá tước?

    - Quả cũng có. Và tôi kêt bạn cả với người Do Thái, người Bồ Đào Nha, người Hy Lạp, người Ac-hen-ti-na.

    - Ồ!

    - Đơn giản vì tôi trưởng thành trong xã hội Anh mà.

    Frankli Rudge tư lự.

    - Vậy chắc ông biết bà bá tước Czarnova? - Franklin hỏi.

    - Chút ít thôi - Ông trả lời y như đã nới với Elizabeth.

    - Tôi thấy bà ấy rất quyến rũ. Ngày nay người ta tin rằng chế độ quý tộc châu Âu đã hêt thời hưng thịnh, đang suy tàn...Có thế điều đó đúng đối với cánh đàn ông thôi chứ không đúng với phụ nữ. Không biết ông có nhận thấy bà bá tước là một người hết sức tinh tế không? Rằng đi với bà ấy người ta có thế tin tưởng rằng mình được sống những giờ phút tốt đẹp nhất? Từ khối óc, vẻ duyên dáng, sự thông minh, văn hóa mà bà ấy được thẩm thấu, tất cả toát lên tần tính của một quý bà cao sang!

    - Thật vậy sao?

    - Trời dất! Vậy chứ ông không biết bà ấy xuất thân từ gia đình như thế nào sao?

    - Tôi không biết. Thật ra, tôi vừa nói rồi tôi chỉ biết bà ấy một chút xíu.

    - Bà ấy sinh ra trong gia đình Radzynski - Franklin giải thích - Một gia đình được tôn kính lâu đời vào bậc nhất Hung ga ri. Cuộc đời của bà ấy thật khác thường. Ông có để ý thấy chiếc vòng ngọc trai thật dài bà ấy đeo không?

    Ông Satterthwaite gật đầu.

    - Đó là quà tặng của quốc vương Bosnia để cảm ơn bà ấy đã bí mật cung cấp các tài liệu quan trọng.

    - Tôi cũng có nghe nói chiếc vòng là quà tặng của quốc vương Bosnia.

    Sự thực, giai thoại này là bí mật của quý bà Polichinelle, vì người ta kể rằng, hồi cách mạng, bà từng là bạn rất thân của ông vua này.

    - Mà chưa hết đâu! - Rudge nói tieeos - Bà ấy... Phục trí tưởng tượng phong phú của bà bá tước Czarnova. Chẳng có gì đáng nói về người "phụ nữ nhợt nhạt" kia cả , theo như cách nói của Elizabeth, Còn chàng trai trẻ, ngây thơ mộng ảo thì đang huyên thuyên trước mắt ông. Không, bà bá tước chỉ dựa vào mê cung những truyện ngoại giao. Bà ta có kẻ thù, bao kẻ gièm pha...và gì nữa chứ? Anh chàng kia tưởng là mình đã bước vào thế giới xưa với nhân vật chính là bà bá tước: Vẻ cách xa, quý tốc, là bạn của các hoàng tử, các đại diện toàn quyền, cá tính như những nhân vật trong tiểu thuyết.

    Rất tin tưởng, Franklin kết luận:

    - Bà ấy đã phải đương đầu với rất nhiều âm mưu. Và kỳ lạ đến khó tin là bà ấy chưa bao giờ có một người bạn gái thật sự. Phụ nữ chỉ có thái độ thù ghét bà ấy thôi.

    - Tôi không nghi ngờ gì chuyện đó cả.

    - Ông có thấy chuyện này kỳ cục không?

    - Không, không lạ lắm - Ông Satterthwaite thận trọng nói - Đấy là bản tính của đàn bà, anh cũng biết đấy. Can thiệp vào chuyện của họ chỉ có mất thời gian. Tốt nhất hãy để họ tự định liệu theo kiểu của họ.

    - Tôi không đồng ý với quan điểm của ông. Sự độc ác của đàn bà với nhau trong thế giới ngày nay là một thảm họa. Ông có biết Elizabeth Martin không? Chúng tôi vẫn thường tranh luận với nhau, trên lý thuyết, cô ấy hoàn toàn đồng ý với tôi. Tuy còn ít tuổi nhưng suy nghĩ của cô ấy rất mạch lạc. Có điều, nếu đem áp dụng những ý tưởng của cô ấy vào thực tế, nó không khá gì hơn những người khác. Cô ấy không thích bà bá tước, dù là cô ấy chưa hề biết bà, mà cô ấy không buồn nghe tôi nói dù tôi đãcố giải thích. Như vậy không hay, ông Satterthwaite ạ. Tôi tin ở nền dân chủ... Thế mà dân chủ là gì chứ, nếu không là sự bình đẳng giữa con người với nhau và một vài...một vài tình cảm chị em quyến luyến giữa phụ nữ với nhau?

    Chỉ có sự im lặng chứng tỏ tính nghiêm trọng của câu chuyện. Satterthwaite cố hình dung cảnh huống nào có thể tạo nên sợi dây tình cảm "chị em" giữa bà bá tước và Elizabeth Martin nhưng ông chịu.

    Ngược lại - Rudge tiếp tục - Bà bá tước tỏ vẻ rất ngưỡng mộ Elizabeth, bà ấy thấy Elizabeth rất duyên dáng. Theo ông sự việc như vậy là sao?

    - Như vậy có nghĩa là bà bá tước có thừa kinh nghiệm chứ không như cô Martin - Satterthwaite trả lời.

    Franklin Rudge đột nhiên thay đổi chiến thuật:

    - Ông có biết bà ấy bao nhiêu tuổi không? Tôi nói hai mươi chín tuổi nhưng bà ấy thú nhận là đã ba mươi lăm. Chắc bà ấy chưa đến chừng ấy tuổi ông nhỉ?

    Về phần mình, Satterthwaite đoán bà ta chừng bốn mươi lăm đến bốn mươi chín tuổi, nhưng ông làm bộ cau mày, thì thaamfl:

    - Tôi xin khuyến cáo anh rằng đừng tin những gì người ta kể với anhở Monte-Carlo.

    Satterthwaite thừa hiểu tranh cãi với Franklin Rudge là chuyện phù phiếm. Chàng trai đang cảm thấy mình là người hiệp nghĩa đến độ sẵn sàng khẳng định mọi việc mà không cần có đủ căn cứ.

    - Bà bá tước đây rồi - Anh ta đứng dậy.

    Craznova tiến lại gần hai người, dáng đi nhẹ nhang uể oải, rất hợp với bà ta. Cả ba ngồi xuống ghế băng. Bà bá tước làm duyên với Satterthewaite nhưng với vẻ rấ kiêu ngạo. Bà ta cứ khủng khỉnh hỏi đáp bằng những lời khách sáo, nhưng không quên đặt mình ở thế cao hơn người khác.

    Vẫn là mưu mẽo cũ rích. Một lúc sau, Franklin lịch sự rút lui để bà bá tước và Satterthwaite ngồi với nhau.

    Bà bá tước ngồi vẽ hình lên mặt đất bằng mũi ô, hỏi Satterthwaite bằng giọng nghiêm trang, kín đáo mà không kém phần khêu gợi:

    - Ông thấy chàng trai tố người Mỹ này đáng mến đấy chứ?

    - Đó là một chàng trai tốt - Satterthwaite trả lời -Một mẫu người vô hại.

    - Tôi thấy anh ta thật đáng mến, vâng - Bà bá tước nói với vẻ tự lự - Tôi đã kể anh ta nghe nhiều chuyện của đời tôi.

    - Vậy sao?

    - Có những chuyện mà tôi chưa nói cho ai bao giờ. Cuộc đời tôi có quá nhiều chuyện ko tin nổi.

    Ông Satterthwaite thừa tinh khôn để hiểu ẩn sau nhưng lời kia. Những gì mà bà ấy kể cho Franklin có thể là sự thật, cũng có thế không có thật, tất nhiên, khó mà tin là nó lại diễn ra trên đời này. Song cũng lại chẳng có gì đảm bảo đó là "chuyện bịa".

    Satterthwaite im lặng. Bà bá tước vẫn ngồi mơ màng ngắm biển.

    Thốt nhiên, dưới mắt ông, bà ta lại hiện dáng vẻ của một ngày mới, lạ thường, không còn là người đàn bà cau có lắm điều mà là một phụ nữ có khả nâng làm được mọi việc, đang tuyệt vọng, đang phải chiến đấu bằng tất cả sức lực. Ông trộm nhìn Craznova. Chiếc dù đã khép lại. Ông nhận thấy những nếp nhăn nơi khóe mắt, các mạch máu hằn ở thái dương.

    Cảm giác ấy ngày càng rõ đến mức ông thấy như chắc chắn rằng bà bá tước là một phụ nữ có khả nawmg làm được mọi việc và đang bị giày vò ám ảnh. Bà ta sẽ không khoan nhượng, không thương xót bất kỳ người nào xen vào chuyện của bà với Franklin. Nhưng ông lại cảm thấy có điều gì khác nữa trong chuyện này. Dù sao bà bá tước cũng không thiếu tiền. Lúc nào cũng lịch sự, lại mang trên mình những đồ trang sức xa hoa. Tình cảm thực của bà ta chắc chắn được che giấu rất kỹ. Thê thì sao chứ? Hay là tình yêu? Ông hiểu là phụ nữ ở độ tuổi của bà bá tước hay cặp với các chàng trai trẻ hơn rất nhiều. Có lẽ đây là một điển hình. Nói gì thì nói, trong tất cả chuyện này có cái gì đó không bình thường.

    Khô ngồi trực diện như thế này, ông hiểu bà bá tước bất chấp ông nghĩ gì, làm gì, rằng bà ta đã quyết định chọn ông là kẻ thù đáng gờm nhất. Ông đoán là bà ta định qua Franklin Redgu khiến ông nói xâu về mình. Satterthwaite cười thầm trong bụng: Không phải dạy cho con khỉ già nhăn nhó. Ông biết khi nào thì sự tử tế thoát ra thành ngôn ngữ.

    Tối hôm ấy, Satterthwaite xem bà bá tước thua bạc ở Cercle Privé.

    Bà ta mải miết chơi nhưng cái cào của người hồ lỳ cứ gạt tiền đi mất. Bà ta chấp nhận thua bạc bằng vẻ nghiêm trang của một phụ nữ lọc lõi đã có đủ lượng máy lạnh khắc kỷ. Có đôi lần, bà ta chơi số chẵn, đạt tối đa vào ô đỏ, thắng được khoảng mười hai con ở giữa nhưng chẳng mấy chốc lại thua hết; cuối cùng bà bá tước đặt cửa sáu lần liên tiếp vào con lẻ, nhưng toàn thua. Vậy là bà nhún vai đầy kiểu cách rời chiếu bạc.

    .

    Hôm nay Craznova mặc một chiếc váy màu hoàng yến, trông rực rỡ hơn thường ngày. Bà ta đeo chiếc vòng cổ của quốc vương Bosnia tặng, đôi khuyên tai bằng ngọc trai. Satterthwaite nghe thấy hai người đàn ông ngồi gần bàn tán. Một người nói:

    - Craznova trông có vẻ tự mãn nhỉ?

    Người kia là một ông Do Thái bé nhỏ, nhìn theo bà bá tước vẻ tò mò:

    - Kia là chiếc vòng ngọc trai do quốc vướng Bosnia tặng đấy à? Trông nó có vẻ là lạ.

    Và ông ta phì cười ẩn ý.

    Satterthwaite không nghe thấy gì nữa vì khi ngoái cổ nhìn ông vui mừng nhận ra ông bạn cũ:

    - Ông Quinn thân mến! - Satterthwaite thân mật bắt tay ban. Đây đúng là nơi tận cùng tôi đợi gặp ông.

    Một nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt ưu tư cố hữu của Quinn.

    - Chẳng có gì đáng ngạc nhiên hết - Quinn nói - Giờ là mùa lễ hội Carnaval, mà tôi lại hay đến đây vào dịp này.

    - Thật à? Nói gì thì nói tôi rất vui được gặp lại ông. Ông có muốn vào phòng khác ngồi không? Tôi thấy ở đây nóng quá.

    - Ở ngoài sẽ thoáng hơn, ông bạndđồng ý không? Chúng ta sẽ đi dạo một vòng trong vườn.

    Hai người đang ông hít thở thật sâu làn không khí nhẹ nhõm mát mẻ.

    - Thật là dễ chịu - Satterthwaite nói.

    - Đúng thế. Bây giờ ta có thể nói chuyện thoải mái. Chắc chắn là ông có nhiều chuyện để kể cho tôi.

    - Phải rồi.

    Satterthwaite vồn vã kể lại câu chuyện bức xúc của mình. Như mọi khi, ông rất tự hào về năng khiếu kể chuyện của mình. Bà bá tước, chàng trai trẻ Frankline, cô Elizabeth cố chấp. Ông Quinn mỉm cười khi Satterthwaite kết thúc câu chuyện:

    - Ông thực sự đã thay đổi kể từ khi chúng ta gặp nhau lần đầu tiên.

    - Về mặt nào thế?

    - Giờ đây ông đã dự phần vào những bi kịch của cuộc đời, ông muốn góp thêm phần mình muốn đám nhận một vai trong vở kịch ấy, chứ không muốn dửng dưng là một khán giả khó tính như trước nữa.

    - Đúng vậy Satterthwaite thừa nhân - Nhưng tôi chỉ biết hành động, mà mọi việc lại rất lung bung. Có lẽ...(ông ngập ngừng). Có thể ông sẽ đồng ý giúp tôi?

    - Nhất trí. Chúng ta sẽ xem có thể làm gì được.

    Ông Satterthwaite thấy vững lòng.

    Hôm sau, ông giới thiệu Franklin Rudge và Elizabeth Martin với ông bạn Harley Quinn. Ông hài lòng khi thấy họ nói chuyện rất hợp nhau. Không ai nhắc đến bà bá tước nhưng trong bữa ăn, ông nhận được tin rất đáng chú ý.

    - Mirabelle sẽ đến Monte-Carlo tối nay - Ông nói với Quinn

    - Mirabelle là cô diễn viên kịch mà dân Paris rất yên mến đó hả?

    - Vâng. Mọi người đều biết co ta là người tính mới đây nhất của quốc vương Bosnoa. Có vẻ qôốc vương đã phủ đầy trang sức cho cô ta. Người ta nói đây là người đàn bà đỏng đảnh, ngồn cuồng nhất Paris.

    - Cuộc gặp mặt tối nay giữa cô ta với bà bá tước Czarnova hẳn sẽ rất hay ho đây.

    - Tôi cũng nghĩ hệt như ông.

    *

    Cao ráo và mảnh mai, Mirabelle có mái tóc nhuộm hoe vàng hoàn hảo, làn da trắng điểm trên nền váy nhạt màu hoa cà, cánh môi tô son màu cam. Ở cô ta toát lên vẻ lịch thiệp đến kinh ngạc, Chiếc váy của cô ta gợi nhắc đến chú chim thiên đường được cách điệu, những chiếc vòng bằng đá quý nuột trên tấm lưng trần. Chiếc xuyến nặng những hạt kim cương vương nơi mắt cá chân trai.

    Việc Mirabelle đến gây xôn xao hết tháy mọi khách chơi ở Casino.

    - Bà bá tước của ông khó lòng mà hơn được cô diễn viên này - Quinn ghé vào tai Satterthwaite thì thầm.

    Satterthwaite đồng ý. Ông nóng lòng được thấy bà bá tước phục sức ra sao.

    Bà này đến muộn, và tiếng xì xầm lan ra trong cử tọa khi bà ta vô tình thắng trên bàn cò quay ở giữa phòng.

    Bà bận đồ trắng: Một chiếc váy giản dị bằng vải nhiễu ma-rốc, vẻ trong trắng, cổ và tay để trần, một màu trắng sáng tỏa. Bà không mang một thứ trang sức nào.

    - Rõ khéo quá - Satterthwaite bình luận vẻ hiểu biết - Bà ta đã không hạ thấp giá trị của mình trước đối thủ mà còn giành phần ưu thế.

    Ông Satterthwaite đi lại phía bàn cò quay. Sau khi ngồi không một lúc, ông đặt tiền. Có lúc thằng nhưng chủ yếu là ông thua.

    Có một seri rất đẹp ở con mười hai cuối cùng. Các số ba mươi mốt và ba mươi tư sổ liên tiếp. Tiền đặt chui cả xuống ngăn của tấm thảm xanh.

    Nụ cười nở trên môi, Satterthwaite liều đặt nốt lần cuối cùng trong tối nay vào con năm mức tối đa.

    Đến lượt mình, bà bá tước nghiêng mình đặt tối đa cho con sáu.

    - Xin mời, xin mơi! - Người hồ lỳ nói giọng khô khan.

    Con lắc quay tròn, tiếng vù vù vui tai. Ông Satterthwaite nhủ thầm: "Lần quay này có một ý nghĩa khác nhau đối với mỗi người. Tột đỉnh hy vọng và tuyệt vọng, chán nản, một trò giải trí đơn thuần, cuộc sống và cái chết..."

    Clic!

    Người hồ lỳ cúi xuống nhìn.

    - Số năm, ô đỏ, số lẻ và khuyết.

    Satterthwaite đã thắng!.

    Người hồ lỳ gạt hết tiền thắng về chỗ của ông. Anh ta với tay ra để lấy tiền. Bà bá tước cũng đưa tay với tiền. Người hồ lỳ hết nhìn Satterthwaite lại nhìn sang bà bá tước.

    - Là của bà - Đột nhiên anh ra nói.

    Bà bá tước thu tiền. Satterthwaite lui lại. Không nao núng bà bá tước nhìn thẳng vào mắt ông và ông nhìn đáp lại. Có hai ba người đứng xem bảo anh hồ ly nhầm nhưng anh ta lắc đầu vẻ sốt ruột. Anh ta đã quyết định và ván bài kết thúc. Anh ta hô lên khô khan:

    - Xin mời quý ông quý bà

    Satterthwaite trở lại với ông Quinn. Dù không bắt tận tay day tận mắt nhưng trò này rất dối trá. Quinn lắng nghe và thấy động lòng.

    - Buồn thật - Quinn nói - Nhưng sự đời vẫn vậy...à này, lát nữa ta sẽ gặp anh bạn Frankline Rudge nhé. Tôi sẽ tổ chức một bữa tối nho nhỏ.

    Ba người đang ông gặp nhau lúc nửa đêm. Quinn giải thích kế hoạch của ông.

    - Chúng ta sẽ gọi đây là "bữa tối gặp gỡ". Ta chọn một điểm gặp mặt, rồi ai đi đường nấy, sau đó quay trở lại. Nhưng phải hứa danh dự là sẽ mời người đầu tiên mà mình gặp đến dự cùng đấy nhé!

    Franklin thấy ý kiến hay hay

    - Thế nếu người ta từ chối thì sao?

    - Thì phải biết cách thuyết phục.

    - Hay đấy. Thế sẽ gặp nhau ở đâu?

    - Ở một nơi khá phóng túng. Ở đó khác hàng hơi kỳ dị nên không dễ bị sốc. Nhà hàng Le Caveau nhé.

    Quinn chỉ mọi người hết địa điểm của nhà hàng, rồi mỗi người một ngả.

    Ông Satterthwaite may mắn gặp cô Elizabeth Martin, mời cô vồn vã. Khi đến nơi người ta đưa họ vào một căn hầm có chiếc bàn ăn thắp sáng bằng nến sáp nổi bật theo kiểu cổ xưa.

    - Chúng ra đến sớm nhất - Satterthwaite nói - A, Franklin kia rồi...

    Ông ngừng lại ngay. Chàng trai người Mỹ đi với bà bá tước. Một thoáng ngưng đọng trong hầm. Elizabeth không tỏ ra dễ thương như mọi người hy vọng. Còn bà bá tước vẫn giữ vẻ trang nghiêm khi thấy sự có mặt của những người khác.

    Quinn là người đến sau cuối, cùng đi với một người đàn ông tóc nâu, rất lịch thiệp, mà Satterthwaite có cảm giác đã gặp người này ở đâu đó rồi. Và ông nhận ra người đó là người hồ ly hồi hôm đã hô nhầm kết quả trên bàn cò quay.

    - Cho phép tôi được giới thiệu ông Pierre Vaucher với quý vị.

    Ông khách nhỏ tỏ ra bối rối. Rất tự nhiên Quinn tiếp tục giới thiệu các thực khác với nhau. Lát sau, người phục vụ mang bữa tối lên. Một bữa tối rất ngon và rượu vang hảo hạng. Không khí có vẻ căng thẳng. Bà bá tước cũng như Elizabeth vẫn im lặng. Còn Franklin bông trở nên ba hoa, kể cả mới giai thoại mà chẳng mấy ai hưởng ứng. Trong khi đó, kín đáo và khéo léo, Quinn rót rượu vào cốc.

    - Tôi xin kể cho mọi người nghe câu chuyện về một người đang ông thành đạt trong cuộc sống - Franklin Rudge mở đầu với giọng trang trọng. Đây là một câu chuyện có thực.

    Luật cấm rượu rất nghiêm ở trong nước dường như không có giá trị với Franklin lúc này.

    Anh ra kể lại một câu chuyện kỳ lạ, hơi dài dòng, đúng kiểu của những câu chuyện có thật, nhưng còn xa mới thành một huyền thoại.

    Ngay khi Franklin vừa ngừng lời, Pierre Vaucher, ngồi đối diện anh ta, đã có vẻ tỉnh táo ra, Anh này cũng uống kha khá. Cúi mình, anh ta mở lời:

    - Tôi cũng sẽ kể cho các ông các bà nghe một chuyện. Nhưng là nói về một người không thành đạt. Chuyện về một người quen với sự sa sút chứ không phải thành công. Cũng như câu chuyện của anh vừa rồi, chuyện xác thực đấy.

    - Vậy mời ông - Quinn lịch sự nói

    Pierre Vaucher dựa lưng vào thành ghế và bắt đầu câu chuyện.

    - Chuyện bắt đầu từ Pari. Có một người thự kim hoàn nhỏ bé. Anh ta còn trẻ, vô tư và tay nghề rất giỏi. Cuộc đời mở ra cho anh ta một tương lai sáng lạn. Người ta đã định liệu cho anh ta một đám kết hôn môn đăng hộ đối: Một cô vợ không xấu lắm, của hồi môn rất tương hợp... Nhưng có ai tin chuyện gì xảy ra với anh ta không? Một sáng ngày, anh gặp một cô gái trẻ, một thiếu nữ nghèo tội nghiệp. Cô ấy đẹp? Phải, có lẽ thế, nếu không phải là cô ấy đang lả đi vì đói. Dù sao thì với cách nhìn của một thanh niên, cô ấy thật tuyệt diệu và anh ta không cưỡng lại được lòng mình. Cô ấy đang tuyệt vọng tìm việc làm, và là một người có phẩm hạnh...đó là theo lời cô ấy nói vậy. Tôi không biết - mà tôi vẫn thường mù tịt về những chuyện như vây - không biết đó có phải là sự thật không.

    Giọng bà bá tước vang lên trong cảnh tranh tối tranh sáng:

    - Sao lại không thật chứ? Có bao nhiêu người ở cùng cảnh ngộ như vậy.

    - Nhưng chuyện lại không bình thường chút nào khi người thanh niên kia tin cô ấy và cưới cô làm vợ. Đúng là điên. Sự phản đối của gia đình, thân thế của cô gái...anh ta không cần quan tâm. Anh ta đã cưới cô gái trẻ ấy, mà tôi xin gọi là Jeanne. Trong suy nghĩ của anh ta, đó là một hành động nghĩ hiệp. Anh ta nói vậy với Jeanne và cho rằng cô phải rất biết ơn anh. Không phải anh đã hy sinh rất nhiều cho cô ấy sao?

    - Sự mở đầu thật dễ thương đối với cô gái trẻ - Bà bá tước xen lời với giọng nhạo báng.

    - Anh ta yêu cô ấy, phải, nhưng ngay từ đầu, cô ấy đã tìm mọi cách để làm anh ta tức điện người. Tính tình thất thường, đồng bóng; khi thì cô ta lạnh lùng, khi thì cô ta đam mê cuồng nhiệt. Cuối cùng chàng trai cũng hiểu ra, chưa bao giờ cô ta yêu anh cả. Cô ta cưới anh chỉ vì cần được anh che chở lúc đó. Phát hiện ấy quả là đau đơn, đau ghê gớm nhưng anh cố gắng không để lộ ra. Anh tự lừa mình rằng anh xứng đáng được hưởng lòng biết ơn của Jeane, rằng cô càn nghe theo những mong muốn dù chỉ nhỏ bé của anh. Họ cãi nhau. Cô trách anh...trời ạ, sao cô ta lại không trách được chứ!

    Chác các vị cũng đoán được sau đó thế nào rồi? Không khác được. Cô rời bỏ anh. Suốt hai năm trời anh giam mình trong cửa hàng, không một tin gì về Jeane. Anh chỉ có một người bạn duy nhất là rượu ngải đắng. Việc làm ăn cũng không được thuận lợi.

    Vào một ngày đẹp trời, khi bước vào cửa hàng, anh thấy cô đã ngồi đó. Rất lịch sự. Nhẫn đeo đầy tay. Anh đứng như trời trồng nhìn cô. Trái tim như muốn vỡ ra. Anh muốn đánh cô thật đau, muốn ôm xiết cô trong tay, muốn ném cô xuống đất, giày xéo cô, bắt cô phủ phục dưới chân mình. Nhưng anh không làm gì hết. Anh cầm lấy cái banh và làm việc. "Thưa bà, bà muốn gì?". Rồi anh hỏi với giọng bình thường.

    Phản ứng của anh khiến cô lúng túng. Cô không chờ một tình huống như vậy, các vị hieur chứ. "Pierre, cô nói, em đã quay về". Thế là anh ngưng đưa banh và nhìn cô. "Cô muốn tôi tha tứ cho cô sao? Anh hỏi. Cô cho là tôi lại đón nhận cô sao? Cô thật sự hối hận chứ?". Và cô ta thì thầm: "Anh có còn muốn có em không?". Ôi, cô ấy nói những tiếng đó mới dịu dàng làm sao!

    Anh linh cảm thấy có điều gì đó không bình thường. Anh thèm vô cùng được ôm cô vào lòng. Nhung như vậy thật là ngớ ngẩn. Và anh làm điểu ngược lại.

    Anh nới với cô: "Tôi là một con chiên, tôi cố gắng làm theo lời răn dạy của nhà thờ". Anh muốn cô ta nhục nhã, muốn cô phải quỳ gối trước anh.

    Nhưng Jeanne hất đầu và phá lên cười. Tiếng cười đáng sợ. "Tôi đến để cười anh đấy. Anh nhìn bộ quần áo đẹp đẽ này, nhẫn xuyến này mà xem... Tôi muốn anh nhìn thấy tôi như thế này. Tôi đã nghĩ là tôi có thế khiến anh ôm tôi trong vòng tay, rồi sau đó...sau đó, tôi sẽ khạc nhổ vào mặt anh, nói cho anh biết tôi căm ghét anh nhường nào!".


    Nói rồi cô ấy bước ra khỏi cửa hàng. Các vị có tin nổi một người đàn bà có thể đê hèn đến mức là quay lại chỉ để làm người đã cưu mang mình đau đớn?

    - Không - Bà bá tước nói - Tôi không tin, chỉ có những kẻ ngu đần mới tin chuyện đó. Nhưng tất cả đám đàn ông đều mù lòa và ngu ngốc.

    Không để ý đến lời bà bá tước, Pierre Vaucher tiếp tục:

    - Sau đó, chàng thanh niên rơi vào tuyệt vọng khôn cùng. Anh ta uống càng ngày càng nhiều rượu. Vì nợ nần quá nhiều, anh ta phải bán cửa hàng đi, trở nên xơ xác, thất nghiệp. Rồi chiến tranh xảy đến. A, chiến tranh đến thật đúng lúc! Chiến tranh đã lôi anh ta ra khỏi bùn lầy, dạy cho anh ta không được sống như một con vật hoang dã nữa. CHiến tranh đã rèn rũa anh ta trở nên điềm đạm. Anh ra biết đến cái lạnh lẽo, sưc chịu đựng, sự sợ hãi trước cái chêt. Nhưng anh ta đã đi qua được chiến tranh, sống sót, và trở thành một con người khác.

    Vào thời gian đó anh ta đến sống ở miền Nam. Vì phổi của anh ta không được khỏe, lại bị sức ép của đạn, người ta đã khuyên anh nên đến miền Nam tìm việc. Tôi không kể lể dài dòng đoạn này, chỉ cần biết, cuối cùng anh ra trở thành người hồ lỳ trong sòng bạc, anh ra đã gặp lại...người đàn bà đã nhấn chìm cuộc đời anh. Nếu như cô ta không nhận ra anh thì anh lại nhân ra cô ta ngay khi trông thấy. Có vẻ như cô ta giàu có, không thiếu thứ gì...nhưng những người hồ lỳ thường rất tinh nhạy. Một tối, cô ấy đặt tất cả tiền của vào chiếu bạc. Đừng hỏi tôi vì sao tôi biết, đó là sự thực. Người ta có thể cảm nhận được những điều như vậy, một linh cảm không thể nhầm lẫn được. Cô ta vẫn mậc những bộ quần áo đẹp, nhưng đó chỉ là cái vỏ mà thôi. Ao mà không biết lẽ ra cô ta đã mất hết. Còn đồ trang sức ư? Có phải tôi là thợ kim hoàn không nào? Đã từ lâu rồi, những trang sức quý đã biến mất cả. Những chiếc vòng ngọc trai của các vị hoàng đế đã bị bán đi, từng chiếc một, vì chỉ có đồ giả. Phải ăn, phải trả tiền khách sạn, đúng không nào? Tất nhiên có những người bảo trợ giàu có...nhưng họ quen các vị từ quá lâu rồi. "Mặc kệ! Họ tự nhủ, cô ta đã tròn năm mươi tuổi. Cho cô ta nắm gạo cũng chẳng mất gì".

    Tring tranh tối tranh sáng chỗ bà bá tước ngồi, người ta nghe thấy một tiếng thở dài.

    - Phải - Pierre Vaucher nói tiếp - Đó là thời khắc kỳ lạ. Tôi đã quan sát hai tối rồi. Cô ta liên tục thua, thua, thua... Rồi sự thật đến lúc phải phơi bày. Cô ta đặt tất cả tiền vào một số. Cạnh đó, một quý ông người Anh cũng đặt tối đa cho số kế liền. Con xúc xắc ròi... Và thế là hết, cô ta đã thua...

    - Cô ta nhìn tôi. Phải làm gì đây? Tôi sẽ mất việc ở sòng bạc. Tôi đã đánh cắp tiền của quý ông cho cô ta. "Là của bà", tôi nói rồi chuyển tiền cho cô ta.

    - A!

    Bà bá tước bật đứng dậy và cúi người qua chiếc bàn, dốc ngược chiếc cốc ném xuống đất đánh xoảng.

    - Tại sao? - Bà ta kêu lên - Đó chính là điều tôi muốn biết: tại sao anh lại làm điều đó.

    Im lặng kéo dài, tưởng chừng không dứt. Mặt đối mặt, bà bá tước và người hồ lỳ nhìn nhau chằm chằm, như đang đấu tay đôi.

    Pierre Vaucher nở nụ cười độc ác. Anh ta đưa tay lên và nói:

    - Vì lòng trắc ẩn, thưa bà, cuộc đời vẫn còn những điều tương tự.

    - A! - Bà bá tước thở dài, rơi phịch xuống ghế - Tôi biết mà.

    Điềm đạm, tươi cười, bà ta nói thêm.

    - Đó là một câu chuyện thú vị, thưa ông Vaucher. Cho phép tôi châm lửa cho ông.

    Bà ta cuốn nhanh một mẩu giấy rồi châm vào ngọn nế. Pierre cúi về phía bà ta châm thuốc.

    Rồi bà ta đứng dậy luôn.

    - Bây giờ tôi phải đi đây. Không, tôi mong mọi người... Không cần phải đi kèm tôi đâu.

    Trước khi mọi người kịp phản ứng, bà ta đã đi khỏi. Ông Satterthwaite định đi theo nhưng một tiếng chửi thề bằng tiếng Pháp kéo ông lại:

    - Chết tiệt...

    Pierre Vaucher cầm tờ giấy đã bị cháy mất một phần mà bà bá tước để lại trên bàn rồi giở nó ra.

    - Chúa ơi! - anh ta thì thầm - Tờ năm mươi nghìn frăng. Các ông có hiểu không? Đó là chỗ tiền cô ấy thắng bạc tối nay... Tất cả của cái mà cô ấy có trên đời. Cô ấy lấy nó để châm thuốc cho tôi. Vò cô ấy quá tự trọng trước lòng thương hại. A, cô ấy vẫn luôn luôn tự trọng như một con công. Chỉ có cô ấy...mới tuyệt vời đến thế.

    Pierre đứng bật dậy như tên bắn.Satterthwaite và Quinn cũng đứng lên. Người phục vụ đứng như trời trồng cạnh Franklin Rudge.

    - Tính tiền, thưa ngài. - Anh ta rụt rè nói.

    Ông Quinn rút ngay tiền ra trả.

    - Anh cảm thấy hơi cô độc, Elizabeth ạ - Franklin nói - Thật đơn giản, những người nước ngoài này bỏ qua mình! Anh không hiểu được họ. Tất cả những chuyện này là thế nào? (Anh ta nhìn Elizabeth). Mà thôi, chỉ có một cô gái Mỹ một trăm phần trăm như em là có thật thôi.

    Như một đứa trử, anh ta nói thêm với giọng than thở:

    - Mấy người nước ngoài này thật kì quặc!

    Hai người trẻ tuổi cảm ơn ông Quinn rồi cùng nhau đi về. Quinn lấy lại tiền lẻ và mỉm cười với ông Satterthwaite lúc này vanax chưa hết kinh ngạc vì diễn biến quá nhanh của câu chuyện.

    - Vậy đấy - Ông già nói - Tất cả đã được sắp xếp hoàn hảo. Từ bây giờ hai cặp tình nhân của chúng ta sẽ được hạnh phúc.

    - Ai cơ? - Quinn hỏi.

    - Xin lỗi ông? - Satterthwaite lúng túng - À vâng... Lạy chúa, có thể ông có lý. Vâng...thế mà tôi không nghĩ ra, nhưng nếu ra tính đến cá tính của phụ nữ latinh...

    Tuy vậy, ông vẫn tỏ vẻ hoài nghi.

    Quinn mỉm cười. Không gian yên ắng, ánh đèn xuyên qua cửa kính phía sau ông chiếu lên vai áo măng tô nhiều màu, trông tựa một vầng hào quang lấp lánh...
  3. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Người Đàn Ông Bí Ẩn

    Người Đàn Ông Đến Từ Biển Cả


    Satterthwaite thấy mình đã già. Dưới mắt người khác cũng vậy. Đám choai choai cợt nhả với bạn gái của chúng thế này: "Ông lão Satterthwaite ấy à? Ồ có lẽ cũng trăm tuổi rồi. Không thì cũng chẳng thể dưới tám mươi". Ngay cả những người không hay nói phóng đại cũng phát biểu với vẻ cảm thông: "Satterthwaite? Người xưa đấy, ông ấy không dưới sáu mươi tuổi đâu". Xét về mặt nào đấy bọn họ đều nhầm, vì tuổi ông là sáu mươi chín tuổi.

    Tuy vậy, ông không thấy mình đã già đến vậy, 69 tuổi là lứa tuổi đầy thú vị. Lứa tuổi có những khả năng không ngờ, lứa tuổi mà con người băt đầu gặt hái những kinh nghiệm sống của một con người. Nếu có cảm thấy già cỗi thì đó là chuyện đương nhiên, vì cũng đã đủ đầy mệt mỏi và những sự nản lòng, vì ý muốn thả mình tránh những chuyện phiền toái. Tự đáy lòng, ông là gì cơ chứ? Một ông già nhỏ thó không vợ con, chẳng sở hữu của cải gì ngoài một bộ sưu tập tranh và khi sang đến dốc bên kia của cuộc đời ông cũng chưa tìm đủ cho trọn bộ. Theo kiểu nói nhân văn, ông chẳng có gì gắn bó với đời. Ông sống hay chết, ai là người biết đến?

    Giữa mớ bòng bong suy diễn ấy, Satterthwaite đã tự làm khổ mình bằng những ý nghĩ kỳ quậc cằn cỗi, rằng nếu ông lấy vợ, hai vợ chồng ông sẽ ghét nhay thậm tệ, con cái sẽ là nguồn gốc của mọi muộn phiền, lo lắng và cuối cùng, nghĩ vụ phải dành thời gian và sự thương tiếc cho gia đình sẽ khiến ông bị phiền nhiễu cùng cực.

    "Không có gì đáng giá sau mọi vẻ tiện nghi và thoải mái", ông tự nhủ vẻ cương quyết.

    Phản xạ này khiến ông nhớ đến một bức thư mới nhận sáng nay. Rút thư ra, ông đọc lại thật kux và lấy làm thú vị. Bởi lời lẽ trong thư chứng tỏ người viết là một phụ nữ đài các. Mở đầu bức thư kêu gọi đóng góp cho một hoạt động từ thiện, có lẽ người viết chưa viết thư kiểu này bao giờ, nhưng lời dề nghị được diễn tả khéo đến nỗi Satterthwaite chỉ còn biết thán phục. Vào đề, bức thư viêt:

    "Vậy là ngài đã làm sa mạc hóa Riviera. Hòn đảo của ngài thế nào? Giá cả ở đó ra sao? Năm nay ở Cannotti cuộc sống đắt đỏ dễ sợ, tôi sẽ không bao giờ quay lại bờ biển Ngà nữa. Năm tới, có thể tôi sẽ đến hòn đảo của ngài nếu ngài đồng ý. Tôi sợ năm ngày tàu nhưng nếu ngài đích thân đặt chỗ, chắc chắn là sẽ rất - thậm chí là quá tốt. Cuối cùng ngài phải giống như những người sống thoải mái và chỉ quan tâm đến những tiện nghi nho nhỏ. Chỉ có một việc suy nhất cứu rỗi ngài, ngài Satterthwaite, là lợi nhuận vô kể mà ngài kiếm được trước đây..."

    Khi gấp bức thư lại, trước mắt Satterthwaite hình ảnh bà công tước hiện rõ nét: Bủn xỉn, ngôn từ sắc nhọn, cá tính chưa được thuần hóa.

    Cá tính! Tự thân nó là một phẩm chất hiếm có vào thời đại ngày nay. Ông rút ra một bức thư khác gửi từ Đức của một ca sỹ trẻ mà ông yêu mến. Lời thư thân thuộc và trìu mến. "Biết cảm ơn ngài thế nào, ngài Satterthwaite kính mến? Sắp tới cháu sẽ hát bài Isolde, điều này làm cháu vô cùng hạnh phúc...". Tiếc là cô ca sỹ đã không thực hiện được điều này. Cô bé Olga này thật đáng mến: chăm chủ, chất giọng đẹp trời phú, có điều còn thiếu cá tính. Cô lầm rầm hát: "Không, hãy yêu cầu anh ta điều đó! Hãy hiểu tôi, tôi đây, Isolde, tôi ra lệnh đó" - Không cô bé này không thế có cá tính mạnh như vậy, ý chí không khuất phục thế hiện rất rõ trong câu kết "Ich Isolde"

    Cuối cùng...chẳng lẽ ông không có ích cho một người nào hay sao? Rõ ràng là hòn đảo này khiến tinh thần ồn suy sụp. Làm sao, mà tại sao ông lại làm "sa mạc hóa" Riviera, nơi mà ông biết rất rõ và ong cũng được mọi người biết đến. Ở đây không có ai quan tâm tới ông. Không ai biết ông là "ngài Satterthwaite" nổi tiếng, bạn của các bà công tước, bá tước, bạn của các nữ ca sỹ và các nhà văn. Trên hòn đảo này không có ai là nhân vật quan trọng của xã hội thương lưu hay của giới nghệ thuật. Pần đông cư dân đến đây từ bảy, mười bốn, hai mươi mốt năm liên tiếp, thời gian như vậy khiến họ nhanh già.

    Hít thở thật sâu, Satterthwaite ra khỏi khách sạn đi về bến cảng. Ông men theo con đường hoa giấy đang nở tung, rực rỡ. Thốt nhiên, ông thấy mình như một con vịt già nua xám xịt.

    - Mình đang già đi - Ông thì thầm - Mình tự khiến mình già và mỏi mệt.

    Ông nhẹ người rời giàn hoa giấy và rẽ sang con phố trắng dẫn ra biển. Ở giữa đường, một con chó ghẻ đang nằm sưởi nắng. Nó sảng khoái vươn mình rồi ngồi dậy ngó nghiêng bóng mình. Sau đó, nó ngẩng lên, nhìn quanh tìm kiếm xem có thức gì ngon lành và cuộc đời còn có thể dành cho nó.

    Vệ đường có một đống rác lớn. Con chó lon ton chạy lại gần, cánh mũi phập phồng đánh hơi đầy vẻ phấn chấn. Quả không sai. Mùi thối xộc lên từ đống rác. Con chó sịt mũi khoái trá, sục vào. Cuộc đời lúc này quả thực là thiên đường đối với nó.

    No nê, con chó đứng dậy và nhoáy cái đã đến giữa đường. Đúng lúc đó, một chiếc ôtô cũ mèm ầm ầm lao tới không một tiếng còi báo, đâm rầm vào con chó làm nó văng bật ra xa.

    Con chó rướn lên rồi bất động trong giây lát, đôi mắt bám chặt lấy Satterthwaite, câm lặng trách cứ, rồi rũ xuống. Ông bước lại cúi xuống chỗ con chó. Nó chết rồi. Ông lại cất bước, lòng cứ thấy day dứt trước nỗi buồn và sự tàn bạo của cuộc đời. Thật lạ lùng, ánh nhìn chê trách của con vật cứ như muốn nói: "Ồ cuộc đời! Cuộc đời mà ta tin yêu biết bao, tại sao chuyện đó lại xảy ra với ta?"

    Ông Satterthwaite đi qua hàng cọ, qua những ngôi nhà nằm rải rác đây đó, rồi đứng trước bãi biển. Những con sóng trồi lên rồi lại lùi ra xa. Ở dây, lâu rồi, một vận động viên bơi lội nổi tiếng của Anh đã chết đuối vì những con sóng này. Ông đi qua vùng bờ đá, chỗ bọn trẻ con và mấy bà sồn sồn đang loi choi choi trong nước mà cho rằng mình đang bơi. Cuối cùng ông theo con đường dốc đứng quanh co lên đến vách đá. Trên cao này có ngôi nhà mang biệt danh "La Paz"sơn màu trắng, những ô cửa màu xanh đã phaimauf đóng kín mít, khu vườn bao quanh hoang sơ thật đẹp, đường đi trồng bách hai bên chạy dài lên cao nguyên ven vách đá. Từ trên cao đó, tầm mắt phóng ra xa thật xa. Dưới kia là biển xanh ngút ngắt.

    Những ngày này ông Satterthwaite hay đến đây. Ông rất thích khu vườn "La Paz", nhưng chưa bao giờ ông bước vào khu biệt thự đầy vẻ quạnh hiu này. Anh làm vườn người Tây Ban Nha tên là Manuel có khuôn mặt sạm nắng và vui vẻ. Anh đón mừng khách khứa bằng cách tặng một bó hoa lớn cho các bà, một bông hồng cài áo cho các ông.

    Việc làm này khiến ông Satterthwaite tưởng tơợng ra bao chuyện về chủ nhân ngôi biệt thự. Giả như ngôi nhà này là của một vũ nữ người Tây Ban Nha, khi xưa nổi tiếng trên toàn thế giới vì sắc đẹp nay tìm đến đây chạy trốn sự tàn phá của thời gian.

    Ông hình dung ra cảnh cô vũ nữ ra khỏi nơi cư ẩn, đi dạo trong khu vườn trong buổi hoàng hôn. Có đôi khi ông những muốn hỏi Manuel sự thể thế nào, nhưng rồi lại gạt đi. Ông vốn thích tưởng tượng mà.

    Sau vài lời hỏi thăm anh làm vườn và lịch sự đón nhận bông hồng màu cam, ông Satterthwaite men theo con đường trông bách ra đến biển. Ngồi ở đây, bên bờ dại dương vĩ đại, đỉnh cao ngay dưới chân mình, thật là một niềm đam mê khó tả. Nhưng rồi bỗng ông rùng mình, cảm thấy mình đã già nua, lòng tê tái, đơn lẻ... Ông đã nhận được gì của cuộc đời? Chẳng gì cả. Trắng tay. Còn không bằng con chó bị kẹp chết sáng nay trên đường phố...

    Đột nhiên, một tiếng động dội đến kéo ông ra khỏi dòng suy tưởng. Không phải tiếng bước chân mà là một lời rủa bằng tiếng Anh.

    Quay đầu lại, ông thấy một thanh niên đang chăm chú nhìn ông với vẻ ngạc nhiên pha lẫn thất vọng. Ông nhanh chóng nhận ra anh ta, vị khách du lịch làm ông tò mò kể từ lúc anh ta đến vào hôm qua. Ông gọi "chàng thanh niên" Vì anh ta có vẻ trẻ so với phần đông những người hay lu tới khách sạn, tuy vậy anh ta cũng phải tầm bốn mươi, không thế ngoài năm mươi được. Dù vậy, gọi anh ta là "thanh niên" Cũng có vẻ đúng vì trông anh ra có vẻ không phải người sành sỏi. Ông Satterthwaite thường có những phán đoán kiểu này khác chính xác. Người đang ông kia có dáng vẻ của những con chó đã trung thành những vẫn lưu lại những đặc tính của chú cún con xưa kia.

    "Chàng trai này chưa khi nào thực sự là người lớn. Ít nhất là theo nghĩa đen của từ này". Ông Satterthwaite nghĩ.

    Dù sao, người đang ông kia không như một "cậu bé" Nghèo khó. Dồi dào sinh lực, béo tốt, biểu hiện của những người đầy đủ cả vật chất và tinh thần. Anh ta có đôi mắt màu nâu tròn, mái tóc vàng hoa và bắt đầu hoa râm, hàng ria mép nhỏ trên khuôn mặt rám nắng.

    Anh ra đến hòn đảo này làm gì nhỉ? Ông Satterthwaite thực sự tò mò. Ông hình dung thấy anh ra đang đi săn, tập bắn, chơi bài, đánh gôn hay tennis, tán tỉnh các cô nàng xinh đẹp nhưng trên hòn đảo này làm gì có máy cung để tập bắn, không có bãi săn, cũng không có môn thể thao nào khác ngoài bóng chày, và chỉ có cô Baba Kindersley, không quản tuổi tác vẫn giữ được dáng vẻ duyên dáng. Tất nhiên không lọa trừ lí do phong cảnh nên thơ nơi đây quyến rũ các nghệ sỹ, nhưng ông Satterthwaite dám chắc rằng anh ta không thuộc giới nghệ sỹ. Ở anh ta toát lên dáng vẻ cục mịch, không ham chữ nghĩa, nghệ thuật.

    Mặc những phỏng đón trong đầu Satterthwaite, người lạ mặt nói với vẻ bối rối, vì biết câu rủa của mình khi nãy là hớ.

    - Xin lỗi. Tôi ...tôi...không định nói thế... Tôi không nghĩ là lại có người ở đây.

    Anh ra nở nụ cười hối lỗi. Nụ cười của anh ta thật quyến rũ, thân thiện và dễ làm động lòng người khác.

    - Chỗ này kể cũng vắng vẻ - Ông Satterthwaite đòng tình.

    Ông lịch sự nhích ra để nhường chỗ cho chàng trai. Anh ra im lặng ngồi xuống.

    - Ở đây mà hoang vắng sao? - Anh ta nói - Tôi không nghĩ thế. Có vẻ như lúc nào ở đây cũng có người.

    Trong giọng anh ra ẩn chứa sự kích động. Ông Satterthwaite tự hỏi vì sao anh ra tỏ ra là người thân thiện với những người al? Sao anh ra lại tìm đến nơi quạnh quẽ nãy nhỉ? Có lẽ là một cuộc hẹn tình tứ chăng? Nhất định là không đúng. Ông nhìn trộm người ngồi cạnh. Ông bất chợt thấy mình đã gặp người này ở đâu rồi, mới đây thôi, vì ông nhận ra ánh nhìn pha trộn vẻ bối rối và khiêu khích được che giấu.

    - Vậy ra anh đã đến đây rồi à? - Ông Satterthwaite gợi chuyện.

    - Vâng. Tôi ra đây hôm qua, lúc sau bữa tối.

    - Thế à? Chắc buổi tối cửa vẫn đóng chứ?

    Một lát lặng im.

    - Tôi đã trèo tường vào - Cuối cùng anh ra trả lời với giọng cáu kỉnh.

    Ông nhìn anh ta càng ngạc nhiên hơn. Vốn có sự tinh nhạy của một cảnh sát điều tra, ông không nghĩ là người đồng hành với ông đây lại có đủ thời gian khám phá vẻ đẹp quyến rũ của khu biệt thư lức ban ngày khi mà anh ta mới chỉ tới đây chiều hôm trước, hơn nữa anh ta cũng chưa nói chuyện với bất kỳ khách du lịch nào khác. Nhưng ngay khi đêm xuống anh ta đi thằng đến "La Paz" Làm gì nhỉ? Ông Satterthwaite quay đầu ngắm ngôi nhà có ô cửa xanh. Nó vẫn vắng vẻ, tĩnh lặng, và đóng cửa im ỉm như mọi khi... Vậy là, điều bí mật không trốn trong đó.

    - Thế anh đã gặp ai tối qua ở đây à?

    - Vâng. Có thể là khách của một khách sạn khác. Ông ra mang đồ giả trang.

    - Đồ giả trang?

    - Vâng. Một kiểu trang phục của Arlequin.

    - Sao cơ?

    Câu hỏi bật ra rành rọt khiến người lạ mặt ngạc nhiên nhìn ông chòng chọc.

    - Tôi tưởng các khách sạn ở đây thường tổ chức các đêm dạ hội hóa trang?

    - À! Vâng. Rất, rất thường xuyên.

    Hơi thở ngắt quãng, ông ngừng lại rồi nói thêm.

    - Mong anh bỏ quá cho sự xáo động vừa rồi. Anh có biết, vô tình thôi, rằng đó là một chất xúc tác không?

    Chàng trai nhìn ông sững sờ.

    - Chưa bao giờ tôi nghe nói đến từ này. Đó là cái gì vậy?

    Với vẻ trang trọng, ông Satterthwaite kể:

    - Một hành động mà qua đó một chất - gọi là chất xúc tác - đấy nhanh phản ứng hóa học!

    - Thật thế sao? - Chàng thanh niên bối rỗi.

    - Tôi có một người bạn tên là Quinn, mà từ "chất xúc tác" với ông ấy là dấu hiệu báo trước những sự kiện bất thường, mà ông ấy chưa nhầm lẫn bao giờ. Tôi có cảm giác người ông gặp hôm qua chính là bạn tôi.

    - Ra vậy! Kiểu đó chẳng giống ai, bạn của ông ấy. Ông ra đã làm tôi sốc. Đột nhiên ông ra xuất hiên, như là ông ấy từ biển lên vậy.

    Ông Satterthwaite đưa mắt nhìn dải đất và nhìn ra xa tận cùng thung.

    - Tôi biết là vô lý, nhưng ông ta đã làm tôi sốc. Chuyện này rõ ràng là không có thực. Anh ta sẽ cúi xuống phía dốc đứng. Một cái vách phẳng lỳ, dựng đứng, nếu bị trượt trên đó, chúa ơi là cầm chắc cái chết.

    - Còn nơi nào lý tưởng hơn để thực thi tội ác chứ! - Ông Satterthwaite bông lơn.

    Người đồng hành nhìn ông, ngơ ngác, như thế bất chợt anh ta lạc mất chủ đề câu chuyện.

    - À, vâng, thực sự... Cuối cùng anh ta nói, giọng mạnh mẽ.

    Anh ra cau mày gõ đầu gậy xuống đất. Ông Satterthwaite chợt nhớ ra điều mà ông ngờ ngợ từ nãy giờ. Ánh nhìn dò hỏi và bối rối... Con chó bị kẹp chết sáng nay có cái nhìn y hệt như vậy, đều biểu hiện cùng một câu hỏi thống thiết và lời trách cứ: "Ồ cuộc đời mà ta tin yêu biết bao, tại sao điều đó lại xảy ra với ta?"

    Giữa người lạ mặt kia và con chó sáng nay còn những điểm giống nhau như: cuộc sống vô lo, hưởng thụ, cùng vui vẻ giã từ những vui thú của cuộc đời, thiếu vắng những hành xử trí tuệ. Cả hai tận hưởng từng giây phút hiện tại, thế giới này là một nơi dễ chịu dành cho những thú vui vật chất: Mặt trời, biển khơi, bầu trời... biết bao là điều vui. Sau đó thì sao ư? Một chiếc ô tô đã cán chết con chó, còn điều gì sẽ quật ngã người đàn ồn kia?

    Người lạ mặt lên tiếng, như là tự nói với mình hơn là nói với ông Satterthwaite.

    - Ta tự hỏi tất cả rồi để làm gì chứ?

    Những lời của người đàn ông khiến Satterthwaite mỉm cười vì chúng biểu lộ một cách vô thức bản chất ích kỷ của con người, mà loài người vẫn tin rằng mọi sự việc trên đờ đều chỉ dành riêng cho niềm vui cũng như sự đau buồn của chúng ta, Satterthwaite không trả lời. Người lạ mặt cười trừ:

    - Dường như tất cả đàn ông đều phải xây một ngôi nhà, trông một cái cây và có một câu con trai... Tôi đã ngỡ là mình đã trông nên một cây rồi, buổi xưa kia...

    Ông Satterthwaite lắng nghe. Trí tò mò trối dậy: sự hứng thú được quan tâm đến câu chuyện của người khác hiện rõ. Có sao đâu! Chẳng phải trong ông có những đức tính tốt của phụ nữ sao? Ông rất biết lắng nghe, có năng khiếu phát ngôn đúng lúc, đúng chỗ để diễn ta đúng sự việc, và nhanh chóng biết được mục đích của câu chuyện.

    Người lạ mặt tên là Anthony Cosden. Có vẻ như anh ta giống như trong hình dung của ông Satterthwaite. Anh ta không có năng khiếu dẫn dắt câu chuyện, nhưng thính giả lại là một người thừa trí tưởng tượng. Anh ta có một cuộc đời bình dị như bao người khác: Thu nhập trung bình, đi nghĩ vụ quân sự, chơi thế thao mỗi khi có dịp, nhiều bạn, biết bao hoạt động thú vị và có vài phụ nữ vây quanh. Một cuộc sống thực dụng tách ròi cảm xúc. Nói trắng ra, sống như một con vật vô lo. "Nhưng người ta có thể thấy tệ hơn, ông Satterthwaite thầm đánh giá bằng tất cả sự nhạy cảm của kinh nghiệm sống. Phải rồi, có thể còn tệ hơn". Anthony vẫn luôn tin tưởng rằng cuộc đời thật đáng yêu. Nếu anh ra có tỏ ra khó chịu với đòi thì đó không phải là thực lòng muốn vậy, ấy vậy mà bất hạnh cuối cùng đã xảy đến với anh.

    Anthony kể chuyện, giọng khá gay gắt và rời rạc. Một hôm, anh ra cảm thấy bất ổn liền đi gặp bác sỹ. Ông này đã thuyết phục anh ra đi gặp một chuyên gia ở phố Harley. Và không thể tin nổi. Chuyên gia đã cố gằng đề cập vấn đề khi nói đến những điều trị tăng cường, sự yên tính, nghỉ ngơi... Nhưng rốt cuộc cũng không thể lừa được anh ra tin vào câu chuyện đó được... Cuối cùng họ cũng phải thông báo nhẹ nhàng với anh ta rằng anh ta chỉ còn sống được sáu tháng nữa thôi.

    Đôi mắt màu hạt dẻ nhìn Satterthwaite với vẻ tuyệt vọng. Thế là ông lại sốc vì nhận thấy tình thương lại dội lên trong lòng. Ông không biết...nói thế nào nhỉ?... Ông chỉ biết hành động.

    Ông lắc đầu vẻ nghiêm trọng. Ông hiểu.

    Thật khó cho Anthony Cosden. Biết sống những ngày tháng cuối cùng ra sao chứ? Đợi thần chết đến tìm ư? Đó đâu phải là sống. Anh ta không thấy mình bị bệnh, chưa thấy thì đúng hơn. Nhưng sau khi gặp chuyên gia thì khồn trốn tránh chuyện đó được nữa. Thật nghịch lý: Phải chết khi không hề muốn chêt! Anh ra đã nghĩ là cứ làm như không có việc gì xảy ra thì tốt hơn. Nhưng không được.

    Đến đây, ông Satterthwaite những muốn ngắt lời người kể để hỏi cho ra xem anh ta có gắn bó với người phụ nữ nào khồn? Ông chỉ hỏi rất tế nhị.

    Có vẻ như là không. Anh ra có nhiều phụ nữ quanh mình, dễ hiểu thôi, nhưng đó là hai chuyện khác nhau. Anh ra có cả hội bạn vui nhộn. Anh ra không hề muốn chết, không muốn ở trong lòng đất lạnh lẽo. Cái chết làm tất cả mọi người đều bối rối. Đó là lý do vì sao anh ta ra nước ngoài.

    - Vậy là anh quyết định đến hòn đảo này! Nhưng vì sao lại chọn nơi đây chứ?

    Ông Satterthwaite xâu chuỗi lại sự việc những diều không lối thoát...tế nhị nhưng hữu ích, và ông bị thuyết phục.

    - Có thể trước đây anh đã đến đây rồi?

    - Vâng - Cosden thành thật - Cũng lâu rồi, khi tôi còn trẻ.

    Đột nhiên, gần như bản năng, anh ta đưa mắt rất nhanh về phía khu biệt thự.

    - Tôi nhớ rất rõ nơi này, anh ta vừa nói vưa quay ra biển. Một bước đi về vĩnh hằng!

    - Thế tại sao anh ta lại lên đây tối hôm qua? - Satterthwaite từ tốn. Anthony bực dọc nhìn ông.

    - Ồ! Thực ra, tôi...

    - Hôm qua anh đã gặp một người ở đây. Và chiều nay, anh gặp tôi. Vậy là chúng tôi đã cứu anh hai lần.

    - Ông hiểu mọi việc như vậy cũng không sao, nhưng...nhưng, chúa ơi, đó là cuộc sống của tôi. Tôi có quyền muốn làm gì thì làm chứ.

    - Đây là nơi công cộng - Satterthwaite nói với giọng mệt mỏi.

    - Tôi hiểu - Anthony nói giọng cảm thông - Người ta khó nói khác được. Tôi cũng vậy thôi, tôi sẽ cố gắng thuyết phục để ngăn bất kỳ ai muốn tự tử, cho dù thâm tâm tôi vẫn biết là anh ta có lý. Và tôi đang có lý, ông biết đấy, một cái chết chóng vánh, không chê vào đâu được còn hơn là hấp hối trong lo âu không dứt. Hơn nữa, khi tôi không có người thân nào trên đời...

    - Thế nếu anh có ai đó? - Satterthwaite ngắt lời.

    Cosden thở dài.

    - Tôi không biết nữa. Nếu có như vậy đi nữa thì tôi thấy đây vẫn là giải pháp tốt nhất. Dù sao tôi không có...

    Anh ta đột ngột dừng lời. Satterthwaite nhìn anh ra tò mò. Bản tính lãng mạn, ông giả thiết là anh ta nhất định phải có một người đàn bà ở dâu đó. Nhưng Cosden không công nhận. Anh ta cũn không hề than phiền. Có thể là vì anh ta có một cuộc sống khá thoải mái. Tiếc là cuộc đời đó phải kết thúc quá sớm. Dù thế nào, anh ta cũng nghĩ là phải tận hưởng tối đa cuộc đời đó đi: Anh ta có được tất cả những gì anh ta có thể ước mong... Trừ một đứa con. Hắn là anh ta rất thích một cậu con trai. Anh ra sẽ yên tâm hơn nếu niết mình còn có một đứa con trai. Nhưng vẫn phải nói rằng anh ta đã có một cuộc sống rất thoải mái...

    Điều đó làm Sattertwaite mất kiên nhẫn. Ông cảm thất bực mình trước sự mềm yếu của người đàn ông trước mặt.

    - Anh vẫn chưa biết sống mà vẫn chỉ ở thời điểm bắt đầu.

    Cosden phá lên cười.

    - Vậy mái tóc hoa râm của tôi là sao kia? Tôi đã bốn mươi...

    - Đây không phải là chuyện tuổi tác - Satterthwaite ngắt lời - Cuộc đời là tổng quan những kinh nghiệm về thể chất cũng như tinh thần. Như tôi là một ví dụ, tôi sáu mươi chín tuổi, và tôi đã sống thực sự. Với tư cách cá nhân hay với tư cách nào khác, tôi đúc rút được tương đối những kinh nghiệm sống mà cuộc đời có thể mang lại. Còn anh thì ngược lại, anh khiến tôi nghĩ đến một người luôn miệng nói về bốn mùa nhưng mới chỉ trông thấy tuyết và váng băng! Hoa cỏ mùa xuân những ngày hè uể oải, những cành lá chể của mùa thu, anh ta đâu đã biêt. Thậm chú anh ta còn không biết có những điều như vậy tồn tại trên đời. Và anh muốn quay lưng lại với cơ hội được khám phá những điều tốt đẹp đó sao?

    - Có lẽ ông quên là tôi chỉ sống được có sáu tháng thôi - Giọng Anthony Cosden khô khốc.

    - Thời gian là tương đối, mọi thứ đều chỉ có tính tương đối. Sáu tháng có thể sẽ dài hơn và anh sẽ thu được nhiều vốn sống hơn tất cả quãng đời trước đó.

    Cosden vẫn chưa bị thuyết phục.

    - Tôi dám chắc là ông cũng làm như tôi khi ông rơi vào hoàn cảnh giống tôi.

    Satterthwaite lắc đầu.

    - Không đúng. Trước hết, tôi không chắc mình đã rèn được sự dung cảm vì muốn tự vẫn phải có lòng dũng cảm, ma tôi thì chưa có. Thứ hai...

    - Thứ hai nữa là gì?

    - Tôi luôn tò mò muốn biết ngày mai sẽ ra sao.

    Cosden lại cười và đứng dậy

    - Vâng thưa ông. Ông đã rất lịch thiệp ngồi nghe chuyện của tôi. Tôi cũng không biết vì sao tôi lại kể ông nghe...mà lại nói rất nhiều. Ông vui lòng quên chuyện vừa rồi đi nhé.

    - Thế ngày mai, khi tai nạn được thông báo tôi sẽ phải im lặng sao? Tôi phải bỏ qua giả thiết về một vụ tự tử?

    - Ông cứ xử sự như ông cho là phải. Ít ra thì ông cũng có ý thức về một việc mà tôi lấy làm vui mừng, vì ông đã không ngăn cản tôi.

    - Anh bạn trẻ oi, hãy suy xét cho kỹ càng, tôi không thể bán theo anh suốt ngày để ngăn cản được. Sớm muộn gì anh cũng phải bỏ qua tôi để thực hiện cho bằng được dự định của anh. Dù sao anh không được làm chuyện đó trong chiều nay. Anh hẳn không định để người ta kết tội tôi đấy anh tới cái chết chứ!

    - Đúng vậy. Nếu ông còn ở đây...

    - Tất nhiên là tôi sẽ ngồi lại - Satterthwaite nói vẻ dứt khoát.

    Cosden cười hóm hỉnh.

    - Được rồi, vậy là tôi phải tiến hành sau vậy. Tôi về khách sạn đây. Có lẽ sẽ gặp lại ông.

    Satterthwaite còn lại một mình ngắm biển. Ông lẩm bẩm:

    "Rồi đây chuyện gì sẽ xảy ra? Chắc chắn là sẽ có một biến cố. Mình tự nhủ nếu..."

    Ông đứng dậy, lặng bên vách đá chiêm ngưỡng những đợt sóng đang nô giỡn ngoài khơi. Không khí nơiđaây không tố cho bộ máy hô hấp. Ông chậm rãi trở về trên lối đi bách bước vào khu vườn im ắng. Ông nhìn ngôi nhà vắng vẻ có những ô cửa xanh đóng kín và tự hỏi rằng ai sống trong đó và bí mật phía sau bức tường kia là gì. Bị trí tò mò thúc đấy mạnh mẽ, ông rảo bước đến đẩy một cánh cửa đã phai màu.

    Ông ngạc nhiên thấy cánh cửa chuyển động. Một chút lưỡng lự, rồi ông mở cửa. Ông trở lùi lại ngay, kêu lên rụng rời. Trước mặt ông trên bậc cửa kính thông ra bao lơn là một phụ nữ mặc toàn đồ đen, đầu trùm một chiếc khăn đăng ten cùng đen.

    Satterthwaite bỏ chạy, lắp bắp bằng thứ tiếng Italia trộn lẫn tiếng Đức, thứ tiếng nghe như tiếng Tây Ban Nha. Ông giả thích bằng những câu ngắt quãng, ông mệt mỏi và bối rối. Mong quý bà bỏ qua cho ông. Rồi ông hấp tấp trở lui, không để người phụ nữ nói câu nào.

    Cuối cùng, khi ông đã ra đến giữa vườn, bà ta mới lên tiếng, gãy gọn như một phát súng:

    - Quay lại!

    Đó là một âm thanh khô khốc, một mệnh lênh vẫn dùng cho một con chó. Nhưng nó có đầy đủ uy quyền khiến Satterthwaite ngoan ngoãn trở lại. Người phụ nữ vẫn đứng trên bậc cửa kính, bất động. Bà ta nhìn Satterthwaite từ đầu đến chân, điềm tĩnh đánh giá.

    - Ông chắc là người Anh.

    Satterthwaite lại xin lỗi.

    - Nếu tôi biết chị cũng là người Anh, tôi đẫ có thể nói rõ ràng hơn. Tôi thành thật xin lỗi chị. Tôi thật thất lễ khi mở cửa. Tuy vậy tôi chỉ tò mò quá thôi, tò mò muốn biết có gì b ên trong một ngôi nhà đẹp đẽ dường này.

    Bông nhiên, người phụ nữ cười tật to.

    - Nếu nó cuốn hút ông đến vậy thì xin mời ông vào.

    Chị ta đứng tránh sang. Satterthwaite mừng rỡ bước qua bậc thềm. Dù hơi tối vì những cánh cửa khác vẫn đóng kín, ông vẫn nhận thấy có rất ít đồ vật bày biện trong nhà. Một lớp bụi phủ mỏng lên đống đồ.

    - Mời ông đi tiếp. Tôi không dùng phòng này bao giờ.

    Satterthwaite đi theo qua hành lang bước vào phòng khách ở phía bên kia. Cửa sổ phòng này trông ra biển, ánh mặt trời chiếu tràn trong phòng. Đồ đạc ở đây cũng sơ sài như phòng trước nhưng có một tấm bình phong bằng da xứ Cordoue, những bình hoa tươi vừa mới cắt ngoài vườn và những tám thảm đã sờn nhưng nhìn thì biết trước đây chúng rất đẹp

    - Ông sẽ dùng trà với tôi nhé - Chủ nhà nói, rồi thuyết phcuj thêm - Trà ngon lắm đấy, lại được pha bằng nước tinh khiết nữa.

    Chị ra bước ra ngoài và ra lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha rồi quay lại ngồi trên đi văng trước mặt ông khách mời. Ông Satterthwaite nhận thấy người đang bà tỏ ra rất thoải mái.

    Trước nhân vật cá tính như vậy, thoạt tiên ông thấy mình già hơn, nhăn nheo hơn bình thường. Đó là phụ nữ cao lớn, tóc nâu, da tươi ánh mặt trời, còn rất đẹp tuy không còn trẻ lắm. Sự hiện diện của nàng khiến mặt trời rạng rỡ hơn. Satterthwaite lại cảm nhận được sự tò mò mãnh liệt và nhiệt tình xầm chiếm ông: "Cô ta mới tràn trề sức sống làm sao".

    Nhớ lại vẻ uy quyền mà người phụ nữ vừa bộc lộ, ông thấy tiếc cho Olga, người được ông bảo trợ, không có được một chút sức mạnh tiềm ẩn kia. Ông tự nhủ: "Isolde chính là người phụ nữ này đây. Nhưng hình như cô ta không có năng khiếu ca hát. Tếh giới này kỳ quặc vậy".

    Một mặt nào đó người đang bà lại khiến ông thấy ngại ngần vì ông không có thiện cảm với những phụ nữ có tính quyền uy.

    Tay chống cằm, chị ta quan sát một cách không che đậy mà không cần biết phản ứng của vị khách lạ ra sao. Cuối cùng, chị ta lắc đầu như thể đã quyết định sau một hồi toan tính.

    - Tôi rất hân hạnh vì ông đến đây. Chiều nay, tôi rất muốn có người cùng trò chuyện. Còn ông thì đã quen với việc này rồi phải không?

    - Tôi cũng không thạo việc đó lắm đâu.

    - Không phải mọi người vẫn tin tưởng ông đó sao? Ông biết rõ tôi muốn nói gì mà. Tại sao ông lại tỏ vẻ không hiểu?

    - Tôi ...có lẽ...

    Không cần đợi ông đồng ý, chị ta tiếp tục:

    - Người ta có thể thú nhận và tin tưởng mọi điều vào ông. Vì ông có những nét tính cách rất đàn bà, nên ông hiểu được tình cảm, suy nghĩ của chúng tôi, hiểu được những ứng xử kỳ quặc của chúng tôi...rất kỳ quặc.

    Chị ta im lặng khi một cô hầu gái to béo người Tây Ban Nha tươi cười mang ấm trà đến.

    Thứ trà Trung Quốc hảo hạng mà Satterthwaite vẫn ưa dùng xưa nay.

    - Chị sống ở đây à? - Ông bắt chuyện.

    - Vâng.

    - Nhưng không sông quanh năm phải không? Hầu như ngôi nhà luôn đóng cửa? Là người ta nói vậy.

    - Tôi thường ở đây, không như mọi người vẫn nghĩ. Nhưng tôi chỉ quan tâm đến phía nhà bên này thôi.

    - Chị ở ngôi nhà này lâu chưa?

    - Đã hai mươi năm rồi.

    Làm gì lâu đến thế nhỉ. Ông già nghĩ thầm rồi dò hỏi:

    - Thế thì cũng khá lâu đấy nhỉ.

    - Có gì lâu đói với một người đâu!

    Ông già tò mò thấy thực sự hứng thú.

    - Cũng còn tùy - Ông thận trọng trả lời.

    Chị ta lắc đầu.

    - Vâng, cũng còn tùy. Thế nào là lâu, thế nào là chóng... Đến tận bây giờ tôi cũng không biết.

    Chị ta lặng yên, đắm chìm trong suy tưởng. Cuối cùng chỉ mỉm cười nói.

    - Đã lâu quá rồi tôi không nói chuyện với ai...lâu quá rồi. Nhưng không phải tôi muốn thanh minh việc tôi gọi ông lại đâu. Dù sao thì chính ông đã mở cửa rồi nhìn qua cửa sổ. Mà ông vẫn thường làm như vậy phải không? Ông đẩy cửa nhìn xem việc gì đang xảy ra trong cuộc đời mọi người...nếu người ta đống ý để ông nhìn vào, và thường xuyên ngay cả khi người ta không cho phép! Khó mà giấu được ông điều gì. Ông biết đoán định và đoán đúng.

    Satterthwaite thấy cần phải thật trung thực.

    - Tôi sáu mươi chín tuổi - Ông nói - Tất cả những gì tôi biết về cuộc đời nay, tôi đều chỉ học qua người khác. Đôi khi tôi thấy nỗi đau khổ lớn lao và sự hối hận không nguôi. Tuy nhiên qua đó tôi biết được nhiều điều.

    - Tôi biết. Cuộc sống vốn kỳ lạ và đấy ưu tư. Tôi không hình dung được ý nghĩa của nó... Cuộc đời luôn đầy kịch tính.

    Satterthwaite mỉm cười.

    - Không, chị không thể hiểu đượcdđâu. Vị trí của chị là ở trung tâm tấn kịch đó. Chị luôn là diễn viên, dù chính, dù phụ trong cả một vở kịch cuộc đời.

    - Nhận xét lý thú quá đi!

    - Nhưng tôi lại có lý đấy. Cuộc đời chị có biết bao biến cố và nó sẽ luôn là như vậy. Tôi nghĩ, có một vài sự kiện rất đáng sợ. Liệu oôi có nhầm không?

    Chủ nhà nhìn Satterthwaite, khóe mắt đã có vài nếp nhăn.

    - Nếu ông ở đây lâu, người ta sẽ kể cho ông nghe về chuyện một vận động viên bơi lội người Anh bị chết đuối dưới chân vách đá. Người ta sẽ ngợi ca rằng anh ta thật trẻ trung và mạnh mẽ, rằng anh ta rất đẹp, và sẽ thì thầm với ông rằng cô vợ trẻ của anh ta đứng trên mỏm cao vách đá nhìn anh ta chêt đuối.

    - Vâng tôi có nghe chuyện.

    - Người đàn ông ấy là chồng tôi. Biệt thự này là của anh ấy. Anh ấy đưa tôi đến đây khi tôi mười tám tuổi, một năm sau anh ấy chết...chêt vì sóng, dập nát, bầm tím, thân xác không còn nguyên vẹn vì những mỏ đá đén kia.

    Satterthwaite sững sờ, không nói được tiếng nào. Chị ta nhìn ông, đôi mắt như có lửa.

    - Ông nói đến thảm kịch... Ông có thế nghĩ đến điều gì hơn cả thảm kịch khi một người phụ nữ trẻ như vậy, mới cưới được một năm: Yếu đuối, được bao bọc trong vòng tay cứng cáp của người đàn ông mà cô ấy yêu, chiêm ngưỡng anh ấy đấu tranh vì cuộc sống của cô...và mất anh ấy...trong một hoàn cảnh khủng khiếp đến thế?

    - Độc ác quá - Satterthwaite xúc động thật sự - Độc ác quá. Chị nói đúng. Không gì còn có thể đáng sợ hơn thế.

    Chị ta phá lên cười, đầu ngật ra đằng sau.

    - Ông nhầm. Còn có điều đáng ghê sợ hơn gấp nghìn lần rằng: Cô vợ trẻ kia đứng đó, những mong chồng mình chết đuối...

    - Lạy Chúa nhân từ! - Satterthwaite kêu lên - Chị không có ý...
  4. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Người Đàn Ông Bí Ẩn

    Người Đàn Ông Đến Từ Biển Cả (2)


    - Đúng đấy, sự thật là như thế đây. Những người hầu Tây Ban Nha nghĩ là tôi đã cầu nguyện để chồng tôi bình yên vô sự, nhưng đâu phải . Tôi xin chúa trời sức mạnh để mong cho chồng tôi chết đi. Tôi không ngừng nhắc lại lời khẩn câu: "Lạy chúa, xin giúp con không mong anh ấy chết. Lạy chúa, xin người giúp con không mong anh ấy chết". Nhưng vô ích tôi vẫn tiếp tục hy vọng...hy vọng... Và tôi đã được toại nguyện.

    Chị ta im lặng một lúc rồi nói với giọng thật dịu dàng, khác hẳn khi nãy.

    - Thật đáng kinh tởm phải không ông? Chuyện như vậy thì không thể quên nổi. Tôi đã mừng rỡ biết bao khi biết là anh ta chết thật rồi, anh ta không thể quay lại hành hạ tôi nữa.

    Satterthwaite thật sự bị sốc, thì thầm:

    - Ôi, có chuyện như vậy ư?!

    - Tôi biết. Tôi còn quá trẻ để trải qua một thử thách như vậy, chuyện này nên xảy đến khi người ta ở một độ tuổi nhất định, khi đã được chuẩn bị kỹ hơn...để chịu đựng mọi khắc nghiệt. Ông thấy không, không có ai biết thực sự chồng tôi thế nào. Khi tôi quen anh ta, tôi thấy anh ta thật tuyệt vời. Lúc anh ta cầu hôn, tôi vô cùng hạnh phúc và tự hào. Nhưng ngay sau đó sự việc diễn ra thật tồi tệ. Anh ta luôn cáu gắt tôi...không vừa ý với bất kỳ điều gì tôi làm - đương nhiên, tôi không nuốt nhịn. Rồi dần dần, anh ta thấy vui thích nếu làm tôi đau, nhất là khiến cho tôi khiếp sợ. Khi đó anh ta thỏa mãn vô cùng. Anh ta tưởng tượng ra các kiểu tai nạn. Tôi không muốn nói chuyện với ông. Tóm lại, tôi nghĩ anh ta mất thăng bằng về trí óc. Ở đây tôi chỉ có một mình, còn quyền uy và sự tàn bạo trở thành niềm say mê của anh ta. (Đôi mắt người đàn bà mở lớn hơn, sẫm lại). Điều tồi tệ là tôi có thai... Nhưng vì những gì chồng tôi bắt tôi phải chịu đựng, khi sinh ra đứa con tôi đã chêt. Con tôi... Tôi muốn chết quách đi, nhưng tôi đã được cứu sống. Vậy đấy.

    Satterthwaite rên không thành tiếng.

    - Và rồi mọi chuyện diễn ra như tôi đã kể với ông. Những khách trọ trong khách sạn đã thách anh ta và thảm kịch đã xảy ra. Tất cả đám người Tây Ban Nha đã báo trước với anh ta rằng có họa điên mới bất chấp con nước ở chỗ đó. Nhưng ta quá hợm mình: Anh ta muốn thể hiện... Tôi, vậy là tôi đứng nhìn anh ta chết đuối...và tôi lấy thế làm mừng vui. Chúa không nên để xảy ra chuyện kinh người như vậy.

    Satterthwaite năm lấy đôi bàn tay đang siết chặt của người phụ nữ, lúc này chẳng khác gì đứa trẻ đang sợ hãi. Khuông mặt không còn là của một phụ nữ đứng tuổi. Và ông hình dung dể dàng hình ảnh cô gái mười chín tuổi năm xưa.

    - Mới đầu, tôi cảm thấy dễ chịu được sống trở về chính mình. Ngôi nhà thuốc về tôi, tôi được sống ở đó mà không phải sợ gì cả. Vì tôi mồ côi, cũng không có họ hàng thân thích nên không có ai quan tâm xem tôi thành người như thế nào. Mọi chuyện tưởng chừng hết sức đơn giản. Tôi tiếp tục sống trong biệt thự này, nơi đây là thiên đường. Phải, thiên đường. Chưa bao giờ tôi sung sướng dường ấy, và cũng không bao giờ sung sướng hơn được nữa. Tôi tỉnh dậy ý thức rằng ác mộng đã chấm dứt: Sự đau khổ, sự khiếp sợ, nỗi kinh hoàng khi vẫn thường tự hỏi không biết mình còn phải chịu đựng những gì... Phải, thực sự là thiên đường.

    Im lặng bao trùm khá lâu.

    - Thế sau đó thì sao? Cuối cùng Satterthwaite hỏi.

    - Ông cũng biết rằng con người không bao giờ hài lòng với số phận của mình. Lúc đầu chỉ cần biết mình được tự do là đủ đối với tôi. Nhưng không lâu sau, tôi thấy mình cô đơn...và tôi nghĩ đến đứa con đã chết. Chỉ cần tôi có con tôi! Tôi rất muốn có đứa con ấy, vì đó là con tôi, nhưng cũng bởi tôi muốn một trò chơi. Tôi cần vô cùng một điều gì đó, hoặc ai đó để chơi cùng. Nghe có vẻ ngớ ngần nhưng đúng là thế.

    - Tôi hiểu - Satterthwaite.

    - Sau đó thật khó để kể lại. Sự việc diễn ra...như vậy, thật đơn giản. Có một chàng trai người Anh ở khách sạn, vô tình lạc bước vào khu vườn. Vì tôi mặc đồ ở nhà nên anh ta nghĩ tôi là người làm. Tôi để mặc anh ta tưởng vậy vì nghĩ là sẽ thú vị...và tôi đóng kịch. Anh ta nói tiếng Tây Ban Nha rất kém nhưng vẫn cố gắng diễn ta. Và tôi kể cho anh ta nghe rằng khu biệt thự là của một người Anh đang đi du lịch, bà ta đã dạy tôi nói tiếng Anh, và tôi làm ra vẻ nói tiếng Anh lúng búng. Rất buồn cười... Đến tận hôm nay, nhớ lại tôi vẫn thấy buồn cười. Vậy là anh ra tán tỉnh tôi, chúng tôi cùng thỏa thuận sẽ đóng vai những người sống trong ngôi nhà này, như một cặp vợ chồng mới cưới về đây ở. Tôi bảo anh ta mở một cánh cửa - đúng cánh cửa mà ông mở tối nay. Cánh cửa mở ra, những căn phòng đầy bụi không được dọn dẹp. Chúng tôi bước và như những tên trộm. Tôi thấy phấn khích. Chúng tôi làm như thể đang ở nhà mình.

    Đột nhiên chị ta ngừng lời, nhìn ông van lơn.

    - Tất cả dường như thật tuyệt với... Một chuyện cổ tích. Theo tôi điều tuyệt vời hơn cả là câu chuyện tưởng như không có thật, như một giấc mơ.

    Satterthwaite thừa nhận. Ông hiểu người đối diện còn rõ hơn cả bản thân chị ta: rằng đó là một thiếu nữ đang sợ hãi, cô đơn, ảo tưởng về trò chơi mà cô cũng biết rằng nó không có thật.

    - Tôi hình dung người thanh niên kia không có vẻ gì khác thường, anh ta đang đi tìm chuyện phiêu lưu. Nhưng chúng tôi cứ tiếp tục đóng kịch như vậy.

    Người đang bà ngừng lời nhìn Satterthwaite.

    - Ông có hiểu không? Chúng tôi đã tiếp tục làm như vậy... - Chị nhắc lại.

    - Ngày hôm sau, anh ta trở lại biệt thự, từ phòng mình tôi trông thấy anh ta qua lớp cửa kính. Rất hồn nhiên, anh ta không hề nghĩ rằng tôi ở trong nhà. Anh ra coi tôi như một cô bạn người làm Tây Ban Nha. Anh ra đứng đó, nhìn quanh vì anh ta đã hẹn tôi tới, tôi đã đồng ý mà không hề có ý đến gặp anh ta.

    Vậy là anh ta cứ đứng đó đợi chờ, vẻ lo lắng. Tôi nghĩ là anh ta lo cho tôi. Thật tốt bụng. Mà anh ta tốt thật...

    Lại ngừng lời.

    - Ngày hôm sau. Anh ta ra đi. Và từ đó tôi không bao giờ gặp lại anh ta nữa.

    Chín tháng sau tôi sinh con. Suốt thời gian mang thai tôi hạnh phúc vô cùng. Không có ai gây sự hay làm khó dễ cho cuộc sống của tôi. Tôi tiếc là đã không hỏi tên anh ta để đặt tên cho con trai tôi. Anh ra đã đem lại cho tôi điều tôi mong ước nhất trên đời, mà chính anh ta cũng không biết! Tôi nghĩ là anh ta có thể không nhìn nhận sự việc giống tôi. Nếu anh ta biết anh ta có con, có thể anh ta lại thấy phiền toái. Với anh ta tôi chỉ là cuộc dan díu chốc lát không hơn.

    - Thế còn đứa bé? - Satterthwaite nóng lòng.

    - Cháu đáng yêu lắm. Tôi gọi cháu là John. Giá mà ông gặp cháu hôm nay! Cháu đã hai mươi tuổi rồi và sắp trở thành kỹ sư mỏ. Cháu là điều tốt đẹp nhất của cuộc đời tôi. Cháu rất yêu mẹ. Tôi nói cháu là cha cháu đã chết trước khi cháu ra đời.

    Satterthwaite nhìn người phụ nữ ngạc nhiên. Câu chuyện đầy kịch tính, dường như không có kết thúc. Chắc sẽ có phần tiếp theo.

    - Hai mươi năm thật là dài - Ông nói - Chị không nghĩ là sẽ cưới ai đó sao?

    Chị lắc đầu. Một chút ửng hồng len lén trên đôi gò má rám nắng.

    - Đứa con là tất cả đối với chị sao? Trong suốt quảng thời gian đó?

    Người đang bà nhìn Satterthwaite, ánh mắt quá đỗi dịu dàng mà chưa bao giờ ông gặp, thầm thì:

    - Có những điều rất kỳ lạ. Rất rất kỳ lạ! Ông không biết đâu... Đúng, tôi nhầm ông ạ. Có thể ông không tin vào những điều kỳ lạ ấy. Khi đó, tôi không yêu cha của John. Tôi thâm chí không biết tình yêu là gì. Rất tự nhiên, tôi tin là John giống tôi. Nhưng không phải thế. Cháu giống bố cháu y hệt, đến nỗi có lúc tôi ngỡ như cháu không phải con tôi. Tôi học cách làm quen với người đàn ông ấy qua con trai tôi. Tôi tìm cách yêu anh ấy qua con trai tôi. Bây giờ tôi yêu anh ấy. Tôi vẫn luôn yêu anh ấy. Ông có thể cho tôi là quá mơ mộng hão huyền nhưng thực tâm tôi yêu người đàn ông đó, bằng xương bằng thịt. Nếu ngày mai gặp lại, tôi sẽ nhận ra anh ấy ngay, dù tôi đã không trông thấy anh ấy từ hai mươi năm nay. Tình yêu dành cho anh ấy đã khiến tôi trở thành người phụ nữ theo đúng nghĩa của từ này. Tôi yêu anh ấy bằng tình yêu của một người đàn bà dành cho một người đàn ông. Từ hai mươi nam nay, tôi sống với tình yêu ấy và sẽ chết đi cùng với tình yêu ấy.

    Đột ngột chị dừng lại rồi nói vẻ thách thức:

    - Ông nghĩ là tôi điên khi nói những điều lạ lùng như vậy phải không?

    - Ôi, con gái yêu quý - Ông nắm lấy tay cô.

    - Vậy là ông hiểu tôi chứ?

    - Tôi tin vậy. Nhưng tôi chắc vẫn còn điều khác nữa. Điều gì chị chưa nói tôi nghe?

    Khuôn mặt người phụ nữ sầm lại.

    - Vâng. Ông đoán quả là tài tình. Tôi hiểu rằng ông thuộc tuýp người mà những người khác không thế giấu nổi điều gì. Nhưng tôi không muốn nói đến chuyện đó vì ý tốt: Ông không nên biết điều đó thì hơn vì lợi ích của chính ông.

    "Bây giờ mới là sự thật. Ông nhủ thầm. Ta đã có mọi thông tin, vậy ra có thể biết được bí mật của cô ta. Nếu ta suy luận đúng ra sẽ tìm ra sự thật".

    Sau một lúc im lặng, ông chậm rãi nói:

    - Đã xảy ra một trục trặc ngoài dự tính.

    Ông hiểu, trong tích tắc, rằng ông đã đã đúng.

    - Chỉ một rắc rối không tính trước được...chỉ một phút giây...sau chừng ấy năm dài.

    Ông lục tìm trong ký ức điểm nút của bí mật.

    - Con trai... Chắc chắn là có liên hệ tới cậu bé này, phải không nào. Còn điều gì khác có thể tác động đến chị được cơ chứ?

    Ông nghe thấy một tiếng nấc, chứng tỏ ông đã không sai. Chút mẹo nhỏ tuy phũ phàng nhưng cần thiết. Nếu không tự đoán ra điều này thì chắc chắn người đàn bà sẽ không nói gì hết. Chẳng phải ông đã từng tiếp xúc với nhiều phụ nữ cứng rắn kiểu này hay sao? Lúc nào họ cũng muốn giấu kín nỗi đau trong lòng.

    Việc diễn giải, tìm kiếm các biểu hiện, truy tìm sự thật, niềm vui sướng hồi hộp khi sắp tìm ra chân tướng sự việc... Sự ham mê càng tăng lên khi bà chủ muốm giấu giếm bí mật của mình. Càng gần đến đích, ông thấy mình căng ra trước thử thách.

    - Nếu vì "quyền lợi của chính mình", tốt hơn là tôi không nên biết. Nhưng sao chị lại nói là vì lợi ích của chính tôi? Chị không phải người phụ nữ quá lo lắng vì những tình cảm khác. Chị chẳng lấy làm phiền nếu có làm một người lạ mặt bực mình. Vậy là phải có việc gì rất trầm trọng xảy ra? Nếu chị kể cho tôi nghe bí mật, chị sẽ khiến tôi thành kẻ tòng phạm hay sao? Một tội ác phải không? Hay lắm, nhưng làm thế nào đê gán cho chị một tội ác đây? Không, chị chỉ có thể gây tội ác chống lại chính mình thôi.

    Không bận tâm thấy người phụ nữ cụp măt xuống che giấu suy nghĩ. Satterthwaite cúi xuống dỗ dành:

    - Đúng vậy mà. Chị đang định hủy hoại chính mình đấy.

    Chị ta kêu lên sửng sốt:

    - Làm sao mà ông đoán vậy? Ông phỏng đoán thé nào chứ?

    - Nhưng tại sao? Đừng nói với tôi rằng chị sống như vậy là đủ rồi nhé. Tôi chưa gặp ai trầm uất hơn chị, mà lại dồi dào sinh lực bằng chị.

    Chị ta đứng dậy, lại gần cửa sổ, tay vén một lọn tóc đen trên trán.

    - VÌ ông đã đoán đúng gần như cả câu chuyện. Tôi sẽ kể ông nghe phần còn lại. Lẽ ra tôi không nên mời ông vào mà phải lõa rằng ông sẽ phát giác ra bí mật: điều đó ở ông gần như bản năng vậy... Phải, ông đã nhìn rất chính xác, nếu tôi quyết định thì đó là con trai tôi. Cháu không biết gì hêt. Nhưng lần gần đây, khi về nhà, cháu nó đến một người bạn và những câu rất xúc động, điều đó khiến tôi tỉnh ngộ: nếu không bao giờ được biết mình cũng được sinh ra như bao trẻ em khác, trái tim cháu hẳn luôn đau đớn. Cháu là một chàng trai rất tự trọng... Quá tự trọng! Giờ đây cháu lại có bạn gái. Tôi không muốn đi vào chi tiết quá, chỉ cần biết là cháu sắp quay về và muốn biết tất cả về cha cháu - cháu muốn quyết đinh. Tất nhiên bố mẹ cô gái cũng muốn biết. Khi phát hiện ra sự thật, cháu sẽ rời bỏ cô ấy, sẽ làm hại đời mình. Vâng, tôi hiểu ông định nói gì với tôi... Cháu còn trẻ và thật ngu ngốc mới làm những chuyên khủng khiếp thế. Cũng có thể. Nhưng làm sao biết được con người ta sẽ hành xử ra sao? Họ vẫn luôn như vậy. Tôi chỉ biết là vì chuyện đó, trái tim con trai tôi sẽ rỉ máu... Ngược lại, nếu tôi chết vì một tai nạn trước khi cháu quay về, nỗi buồn đau sẽ làm cháu quên đi những chuyện khác. Cháu sẽ lục tìm trong đống giấy tờ của tôi nhưng không thấy gì, mà tôi thì muốn cháu biết càng ít càng tốt. Và cháu sẽ không nghi ngờ gì cả. Đó là giải pháp tốt nhất. Hạnh phúc bao giờ cũng phải trả giá và tôi đã nếm đủ kinh nghiệm ấy, nếu không nói là quá thừa! Thực ra thì cũng không đến nỗi khó khăn lắm: một chút gan dạ trước một bước nhảy lớn, chỉ một hoặc hai giây lo sợ, không hơn.

    - Nhưng, con gái yêu quý...

    Chị ta bỗng quay ngắt lại phía ông.

    - Đừng tìm cách thuyết phục tôi. Cuộc sống của tôi do tôi quyết định, không phải sao? Cho tới nay, tôi đang sống...vì John. Giờ cháu không cần tôi nữa mà cần một người bạn đời, cháu hết lòng hướng về cô ấy nếu tôi không còn nữa. Cuộc đời tôi vô nghĩa, trong khi cái chết có íc. Tôi có quyền quyết định cuộc đời mình. Và bây giờ tôi cũng cần phải chết...vì John.

    - Chị có dám chắc không?

    Bất ngờ trước vẻ nghiêm khắc trong giọng nói của Satterthwaite chủ nhà lắp bắp.

    - Vì cuộc sống ấy đâu có ích cho ai... Và hơn ai hết tôi hiểu rõ điều ấy...

    - Không hẳn vậy.

    - Sao cơ?

    - Nghe này, tôi sẽ đưa ra một ví dụ. Một người tìm đến một nơi để tự tử. Rất vô tình, anh ta gặp một người khác đang ở đó. Người này đã thuyết phục anh ta trở lại với cuộc đời... Người đang ông đã cứu vớt một sinh mạng kia không phải để làm việc có ích, cũng không vì muốn đóng vai ân nhân, mà chỉ vì ông ta ở dó đúng lúc cần phải có mặt, đúng nơi cần phải đến. Nếu chị đã sống tới hôm nay, thì tại sao lại tìm đến cái chết nếu biết rằng có khi sự tồn tại của mình lại có ích cho người khác. Có khi đến một lúc nào đó mình lại vô tình cứu vớt được một sinh linh nhỏ bé nào đó. Đứa trẻ đó mai này sẽ lớn lên, có thể trở thành một nhà soạn nhạc nổi tiếng hoặc một giáo sư tài ba phát minh ra thuốc chống ung thư. Cũng có thể chỉ là một người bình thường, có cuộc sống giản đơn và hạnh phúc...

    Người đàn bà nhìn Satterthwaite, há hốc mồm ngạc nhiên.

    - Ông là người kỳ lạ làm sao. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến một điều như ông vừa nói...

    - Chị cứ khăng khăng rằng cuộc sống là do mình quyết đinh. Nhưng làm sao có thể tránh được vai diễn phải đóng trong suốt tấm thảm kịch do Chúa Trời biên soạn? Có thể chị phải đi đến hết tấn kịch, cũng có thể đó chỉ là một vai phụ đơn giản, nhưng diễn viên của bi kịch có thể phụ thuộc vào chính những chi tiết phụ đó. Nếu chị không trao vai cho diễn viên khác, vở kịch sẽ cứ vậy trôi đi. Là một cá thể, co thể chị không quan trọng với ai hết, nhưng một khi đã được trao cho trọng trách, vai trò của chị là rất lớn.

    Người đàn bà ngồi xuống, vẫn còn choáng váng trước những lời của Satterthwaite.

    - Vậy ông muốn tôi làm gì đây?

    Satterthwaite hiểu là ông đã thằng:

    - Tôi muốn chị hứa với tôi ít nhất một điều: Không quyết định làm gì dại dột trước hai mươi tư giờ tới.

    - Tôi hứa - Chị trả lời sau vài giây suy nghĩ.

    - Tôi còn một điều nữa muốn đề nghị...

    - Vậy sao?

    - Chị đừng cài chốt cánh cửa mà tôi đã mở khi nãy, và tối nay, chị cứ đứng sau lớp cửa kính trông ra ban công nhé.

    Chị nhìn ông ngạc nhiên nhưng thuận ý.

    - Còn bây giờ, đã biết được nguồn cơn sự việc thì cũng là lúc tôi phải đi đây. Chúa sẽ phù hộ cho tôi.

    Ông ôm hôn chị tạm biệt. Sau đó, người phục vụ to béo gặp ông trong hành lang, tiễn ông bằng ánh nhìn đầy tò mò.

    Hoàng hôn đã xuống khi Satterthwaite về đến khách sạn. Có ai đó ngồi một mình ở sân thượng. Đầy phấn khích, Satterthwaite tiến thẳng đến chỗ kẻ cô đọc kia. Tim ông đập rộn ràng. Ông thấy trách nhiệm lớn lao đặt trên vai mình.

    Ông cố gắng kiềm chế và lên tiếng, cố giữ giọng bình thường, thư thái.

    - Buổi tối đẹp quá - Ông nói với Anthony Cosden - Ở vách đá tôi quên cả thời gian.

    - Ông ở đó mãi sao?

    Satterthwaite gật đầu. Bất chợt, cánh cửa khách sạn mở ra chiếu một luồng sáng vào khuôn mặt của Anthony, khuôn mặt phản chiếu cả sự đau khổ câm lặng, cả sự nhẫn nhịn bướng bỉnh.

    "Thật tồi tệ đối với anh ta, Satterthwaite tự nhủ, hơn là đối với một người như ta. Trí tưởng tượng, sự chín chắn, sự trầm tư, tất cả để có quên đi sự đau đớn, trong những hoàn cảnh thế này có khi lại là một cứu cánh. Điều khủng khiếp chính là sự đau khổ mù quáng mà anh ta không hiểu..."

    Cosden đột nhiên lên tiếng, giọng nặng nề:

    - Sau bữa tối tôi sẽ đi dạp. Ông...ông hiểu chứ? Quá tam ba bận. Vì lòng Chúa nhân từ, ông đừng có đi theo tôi. Tôi biết là ông có làm vậy cũng chỉ có ý tốt, nhưng tin tôi đi, không để làm gì cả đâu.

    - Không bao giờ tôi can thiệp vào chuyện của người khác, điều đó trái với mục đích sống của tôi.

    - Tôi hiểu những gì ông nghĩ...

    - Thứ lỗi cho tôi - Satterthwaite ngắt lời - Cho phéo tôi đảo lại câu anh vừa nói. Không bao giờ ta biết được điều người khác nghĩ trong đầu. Ta cứ nghĩ là mình đoán được nhưng hầu như mọi người đều nhầm

    - Lạy chúa, có thể đúng vậy - Cosden nói giọng hoài nghi.

    - Những suy nghĩ của ta chỉ thuộc về riêng ta mà thôi. Không gì có thể thay đổi làm ảnh hưởng được đến mục đích mà ta muốn. Nhưng bậy giờ ta nói đến một chuyện khác nhẹ nhàng hơn thế nhé, ngôi biệt thự cũ kỹ kia chẳng hạn... Nó có một vẻ đẹp kỳ lạ: quạnh vắng, cách biệt với thế giới, như giấu điều bí mạt nào đó. Tôi đã quá tò mò và đã đẩy một cánh cửa.

    Cosden quay phắt về phía ông.

    - Thậ không? Nhưng chắc no bị cài chốt?

    - Không hề. Đó là cánh cửa thứ ba tính từ góc vườn, ông nói thêm giọng nhẹ nhàng.

    - Ra vậy! - Cosden thốt lên - Chính là...

    Anh ta im bặt, nhưng Satterthwaite đã đọc được niềm hy vọng trong mắt người đàn ông tuyệt vọng. Ông đứng dậy, hài lòng.

    Dù vậy, ông vẫn thấy lo lắng. Ông hy vọng là lớp kịch ông bày ra sẽ diễn theo đúng kế hoạch. Bởi lớp kịch kia có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

    Sau khi suy nghĩ rất kỹ, ông tin chắc vào việc làm của mình. Lúc leo lên vách đá, Cos den sẽ dừng lại để thử mở cánh cửa. Chẳng nói gì cao siêu, bản năng của con người sẽ xui anh ta làm thế. Kỷ niệm của hai mươi năm trước sẽ đưa anh ta tới nơi đó - kỷ niệm ấy sẽ thúc đẩy anh ta kéo cửa. Sau đó, chuyện gì sẽ xảy ra?

    "Sáng mai ra sẽ biết". Rồi ông thay đồ đi ăn tối.

    Khoảng mười giờ sáng hôm sau, Satterthwaite bước vào khu vườn La Paz. Manuel mỉm cười chào ông và tặng ông một bông hồng. Ông cài thận trọng bông hoa lên áo. Satterthwaite theo lối mòn đi vào nhà. Ông đứng một lúc ngắm những bức tường trắng hiền hòa, đám dây leo đang trổ hoa, những cánh cửa xanh phai màu... Yên bình làm sao!... Im ắng làm sao!... Những câu chuyện của ngày hôm qua phải chăng chỉ là ảo mông?

    Đúng lúc ấy, cửa kính bật mở, người phụ nữ bước ra khỏi biệt thự. Chị đi về phía ông, từng bước rón rén, lạ lùng, như thể mừng vui lắm. Đôi mắt chị lấp lánh, đôi má ửng đỏ niềm vui sướng. Mọi lưỡng lự, hoài nghi, ngại ngùng...đều biến mất. Chị đến gặp Satterthwaite, ôm hôn ông không chỉ một lần mà thật nhiề. Cử chỉ của chị khiến ông liên tưởng đến những bông hồng nhung đang nở bừng, êm mượt. Ông đang tập hưởng ánh mặt trời, mùa hè, tiếng chim ca. Ông thấy hăng hái, vui vẻ và năng động biết bao.

    - Tôi hạnh phúc quá - Người đàn bá nói - Ông là một vị thần tình yêu. Làm sao mà ông biết được điều đó? Làm sao ông có thể biết giỏi thế? Ông khiến tôi nghĩ đến những bà tiên trong các câu chuyện cổ tích.

    Chị ngừng nói, hổn hển.

    - Chúng tôi vừa đi đến lãnh sự xin kết hôn, khi John quay về, cha cháu đã ở nhà. Chúng tôi sẽ nói với cháu là khi xưa chúng tôi đã không hiểu nhau. Cháu sẽ không hỏi gì cả. Ôi! Tôi thật hạnh phúc...hạnh phúc...hạnh phúc.

    Thực vậy, niềm hạnh phúc xâm chiếm chị như những đợt sóng lòng, khiến Satterthwaite thấy phấn chấn lắm.

    - Anthony mừng vui khôn tả khi biết có một cậu con trai. Tôi đã tưởng điều đó chẳng có tác động gì đến anh ấy ( chị nhìn Satterthwaite đầy tin tưởng... Thật kỳ diều phải không ông? Mọi việc được sắp xếp và kết thúc thật có hậu.

    Người đàn bà đã hoàn toàn thay đổi so với cuộc gặp gỡ hôm qua. Trước mắt Satterthwaite lúc này là một đứa trẻ, mãi là một đứa trẻ mộng mơ luôn tin vào những câu chuyện cổ tích được kết thúc có hậu bằng phép thần tiên. "Họ cưới nhau, sống hạnh phúc và cho ra đời một đang con". Ông dịu dàng nói:

    - Nếu chị đem lại hạnh phúc cho anh ấy, nghĩa là chị đã làm được một việc tốt đấy.

    Chị mở to mắt ngạc nhiên.

    - Đến ông cũng nghĩ là tôi sẽ để anh ấy chết sao? Đứng với thời điểm tôi tìm anh ấy sau bấy nhiêu năm sao? Tôi biết rất nhiều người mà bác sỹ nói là đã hết hy vọng nhưng họ vẫn sống đến bây giờ. Anthony phải chết ư? Không thể nào. Anh ấy không thể chết được.

    Ông ngắm người phụ nữ đầy sức sống, xinh đẹp, gan dạ với một ý chí không thể khuất phục. Ông cũng biết là nhiều bác sỹ chuẩn đoán không đúng... Khả năng hồi sinh của con người thật lớn lao mà ta không thể biết trước.

    Vừa hài lòng, lại vừa bất cần chị hỏi lại:

    - Ngay cả ông cũng nghĩ là tôi sẽ để anh ấy chết sao?

    - Không - cuối cùng ông trả lời, giọng âu yếm - Ta không biết vì sao, con gái ơi, nhưng ta không nghĩ thế...

    Rảo bước trên lối đi trồng bách, Satterthwaite đến nơi ghế đá nhìn ra biển và gặp người đàn ông mong đợi.

    Ông Quinn đứng dậy đón ông. Ông ấy vẫn vậy: tóc nâu ưu tư, niềm nở mà buồn bã.

    - Ông đợi tôi phải không?

    - Phải tôi đợi ông - Satterthwaite trả lời.

    Họ ngồi xuống bên nhau trên ghế đá. Quinn nói:

    - Trông diện mạo, chắc ông lại vừa đóng vai ông tiên tốt bụng.

    - Ông cứ ra vẻ không biết gì.

    - Ông luôn nghĩ là tốt biết tuốt - Quinn mỉm cười nói.

    - Nếu ông không biết - Satterthwaite đáp lời - hôm kia ông làm gì ở đây?

    - À thì...

    - Phải rồi, cái đó...

    - Tôi phả hoàn thành nhiệm vụ.

    - Vì ai thế?

    - Có lúc ông vẫn gọi đùa tôi là "luật sư của người chết" Mà.

    - Người chêt? - Satterthwaite ngơ ngác - Tôi không hiểu.

    Quinn chỉ tay về phía sau xanh thẳm, dưới chân vách đá.

    - Một người đã chết ở đó, cách đây hai mươi năm.

    - Tôi biết, nhưng tôi không thấy...

    - Bỏ qua những biểu hiện bè ngoài, giả sử người đang ông đó yêu người vợ trẻ của mình. Tình yêu có thể biến con người thành quỷ dữ cũng như thành thiên thần. Cô đã dành cho anh ta tất cả vẻ đáng yêu của một thiếu nữ, nhưng không bao giờ anh ta tìm được người phụ nữ trong cô, điều đó khiến anh ta phát khùng. Nếu anh ta hành hạ cô ấy chỉ vì anh ta yêu cô. Câu chuyện đã xảy ra như vậy, ông cũng biết tôi.

    - Đúng thế. Nhưng hiếm khi...rất hiếm khi...

    - Hơn nữa, ông biết là con người ta lúc nào cũng tham lam, không bao giờ hài lòng với gì mình đang nắm giữ trong tay...

    - Vâng, nhưng cái chết đến quá sơm...

    - Cái chết ấy à - Giọng Quinn hoài nghi - Ông tin là có một cuộc sống khác sau khi chết phải không nào? Vậy thì làm sao ông khẳng định được những lời nguyền, những ước mơ lại có thể có những kết quá giống hệt nơi cuộc sống khác ấy? Nếu mong ước ấy thật mãnh liệt...nó luôn tìm được người để trao gửi.

    Giọng Quinn như tan đi. Ông Satterthwaite đứng lên, rung động.

    - Tôi phải về khác sạn đây. Nếu ông cùng đi về phía dó...

    - Không - Quinn đáp - Tôi sẽ đi bằng đường tôi đã tới.

    Khi quay lại, ông thấy bạn mình đi về phía bờ vách đá.

    HẾT
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này