Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 35





    “Tình hình lão đại thế nào rồi?”, Long Tuyền vừa xuống ngựa đã lập tức hỏi Tưởng Thất đang ở lại giữ trại.



    Chen chân trong bầy thổ phỉ dưới chân núi Thiên Sơn, nếu chỉ dựa vào mình hai anh em họ Long thì đương nhiên là không đủ. Cho nên bọn họ tổng cộng có bảy người kết bái huynh đệ, luận về tuổi tác Tưởng Thất là nhỏ nhất, nhưng luận về võ công thì lại xếp thứ hai, vì ở lại chăm sóc Long lão đại bị trọng thương nên lần hành động huy hoàng nhất trong bảy năm tới thảo nguyên này hắn không hề tham gia.



    “Lão đại vốn là người cứng cỏi, đã sớm tỉnh lại rồi”, Tưởng Thất cất giọng trầm đục nói.



    Long Tuyền bước vào trong lều, phát hiện Long Hải không những đã tỉnh lại mà còn đã xuống giường, khoác áo choàng, ngồi bên chậu sưởi bằng đồng thau khều lửa. Trong chậu sưởi, những đốm lửa xanh chập chờn, ánh lửa chiếu lên khuôn mặt đang nhíu mày, nghiến răng, đau tới không ngừng co giật của hắn.



    Long Tuyền đưa mắt quét qua vai phải của Long Hải, một cơn đau lòng không sao khống chế nổi trào lên trong đáy lòng hắn. Bọn họ là mã tặc, là những kẻ có cuộc đời gập ghềnh nhất trên thảo nguyên. Kể từ ngày đầu tiên sinh ra, hắn đã phải nếm trải cuộc đời khốn khổ bị kẻ khác chèn ép, hắn đã đem chút tình cảm ấm áp giành cho thế giới này từng chút từng chút quẳng ra khỏi đầu.



    Thế giới của Long Tuyền là một đám cỏ hoang lộn xộn, lộn xộn tới mức bản thân hắn cũng chẳng thể nói rõ được nhân quả trong ấy, mỗi giờ mỗi khắc, hắn đều cảm thấy bản thân như một thứ lòng đỏ trứng trôi nổi trong lòng trắng, thế giới của hắn là một khoảng hỗn độn.



    Trong cái khoảng hỗn độn ấy, chỉ có một thứ là rõ ràng, là ấm áp, là thứ hắn có thể dễ dàng dùng tâm cảm nhận được, dùng tay sờ mó được, đó chính là quan hệ giữa hắn và Long Hải. Nếu bây giờ Long Hải cần tay của hắn, hắn sẽ không do dự chặt tay mình xuống đưa cho Long Hải. Nếu Long Hải muốn hắn chết, hắn sẽ tuyệt đối không nhíu mày.



    Bởi vì Long Hải cũng từng là quan, quan chức còn cao hơn hắn nhiều, nhưng vì tình nghĩa huynh đệ, Long Hải đã vứt bỏ mọi thứ của bản thân, bao gồm cả tiền đồ, bao gồm cả tính mạng cả gia đình.



    Kể cả vào lúc gian khổ nhất, sa cơ lỡ vận nhất, Long Hải cũng có thể đem bát cơm cuối cùng, ngụm nước cuối cùng trong tay đưa cho Long Tuyền.



    Cảm tình của Long Hải đối với hắn, có lúc ngay cả chính bản thân Long Tuyền cũng không hiểu rõ.



    “Đại ca”, Long Tuyền cúi đầu đi tới bên Long Hải, cảm nhận được hơi thở nặng nề vì đau đớn của hắn.



    “Hàng đã đoạt được rồi chứ?”, Long Hải ngẩng khuôn mặt tiều tụy của mình lên.



    Long Tuyệt gật đầu, có chút do dự nói: “Tình huống khó giải quyết, đệ đã tìm tới Quang Tiên”.



    “Đệ không nên tới tìm hắn”, Long Hải sầm mặt nói.



    Tiếp đó là một khoảng trầm mặc khó chịu.



    Qua một lúc, Long Hải quay đầu sang, ánh mắt sắc nhọn: “Lẽ nào đệ đã quên đầu của lục đệ là do Quang Tiên chặt xuống sao? Giữa chúng ta và hắn thù sâu như biển, không đội trời chung”.



    Long Tuyền thấp giọng nói: “Đệ hiểu”.



    Hắn ngừng một lát rồi nói tiếp: “Đệ vốn cũng không muốn làm như thế. Chỉ là… chỉ là muốn bắt được kẻ đã chặt tay phải của đại ca, báo thù cho đại ca… thù của lục đệ, sớm muộn gì đệ cũng sẽ báo”.



    Long Hải khép mắt lại, phảng phất như thấy lại ánh kiếm mang sắc tía ấy, thân thể hắn khẽ run lên, cánh tay kia đã rời khỏi người hắn văng về phía trước. Nữ nhân kia thân hình rất nhỏ nhắn, dùng kiếm cũng gọn gàng hơn người bình thường.



    “Đó là một nữ nhân, một nữ nhân nhỏ nhắn”.



    “Không sai. Đệ đã tóm được ả, còn cả tướng công của ả. Ngoài ra còn có những đao khách khác, trong đó có Tiểu Phó”.



    “Tiểu Phó? Chính là Tiểu Phó đã giết lão tam? Ông Trời cũng tính là công bằng! Những kẻ hôm nay đệ bắt được đúng là không ít”, Long Hải nở nụ cười: “Vậy sao vẫn chưa đem bọn chúng vào đây?”.



    “Bọn chúng ở ngay ngoài cửa”.



    “Mời các huynh đệ vào đây, nhân tiện đem theo chút rượu ngon. Cái loại thời tiết quỷ quái lạnh chết người này, mọi người không có việc gì thì chỉ đành bó chân trong lều, phải có chút gì tiêu khiển mới được.”



    Nói xong câu ấy, Long Hải lại rên một tiếng, chỗ tay đứt quả thật đau không chịu nổi.



    Sở Hà Y và Tiểu Phó bị trói chằng trói chịt giải vào trong lều. Mộ Dung Vô Phong thì ngồi trên xe lăn, được một tên lâu la đẩy vào, hai tay chàng bị trói chặt một chỗ.



    “Tên tàn phế này là tướng công của ả?”, Long Hải nhìn Mộ Dung Vô Phong, hơi sững lại rồi quay đầu hỏi Long Tuyền.



    “Không sai”, Long Tuyền cúi đầu, cung kính đáp.



    “Ha ha ha…”, đám lâu la trong lều liền phá lên cười lớn.



    “Ta nghe nói trên giang hồ có nhiều kẻ tàn phế võ công rất khá, võ công lão bà của tên tiểu tử này đã cao như thế, phải chăng hắn cũng là kẻ luyện võ?”.



    “Hắn không phải. Hắn không biết lấy nửa điểm võ công, ngay đến việc nhấc chân lên cũng chẳng thể. Nếu huynh đẩy hắn xuống đất, hắn chỉ có thể bò lăn bò lê như một con giun mà thôi”, Long Tuyền khinh rẻ quét mắt nhìn Mộ Dung Vô Phong, chợt phát hiện Mộ Dung Vô Phong cũng đang nhìn mình, ánh mắt lạnh lẽo như băng tuyết vạn năm trên đỉnh Thiên Sơn.



    Long Tuyền đã gặp qua đủ mọi hạng người, cũng thấy qua các loại ánh mắt nhưng ánh mắt của Mộ Dung Vô Phong khiến hắn rất không thoải mái. Đó là một sự hờ hững hoàn toàn, mang theo một loại chế nhạo tận xương tủy, nhưng lại phảng phất lúc ẩn lúc hiện, mơ hồ như mây mù trên đỉnh núi xa xăm.



    Ngay lập tức hắn nhận ra người này tuy là một kẻ tàn phế, nhưng lúc ngồi lưng hoàn toàn thẳng tắp, đầu cũng ngẩng rất cao, mang một tư thế rất cao quý, cũng cực kỳ ngạo nghễ. Người này nghe câu nói của Long Tuyền cũng chẳng mảy may tức giận, chỉ lãnh đạm đáp trả một câu:



    “Nói cho cùng không nhấc nổi chân lên so với việc không ngóc được một thứ khác lên còn tốt hơn nhiều, Long tiên sinh, ông nói xem?”



    Chàng vừa nói câu này, trong lều lập tức im bặt.



    Yên ắng tới mức có thể nghe thấy tiếng tuyết rơi ngoài lều.



    Dù có là kẻ ngu si đến mấy cũng hiểu câu này là ý gì, huống chi bao nhiêu năm nay Long Tuyền không gần nữ sắc, với việc này, người xung quanh hắn từ lâu đã đoán già đoán non.



    Tim Hà Y đã thót lên tận cuống họng, nàng biết Mộ Dung Vô Phong tuyệt đối không phải là người dễ dàng chịu để kẻ khác sỉ nhục, nhưng chí ít chàng cũng lên nghĩ tới hậu quả sau khi nói ra câu ấy chứ.



    Long Tuyền mặt đỏ bừng, hầm hầm siết chặt nắm đấm, tiếng xương khớp vang lên răng rắc, trong đầu hắn thoáng chốc đã nghĩ ra cả trăm cách đầy đọa Mộ Dung Vô Phong.



    “Còn ngươi nữa”, Mộ Dung Vô Phong nói với Long Hải: “Ngươi cho rằng bị chặt mất cánh tay ấy thì còn có thể sống được bao lâu? Trên kiếm của thê tử ta có thoa độc, không có thuốc giải, ngươi tuyệt đối không sống được qua ngày hôm nay”.



    Long Hải cười lạnh: “Tên tiểu tử ngươi nghĩ bọn ta là trẻ con ba tuổi hay sao? Lại dám bày trò trước mặt ông mày à!”.



    “Nếu ngươi dùng nội lực đồng thời đưa vào hai huyệt ‘Dụ Hải’ và ‘Thần Tuyền’, sẽ phát hiện hai huyệt đạo này đã tự động phong bế. Đây chính là triệu chứng của việc trúng độc. Không tin ngươi có thể thử”.



    Ngoài mặt Long Hải tuy nói không tin nhưng vẫn không nén được mà ngấm ngầm vận khí nhẹ nhàng thử đưa nội lực tới hai huyệt vị ấy, đột nhiên bỗng cảm thấy trời đất quay cuồng, toàn thân mềm nhũn rồi “xoạch” một tiếng ngã lăn xuống đất, hôn mê bất tỉnh.



    Cặp mắt Long Tuyền như nứt ra, chợt rống lên một tiếng rồi xông tới xách Mộ Dung Vô Phong lên khỏi xe lăn ném mạnh xuống đất, một chân hung ác đạp lên ngực chàng.



    Tất cả mọi người đều nghe thấy tiếng xương sườn Mộ Dung Vô Phong đứt gãy.



    Sau đó hắn rút một que khều lửa bằng sắt đỏ rực trong chậu sưởi, “xèo” một tiếng, gí thẳng vào vai phải của Mộ Dung Vô Phong, nói: “Giao thuốc giải ra! Nếu không ta sẽ giết ngươi!”.



    Mộ Dung Vô Phong cắn chặt răng, nén chịu cơn đau bỏng rát, chẳng biến sắc mặt nói: “Đã muốn có thuốc giải, sao còn không mau cởi trói cho ta?”.



    “Ngươi cho rằng ngươi có thể thoát nổi sao?”, Long Tuyền vung kiếm cắt đứt dây thừng trói tay chàng rồi kề mũi kiếm vào cổ họng chàng nói.



    Trong tay Mộ Dung Vô Phong quả nhiên có một viên thuốc màu đỏ tươi.



    Long Tuyền vươn tay ra vừa định nhận lấy, Mộ Dung Vô Phong đã đột nhiên vung tay quăng thẳng viên thuốc đó vào chậu sưởi!



    Long Tuyền giận dữ hét lên: “Ngươi…”, hắn vốn định một kiếm chém bay đầu Mộ Dung Vô Phong nhưng rồi chợt phát hiện tay chân mình đã tê dại, tiếp đến là hoa mày chóng mặt, cả người mềm nhũn đổ gục xuống đất.



    Chớp mắt, người trong lều, ngoại trừ Hà Y, toàn bộ đều đã ngã gục.



    “Vô Phong! Chàng… chàng mau tỉnh lại!”, Hà Y nhìn Mộ Dung Vô Phong nằm bất động trên mặt đất còn bản thân mình thì bị trói gô lại như một cái bánh tét, chỉ đành từ xa gọi chàng. Nhìn bộ dạng vừa rồi của chàng, tim nàng đã sớm tan nát. Nàng thà nguyện để người phải chịu giày vò là chính mình, nàng biết vừa rồi tất cả cố gắng của Mộ Dung Vô Phong là muốn thu hút sự chú ý của huynh đệ họ Long kia khỏi nàng.



    Chàng nhất định đã bị nội thương rất nặng, Hà Y gọi liền mấy tiếng rồi dừng lại, quả thật không đành lòng gọi chàng tỉnh lại nhưng người đang nằm trên mặt đất kia cuối cùng đã cử động, từ từ bò về phía nàng!



    Tay chân nàng lạnh buốt nhìn chàng khó khăn lê lết thân mình trên mặt đất, trong lòng lo lắng tới mức toàn thân mềm nhũn đi, giọng run rẩy nói: “Chàng chầm chậm một chút, đừng… đừng gắng sức quá!”.



    Mộ Dung Vô Phong nghe tiếng nàng nhưng lại lo người bên ngoài mà xông vào thì một phen cố gắng vừa rồi của mình sẽ thành công cốc liền cắn răng, ra sức bò nhanh hơn, chẳng để ý tới cơn đau trên người, cố gắng bò tới bên Hà Y, dùng thanh kiếm tiện tay quờ được cắt đứt dây trói cho nàng.



    “Thiếp quên mất chúng ta hãy còn một viên ‘Hoan Tâm’”, Hà Y thở phào nói.



    Mộ Dung Vô Phong thường phải uống các loại thuốc, để tiện cho việc lấy dùng, Hà Y đã đem tất cả các loại thuốc phòng thân thường ngày đựng trong một cái hộp nhỏ trên tay vịn chiếc xe lăn của chàng. Vừa rồi hai tay Mộ Dung Vô Phong bị trói chặt, chỉ có thể miễn cưỡng cử động ngón tay, chàng liền nhân lúc nói chuyện với huynh đệ họ Long lén lấy viên “Hoan Tâm” ngày trước lúc Hà Y tới Đường môn cứu người đem theo dùng còn thừa lại.



    “Hoan Tâm” là thuốc mê đặc chế của Vân Mộng cốc, chỉ có cho vào trong lửa mới có thể phát huy dược lực.



    Hà Y vội đỡ Mộ Dung Vô Phong dậy, đưa tay vào trong áo chàng kiểm tra thương thế. Tay vừa đụng tới ngực, chàng đã nhíu chặt mày, đau tới toát mồ hôi.



    “Đừng cử động, chàng gãy mất hai xương sườn rồi!”, Hà Y sợ hãi nói.



    “Còn may… ta là đại phu”, Mộ Dung Vô Phong hít vào một hơi rồi lách cách vài tiếng, tay nhanh như cắt nắn lại xương gãy trong lồng ngực mình.



    Tuy nói như thế, nhưng chàng vẫn không nhịn được “ọe” một tiếng nôn ra một ngụm máu tươi.



    Hà Y xót xa nhìn chàng.



    Vết bỏng trên vai chàng thê thảm tới nỗi không dám nhìn, trong lúc vội vã, Hà Y chỉ có thể băng qua loa lại rồi đem thuốc giải bỏ vào miệng Tiểu Phó đang nằm gục một bên. Một lát sau, Tiểu Phó rốt cuộc cũng có thể đứng dậy, hai người bèn nhặt lấy binh khí của mình.



    Đám lâu la từ bên ngoài xông cả vào.



    “Tỷ đưa huynh ấy đi, đệ sẽ chặn hậu”, Tiểu Phó vung đao, mở ra một con đường máu, Hà Y dìu Mộ Dung Vô Phong, dưới sự hộ vệ của Tiểu Phó, nhảy lên một con ngựa khỏe, đang định thúc ngựa bỏ chạy thì chợt thấy trước mặt có một bóng đen tung người nhảy về phía mình, mũi chân điểm nhẹ trong không trung, lại phóng đi nhanh như chim cắt, một bước mười trượng, nhảy tới bên cạnh Tiểu Phó.



    Cố Thập Tam.



    Hà Y không nén được thở ra một hơi lạnh. Nàng vốn luôn cho rằng khinh công của mình rất giỏi, nhưng thân thủ linh hoạt, động tác đẹp đẽ của Cố Thập Tam tựa như còn hơn cả nàng.



    Sau đó nàng nhìn thấy kiếm của Cố Thập Tam.



    Hà Y không thể không thừa nhận, ngoài Lục Tiệm Phong ra, đây là thanh kiếm nhanh nhất, ác liệt nhất nàng từng được thấy qua. Kiếm của Cố Thập Tam vừa dài vừa hẹp, lúc đâm ra chỉ thấy cổ tay chớp động mà tuyệt nhiên không có lấy một chút âm thanh. Không chỉ nhanh mà động tác cũng ung dung tùy ý, mỗi một chiêu một thức đều tự nhiên như xuân hoa thu nguyệt.



    Lúc Cố Thập Tam vung kiếm, mắt vẫn luôn khép hờ, căn bản chẳng thèm nhìn người trước mặt. Hà Y ngờ rằng anh ta vốn chẳng cần quan sát đối thủ của mình, tựa như cảm quan toàn thân Cố Thập Tam đều có thể cảm nhận được địch nhân. Nhưng những chiêu thức Cố Thập Tam dùng đều tuyệt đối mãnh liệt, có hiệu quả!



    “Ngươi thừa nhận cũng được, không thừa nhận cũng được”, Thác Mộc Nhĩ tới bên cạnh Hà Y nói: “Kiếm của lão Cố là thanh kiếm nhanh nhất mà ta từng được thấy”.



    Hà Y hừ một tiếng, không phục nói: “Thế sao?”.



    Thác Mộc Nhĩ vội vàng sửa: “Đương nhiên đấy là trước khi ta gặp được Sở cô nương. Ài, nếu hai người các ngươi có so kiếm, lúc ấy chớ quên gọi ta đấy”.



    Lúc Hà Y đưa Mộ Dung Vô Phong vào trong xe ngựa, chàng đã hôn mê rồi.



    Vết thương nơi ngực của chàng đã sưng phồng lên. Hà Y không dám di động thân thể chàng, chỉ đành cẩn thận từng li từng tí, dùng nước nóng lau đi vết máu trên người chàng, đắp lên một lớp cao thuốc rồi băng bó lại.



    Đắp chăn kĩ lưỡng cho chàng xong, nàng liền bất động túc trực bên cạnh chàng.



    Nửa canh giờ sau, Thác Mộc Nhĩ ở ngoài xe gọi: “Sở cô nương, hàng đã thu về rồi, bây giờ chúng ta sẽ lên đường”.



    Không có tiếng đáp lại.



    Cố Thập Tam vén rèm xe, thấy Hà Y cúi gục đầu, lệ tuôn lã chã.



    Hắn hơi có chút ngạc nhiên. Kiếm của nữ nhân này vung lên tuyệt đối không thua kém bất cứ nam nhân nào, nhưng dáng vẻ của nàng khi khóc thì cực kỳ nữ tính.



    Cố Thập Tam hỏi: “Thương thế của huynh ấy nặng lắm sao?”.



    Hà Y nghẹn ngào nói: “Tôi không biết… chàng… hơi thở của chàng không được bình thường”.



    Cố Thập Tam lập tức dừng xe lại, nhảy vào bên trong, đưa tay nắm lấy mạch môn của Mộ Dung Vô Phong.



    “Huynh chỉ có thể dùng một tầng công lực. Chàng chỉ chịu được có từng ấy thôi”, Hà Y khẽ than.



    Hơi thở của chàng càng lúc càng yếu, nhịp tim thì lúc nhanh lúc chậm, tình hình cực kỳ hiểm nghèo.



    “Xe ngựa rung lắc mạnh quá, chỉ sợ huynh ấy chịu không nổi”, Cố Thập Tam nói rồi đưa mắt đảo quanh một vòng. Chợt anh ta dùng dây thừng buộc vào bốn góc của tấm thảm da trải dưới đất, rồi lại đem bốn sợi dây thừng ấy lần lượt chăng lên những cái móc ở hai bên cửa sổ xe. Tấm thảm da ấy được căng lên, treo lơ lửng, tựa như có thêm một cái võng bên trong xe. Sau đó Cố Thập Tam bế Mộ Dung Vô Phong đặt lên cái võng ấy.



    “Như thế này huynh ấy sẽ dễ chịu hơn một chút chăng?”, Cố Thập Tam quay lại nhìn nàng hỏi.



    “Đa tạ”, cô gái gật đầu, cảm kích nhìn hắn, miệng khẽ nở nụ cười rồi ngồi xuống bên cạnh cái võng, nhẹ nhàng nắm lấy tay Mộ Dung Vô Phong.



    Lúc nàng cười, trên hàng lông mi dài còn đọng đầy nước mắt.



    Cố Thập Tam chợt phát hiện, tuy cô gái này không có dung nhan kinh thế hãi tục nhưng lại có nụ cười cực kỳ động lòng người, cực kỳ quyến rũ.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 36





    Cứ như thế, cuối cùng thương đoàn cũng tới được Tiểu Giang Nam.



    Lúc trước, Thác Mộc Nhĩ đã cướp lại được một nửa hàng hóa, cứu về được năm nữ nhân Ba Tư.



    Khi sắp tới Tiểu Giang Nam, bọn họ còn gặp Tư Văn nhưng cũng chẳng có đánh nhau gì lớn. Cứ khi có Cố Thập Tam và Tiểu Phó, Tư Văn thường sẽ không dám cướp hàng. Tiểu Phó đã từng cắt mất một tai của hắn, lại còn bắt hắn thề chỉ cần là thương đoàn do Tiểu Phó hộ tống, Tư Văn không được đụng chạm. Đây cũng là nguyên nhân tại sao Thác Mộc Nhĩ bất luận có phải bỏ ra bao nhiêu tiền cũng nhất định phải mời bằng được Tiểu Phó.



    Thác Mộc Nhĩ từ biệt các đao khách, tiếp tục lên nơi hắn muốn tới là Ili, cách nơi đây không xa, dọc đường lại đã có trọng binh của quan phủ đóng quân.



    Được Cố Thập Tam giúp đỡ, buổi chiều hôm ấy Hà Y đã tìm được một gian nhà cho thuê.



    Đó là biệt viện của một người giàu có, có một cánh cửa riêng hướng ra đầu phố, sàn nhà còn lát lớp giữ nhiệt cho nên kể cả lúc lạnh giá nhất trong phòng vẫn cực kỳ ấm áp. Xung quanh tòa nhà là một dãy hành lang, ở giữa là một khoảnh sân không lớn không nhỏ, một miệng giếng, bốn phía có trồng dương liễu, cây dâu và cây hạnh. Những công trình phụ khác đều rất đầy đủ, bài trí trong nhà lại rất tinh tế, tuy còn xa mới sánh được với Trúc Ngô viện nhưng trên khắp dải đất này, nhà như thế cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.



    Người giàu có ấy thấy thuê tòa biệt viện này là hai người phương nam trông rất trầm tĩnh, lúc nói về tiền thuê cũng không nhiều lời nên trong lòng ông ta rất cao hứng, liền vui vẻ nhận lời mỗi ngày sẽ cung ứng cho phu thê hai người họ nước nóng và nước lạnh. Thế là mỗi ngày đều có người giúp việc tới giúp bọn họ múc nước trong giếng chứa đầy lu vại trong nhà bếp, đến nhá nhem tối lại có người đun sẵn nước nóng để tắm rửa.



    Mộ Dung Vô Phong hôn mê trọn hai ngày, lúc tỉnh lại thì phát hiện bản thân đang nằm trên một cái giường mềm bằng gỗ tùng kê gần cửa sổ.



    Khăn trải giường trắng như tuyết, tấm chăn trên mình cũng trắng muốt trong phòng ấm áp tới đáng ngạc nhiên, cửa sổ buông mành nhẹ nhưng còn để hở một khe nhỏ. Một luồng không khí trong lành mới mẻ sau trận tuyết theo khe hở ùa vào phòng, ánh nắng chói mắt xuyên qua giấy dán cửa trắng phau chiếu lên chăn của chàng.



    Mộ Dung Vô Phong ngoảnh đầu lại, nhận ra bên giường còn có một lư hương thơm, lửa than tí tách cháy trong lư, hơi ấm chầm chậm tỏa, đem cái rét căm căm ngăn ở ngoài cửa.



    "Tỉnh rồi sao?", một giọng nói êm ái dịu dàng khẽ vang lên bên tai chàng, đồng thời một bàn tay nhỏ nhắn ấm áp áp vào má chàng.



    Chàng quay đầu, cười với Hà Y: "Cuối cùng chúng ta cũng tới nơi rồi?".



    "Tới rồi. Chúng ta sẽ ở lại đây một thời gian."



    "Đây là nơi nào?"



    "Tiểu Giang Nam. Là nơi có nhiều người Hán nhất vùng này. Người ở đây ngoài thịt dê ra thì còn ăn cả những thứ khác nữa", Hà Y chớp chớp mắt nhìn chàng.



    Chàng khó khăn gượng cười rồi lại nhíu chặt mày, toàn thân đau khôn tả. Lúc chàng hít thở, lồng ngực luôn đau buốt khó chịu.





    "Đau lắm phải không?", Hà Y ngồi xuống trước mặt chàng có chút lo lắng hỏi.



    "Không cần lo", chàng từ từ thở ra một hơi dài, cố gắng để lồng ngực phập phồng hít thở một cách bình thường, sau đó mới lại cười gượng.



    "Cố Thập Tam mỗi ngày đều tới đây thăm chàng. Huynh ấy một mực muốn chờ chàng tỉnh lại", Hà Y nói.



    "Ta với hắn không hề thân thiết."



    "Xem ra, hẳn huynh ấy có việc muốn hỏi chàng."



    "Nói với hắn, hiện ta không cách nào dậy được", Mộ Dung Vô Phong thử cử động, phát hiện quả thật mình chẳng nhúc nhích nổi, không khỏi cảm thấy có chút u buồn. Chàng trước giờ không nằm trên giường tiếp khách.



    Hà Y nhẹ than một tiếng: "Lần này, chàng cứ ngoan ngoãn nằm yên trên giường đi".



    Mộ Dung Vô Phong khó khăn trùng trùng mới hớp được mấy ngụm canh gà rồi miễn cưỡng nuốt xuống nửa bát cháo. Nói chuyện với Hà Y một hồi, ngẩng đầu lên, qua khe hở rèm cửa sổ đã thấy Cố Thập Tam đứng trong sân viện.



    "Hà Y, nhà này chỗ chúng ta trước giờ không khóa cửa sao?"



    "Thiếp vừa đi mua thức ăn về, quên mất."



    "Nàng mời hắn vào đi."





    "Mời ai vào?"



    "Cố Thập Tam."



    Hà Y đang định ra mở cửa, Mộ Dung Vô Phong đã gọi nàng lại.



    "Nàng đỡ ta dậy khỏi giường trước đã. Lúc ta tiếp người khác, chí ít cũng phải ngồi trên ghế", chàng nói.



    Hà Y không để ý tới chàng, đẩy cửa, đi thẳng tới nói với Cố Thập Tam: "Tôi biết huynh có việc muốn tìm chàng, có điều hiện giờ chàng không thể tiếp khách".



    Cố Thập Tam hỏi: "Không phải huynh ấy tỉnh rồi sao?".



    "Nhưng chàng vẫn chưa thể ngồi dậy dược."



    "Không cần đa lễ, nằm nói chuyện cũng như nhau thôi."



    "Chàng không muốn nằm tiếp khách."



    Cố Thập Tam ngây ra, hỏi: "Đây là cái tật gì vậy?".



    "Tật của chàng rất nhiều, tôi cũng chẳng có cách gì."



    Hai người cứ đứng trong viện đôi co một lúc, chỉ nghe thấy trong phòng truyền ra một giọng nói cực mỏng, cực yếu ớt.



    "Hai người không cần tranh cãi. Cố huynh, mời vào. Hà Y, đi pha trà đi."



    Hà Y giậm chân, chỉ đành tới nhà bếp đun nước.



    Cố Thập Tam đẩy cửa phòng ngủ, thấy Mộ Dung Vô Phong đã ngồi dậy trên giường, tựa lưng vào hai cái gối.



    "Xin lỗi, quả thật thân thể bất tiện, nếu không nên mời Cố huynh tới phòng khách ngồi một lúc, thưởng thức tay nghề nấu ăn của Hà Y", Mộ Dung Vô Phong cười nói.



    Là kiếm khách thuộc hàng đệ nhất, vậy mà cứ thế vì người này pha trà rồi lại nấu cơm. Cố Thập Tam cảm thấy Mộ Dung Vô Phong quả thật rất biết hưởng thụ, cũng rất xa xỉ.



    "Hà Y nói, chúng tôi có thể bình an tới được nơi này, dọc đường toàn phải nhờ Cố huynh chiếu cố", Mộ Dung Vô Phong lại nói.



    "Thật không dám."



    "Cố huynh gấp gáp muốn gặp tôi, phải chăng có việc gì?"



    "Tôi đến trả huynh đôi nạng", Cố Thập Tam nhìn chàng nói, rồi rút sau lưng ra đôi nạng bằng hắc mộc mà Lục Tiệm Phong tặng cho chàng.



    Mộ Dung Vô Phong gật đầu nói: "Đa tạ, tôi còn tưởng nó đã thất lạc trên đường rồi".



    Hà Y mang tới cho Cố Thập Tam một tách trà, nhận lấy đôi nạng từ tay anh ta, trong lòng bực bội, thầm mắng: Người này xem ra rõ ràng có việc gì rất quan trọng muốn nói, sao bây giờ mở miệng lại biến thành việc trả nạng rồi?



    Cố Thập Tam hỏi: "Liệu huynh có thể nói cho tôi biết đôi nạng này là do ai tặng huynh không?".



    Mộ Dung Vô Phong cười nói: "Cố huynh khinh công tuyệt thế, tựa như không nên có hứng thú với những thứ như đôi nạng này mới phải".



    Cố Thập Tam nói: "Bởi vì tôi biết đôi nạng này không phải của huynh, nó vốn thuộc về một người khác".



    Cố Thập Tam nói câu này rất chân thành, thần thái nghiêm túc, đến Mộ Dung Vô Phong cũng bị thái độ nghiêm túc của anh ta làm cho giật mình.



    Mộ Dung Vô Phong nói: "A? Đôi nạng này vốn thuộc về ai?".



    Cố Thập Tam nói: "Đôi nạng này vốn thuộc về sư phụ của tôi".



    Mộ Dung Vô Phong biến sắc mặt, giọng khàn đi hỏi: "Sư... sư phụ huynh là ai?".



    Hà Y chen vào hỏi: "Sư phụ huynh có phải một người họ Ngô không, là Ngô Phong?".



    Cố Thập Tam ngẩng mặt nhìn nàng, hỏi: "Không sai, sao cô nương biết?", anh ta còn muốn tiếp tục hỏi nữa nhưng lại thấy sắc mặt của Mộ Dung Vô Phong bắt đầu tím tái, hơi thở cũng bắt đầu dồn dập.



    "Hà Y, nàng mời Cố huynh hãy cứ về trước đã. Ta...ta…", chàng vốn định nói "Ta không được khỏe lắm" nhưng chỉ cảm thấy trong ngực nôn nao lạ thường, câu định nói cũng không nói ra nổi nữa.



    "Thuốc ở đây", Hà Y cuống quít đưa thuốc vào miệng chàng, sờ lên trán chàng, nói: "Nhìn thiếp đi, đừng nói nữa".



    Chàng nhìn nàng, khó nhọc hít lấy từng hơi.



    Hổn hển hồi lâu, chàng sức cùng lực kiệt đổ gục xuống giường.



    Cố Thập Tam đành đứng dậy cáo từ: "Mấy ngày nữa tôi lại tới".



    Mộ Dung Vô Phong túm lấy một góc áo Cố Thập Tam, nói: "Huynh ngồi lại đây đã, chớ đi vội".



    Cố Thập Tam ngần ngại nhìn Hà Y.



    Mộ Dung Vô Phong hỏi: "Sư phụ huynh... ông ấy... ông ấy vẫn khỏe mạnh chứ?".



    Lúc chàng hỏi câu này, trong lòng xáo động không dứt, tựa như sắp chạm tới được cái bí mật chàng đã chờ đợi bao nhiêu năm nay.



    Cố Thập Tam cười khổ: "Tính tình sư phụ vẫn khoáng đạt, cả đời thích ngao du núi cao sông lớn, tựa như thân long thấy đầu không thấy đuôi. Tuy tôi đã không gặp người hai mươi năm rồi nhưng vẫn luôn tin người vẫn đang ở một nơi nào đó trên thế giới này, tin rằng sẽ có một ngày người sẽ trở về Thiên Sơn, nhân tiện ngó tới tên đệ tử không ra gì này một chút".



    Sắc mặt Mộ Dung Vô Phong trắng bệch, hỏi: "Nói như vậy, ông ấy... có thể ông ấy vẫn còn sống?".



    Hà Y nắm chặt tay chàng, nhẹ giọng nhắc: "Chàng... chàng đừng hy vọng quá nhiều".



    Cố Thập Tam nói: "Kể từ lần đầu tiên tôi gặp huynh, tôi đã đoán huynh có quan hệ nào đó với sư phụ. Chỉ đáng tiếc trước giờ tôi chưa từng nghe sư phụ nhắc tới người còn có một đứa con trai. Đôi nạng này làm bằng gỗ hắc mộc ở Nam Hải vừa cứng vừa nhẹ, đao kiếm không thể chặt. Tôi vốn sớm đã nhận ra rồi, chỉ là bên trên lại có một lớp đệm mềm", hắn bật cười nói: "Tuy hai chân sư phụ tôi tàn phế nhưng lại cứ thích đày đọa bản thân. Nạng của người là đẽo nguyên cây, chỗ này cũng rất cứng rắn. Tôi đoán lúc người dùng nó chắc chẳng dễ chịu chút nào. Có đều, võ công người cực cao, đôi nạng này cũng chưa hề rời tay. Bây giờ vật này lại ở trong tay huynh, có thể thấy người... người đa phần là đã... đa phần là đã...", Cố Thập Tam nhìn Mộ Dung Vô Phong, nửa câu sau không sao nói nốt được.



    Mộ Dung Vô Phong trầm ngâm một lúc, nói: "Cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa nghĩ ra giữa tôi và sư phụ huynh có mối quan hệ trực tiếp gì không".



    Cố Thập Tam nói: "Tướng mạo, hình dáng của hai người gần như giống hệt nhau. Lúc tôi gặp sư phụ, người vẫn còn rất trẻ, chỉ độ hai mươi mấy tuổi. Thời gian tôi sống với người, cộng lại cũng không quá ba năm".



    Mộ Dung Vô Phong hừm một tiếng, nói: "Trong thiên hạ, những người có tướng mạo giống nhau chẳng phải nhiều lắm sao?".



    Cố Thập Tam nói: "Nhưng những bệnh trên người sư phụ, dường như trên người huynh cũng đều có cả. Đây chẳng phải quá trùng hợp rồi sao?".



    Mộ Dung Vô Phong trầm xuống.



    Hà Y nói: "Sư phụ huynh võ công cao cường, thân thể hẳn là rất khỏe mạnh mới phải".



    Cố Thập Tam nói: "Chỉ cần người không phạm bệnh, thân thể rất khỏe mạnh, Nhưng người giống hệt tướng công của cô, lúc kích động sắc mặt trở nên tím tái, ngoài ra còn có bệnh phong thấp. Người tới Thiên Sơn vốn là vì nghe nói suối nước nóng ở đây chữa bệnh phong thấp rất có hiệu quả, cho nên mới thường qua lại nơi này. Có điều, tính tình người hài hước, cởi mở, rất ít khi tức giận, cho nên tôi cũng hiếm thấy người phát bệnh".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Hà Y, nàng lấy cây nạng ấy qua đây cho ta xem xem".



    Hà Y nhấc cây nạng đưa cho chàng.



    Người chàng không còn chút sức lực nào, chỉ có thể đưa tay khẽ vuốt nhẹ lớp đệm trên cây nạng chỗ tựa vào nách. Lớp đệm làm bằng da thú tuyền một màu đen, thêu thùa cực kỳ linh xảo, bên trong được nhồi một lớp bông dày.



    Bên trên lại còn có hình thêu hoa.



    Tay chàng lần nhẹ trên đó, chợt phát hiện phần đáy lớp nệm có chỗ hơi gập ghềnh không bằng phẳng.



    Hay là ở chỗ khuất mắt này mà cũng thêu hoa?



    Trong lòng chàng chợt động, bỗng cất giọng: "Hà Y, nàng lấy một hộp mực ấn, một tờ giấy trắng qua đây".



    Hộp mực ấn là vật bắt buộc phải có ở những gia đình có người đọc sách. Lúc Hà Y mới dọn vào đây, trên bàn viết trong phòng còn đặt mấy bộ Văn phòng tứ bảo. Mực ấn chu sa cũng còn mấy hộp.



    Mộ Dung Vô Phong thoa chu sa lên chỗ lồi lõm kia rồi đem tờ giấy trắng khẽ ấn lên, in lấy hoa văn nơi đó.



    Ở đó có hai chữ Hán: "Như Anh".



    Sắc mặt Mộ Dung Vô Phong tái đi, tay với cái nạng còn lại, cũng ở chỗ ấy lại thoa một lớp chu sa, lấy giấy nhấn vào, vẫn là hai chữ Hán: "Như Anh".



    Sau đó chàng ngồi dậy, trầm mặc không nói, ôm chặt đôi nạng vào lòng, nước mắt nhạt nhòa, thần tình vô cùng bi thương.



    Chàng siết chặt đôi tay, trên trán đã nổi gân xanh, hiển nhiên đang cực kỳ kích động nhưng cố gắng kìm nén tình cảm và nhịp tim của mình. Một lúc lâu sau, chàng mới nghẹn ngào nói: "Bọn họ... bọn họ chắc đã... chắc đã cùng nhau qua thế giới bên kia rồi".



    Hà Y đỡ nhẹ lấy chàng, hỏi: "Như... đây là chữ Anh trong hoa anh đào đúng không? Như Anh là ai thế?".



    Mộ Dung Vô Phong than dài một tiếng, nói: "Đó là tên tự của mẫu thân ta".



    Cố Thập Tam thấy dáng vẻ thống khổ của chàng, không nén được lại lên tiếng: "Bất luận thế nào, đệ cũng đã thành sư đệ của ta. Tuy ta không biết sư mẫu nhưng ta dám đảm bảo từ những gì ta được thấy, phụ thân đệ là một bậc tuyệt thế kỳ tài, làm nhi tử của người, là một điều cực kỳ may mắn, cực kỳ đáng kiêu ngạo. Ta thật sự rất ghen tị với đệ".



    "Nên là đệ ghen tị với huynh mới phải", Mộ Dung Vô Phong thở dài một hơi: "Ít nhất huynh còn được gặp ông ấy, còn từng nói chuyện với ông ấy".



    Cố Thập Tam nói: "Lẽ nào đệ đúng là họ Lâm".



    "Đệ họ Mộ Dung, là Mộ Dung Vô Phong."



    Cố Thập Tam kinh ngạc nói: "Đệ chính là vị thần y Mộ Dung đó?".



    Hà Y vội vàng nói: "Đúng đấy! Không sai! Ai muốn làm phụ thân của thần y, cũng là một việc không hề dễ dàng nhé!", lời còn chưa dứt, trán đã bị Mộ Dung Vô Phong gõ cho một cái, lại nghe chàng thở dài thườn thượt, nói: "Cái gì mà `không sai`, cái gì mà `không hề dễ dàng`, cùng không biết đường mà khiêm tốn thay lão công một chút!”.



    Cố Thập Tam đưa câu chuyện trở về đề tài trước: "Đệ vẫn chưa nói cho ta biết, đôi nạng này là do ai tặng đệ".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Là Lục Tiệm Phong".



    Cố Thập Tam nói: "Nói như vậy, Lục Tiệm Phong nhất định là người cuối cùng từng gặp sư phụ ta".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Đệ cũng cho là vậy".



    Hà Y nói: "Thiếp đoán chắc là Lục Tiệm Phong... chắc là Lục Tiệm Phong...", nàng vốn muốn nói "Chắc là Lục Tiệm Phong đã giết Ngô Phong, rồi thu lấy đôi nạng bất li thân của ông ấy", nhưng nghĩ lại, Ngô Phong giờ đã biến thành phụ thân của Mộ Dung Vô Phong, mình nói như vậy tựa hồ không ổn, liền nuốt câu định nói xuống.



    Mộ Dung Vô Phong lại hoàn toàn hiểu được ý nàng, nhìn nàng một cái rồi gật đầu nói: "Ta cũng nghĩ như thế".



    Hà Y lại nói: "Nếu thế...", nàng vốn định nói "Nếu thế bây giờ chúng ta tới Thiên Sơn tìm Lục Tiệm Phong, hỏi cho rõ ngọn nguồn", rồi lại nghĩ, hiện giờ nhất định Mộ Dung Vô Phong còn sốt ruột muốn gặp Lục Tiệm Phong hơn mình, chỉ là chàng đang bệnh không dậy khỏi giường nổi, vẫn là không nên nhắc tới chuyện này thì hơn.



    Mộ Dung Vô Phong lại như đã hiểu được ý tứ của nàng, than rằng: "Không sai".



    Cố Thập Tam chẳng hiểu đầu đuôi gì, chỉ biết nhìn hai người trước mặt đang nói chuyện như đánh đố người khác.



    Hà Y nói: ''Nhưng mà Cố...", nàng muốn nói: "Nhưng mà Cố đại ca có thể thay chúng ta chạy tới đó một chuyến hỏi cho rõ ràng. Huống chi huynh ấy cũng muốn biết tung tích của sư phụ mình ở nơi đâu".



    Mộ Dung Vô Phong lại phiền não ngắt lời nàng, kiên quyết nói: "Không được, nhất định ta phải tự mình đi".



    Trong hoàn cảnh này, Cố Thập Tam chỉ đành ngối uống trà.



    Hà Y lại hỏi: "Cố đại ca, huynh có từng nghe qua cái tên Mộ Dung Tuệ?".



    Vừa nghe tới câu hỏi này, ngụm trà Cố Thập Tam vừa uống suýt chút nữa bị sặc ra: "Mộ Dung Tuệ và Mộ Dung Vô Phong…".



    Hà Y đáp: "Là mẹ con".



    Cố Thập Tam nói: "Hỏng rồi. Bây giờ ta đã biết tại sao Lục Tiệm Phong lại muốn giết sư phụ".



    Hà Y và Mộ Dung Vô Phong cùng ngạc nhiên hỏi: "Tại sao?".



    Cố Thập Tam đáp: "Mộ Dung Tuệ là thê tử của Lục Tiệm Phong".



    Hà Y hỏi lại: "Thế sao?".



    Cố Thập Tam kể: "Sư phụ từng đưa ta tới gặp Lục Tiệm Phong một lần. Người nói là đi thăm một người quen. Lục phu nhân cũng có ở đó. Ta nhớ hồi đó ta còn rất nhỏ không hiểu việc cho lắm, chỉ là nghe giọng thì biết bà ấy không phải người bản địa, liền hỏi bà ấy là người ở đâu tới. Bà ấy nói cho ta, bà ấy họ Mộ Dung, còn làm cho ta một bát mì trứng. Loại họ kép này rất hiếm gặp, cho nên ta nhớ mãi không thôi".



    Tằng tổ của Mộ Dung Vô Phong là người đất Thục, người làm và đầu bếp trong cốc đều rất thích món ăn đất Thục, còn chàng bởi thân thể không được khỏe, rất ít khi ăn những thứ có vị nặng. Chàng nhớ ông ngoại thường nói, hồi nhỏ mẫu thân thích ăn nhất là những thứ như mì trứng.



    Nghe câu này, sắc mặt Mộ Dung Vô Phong lại càng tái nhợt, tay chàng vốn đang chống lên thành giường, giờ không tự chủ được mà run rẩy. Hà Y đỡ lấy vai chàng, nhẹ nhàng nói: "Đây đều là việc hai mươi mấy năm về trước... của đời trước, chàng không nên... không nên quá đặt nặng trong lòng".



    Mộ Dung Vô Phong khàn giọng nói: "Nói như vậy, đến mẫu thân đệ huynh cũng đã gặp qua".



    Cố Thập Tam nói: "Bà ấy là một phụ nữ cực kỳ mỹ lệ, bất kỳ ai từng nhìn thấy bà ấy một lần là sẽ nhớ mãi không quên".



    Mộ Dung Vô Phong trầm tư một lúc rồi hỏi: "Lúc huynh gặp bà ấy, trông bà ấy có được vui vẻ không?".



    Cố Thập Tam nghĩ một chút, đáp: "Rất vui vẻ... bà biết rất tốt với ta. Bây giờ nghĩ lại, chắc là bởi vì sư phụ ta".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Đợi qua một thời gian nữa, thân thể đệ khỏe hơn một chút. Đệ sẽ đi Thiên Sơn một chuyến".



    Cố Thập Tam gật đầu, nói: "Ta vốn định ngày mai đi luôn... nhưng chúng ta cùng đi vẫn tốt hơn, trên đường có thêm người chăm sóc nhau. Nếu như quả thật sư phụ ta không còn nữa, nếu như hung thủ sát hại người quả đúng là Lục Tiệm Phong, ta nhất định sẽ báo thù cho người!".



    Lúc Cố Thập Tam nói câu này, ngữ khí rất bình tĩnh, tựa như việc này sớm đã được quyết định xong.



    Mộ Dung Vô Phong cười khổ: "Cho dù quả đúng là ông ta giết phụ thân đệ, bộ dạng đệ thế này, cũng chẳng thể làm gì ông ta".



    Hai tay chàng siết lấy tấm khăn trải giường, gân tay nổi lên xanh lè, khuôn mặt kích động tới đỏ ửng. Lời nói ra tràn đầy nỗi chua xót và trào phúng.



    Hà Y nắm lấy tay chàng, nói: "Thiếp có thể thay chàng báo thù".



    Tay của nàng ấm áp, còn bàn tay của chàng lại giá buốt tựa băng.



    Chàng cúi đầu, cố gắng hết sức khống chế niềm bi phẫn trong lòng.



    Tuy từ nhỏ chàng đã không ngừng tưởng tượng ra câu chuyện của phụ thân và mẫu thân mình, nhưng tới thời khắc sắp biết được chân tướng, chàng lại do dự.



    Dường như chàng đã ngầm đoán được sự đáng sợ của chân tướng mọi việc, dường như đã ngửi thấy mùi máu tanh.



    Nhưng điều đáng buồn nhất chính là chàng chỉ có một thân thể tàn phế, dù câu chuyện này có kết quả thế nào thì cũng đều chẳng thể làm gì được.



    Đây không phải câu chuyện chàng muốn nghe.



    Chàng ngẩng đầu, nhìn Hà Y, rất lâu sau mới lên tiếng, nhấn từng chữ một:



    "Hà Y, chuyện này không có chút gì liên quan tới nàng. Ta không cho phép nàng có ý nghĩ ấy."



    Hà Y đứng phắt dậy: "Đương nhiên có liên quan, thiếp là thê tử của chàng".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Ta và Cố đại ca sẽ cùng nhau tới Thiên Sơn, nàng ở lại đây".



    Hà Y nói: "Thiếp nhất định phải đi cùng chàng, bất kể chàng đi tới đâu, thiếp cũng sẽ không rời chàng một bước".



    Lúc nói ra câu này, thái độ của Hà Y vô cùng dứt khoát.



    Mộ Dung Vô Phong than: "Thế thì cùng đi vậy", nói xong có chút lúng túng quay sang nhìn Cố Thập Tam.



    Cố Thập Tam híp mắt lại, trong mắt mang một nét cười khó nhận ra.



    Mộ Dung Vô Phong nghiêng người dựa trên cái giường nhỏ, dõi qua song cửa sổ điêu khắc tinh xảo đang mở hé, ngắm nhìn một góc sân vườn ngoài song.



    Bao nhiêu ngày qua, đó là nơi duy nhất chàng thấy thân thuộc trong căn phòng này.



    Cách sân vườn không xa hình như sẽ là một con đường rợp bóng hoa dẫn tới một cánh cửa nhỏ. Mỗi ngày Hà Y đều ra ngoài mua thức ăn, chính là từ con đường này đi ra, rồi lại quay về trên con đường ấy.



    Trời nắng, nàng rất thích ngồi ở góc sân giặt quần áo.



    Bởi vì bệnh ưa sạch của Mộ Dung Vô Phong, mỗi ngày nàng đều phải giặt một chậu quần áo to đùng, nào là khăn trải giường, vỏ gối, áo trong, áo ngoài, khăn tay, khăn mặt, băng trắng, bít tất...



    Nàng thường phải tốn hơn một canh giờ mới giặt được tất cả mọi thứ đến mức độ "sạch sẽ" mà Mộ Dung Vô Phong chấp nhận được.



    Phơi xong quần áo, nàng sẽ chạy ù ra ngoài mua thức ăn, bởi vì cũng đã gần tới giờ làm cơm trưa rồi.



    Mộ Dung Vô Phong ăn rất ít mà cũng chỉ ăn những món có vị thanh đạm như ngó sen, măng, nấm, đậu phụ thôi. Khổ nỗi mấy thứ rau ấy chỉ sinh trưởng ở phương nam, vận chuyển tới được phương bắc thì đều đã thành thực phẩm khô rồi. Chàng rất ít ăn thịt, chỉ ăn thịt gà và một vài loại cá. Thịt dê thì chàng vừa ngửi thấy đã liền hoa mắt chóng mặt rồi.



    Cũng may chàng cũng chẳng có yêu cầu gì đặc biệt với việc xào nấu thức ăn. Mấy thứ ấy, chỉ cần đem trộn lại với nhau, cho thêm ít muối, ít dầu rồi xào chín thì bình thường chàng đều có thể ăn hết.



    Chàng uống trà thì lại rất cầu kỳ, lá trà bình thường chàng chẳng buồn động vào, kể cả là lá trà ngon cũng phải theo lời dặn dò của chàng mà đi pha, trải qua bảy tám công đoạn tỉ mỉ kỹ lưỡng chàng mới chấp nhận có thể uống.



    Từ khi Hà Y học được cách pha trà, nàng đã tự thề với mình sẽ không bao giờ uống trà nữa, đổi sang uống nước sôi còn hơn.



    Uống có ngụm trà mà cũng phải phiền phức như thế, đúng là thần kinh!



    Chàng ăn cơm rất nhỏ nhẹ thong thả, Hà Y đã ăn xong hai bát, chàng vẫn còn hơn nửa bát chưa ăn.



    Nếu như có người hỏi chàng tại sao lại ăn chậm thế, chàng sẽ nói ăn như thế mới có lợi cho tiêu hóa. Nàng chỉ đành kiên nhẫn đợi chàng ăn xong, thu dọn bát đũa rồi tới nhà bếp rửa bát.



    Mặc dù như thế, Hà Y vẫn cho rằng một ngày của Mộ Dung Vô Phong quả thật quá nhàm chán.



    Từ khi ngực bị thương, trên vai lại có thêm một vết bỏng lớn, nửa thân trên của chàng bị sưng phù rất khủng khiếp, đau tới mức không sao cử động nổi đôi vai.



    Hoạt động duy nhất hàng ngày của chàng chính là, buổi sớm Hà Y sẽ bế chàng từ giường lớn mà hai người ngủ tới giường mềm bên cạnh cửa sổ, chàng sẽ nằm đó qua hết buổi sáng và buổi trưa, tới giờ thắp đèn, tắm rửa xong, Hà Y sẽ lại bế chàng về giường lớn.



    Hà Y thời thời khắc khắc đều đề phòng chàng bị nhiễm lạnh, ho khan hoặc co giật do vết thương ở chân tái phát, những chấn động cơ thể kiểu ấy là tối kỵ cho người bị thương xương cốt đang trong giai đoạn phục hồi.



    Sống kiểu đó, Hà Y chỉ cần trải qua một ngày là đã đủ phát điên, vậy mà Mộ Dung Vô Phong lại có thể cứ nằm yên không động đậy như vậy suốt cả hai tháng trời!



    Chàng rất bình thản, từ đấy đến giờ không hề cáu giận, luôn giữ một vẻ thuận lòng cam chịu. Chỉ có một lần chàng thật sự thấy có chút buồn bực mới để Hà Y dìu mình lên xe lăn, hai người cùng tản bộ một vòng trên hành lang quanh viện.



    Có những lúc chàng nhớ tới Vân Mộng cốc, nhớ tới Trúc Ngô viện, rồi nói, từ sau khi chàng đi, bệnh án tồn lại chẳng phải sẽ chất đầy tới tận nóc thư phòng sao? Sau đó chàng lại lầm rầm nói một mình, nói Sái Tuyên và Trần Sách nhất định có thể thay chàng lo liệu tốt y vụ trong cốc.



    Hà Y bắt đầu thầm đoán, rốt cuộc chàng có còn sức mà về nhà không, bao nhiêu năm nữa mới có thể về nhà.



    Thân thể chàng chịu bao nhiêu tổn thương, đang ngày nối ngày tụt dốc.



    Mỗi ngày Hà Y đều giúp chàng xoa bóp cơ thịt đang ngày một teo rút. Chàng ngồi yên không động đậy nhìn nàng nắn bóp cơ thể chân tay mình, cố gắng giữ vẻ thản nhiên nhưng kỳ thực trong lòng lại day dứt vô cùng.



    "Hà Y, nàng không cần vì ta mà tốn nhiều công sức như vậy", có một ngày chàng bỗng nói.



    "Như thế này chàng mới nhanh khỏi được", nàng lại càng làm càng hăng hái hơn.



    Mộ Dung Vô Phong lặng lẽ nhìn nàng, trong lòng dâng lên niềm thương cảm không nói nên lời.



    Chứng phong thấp của chàng đã dần dần lan tới vai trái. Vai trái là nơi duy nhất trên cơ thể chàng hoàn toàn khỏe mạnh. Viết chữ, chẩn bệnh, chàng đều dùng cánh tay trái này. Nhưng giờ chàng đã cảm thấy nó đang dần dần trở nên không còn linh hoạt nữa. Cứ mỗi khi rét buốt, các đốt ngón tay và cổ tay lại dấy lên cơn đau thấu xưong. Có lẽ trong một ngày không xa nữa, khi chàng tỉnh dậy sẽ phát hiện hai tay mình vì phong thấp mà biến thành cứng đơ. Tới lúc ấy đến cả những động tác đơn giản như ăn cơm, chàng cũng sẽ thấy cực kỳ khó khăn.



    Mộ Dung Vô Phong cố gắng không để những suy nghĩ ấy vào sâu trong đầu mình nhưng hàng đêm chàng lại cứ không ngừng nghĩ về những điều đó.



    Bất kế thế nào, chàng cũng sẽ kết liễu chính mình trước khi bản thân hoàn toàn trở thành một phế nhân. Nhân lúc mình vẫn còn sức để chết, chàng nhất định phải chết đi. Chàng tuyệt đối không thể sống cuộc sống như một hài nhi, ngay tới một chút tôn nghiêm tối thiểu cũng không có nổi.



    Nửa đêm, chàng nghĩ tới những khó khăn gian khổ sắp phải đối diện mà thao thức không ngủ được, cứ mở to mắt ngắm nhìn màn đêm vô hạn. Người bên cạnh thì vẫn bình yên chìm vào giấc ngủ, dáng vẻ của nàng khi ngủ trông thật ngon lành.



    Ban ngày, lúc nào nàng cũng tràn đầy lòng tin.



    "Vô Phong, chàng nghĩ xem, bao nhiêu người phải trải qua những ngày tháng bị cha mẹ quở mắng, bi thảm mà tuân theo ý của bề trên. Không có cha mẹ, loại vận khí này không phải ai cũng có đâu nhé", có một hôm nàng ngang nhiên nói ra những câu đại nghịch bất đạo như thế.



    Đương nhiên, nàng là đứa bé bị bỏ rơi không tránh khỏi có sự oán hận đối với cha mẹ.



    Trên người nàng không có bất cứ dấu vết gì đủ để cho phép nàng lần tìm lai lịch bản thân. Nàng tựa như một đám không khí phiêu bồng, chẳng có nơi quay về.



    "Hà Y, nếu như có một ngày, cuối cùng nàng cũng tìm được cha mẹ mình, phát hiện ra rằng họ vẫn còn sống, nàng có vui không?", có một đêm nọ, hai người nổi hứng nói chuyện, nói tới tận khuya, chàng bỗng hỏi như thế.



    "Thiếp không biết, bởi vì thiếp vốn không định đi tìm cha mẹ thiếp, với lại cũng đã sớm tự thề với bản thân sẽ không nghĩ tới việc này nữa", nàng nhạt giọng đáp.



    "Ta sẽ nghĩ cách giúp nàng. Chúng ta thuê người, dù có phải lật tung ba thước đất cũng sẽ tìm bằng được cha mẹ ruột của nàng", chàng nói.



    "Vô Phong, trên đời này không phải ai ai cũng nghĩ giống như chàng", nàng khúc khích bật cười.



    Có những lúc Mộ Dung Vô Phong cảm thấy chàng không hề hiểu Hà Y. Dường như trong sâu thẳm nội tâm nàng vẫn còn có một nơi đóng chặt không sao mở ra được.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 37





    Mùa đông dài dằng dặc cuối cùng cũng sắp qua, tuy ngoài phòng vẫn là một không gian lạnh giá nhưng cây nhỏ trong sân đã bắt đầu hé mầm. Cơn gió phả vào mặt đã không còn buốt tận xương.



    Tới đầu tháng Ba, vết thương nơi xương cốt của Mộ Dung Vô Phong về cơ bản đã lành lại. Cuối cùng chàng đã có thể cử động, có thể tự mình xuống giường, đẩy xe lăn đi tứ phía.



    Trung tuần tháng ấy, ba người cùng nhau tới Thiên Sơn.



    Ở một dải núi nằm sừng sững tĩnh lặng nơi tận cùng của thảo nguyên ấy, trên đỉnh núi là băng tuyết đọng lại cả năm không tan, nhưng dòng chảy đầu nguồn của con sông nhỏ dưới chân núi thì đã dồi dào trở lại. Bốn phía xung quanh con đường núi là những khe nhỏ, dòng nước rỉ rách trôi.



    Tới gần tòa thạch thất to lớn kia, mái hiên uốn lên cao tựa như muốn móc ghì dải mây phiêu lãng chốn chân trời kia lại.



    "Bọn đệ nói Lục Tiệm Phong ở nơi này?", Cố Thập Tam chợt lên tiếng hỏi.



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Lẽ nào đây không phải là nơi huynh gặp mẫu thân đệ?".



    Cố Thập Tam thở dài nói: "Năm xưa, khi ta tới đây, trời đổ một trận tuyết lớn, nhìn trong trời tuyết hẳn căn nhà này trông không giống thế này".



    Hà Y gật đầu, không thể không thừa nhận tòa thạch thất này đã thay đổi tới mức có chút không nhận ra nữa.



    Cửa lớn mở ra, giữa nhà có đặt một cái ghế mây.



    Một người áo trắng đang thung dung ngồi trên ghế uống trà.



    Ánh mặt trời ấm áp đầu xuân tỏa xuống, rọi lên vai người này. Đứng bên cạnh ông ta là Sơn Mộc trong bộ đồ đen.



    "Ta biết ngươi nhất định sẽ quay lại tìm ta", Lục Tiệm Phong nhìn Mộ Dung Vô Phong, lãnh đạm nói: "Cho nên ta ở đây đợi ngươi".



    Lần đầu tiên Mộ Dung Vô Phong chú ý nhìn vào mắt Lục Tiệm Phong, đôi mắt ông ta có màu tro nhạt lúc nhìn người khác không hề chuyên chú. Tựa như những kẻ đủ tư cách để ông ta nhìn thật kỹ trên đời này không nhiều.



    Mộ Dung Vô Phong lăn bánh xe, đi tới trước mặt ông ta nói: "Ta có việc muốn hỏi ông".



    Lục Tiệm Phong đưa mắt sang nhìn Hà Y và Cố Thập Tam một lượt, nói: "Ngươi còn đưa tới một vị khách nữa, hẳn là cũng tới tìm ta".



    Cố Thập Tam trầm giọng nói: "Ta họ Cố, Nam Hải thần tiên[1] Ngô Phong là ân sư của ta".



    [1] Tiên ở đây là cây roi () chỉ vũ khí thành danh của Ngô Phong chứ không phải tiên () trong tiên ông.



    Sơn Mộc nói: "Cố Thập Tam là đệ nhất kiếm khách miền Tây Bắc, Ngư Lân Tử Kim kiếm của Sở cô nương hiện đang đứng số một trong Giang hồ kiếm bảng. Người tới tìm chúng ta hôm nay, cũng xem như đủ tư cách".



    Hà Y nói: "Hẳn các hạ chính là vị kiếm khách thần bí hai mươi năm trước tới Phi Diên cốc xem trận tỉ kiếm. Nghe mọi người truyền nói ông là người của Nam Hải Kiếm Phái. Cứ như tôi thấy, cho dù ông không phải là người phái ấy nhưng kiếm của ông tuyệt đối là của phái đó".



    Phái Nam Hải từ trước tới giờ nổi tiếng về kiếm pháp ngoan độc, biến chiêu quái lạ, kiếm mà bọn họ dùng đều là loại vừa hẹp vừa mỏng.



    Sơn Mộc nói: "Ngươi nói không sai".



    Cố Thập Tam nói: "Trước đây ta từng gặp ông. Lần đó sư phụ mang ta tới Thiên Sơn thăm một người quen, người quen đó chính là ông".



    Sơn Mộc cười khổ: "Ngô Phong là sư đệ đồng môn của ta. Hắn tới đây vốn là do ta gọi hắn tới".



    Mộ Dung Vô Phong giương mắt nhìn trừng trừng ông ta.



    Sơn Mộc nói: "Ngươi không cần trợn mắt với ta, ta gọi hắn tới là vì suối nước nóng ở đây có thể trị được chứng phong thấp của hắn. Ai mà ngờ nơi đây cuối cùng lại trở thành quỷ môn quan của hắn".



    Mộ Dung Vô Phong lạnh lùng nói: "Lẽ nào không phải các người bắt cóc mẫu thân ta tới đây sao?".



    "Bắt cóc?", Lục Tiệm Phong nói: "Mẫu thân ngươi không phải là nữ nhân tầm thường. Một đêm hai mươi ba năm trước, là nàng tới tìm ta, muốn ta đưa nàng đi. Nàng ấy nói nàng hận phụ thân mình, chỉ muốn trốn khỏi ngôi nhà ấy. Ta đưa nàng tới Thiên Sơn, thành hôn với nàng. Nàng vốn đã gả cho ta, nhưng chẳng bao lâu sau lại phải lòng phụ thân ngươi. Bất kể là trước hay sau khi kết hôn, nàng đều rất to gan".



    Lúc nói ra câu này, khẩu khí của Lục Tiệm Phong đầy vẻ trào phúng.



    Hà Y nhướn mày, nhạt giọng nói: "Như thế có gì mà kỳ quái? Con người ông xem ra chẳng có chút gì thú vị tôi thực nghĩ không ra sao một cô gái lại bằng lòng gả cho ông".



    Nàng nắm lấy tay Mộ Dung Vô Phong, phát hiện tay chàng không ngừng run rẩy.



    Tất cả mọi người trong phòng bỗng không ai lên tiếng nữa.



    Băng vương, một nhân vật tựa như trong thần thoại, kiếm khách tuyệt thế ngụ trên đỉnh Thiên Sơn, đây tuyệt đối không phải là người có thể chịu bị sỉ nhục.



    Trầm mặc hồi lâu, Lục Tiệm Phong nói: "Ngươi nói không sai. Ta là một kiếm khách, cả năm trời có tới chín tháng sống cách li nhân thế, tới một nơi hoang vu không người luyện công. Kiếm pháp và công pháp môn phái của ta vốn truyền từ Thiên Trúc, chỉ có bế quan khổ công, suy nghĩ bỏ đi lý trí, đoạn tuyệt dục vọng mới có thể ngộ đạo! Nàng chịu gả cho ta chính là vì nàng không hiểu ta. Nàng muốn gả cho một kiếm khách tuyệt thế thì vốn cũng chính là phải chịu đựng sự tĩnh mịch tuyệt thế".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Ân oán giữa mẫu thân ta và các hạ chẳng liên quan gì tới ta. Ta chỉ muốn biết, phụ thân ta có phải là do ông giết hay không?".



    Lục Tiệm Phong nhấc một vật từ dưới đất lên, quẳng sang cho Mộ Dung Vô Phong.



    Đó là một cái roi da rắn đen óng, chuôi roi còn đính một quả cầu vàng lấp loáng sáng.



    Đồng tử của Mộ Dung Vô Phong đột nhiên thu hẹp lại, hô hấp cũng đồng thời trở nên gấp gáp.



    "Không sai, là ta giết hắn. Ta nghĩ phụ thân ngươi cũng sẽ chẳng oán hận, bởi đó vốn là một cuộc quyết đấu của bọn ta. Nếu người chết không phải là hắn thì sẽ là ta. Ngươi xem đây!"



    Ông ta cởi áo, phơi ra tấm lưng mình, trên đó còn đan xen mấy vết roi đã thành sẹo, ngang ngang dọc dọc, vừa sâu vừa dài.



    "Lúc đó ta vừa mới thắng Quách Đông Các, tự cho rằng kiếm pháp của bản thân là độc bộ thiên hạ. Nhưng phụ thân ngươi mới chân chính là một cao thủ vô danh. Sau khi ta giết được hắn, nguyên khí cũng bị đại thương, phải mất trọn mười năm mới khôi phục lại được."



    Hà Y nói: "Nếu ông ấy đã là cao thủ vô danh, ông làm thế nào mà thắng được?".



    Lục Tiệm Phong nói: "Đáng tiếc đôi chân hắn bị tàn phế. Chỉ cần hắn có một chân lành lặn thôi, sợ rằng ta không phải đối thủ của hắn. Huống chi, cho dù đôi chân hắn tàn phế, bọn ta vẫn phải đấu hơn sáu trăm chiêu. Tới cuối cùng, khí lực của hắn bỗng dưng đứt đoạn, ta mới một kiếm đâm trúng tim hắn".





    Hà Y nói: "Khí lực bỗng dưng đứt đoạn? Liệu có phải bệnh tim của ông ấy đột nhiên tái phát?".



    Lục Tiệm Phong nói: "Có lẽ thế. Cho nên lúc hắn chết, cả khuôn mặt tím tái. Cao thủ giao đấu với nhau, thắng bại chỉ trong khoảnh khắc, nếu hắn đột nhiên đổ bệnh, vậy cũng chỉ có thể trách vận khí hắn không tốt. Lúc hắn sắp chết còn cầu xin ta đừng nói tin ấy với mẫu thân ngươi. Nói rồi mới tự mình lao xuống vực sâu vạn trượng".



    Mộ Dung Vô Phong tức giận gào lên: "Sao ta phải tin lời của ngươi? Lời của ngươi một câu ta cũng không tin!".



    Sơn Mộc nói: "Lời ông ta nói hoàn toàn là sự thật, lúc ấy ta ở bên cạnh quan chiến".



    Hà Y nói: "Ông trơ mắt nhìn sư đệ mình chết đi?".



    Sơn Mộc nói: "Hắn là sư đệ ta, không sai, Lục Tiệm Phong cũng là bằng hữu của ta. Ai ta cũng không thể giúp".



    Mộ Dung Vô Phong lạnh lùng cười, nói: "Loại bằng hữu gì? Lẽ nào là loại bằng hữu giống như Sơn Thủy và biểu đệ của hắn?".



    Hà Y kinh ngạc nhìn Mộ Dung Vô Phong. Trong mắt chàng là một loại thần sắc gần như điên cuồng.



    Chàng lạnh lùng nói với Lục Tiệm Phong: "Nếu như phụ thân ta thật sự đoạt lấy người phụ nữ ngươi yêu thương tại sao ngươi lại không hận ta? Lại còn ba lần bảy lượt cứu ta? Lẽ nào chẳng phải vì trong lòng ngươi có chút áy náy? Ngươi không yêu bà ấy, nhưng lại không muốn bà ấy yêu người khác, ta nói đúng không? Ngươi sợ bọn họ bỏ trốn rồi đem bí mật của các ngươi nói ra ngoài nên liên thủ giết ông ấy, đúng không? " .



    Cố Thập Tam kinh hãi nhìn Lục Tiệm Phong và Sơn Mộc, lắp bắp nói: "Các người... các người... ".



    Lục Tiệm Phong trầm mặc.



    Mộ Dung Vô Phong lạnh giọng nói: "Sơn Mộc, ngươi có dám cởi áo cho mọi người xem lưng của ngươi một chút không?".



    Sơn Mộc trầm mặc.



    Hồi lâu sau ông ta mới nói: "Nơi đây chính là quê hương của ngươi", kiếm của ông ta điểm xuống đất, "Ngươi ra đời chính trong ngôi nhà này. Tiệm Phong, ta nghĩ chúng ta nên đưa hắn tới thăm mẫu thân hắn".



    Khuôn mặt tái nhợt của Mộ Dung Vô Phong bắt đầu đổ mồ hôi lạnh, tay chàng siết chặt lấy tay vịn của xe lăn, run giọng hỏi: "Mẫu thân của ta... người... người còn sống sao?".



    Sơn Mộc nói: "Ngươi đi theo bọn ta là biết".



    Hà Y đẩy xe cho Mộ Dung Vô Phong, mọi người theo chân Sơn Mộc men theo vách núi trong viện đi vào một địa dạo.



    Trong địa đạo buốt lạnh thấu xương, còn lạnh hơn lúc lạnh giá nhất trên Thiên Sơn tới mười lần. Địa đạo rất nông, đi không bao lâu trước mắt lại mở ra một gian thạch thất cực lớn.



    Vừa bước vào gian phòng ngầm lạnh lẽo dưới lòng đất này, lòng Hà Y đã trầm xuống. Đây tuyệt đối không phải là nơi con người có thể ở được, chỉ có thể là táng phòng của Mộ Dung Tuệ mà thôi.



    Ánh nến lập lòe ảm đạm, lờ mờ nhận ra bốn cái giường đá trắng như tuyết đặt ở chính giữa phòng. Nhìn thật kỹ thì giường này không phải tạo bằng đá mà là bốn khối băng cực lớn.



    Trên một trong bốn chiếc giường đó có một nữ nhân mình mặc y phục màu ngó sen đang nằm rất yên tĩnh.



    Hà Y đang định đẩy xe cho Mộ Dung Vô Phong tới bên giường băng thì tay chàng đã giữ chặt bánh xe. Toàn thân chàng lạnh giá nhưng trái tim lại đang đập quá nhanh, đã cảm thấy có chút không khống chế nổi. Chàng chỉ đành dừng yên đó, cúi đầu xuống, đợi cho hô hấp của mình bình tĩnh trở lại.



    Hà Y khom lưng, giúp chàng đắp lại chăn lông đang phủ trên chân, cảm thấy thân mình chàng không ngừng run lẩy bẩy bèn thì thầm bên tai chàng: "Trong này lạnh qua. chàng có chịu nổi không?".



    "Không sao đâu", chàng nói.



    Một lúc sau, nhịp thở của chàng đã dần chậm lại lúc ấy mới hít sâu một hơi, đẩy bánh xe tới bên chiếc giường băng.



    Đó là một phụ nữ có đôi chân, đôi tay thanh mảnh, thân hình thon thả, một khuôn mặt trắng ngần với đường nét mềm mại dịu dàng giống hệt Mộ Dung Vô Phong. Mái tóc dài của bà buông xõa, trên mặt đã đóng một lớp băng mỏng. Hiển nhiên người này qua đời đã rất lâu, làn da sớm đã mất đi sự đàn hồi vốn có, toàn thân cứng nhắc tựa như một bức tượng điêu khắc bằng băng.



    Hà Y cảm thấy y phục của người phụ nữ này dường như là được mặc vào sau khi chết, có rất nhiều chỗ có thể nhận ra không phải tự mình mặc vào. Nét mặt của người này cũng rất kỳ quái, cơ thịt trên khuôn mặt nhăn nhó, mày nhíu chặt, rõ ràng là bộ dạng đang cực kỳ đau đớn nhưng khóe miệng lại hơi nhếch lên, giống như đang khẽ cười.



    Bất cứ ai nhìn thấy dáng điệu ấy đều cảm thấy có chút lông tóc dựng đứng.



    Bên phải người nữ nhân ấy có đặt một đứa trẻ sơ sinh.



    Hà Y đẩy xe chàng tới bên phải giường, khẽ hỏi: "Nơi đây sao lại còn một đứa bé nữa?".



    Đứa bé ấy được cuốn trong một tấm chăn nhỏ trắng như tuyết, mắt nhắm chặt, Hà Y định bế nó lên thì phát hiện đã bị hàn băng gắn chặt vào giường. Nàng khẽ vận sức, chỉ nghe "tách" một tiếng, băng nứt vỡ, cuối cùng cũng ẵm được đứa bé ấy lên.



    Đó là một thi thể của trẻ sơ sinh, mặt mày còn nhăn nhíu, rõ ràng chết chẳng bao lâu sau khi sinh.



    Nàng nhìn đứa bé, rồi lại nhìn Mộ Dung Vô Phong, phát hiện hai người có nét giống nhau, bèn đưa đứa bé tới cho Mộ Dung Vô Phong.



    Chàng chăm chú nhìn sinh mệnh bé nhỏ đã sớm rời trần thế trong tay mình rất lâu rồi quay đầu lại nhìn Sơn Mộc hỏi: "Nó là ai?".



    "Em song sinh của ngươi. Mẫu thân ngươi đẻ khó, lúc ngươi được sinh ra thì cũng miễn cưỡng còn có được chút lực, đứa trẻ đó sinh ra sau, chỉ sống được không tới một canh giờ."



    Tay Mộ Dung Vô Phong không kìm được mà run lên. Sau đó chàng cẩn thận lật tấm chăn đã đông cứng ra, nhìn vào đôi chân đứa trẻ. Tim chàng chợt nhói lên một trận đau buốt tới đáng sợ, gần như làm chàng đứt hơi. Đôi chân đó rõ ràng bị dị dạng, vừa nhìn là biết nếu còn sống cả đời nó cũng sẽ không thể đi lại. Đường nét trên khuôn mặt non nớt của đứa bé có tới bảy tám phần giống với Mộ Dung Vô Phong, nếu như nó lớn lên, tướng mạo hẳn sẽ y chang Mộ Dung Vô Phong.





    Mộ Dung Vô Phong chìm vào một cơn bi thương không sao thoát ra được, tay khẽ run lên, "đình đang" một tiếng, đứa bé kia đã rơi xuống đất.



    Âm thanh đó thật khiến cho người ta khiếp sợ.



    Hà Y vội vàng nâng đứa bé đó lên, chợt phát hiện một cánh tay của nó vì cú rơi vừa rồi đã đứt ra hệt như một pho tượng đá bị gãy mất tay vậy.



    Mộ Dung Vô Phong lạnh lẽo nhìn nàng tay chân lóng ngóng đặt cánh tay đứt gãy của đứa bé vào trong chăn, bọc lại như cũ.



    "Nàng sợ?", chàng nhìn Hà Y, lặng lẽ hỏi.



    "Không... không sợ", tuy nói thế, giọng nàng vẫn run run.



    Chàng thở dài, nói: "Nàng không nên theo ta tới đây nhìn những... người chết này".



    Hà Y nắm lấy tay chàng, nói: "Bọn họ... cũng là thân nhân của chàng".



    Mộ Dung Vô Phong nghĩ một chút, chợt quay phắt lại, nói vói Sơn Mộc: "Ngươi nói mẫu thân ta đẻ khó, nhưng đứa con của người rõ ràng đã được sinh ra rồi".



    Sơn Mộc nhìn chàng, ngần ngừ nói: “Việc này...".



    Mộ Dung Vô Phong lãnh đạm nói: "Hà Y, đỡ ta lên giường băng, ta muốn xem xem rốt cuộc bà ấy là kiểu đẻ khó gì".



    Hà Y cắn môi, nhẹ giọng can ngăn: "Bên trên toàn là băng giá, chân chàng thực sự không thể chịu được lạnh... ".



    Mộ Dung Vô Phong mặc kệ Hà Y, tự mình rút nạng ra. Hà Y chỉ đành đem tấm chăn lông trên chân chàng phủ lên giường băng rồi đỡ chàng ngồi lên đó.



    Mộ Dung Vô Phong nhẹ nhàng cởi bỏ y phục nơi bụng của nữ nhân, thân thể chàng bỗng chấn động, chỉ cảm thấy trước mắt nổ đom đóm, trời đất đảo điên. Hà Y vội giữ chặt thân thể vì phẫn nộ mà run bắn lên của chàng nhưng chính nàng cũng bị cảnh tượng trước mắt làm cho kinh hãi ngây người!



    Lớp y phục che phần bụng được lật ra, trên bụng Mộ Dung Tuệ là một vết dao dài!



    Nhìn qua những đường khâu còn có thể thấy rõ nội tạng bên trong!



    Như có ai đó giáng mạnh một đấm vào bụng Mộ Dung Vô Phong, chàng ngã ập xuống, nôn mửa tới chết đi sống lại.



    Hà Y chỉ có thể đỡ chàng về lại xe lăn.



    Chàng nghiến răng, nhào tới trước mặt Sơn Mộc, túm lấy áo ông ta, gầm lên: "Là ai giết bà ấy? Là ai! Lẽ nào các người đến phụ nữ với trẻ nhỏ cũng không tha?".



    Lục Tiệm Phong lạnh lùng nói: "Ngươi buông ông ta ra, mẫu thân ngươi cũng là do ta giết! Nhưng là do nàng cầu xin ta giết nàng!".



    Mộ Dung Vô Phong tức giận tới run bắn người, gần như không mở miệng nói nổi nữa, một lúc sau mới khàn giọng hỏi: "Vì sao bà ấy lại muốn ngươi giết mình? Lẽ nào bà ấy điên rồi?".



    Lục Tiệm Phong nói: "Vì nàng đẻ khó, vật vã hai ngày trời, đứa bé vẫn không chịu ra. Cuối cùng nàng... nàng cảm thấy mình cũng sắp không xong rồi mới xin ta giết nàng đi, mổ bụng nàng cứu lấy huynh đệ hai ngươi! Ta chỉ làm theo lời nàng mà thôi".



    Cả căn phòng lặng ngắt như tờ, mọi người đều kinh ngạc tới tắt tiếng!



    Mộ Dung Vô Phong không kiềm chế nổi, lệ tuôn ướt đẫm, nấc nghẹn nói: "Đó không phải sự thật! Không phải sự thật! Sao bà ấy lại muốn làm như thế?".



    Lục Tiệm Phong nói: "Bản thân ngươi cũng là đại phu, đương nhiên biết đấy là thật".



    Hà Y nhẹ nhàng nói: "Nhưng sao các người không chôn cất cho bà ấy, để bà ấy được yên nghỉ dưới đất?".



    Lục Tiệm Phong đáp: "Nàng nói, nàng muốn được hợp táng với phụ thân ngươi, nhưng phụ thân ngươi sớm đã nhảy xuống vực sâu ngàn trượng rồi. Tuy bọn ta vẫn luôn giấu tin tức về cái chết của hắn nhưng mẫu thân ngươi đã đoán được hắn có điều bất trắc, lúc ấy nàng đã mang thai năm tháng rồi".



    Sơn Mộc nói: "Trước khi mẫu thân ngươi qua đời, còn dặn dò bọn ta đưa ngươi tới Vân Mộng cốc, giao ngươi cho ông ngoại nuôi dưỡng. Tên của ngươi do bà ấy trước đó đã đặt sẵn. Ta liền đem ngươi cùng tín vật mẫu thân ngươi giao cho tới Vân Mộng cốc. Ta không nói gì cho ông ngoại ngươi hết, chỉ nói mẫu thân ngươi đẻ khó nên đã qua đời".



    Lục Tiệm Phong nói: "Bất kể như thế nào, mẫu thân ngươi cũng là người phụ nữ dũng cảm nhất ta từng gặp".



    Ngón tay Mộ Dung Vô Phong chợt điểm nhanh, thoáng cái đã điểm lên huyệt đạo trên người Sơn Mộc.



    Lục Tiệm Phong giận dữ thét lớn: "Ngươi muốn làm gì?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Huyệt đạo ta điểm chẳng ai có thể giải được, tốt nhất ngươi đừng có qua đây", nói xong, chàng liền vạch lưng áo của Sơn Mộc.



    Dưới ánh nến tù mù, trên lưng ông ta vẫn hiện lên rõ ràng ba vết roi mờ mờ.



    Mộ Dung Vô Phong siết chặt nắm đấm, gằn giọng nói: "Quả nhiên ta đoán không sai! Rõ ràng phụ thân ta đã ra tay nương tình với ngươi, vậy mà ngươi lại cùng... cùng kẻ vô sỉ này liên thủ giết hại ông ấy!".



    Sơn Mộc nói: "Ta vốn chỉ đứng một bên xem, nhưng sau đó hắn gần như sắp giết Lục Tiệm Phong rồi, ta chỉ đành nhảy vào giúp, đánh tới thời khắc cuối cùng, bọn ta đều biến thành dã thú, đều chìm vào cơn điên cuồng, mất đi lý trí. Bây giờ bất kể ngươi muốn làm gì ta cũng chẳng sao cả. Ta với phụ thân ngươi vốn cũng là... vốn cũng là bằng hữu rất tốt".



    Mộ Dung Vô Phong lạnh lùng nói: "Bằng hữu! Hay cho ngươi nói được ra câu ấy! Thì ra ngươi đối đãi với bằng hữu tốt như vậy đấy!".



    Sơn Mộc nhạt giọng nói: "Phụ thân ngươi quá mức cao ngạo, trong mắt hắn vốn chẳng hề có ta, nhưng hắn không nên...".



    Mộ Dung Vô Phong thét lớn: "Câm miệng! Không cho phép ngươi sỉ nhục phụ thân ta!".



    Lục Tiệm Phong nói: "Ngươi chớ quên Sơn Mộc cũng đã từng cứu mạng ngươi. Lần đó ngươi tự chìm thuyền giữa hồ, nếu không phải ông ta cứu ngươi từ dưới nước lên...".



    Hà Y run giọng hói: "Chàng... tự chìm thuyền lúc... lúc nào?".



    Mộ Dung Vô Phong gào lên: "Im đi! Không được nhắc tới chuyện này!".



    Hà Y lại dứt khoát: "Ông nói đi! Nói cho ta biết!".



    Lục Tiệm Phong nói: "Chuyện giữa hai ngươi ta làm sao biết được? Tối hôm ngươi tỉ võ với Hạ Hồi, tự hắn... tự hắn nghĩ không thông, một mình chèo thuyền ra giữa hồ rồi đục thuyền định tự vẫn...".



    Hà Y cầm lấy tay Mộ Dung Vô Phong, mắt đẫm lệ nói: "Vô Phong, đấy... đấy là sự thật sao? Sao chàng lại làm như thế? Nếu chàng có mệnh hệ gì, vậy chàng bảo thiếp... bảo thiếp phải làm sao?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Việc đó đã qua lâu rồi".



    Hà Y nói: "Vô Phong, chúng ta không ở lại chốn này nữa, chúng ta về nhà, được không?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Chúng ta phải chôn... chôn cất xong cho bọn họ rồi đi".



    Trên đỉnh núi giờ có thêm một ngôi mộ nho nhỏ. Bọn họ đã an táng cho Mộ Dung Tuệ và đứa bé sơ sinh trên đỉnh ngọn núi Ngô Phong nhảy xuống năm xưa.



    Lúc làm xong mọi việc cũng là lúc bóng tịch dương chỉ còn lưu lại vài ánh chiều tà dịu dàng trải lên đỉnh mộ.



    Cố Thập Tam lặng lẽ đứng sau lưng bọn họ.



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Bọn đệ chuẩn bị xuống núi bây giờ. Huynh có đi cùng bọn đệ không?".



    Cố Thập Tam nói: "Việc của đệ đã xong rồi nhưng việc của ta vẫn chưa".



    Mộ Dung Vô Phong hơi sững người, nói: "Lẽ nào huynh thật sự muốn báo thù cho sư phụ mình".



    Cố Thập Tam gật đầu.



    Hà Y nghĩ ngợi rồi nói: "Muội đã thấy ông ta ra tay, cũng từng xem huynh ra tay rồi. Thứ cho muội nói thẳng, huynh không phải đối thủ của Lục Tiệm Phong. Nếu như hai người chúng ta liên thủ, có lẽ còn có được một tia hy vọng".



    Mộ Dung Vô Phong lãnh đạm nói: "Hà Y, ở đây không có chuyện của nàng".



    Chàng quay đầu sang, nói với Cố Thập Tam: "Chuyện của kiếm khách bọn huynh, đệ không hiểu, nhưng chết dưới tay kẻ ấy quả thật không đáng. Huống chi bọn họ sớm đã đi rồi".



    Cố Thập Tam kinh ngạc hỏi: "Đi rồi?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Bọn họ luôn muốn đi Thiên Trúc, có lẽ bây giờ đã tới nơi rồi".



    Cố Thập Tam hỏi: "Sao có thể tới nhanh thế được?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Đường lên thiên đàng trước giờ luôn rất nhanh".



    Cố Thập Tam ngây ra nhìn chàng, hồi lâu sau mới lên tiếng: "Đệ đã nghĩ cách giết được bọn họ rồi sao?''.



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Người bị hại chết là phụ thân đệ, muốn báo thù cũng phải đến phiên đệ trước".



    Cố Thập Tam không nhịn được hỏi: "Đệ? Đệ cũng có thể giết người?".



    Mộ Dung Vô Phong lãnh đạm nói: "Trong lúc phẫn nộ, ai cũng có thể giết người. Đệ cũng không phải ngoại lệ".



    Cố Thập Tam nói: "Đệ dùng cách gì giết được bọn họ?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Dùng cách mà sau này đệ vĩnh viễn không thể dùng lại được nữa. Việc này coi như đã kết thúc rồi".



    Hà Y nói: "Thiếp còn cho rằng chàng đã tha thứ cho bọn họ rồi".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Ta không tha thứ cho ai hết".



    Trên đường quay về, Mộ Dung Vô Phong tựa như biến thành một người khác, chàng một mực cúi đầu trầm tư, cũng rất ít trò chuyện cùng Hà Y.



    Bởi vì vừa rồi lên giường băng bị lạnh, vết thương ở chân chàng lại phát tác kịch liệt nhưng chàng đã sớm quen với việc lặng lẽ chịu đựng loại đau đớn này, chỉ ngã xuống một bên mà co giật nhưng thần thái thì cứ như mình là người ngoài cuộc.



    Về tới Tiểu Giang Nam, mọi người ai cũng sức cùng lực kiệt, lập tức leo lên giường ngủ trọn một ngày.



    Hà Y đã học được sự trầm mặc, cũng không truy hỏi cặn kẽ điều gì nữa. Mộ Dung Vô Phong thì trầm mặc tới đáng sợ. Nàng cảm thấy sắp có chuyện gì đó xảy ra.



    Sáng ngày thứ hai, hai người vừa ăn xong cơm sáng, nàng đang định thu dọn bát đũa, Mộ Dung Vô Phong chợt gọi nàng lại.



    "Hà Y..."



    Nàng cười hỏi: "Việc gì thế?".



    Mộ Dung Vô Phong lãnh đạm nói: "Ta thỉnh cầu nàng, xin nàng hãy rời xa ta".



    Hà Y kinh ngạc hỏi: "Tại sao?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Ta nợ nàng quá nhiều, từ nay về sau cũng chỉ có thể càng làm khổ nàng. Huống chi ta chẳng thể cho nàng cái gì, đến đứa con mà nàng luôn mong có nhất cũng... cũng không thể cho nàng".



    Lúc chàng nói câu này, giọng nói nghẹn ngào nhưng trong đó lại như có sự giải thoát, dường như đã suy nghĩ rất lâu, cuối cùng cũng nói ra được điều mình muốn nói.



    Hà Y run giọng phủ định: "Không! Thiếp không đi!".



    Mộ Dung Vô Phong nhìn nàng, trầm mặc rất lâu mới nói tiếp: "Ta là một phế nhân, nàng sống cùng với ta chẳng có lấy điều gì tốt đẹp. Ta nhìn nàng cả ngày vì ta mà lo trước lo sau, trong lòng... trong lòng vô cùng áy náy. Nàng là một người vui vẻ, xứng đáng có được một cuộc sống thoải mái hơn nữa. Không nên vì chăm sóc ta mà chôn đi nửa đời còn lại của mình".



    Rồi không để nàng đáp lời, chàng nói tiếp: "Nàng vốn nghĩ thoáng hơn ta, những việc vừa rồi... những việc không vui, những việc phiền não khi ở với ta nàng sẽ nhanh chóng quên được thôi. Ta xin nàng hãy quên ta đi".



    Hà Y nói: "Thiếp sống cùng chàng rất hạnh phúc không phiền não chút nào".



    Chàng nhìn nàng, thần sắc thê lương, trong mắt ánh lên vẻ cầu khẩn.



    Hà Y chợt cười nói: "Chỉ khi thiếp rời xa chàng, chàng mới có thể dễ chịu, đúng không?".



    Mộ Dung Vô Phong cúi xuống, một lúc sau thì gật đầu.



    "Chàng thấy thiếp cả ngày phải chăm sóc chàng, cảm thấy thiếp dường như đang phải chịu tội, bèn đau lòng, cảm thấy bản thân mình không phải một nam nhân tốt, một người chồng xứng đáng, đúng không?"



    Mộ Dung Vô Phong im lặng.



    Hà Y nói: "Chàng không cần lo, đương nhiên thiếp có thể rời xa chàng. Bất kể thế nào, thiếp cũng không thể để chàng khó chịu".



    Nàng đứng lên, đi lấy bọc hành lý của mình tới, mở ra, rồi tới tủ quần áo bắt đầu thu dọn từng bộ y phục của mình xếp vào.



    Mộ Dung Vô Phong nhìn thấy bộ y phục Hà Y mặc lần đầu tiên hai người gặp mặt, liền nói: "Bộ y phục này có thể tặng cho ta không?".



    Hà Y cầm bộ y phục ấy gấp gọn lại rồi đặt vào bọc hành lý.



    "Đã muốn quên thì nhất định phải quên bằng hết mới được."



    Chàng cười khổ: "Ta chỉ xin nàng quên ta đi. Ta vĩnh viễn cũng không quên nàng".



    Hà Y nói: "Không được nói như thế. Chúng ta phải quên nhau đi mới có thể cùng cảm thấy dễ chịu".



    Mộ Dung Vô Phong lặng lẽ nhìn nàng thu dọn đồ đạc của mình. Đồ đạc của Hà Y không nhiều, thoáng chốc đã đóng gói gọn gàng.



    Chàng trầm ngâm một lúc: "Ngân phiếu nàng cùng đem theo hết đi. Ta là đại phu, kiếm tiền ở đây rất dễ. Bao giờ nàng dùng hết tiền, có thể đem chiếc nhẫn ta tặng nàng tới cửa hiệu của hai tiền trang ta nói với nàng mà rút tiền. Một lần có thể rút tối đa năm nghìn lượng bạc. Nàng chỉ cần ký tên của mình lên là được".



    Hà Y nhạt giọng nói: "Nhẫn thiếp sẽ cầm đi, ngân phiếu thì chúng ta mỗi người một nửa. Tuy chàng có thể kiếm được tiền nhưng trước khi sức khỏe hoàn toàn hồi phục thì vẫn không nên làm việc quá sức mới được".



    Chàng nhìn nàng, lòng đau như muốn rách, run giọng nói: "Nàng không cần lo cho la, ta tự mình có thể sống rất tốt. Từ trước tới nay ta đều có thể tự chăm sóc bản thân".



    Hà Y cười: "Không sai. Chàng sống trong Trúc Ngô viện, vốn cũng là sống một mình".



    Mộ Dung Vô Phong cũng cười, cố gắng làm ra vẻ nhẹ nhõm, nói: "Ta cũng không lo cho nàng. Nàng võ công cao cường như thế, bất kể gặp phải kẻ nào, thì kẻ ấy mới phải lo lắng, tuyệt đối không phải là nàng".



    Chàng lấy một cái hộp nhỏ trong ngăn kéo bàn, rồi lấy trong đó ra một cái lọ gỗ màu đen, đưa cho nàng, nói: "Nếu như có một ngày, có nam nhân nào đó vừa ý nàng, nàng muốn gả cho hắn thì trước ngày đại hỷ một ngày, đừng quên uống một viên thuốc này vào, ít nhất tân lang sẽ tưởng rằng... tưởng rằng... nàng chưa từng bị nam nhân khác chạm đến".



    Chàng ngừng một lát rồi nói tiếp: "Đương nhiên, ta biết dối trá không phải việc tốt lành gì. Nhưng dối trá để cho mọi chuyện được yên ổn còn hơn nói thật mà gây nên thị phi, có đúng không?".



    Hà Y nhận lấy cái lọ gỗ, khẽ nói: "Vô Phong, loại thuốc này nhất định sẽ bán rất chạy, chàng hoàn toàn có thể đem bán trên thị trường đấy!".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Ta không muốn làm tội đồ của đạo đức, cũng không muốn phải ngồi đại lao".



    Hà Y khoác bọc hành lý lên vai, giắt Ngư Lân Tử Kim kiếm lên lưng, nói: "Vậy thì... xin từ biệt!".



    Trong lòng Mộ Dung Vô Phong đau đớn, gần như không chịu đựng nổi, run giọng nói: "Hà Y, nàng sẽ... nàng sẽ đi đâu?".



    Hà Y gãi gãi đầu, nghĩ ngợi một lát rồi nói: "Thọ Ninh".



    "Thọ Ninh?", đứng hơi ngẩn ra, từ trước tới giờ Hà Y chưa từng nhắc tới nơi này, đó là một huyện nhỏ thuộc tỉnh Phúc Kiên, cách chỗ này hơn ba nghìn dặm.



    Khẩu âm của Hà Y giọng nam giọng bắc đều có thể nói được, nàng có thể nói cả bảy tám loại phương ngữ, dù là khẩu âm đất Thục của Mộ Dung Vô Phong, nàng cũng chỉ cần chưa tới một tháng là có thể nói lưu loát tám chín phần mười rồi.



    "Ừm, nơi đó đại khái là quê của thiếp... Con của chúng ta cũng chôn ở đó. Lâu lắm rồi thiếp chưa tới thăm nó", nàng nhạt giọng nói.



    Mộ Dung Vô Phong gật đầu, nói: "Một ngày nào đó, khi nàng đã có cuộc sống ổn định, muốn ra ngoài chu du, dọc đường mà qua chỗ ta, đừng quên ghé vào thăm ta nhé".



    Hà Y cười, vỗ vai chàng, nói: "Chàng không định về Vân Mộng cốc sao?".



    "Ừm. Ta thích nơi này. Đây vốn cũng là nơi ta sinh ra", chàng từ tốn nói.



    Hà Y nhìn chàng, chợt ngồi xuống, nắm lấy tay chàng, chăm chú nhìn vào đôi mắt chàng nói: "Vô Phong, thiếp muốn chàng nhận lời với thiếp một chuyện".



    Chàng cũng chăm chú nhìn nàng, hỏi: "Là chuyện gì?"



    Hà Y nói: "Chàng phải gắng sức sống cho thật tốt, vĩnh viễn không dược nghĩ tới chữ 'chết' ấy".



    Mộ Dung Vô Phong im lặng, một lúc lâu sau mới nghiến răng, cố gắng đè nén nỗi thương cảm và tuyệt vọng đang dâng lên trong lòng, gật đầu: "Ta nhận lời với nàng".



    Hà Y nói: "Vậy... tạm biệt, chàng cẩn thận giữ gìn", nói xong nàng quay người định đi.



    Chàng vội vàng đẩy bánh xe, nói: "Để ta tiễn nàng".



    Hà Y ngăn chàng lại, nói: "Không cần, thiếp không thích đưa tiễn".



    Nói rồi thân hình khẽ phiêu động, thoáng cái đã không thấy đâu nữa.



    Mộ Dung Vô Phong đuổi theo ra tới cửa, muốn nhìn bóng dáng nàng thêm một lần nhưng chỉ thấy ánh nắng rạng rỡ tĩnh lặng trải trên con đường hiu quạnh xa tít tắp.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 38





    Chàng trở vào trong phòng, bắt đầu lục tìm bất cứ thứ đồ gì của nàng lưu lại, nhưng lúc đi hình như nàng đã đem theo tất cả những gì thuộc về nàng, chỉ còn lại mấy sợi tóc dài vương trên gối là còn mang theo mùi hương thân thể nàng... Chàng cẩn thận từng li từng tí, gói chúng vào khăn tay.



    Đây là thứ nàng lưu lại, thứ duy nhất thuộc về nàng còn lại nơi đây.



    Chàng đi vào nhà bếp, căn bếp đã được dọn dẹp sạch bong, trong cái vò sứ Thanh Hoa còn có mấy chùm tỏi, mấy củ gừng khô. Chai lọ, bình vại rất nhiều, cái nào cái nấy đều bóng loáng không chút bụi, cứ như chỉ vừa mới được mua về. Vì bệnh ưa sạch của chàng, chính nàng cũng dần dần biến thành một người ưa sạch.



    Chàng một mình dạo quanh viện, buồn bã tới mức muốn điên lên.



    "Ta đã làm đúng, làm thế tuy nàng sẽ buồn nhưng đối với nàng thế mới tốt", chàng tự nói với bản thân.



    "Từ trước tới giờ Hà Y là một người nghĩ rất thoáng, cái gì cũng không thể trói buộc nàng. Nàng nhất định có thể dần quên ta."



    "Ta vốn là một kẻ tàn phế, vốn không nên vướng bận nàng quá nhiều."



    "Nếu ngươi đã yêu một người thì không được ích kỷ, phải thời thời khắc khắc nghĩ cho hạnh phúc lâu dài của người ấy."



    Cứ như thế, chàng có thể nghĩ ra cả ngàn lý do chứng minh bản thân mình đã làm đúng. Nhưng chàng lại không sao hiểu được, bởi lẽ gì mà chàng trở nên mềm yếu như thế, đột nhiên lại không làm sao rời được người con gái ấy.



    Ra khỏi cửa, đi về bên phải không xa là một quán rượu nhỏ. Chàng mua ba vò rượu lớn rồi quay về phòng mình, một chén rồi lại một chén dốc xuống, cho tới khi bản thân say khướt thì thôi.



    Chàng say túy lúy tới mức ngã gục xuống đất rồi cũng lười chẳng buồn bò dậy, liền nằm luôn đấy ngủ qua một đêm.



    Tới nửa đêm, chàng rút trong người ra một con dao nhỏ, điên cuồng muốn tự kết liễu bản thân, nhưng rồi bên tai lại văng vẳng giọng Hà Y.



    "Chàng phải gắng sức sống cho thật tốt, vĩnh viễn không được nghĩ tới chữ 'chết' ấy!"



    Chàng chăm chú nhìn ánh thép sắc lạnh của con dao trong tay rất lâu rồi lại dúi nó xuống dưới gối.



    Lúc tắm rửa, nhìn thân thể tàn phế của mình, chàng chỉ cảm thấy đầu óc choáng váng, nghĩ không ra vì sao Hà Y vẫn có thể chẳng màng tất cả mà yêu thương mình, nghĩ không ra lúc giúp mình tắm rửa, thay thuốc, nàng làm thế nào mà đối mặt được với những vết thương đáng sợ thế này.



    Hình như nàng cũng giống bản thân mình, đang chìm đắm vào tình ái nồng nhiệt mà đánh mất đi lý trí.



    Tới khi những nồng nhiệt qua đi, còn lại sẽ chỉ là sự chịu đựng dai dẳng, những lo âu vô hạn, và nỗi vất vả khôn cùng mà chẳng có lấy nổi dù chỉ một chút niềm vui đáng kể.



    Hãy còn may, chàng đã chấm dứt tất cả trước khi ái tình biến thành vô vị!



    Ngày hôm sau, chàng tỉnh lại từ cơn say bí tỉ, ánh mặt trời nhức mắt rọi qua song cửa sổ, chiếu thẳng lên mặt chàng.



    Chàng chỉ đành lồm cồm bò dậy, trèo lên xe lăn, thay một bộ y phục sạch sẽ khác rồi dọn dẹp những thứ mình nôn ra.



    Chàng mở toang cửa sổ để mùi rượu nồng nặc trong phòng tan đi rồi gom lấy chút tinh thần, đi tới nhà bếp rán cho mình hai quả trứng gà.



    Chàng cắn chặt răng, đem bi thương chôn thật sâu tận đáy lòng.



    Sống tiếp, chỉ cần vẫn còn sống thì phải tiếp tục sống?



    Mà đã muốn tiếp tục sống thì đương nhiên phải nghĩ xem bản thân nên sống thế nào!



    Tuy là có tiền nhưng chàng trước giờ vốn chẳng phải loại người chỉ biết ngủ trên đống tiền. Chàng không có chân nhưng vẫn còn đôi tay này, cũng xem như chưa phải một phế nhân hoàn toàn.



    "Tất cả những thứ ông Trời cho ta, ta đều dùng hết rồi. Cũng xem như không uổng phí một chuyến ngao du nơi cõi người này", chàng thầm nhủ với bản thân.



    Thế rồi chàng tìm bút mực, rồi lại kiếm một tấm gỗ to, để lên đó bốn chữ lớn: "Lâm thị y quán", sau đó treo lên cạnh cửa lớn nhà mình.



    Lúc chàng treo tấm biển gỗ ấy lên, vừa khéo có người đi qua, người này kéo chàng bảo: "Tiên sinh, ngài điên rồi chăng? Trong trấn đã có y quán lớn nhất cả một dải đất này, lão tiên sinh nơi ấy họ Diệp, danh vang khắp miền Tây Bắc, xưng tụng là `Tái ngoại y tiên`. Ngài treo tấm biển này lên, há chẳng phải có ý muốn cướp miếng ăn của lão nhân gia sao?".



    Mộ Dung Vô Phong sững người, hỏi: "Có phải là Diệp Sĩ Viễn tiên sinh, người viết cuốn Diệp thị mạch độc không?".



    Người kia đáp: "Không sai. Người làm dưới tay lão tiên sinh cũng có cả đống, nhưng tính tình lão tiên sinh kỳ quái cho tới nay vẫn chưa thu nhận một đệ tử nào".



    Mộ Dung Vô Phong cười khổ, hỏi: "Thế là vì làm sao?".



    "Lão nhân gia thường nói, nếu học trò mà thông minh bằng sư phụ thì dù có học rồi, cũng chỉ có được một nửa thành tựu của sư phụ mà thôi. Chỉ có người học trò thông minh hơn cả sư phụ mới đáng để truyền dạy. Cho tới bây giờ lão nhân gia vẫn chưa tìm được một học trò nào thông minh hơn mình, cho nên người theo ông ấy học y thuật không ít nhưng chẳng có một ai được hành lễ bái sư."



    Mộ Dung Vô Phong hỏi: "Đó vốn là thiền lý của người xuất gia, người hành nghề y cũng không nhất thiết phải kỹ càng thế chứ?".



    Người qua đường kia đáp: "Nếu ngài nói với ông ấy như thế, lão nhân gia sẽ trợn mắt nói ngài thô tục".



    Mộ Dung Vô Phong bật cười, vẫn cứ tiếp tục đóng đinh treo tấm biển gỗ lên.



    Rất lâu rồi chàng không cười như thế.



    Người qua đường kia nhìn chàng một lượt hỏi: "Ngài chính là vị `Lâm thị` này?".



    Chàng gật đầu đáp: "Ừm".



    Người kia hỏi: "Bộ dạng ngài thế này mà cũng là đại phu?".



    Chàng xoay người lại, nhìn người kia chằm chằm, dáng vẻ hung dữ hỏi: "Ta như thế này thì làm sao?".



    Người kia sững ra, nói: "Tấm biển này dù có muốn treo cũng phải treo cao lên một chút".



    Hiện Mộ Dung Vô Phong vẫn rất khó đứng lên, liền nói: "Tôi chỉ treo cao đến thế thôi".



    Người kia hỏi: "Lẽ nào ngài muốn để bệnh nhân phải cúi gập xuống nhìn biển hiệu của mình?".



    Chàng đáp: "Trị được bệnh, có phải khom lưng xuống cũng có gì đáng sợ?".



    Người kia nói: "Tôi có thể giúp ngài treo biển lên nóc cửa".



    Mộ Dung Vô Phong đáp: "Tấm biển gỗ này treo đây được rồi".



    Người kia thở dài nói: "Thôi được rồi, tôi xem tiên sinh ngài không phải người ở đây, làm ăn cũng chẳng dễ dàng gì, tôi có một cô em gái đang bệnh, ngày mai sẽ đưa tới chỗ ngài khám".



    Mộ Dung Vô Phong hỏi: "Sao ông không đưa cô ấy tới chỗ Diệp tiên sinh?".



    Người kia đáp: "Đưa đến chỗ ông ấy, riêng tiền khám một lần đã tốn ba lượng rồi".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Tiền khám chỗ tôi là mười lượng một lần".



    "Lão huynh điên rồi à? Bệnh nhân đầu tiên cũng nên nhẹ tay một chút chứ!"



    "Chính là giá ấy, không có bớt đâu. Muốn thì ngày mai đưa cô ấy tới, không thì tùy ông".



    "Tên của ngài là?", người kia hỏi.



    "Lâm Xử Hòa", chàng lãnh đạm nói: "Cũng chính là ý sống chan hòa với người khác".



    Miệng người kia như sắp lệch đi rồi.



    Sau khi treo biển hiệu lên, chàng liền tới tìm chủ nhà ở kế bên. Thương lượng một lát chủ nhà liền đồng ý mỗi ngày người giúp việc của mình ra chợ mua thức ăn sẽ nhân tiện mua về cho chàng một phần, tất cả chi phí tính hết vào tiền nhà.



    Chàng biết ra khỏi cửa rẽ trái, đi thêm nửa dặm sẽ là một khu chợ rất lớn. Hà Y vẫn thường mua thức ăn ở đấy. Khu chợ đó là nơi đông đúc náo nhiệt nhất của trấn này, ngày nào cũng mở cửa từ lúc trời chưa sáng. Tiểu thương bốn phía ùn ùn kéo vào, tiếng người huyên náo, người đẩy xe thì đẩy xe, người dắt ngựa thì dắt ngựa, ngày nắng thì bụi đất mù mịt, ngày mưa thì bùn lầy ướt nhẹp.



    Cái chàng ghét nhất chính là ồn ào. Những nơi tạp nham ồn ả như thế chàng sẽ không bao giờ đặt chân tới.



    Ông chủ cho thuê nhà họ Vạn, mọi người thường hay gọi la Vạn viên ngoại, là một nam nhân vừa cao vừa béo, râu ria đầy mặt. Giọng nói ông ta rất vang, tính tình cực kỳ hào sảng.



    "Hay là ngài có cần vài đứa nha hoàn chăng? Tôi có thể đi mua giúp ngài, tiểu cô nương mười hai tuổi, ngoài chợ cùng lắm là ba lượng bạc một đứa."



    Mộ Dung Vô Phong nhíu mày, người này rõ ràng đang nói về một người sống, vậy mà khẩu khí cứ như đang bàn về một con ngựa.



    "Tôi không cần nha hoàn nhưng muốn mua một con lạc đà", chàng nói.



    Chàng bỗng nhiên nghĩ, nếu mình muốn ra ngoài, có lạc đà cưỡi thì khá là tiện.



    Con đường lát đá xanh ở đây tuy miễn cưỡng thì vẫn có thể đi xe lăn nhưng đằng trước đằng sau đâu đâu cũng là cống rãnh, lên dốc xuống dốc. Mà kể có là cưỡi lạc đà, những nơi chàng có thể tới vẫn rất hạn chế.



    "Lạc đà thì đắt đây. Loại hảo hạng chỉ sợ cũng phải ba mươi lượng bạc. Tôi sẽ nhờ người sành sỏi giúp ngài chọn một con, ngài có thể nuôi nó trong chuồng ngựa của tôi, lúc cần dùng thì cứ dắt ra là được", Vạn viên ngoại nhìn bộ dạng yếu ớt của chàng, nói với vẻ cảm thông.



    "Cứ như ngài nói đi, đây là ba mươi lượng bạc. Đa tạ ngài", chàng đưa ngân phiếu qua rồi cáo từ rời đi.



    Ông chủ Vạn quả nhiên nói được làm được, gần tới trưa thì phái người đưa tới thức ăn chàng nhờ mua ngày hôm đó, còn thông báo là lạc đà đã mua xong.



    Chàng tới nhà bếp vật lộn hồi lâu, đánh vỡ mất hai cái bát nhỏ, cuối cùng cũng làm cho mình được một đĩa thức ăn mùi vị không tệ.



    Cũng may trước đây lúc chàng và Hà Y bị kẹt trong sơn thôn, chàng đã từng nấu cơm gần mười ngày, lúc gặp khó khăn cũng rất thật thà thỉnh giáo Tân đại nương, có chút công phu đó làm nền tảng, rốt cuộc lúc chàng thổi lửa nấu cơm cũng không đến nỗi làm cháy lông mày mình, lúc băm gừng cũng không cắt phải tay mình, lúc xào nấu thức ăn cũng không để dầu bắn ra làm bỏng mặt mình.



    Lúc này chàng mới phát hiện, thì ra làm những việc ấy không hề khó, chỉ là hồi ở Trúc Ngô viện chàng chưa từng có cơ hội thử làm mà thôi.



    Tiếp đến chàng định ra giếng múc nước, giặt quần áo buổi sáng thay ra.



    Ròng rọc kéo nước trên giếng lắc lư hơn xa chàng tưởng tượng. Lúc nó lắc lư thì buộc phải đồng thời dùng sức hai tay mà giữ lấy, nhưng hai tay chàng mà rời tay vịn của xe lăn thì thân người sẽ rất khó ngồi vững được, chỉ có thể dựa chặt lên lưng ghế mà thôi. Thùng nước kia cứ đánh qua đánh lại trong giếng, rất nặng nề, khó khăn lắm mới kéo lên khỏi miệng giếng. Chàng cúi người đón lấy cái thùng, cảm thấy dùng một tay thì sẽ không sao xách nổi, chàng trầy trật lắm mới vươn nốt tay kia lên được, nhưng lại không để ý tuột mất tay này khỏi dây ròng rọc, thùng nước liền tuột đi. Chàng lập tức níu lấy sợi dây nhưng không đủ sức, chỉ đành buông ra, thùng nước lại cứ thế rơi trở lại giếng. Cứ như thế ba lần, chàng thử bảy tám tư thế cẩn thận tính toán thăng bằng, cuối cùng mới kéo được thùng nước ra khỏi miệng giếng, hai tay đang giữ lấy thì lưng lại chợt mềm nhũn, tay chợt buông lỏng, thế là cả thùng nước dội thẳng vào người, khiến chàng ướt sũng.



    Đầu xuân, nước trong giếng cũng không quá lạnh, nhưng tưới lên người vẫn khiến chàng rùng mình, run lên cầm cập.



    Chàng chỉ đành quay vào phòng cởi đồ ướt ra, thay một bộ y phục khô ráo trắng tinh. Tấm đệm ngồi trên xe lăn cũng đã ướt nhẹp, chàng đành phải lấy ra, đặt gần lò sưởi để hong khô.



    Hơ xong một mặt chàng đảo mặt kia qua rồi chợt sững người.



    Một góc của tấm đệm có thêu hai hình đầu người nho nhỏ bằng chỉ đỏ.



    Đường thêu vụng về, đường chỉ xiên xiên xẹo xẹo, nhìn một cái liền biết, đây chính là tác phẩm của Hà Y.



    Cái đầu bên trái, trên đỉnh đầu còn thêu thêm mấy sợi dài, đại khái là tóc, bên cạnh còn thêu hai chữ "Hà Y". Cái đầu bên phải, trên đầu không thêu tóc dài, nhưng thêu một cái búi tóc tròn tròn, bên cạnh thêu hai chữ "Vô Phong" Hai cái đầu dụi sát vào nhau, khuôn mặt tươi cười, bộ dạng rất vui vẻ hớn hở.



    Chàng nhìn chăm chú vào hai hình thêu đơn giản mà vui tươi, trong mắt thấy cay cay.



    Từ trước tới giờ nàng không sao viết chữ "Vô" cho ra dáng được, bởi vì nét chữ quá nhiều nên viết ra phải béo gấp đôi chữ "Phong". Nàng vốn cũng không viết cho ổn thỏa được chữ "Mộ", viết ra rồi thì phải dài gấp đôi gấp ba chữ còn lại.



    Nàng còn nói, đứa con đã chết của hai người, tên của nó là "Mộ Dung Đinh Nhất". Tuy hai chữ đầu lằng nhằng nhiều nét phức tạp là không thể tránh được, nhưng rốt cuộc hai chữ phía sau viết ra cũng đơn giản hơn khối rồi.



    Chàng còn nhớ lúc ấy mình bật cười hỏi: "Sao nàng không dứt khoát gọi nó là 'Mộ Dung Nhất' luôn cho gọn?".



    "Việc này... hình như không được ổn lắm? Nó tên là 'Mộ Dung Nhất', vậy chẳng nhẽ gọi đứa thứ hai là 'Mộ Dung Nhị'? Thiếp nghe cứ thấy sao sao ấy?"



    Mộ Dung Vô Phong ngắm nhìn những hình thêu ấy, mắt nhòa đi. Chàng chợt cảm thấy mình sai rồi. Hai người bọn họ ở với nhau đích xác là có rất nhiều lúc vui vẻ. Bây giờ nhớ lại, niềm hạnh phúc Hà Y cho chàng mới hai năm nay còn vượt xa niềm vui hai mươi mấy năm cuộc đời chàng cộng lại.



    Nhưng, liệu Hà Y cũng được vui vẻ chăng?



    Thân thế của nàng so với chàng còn thê lương hơn, tuy luôn mang dáng vẻ tràn đầy sức sống nhưng chính bản thân chàng cũng không biết được, cuối cùng nàng có thực sự vui vẻ hay không.



    Có! Nàng có hạnh phúc!



    Nếu không nàng đã chẳng thêu thế này, hy vọng bọn họ vĩnh viễn hạnh phúc cùng nhau.



    Nếu hai người đều cùng vui vẻ, sao lại không thể ở cùng một chỗ? Sao còn phải nghĩ nhiều như thế?



    "Người đọc sách cứ thường bị cảm giác cao thượng chi phối, thân mình có chút lý lẽ thì cứ muốn làm thánh nhân. Những người thô lỗ không chịu đọc sách như bọn thiếp cuối cùng lại phải chịu bị bọn chàng hành hạ", từng có lúc Hà Y đã nói như thế.



    Chàng cười khổ, không thể không thừa nhận, lời nàng có lúc cũng thật chuẩn.



    Chàng sai rồi! Đơn giản là sai đến mức hồ đồ!



    Nghĩ tới đây, chàng vươn người dậy, ra ngoài cửa, đem theo xe lăn, cưỡi lạc đà, men theo cửa hiệu, quán rượu khách điếm dọc phố hỏi từng nhà từng nhà một.



    "Xin hỏi vị đại ca này, ngày hôm qua có từng nhìn thấy một cô gái nhỏ nhắn mặc đồ màu tím nhạt không? Trên lưng cô ấy khoác một bọc hành lý màu đỏ, eo giắt một thanh kiếm màu tía?"



    "Cô gái nhỏ người à? Không có."



    Chàng lại lăn bánh xe, dưới ánh mắt chăm chăm của đám đông rời đi, tới bên chân lạc đà vỗ nhè nhẹ. Lạc đà quỳ xuống, một tay chàng vịn xe lăn, tay kia níu lấy bướu lạc đà, gồng sức vươn người lên yên, sau đó treo xe lăn lên một cái móc móc vào yên, xong việc lại vỗ lưng lạc đà, con lạc đà từ từ đứng dậy rồi tiếp tục thong thả đi về phía trước.



    Tới một nhà khác, chàng lại lặp lại quy trình phức tạp gian nan ấy một lượt nữa, đi vào từng cửa hàng cửa tiệm, hỏi cùng một câu hỏi, đợi người ta lắc đầu trả lời "không thấy", rồi lại vòng ra leo lên lưng lạc đà, tiếp tục tiến lên phía trước.



    Chàng tự biết bộ dạng mình thật không bình thường, rất nhiều người trên đường chú ý tới chàng, có những người khoanh tay đứng hẳn sang một bên, không e dè gì, theo dõi chàng từ đầu tới cuối.



    Đây là giang hồ, không phải Vân Mộng cốc, chàng chỉ có thể cố chịu đựng những ánh mắt hiếu kỳ ấy.



    Trông thấy bên đường có mấy tiệm nhỏ bán Khách Ngõa Phù, chàng cũng ngồi trên lạc đà cúi người xuống hỏi thăm.



    Hà Y tới nơi đây, thứ thích ăn nhất chính là thịt dê xiên nướng. Với lại trước giờ nếu tâm tình nàng càng không tốt, ăn sẽ càng nhiều.



    Nhưng ông lão bán Khách Ngõa Phù lại cứ một mực lắc đầu: "Lão đây nướng thịt dê ở chỗ này đã mấy mười mấy năm, chưa từng gặp vị cô nương nào như thế".



    "Nói bừa, nói bừa rồi, lão đầu ông nướng thịt, khói cứ gọi là bay mù mịt, cho dù có một con gấu to đùng bò tới trước mặt, ông cũng chẳng thấy được nữa là!", người ở quầy hàng bên cạnh nói: "Công tử, người chớ tin lời ông ta. Tôi đã nhìn thấy cô gái công tử vừa nói. Cô ấy còn tới chỗ tôi mua bốn xiên Khách Ngõa Phù nữa cơ".



    Chàng vội hỏi: "Thật sao? Là lúc nào thế?".



    "Chiều tối qua."



    "Cô ấy có nói gì với huynh không?"



    "Chẳng nói chẳng rằng. Cô nương ấy trông mặt mày ủ rũ, mua xong đồ thì tiếp tục đi về phía trước rồi."



    "Đa tạ", chàng chán nản lấy một lượng bạc quẳng cho người kia.



    Chủ gánh hàng kia mừng rỡ ngoài mong đợi hỏi: "Công tử, ngài lấy mấy xiên?".



    "Tôi không ăn, anh lấy bán cho người khác đi", chàng vỗ vỗ lạc đà, không nản chí tiếp tục tiến về phía trước hỏi thăm từng nhà.



    Đoạn cuối con phố nối liền với một quan đạo dài tít táp vắt qua một thảo nguyên, thông tới một khu thành thị khác.



    Đoạn đường bắt đầu của quan đạo có một khách điếm không lớn không bé, cũng là cửa tiệm buôn bán cuối cùng trên con phố này.



    Tiểu nhị nói cho chàng, đích xác là có một vị cô nương như chàng tả vào khách sảnh gọi một bát trà sữa, còn hỏi thăm anh ta xem muốn đi về phía đông tới khu vực giáp biển thì đi như thế nào. Tiểu nhị liền chỉ cho nàng con đường quan đạo này. Nàng uống xong trà, trả tiền rồi đi luôn.



    Nghe thấy vậy, Mộ Dung Vô Phong chỉ đành kéo dây cương, như người mất hồn mà quay trở về nhà.



    Ánh nắng đầu xuân êm ái chiếu qua cửa sổ, ngoài song còn văng vẳng tiếng chim hót.



    Chàng đã sức cùng lực kiệt, ủ rũ nằm xuống giường, trong đầu là một khoảng trống rỗng.



    Thân thể chàng vốn yếu đuối, vừa rồi bị nước giếng tưới ướt, rồi lại thêm cả đêm qua rượu vào ngủ gục dưới đất bị nhiễm lanh, đến chiều thì toàn thân bắt đầu nóng bừng.



    Chàng định cắn răng xuống giường, tìm cho mình ít thuốc, nhưng đầu váng mắt hoa, cả người mềm nhũn đành nằm đơ trên giường, mê mê man man mà thiếp đi.



    Tới nửa đêm thì toàn thân chàng nóng rực, miệng lưỡi khô khốc muốn uống nước nhưng mí mắt nặng trĩu không mở ra nổi, vươn tay quờ quạng trên cái bàn cạnh giường một lát cũng chẳng sờ thấy bình nước đâu, chỉ đành tiếp tục gục đầu xuống mê man.



    Cũng không biết ngủ tới lúc nào, đột nhiên có người lay mạnh thân chàng. Chàng miễn cưỡng mở mắt ra, trời đi sáng từ lâu, một người trung niên mặc áo xanh đang đứng trước mặt chàng.



    Trong cơn mơ hồ, chàng hỏi: "Các hạ là ai? Sao lại chạy tới phòng tôi?''.



    Người kia nói: "Lâm đại phu, ngài không nhận ra tôi à? Tôi là người nói chuyện với ngài hôm qua lúc ngài treo biển hiệu đó. Tôi họ Phí, gọi là Phí Khiêm".



    Mộ Dung Vô Phong nhắm mắt lại, nói: "Bất kể là phí tiền hay không phí tiền[1], hôm nay tôi không khai trương".



    [1] Phí Kiêm và phí tiền trong tiếng Trung có cùng một âm đọc.



    Phí Khiêm kêu lên: "Này! Con người ngài sao nói rồi lại không giữ lời thế? Hôm qua rõ ràng ngài đã nhận lời khám bệnh cho muội muội tôi mà".



    Mặc kệ hắn khua môi múa mép, Mộ Dung Vô Phong hạ đầu xuống ngủ luôn, chẳng thèm để ý tới hắn nữa.



    "Bây giờ sắp chiều rồi! Sao ngài vẫn chưa xuống giường? Có loại đại phu lười biếng như ngài sao? Tôi đưa người bệnh từ xa xôi tới dễ dàng lắm hả? Họ Lâm kia, rốt cuộc hôm nay ngài có khám bệnh hay không?", Phí Khiêm tức mình đứng chống nạnh giạng chân bên giường Mộ Dung Vô Phong to mồm mắng mỏ.



    Giọng hắn to kinh người, hét tới mức Mộ Dung Vô Phong chẳng làm sao ngủ nổi.



    Bất chợt có một giọng nói khác rất nhỏ nhẹ, rất nho nhã cất lên: "Ca ca, chúng ta... hay là chúng ta về đi. Vị đại phu này... muội thấy hình như ốm rồi".



    "Ốm rồi? Nói linh tinh, bản thân hắn là đại phu, sao mà ốm được?"



    "Huynh xem người ta mặt mũi đỏ rực thế kia... chẳng phải đang... đang sốt hay sao?"



    Phí Khiêm đưa tay sờ trán Mộ Dung Vô Phong một cái, giật thót mình, nói: "Quả nhiên hắn ốm rồi".



    Nói rồi lay lay chàng, hỏi: "Này, ở đây ngài có thân thích nào không? Tôi sẽ giúp ngài gọi tới. Ngài ốm rồi, cứ phải có người chăm sóc vẫn hơn".



    Mộ Dung Vô Phong chẳng biết làm sao, chỉ đành mở mắt ra, trông thấy có một cô bé nhỏ nhắn đang đứng sau lưng Phí Khiêm, trên đầu còn đội một chiếc mũ lớn. Cô bé này mặt trái xoan, đường nét thanh tú, thân hình gần giống như Hà Y.



    Vừa nghĩ tới Hà Y, đầu chàng thoáng mê muội, lại khép mắt lại.



    Cô bé nói: "Ca ca, chúng ta về đi. Vị này hình như bệnh không nhẹ. Mấy hôm nữa chúng ta... chúng ta lại tới".



    Phí Khiêm không có cách nào khác, đang định quay người đi thì thấy Mộ Dung Vô Phong trở mình ngồi dậy.



    "Đại phu, ngài không sao chứ?'', Phí Khiêm dò hỏi.



    "Không sao, chỉ là chút phong hàn mà thôi", Mộ Dung Vô Phong bật ho vài tiếng, nói: "Xin lỗi, tôi chẳng cách nào xuống giường được. Làm phiền ông lấy một chiếc trường kỷ vào đây, bảo bệnh nhân ngồi trước mặt tôi".



    Phí Khiêm vội vàng bê ghế tới, nói: "Tiểu Mẫn, lại đây, mau ngồi xuống đây".



    Cô bé kia ngập ngừng do dự, mặt mũi ngượng nghịu tới đỏ bừng, gượng gạo đi tới rồi ngồi xuống ghế.



    Mộ Dung Vô Phong thờ ơ không chút biểu cảm, nhìn cô bé rồi nói với Phí Khiêm: "Làm phiền mang một chậu nước vào đây, tôi cần rửa tay".



    Chàng cẩn thận kỹ lưỡng rửa tay thật sạch rồi lấy khăn lau khô.



    "Năm nay bao nhiêu rồi?", chàng vừa bắt mạch, vừa hỏi.



    Cô bé rụt rè nói: "Mười lăm".



    "Bỏ mũ xuống đi", chàng lại nói.



    Khuôn mặt cô bé càng đỏ hơn, đầu cúi thấp, ngần ngừ hồi lâu mới kéo mũ xuống.



    Trên đầu cô bé toàn là ghẻ lở, không có lấy một cọng tóc.



    Chàng ngơ ngẩn nhìn những vết lở xấu xí, cái cao cái thấp ấy, không biết vì sao, tâm tư lại lâng lâng nhớ tới Hà Y.



    Mãi một lúc sau, chàng mới từ từ tỉnh táo trở lại, liền với một cái bút trên chiếc bàn bên cạnh, chấm lên chút chu sa rồi lần đưa tay sờ lên những vết lở trên đầu cô bé, từng cái từng cái một. Vừa sờ vừa hỏi:



    "Cái này đau không?"



    Nếu cô bé nói "Đau", chàng liền sờ lên cái tiếp theo. Nếu cô bé nói "Không đau nhưng ngứa", chàng sẽ dùng bút khoanh lại một vòng. Nếu cô bé nói "Không đau cũng không ngứa", chàng sẽ đánh dấu chéo. Trong đó có một chỗ, cô bé nói: "Vừa đau vừa ngứa", chàng liền khoanh lại rồi đánh thêm dấu chéo.



    Sau khi sờ xong hết những chỗ lở loét, chàng lại rửa tay thật kỹ rồi lấy bút mực, viết ra bốn đơn thuốc đánh dấu là Giáp, Ất, Bính, Đinh.



    Cô bé kia vội vàng đội mũ lên.



    Xong xuôi Mộ Dung Vô Phong nói: "Đem thuốc trong bốn phương thuốc này sao riêng ra thành cao. Chỗ khuyên tròn thì dùng Giáp, chỗ dấu chéo thì dùng Ất, vừa khuyên tròn vừa dấu chéo thì dùng Bính. Những chỗ còn lại dùng Đinh. Một ngày ba lần, cách một ngày lại dán cao. Trong vòng một tháng có thể khỏi hẳn".



    Phí Khiêm nói: "Trên đầu nó có bao nhiêu vết như thế, làm sao tôi nhớ được chỗ nào đau, chỗ nào ngứa?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Có tổng cộng hai mươi ba vết lở loét. Tôi sẽ vẽ lại cho ông", nói rồi chàng lấy giấy vẽ lại hình dáng đầu, ở từng vị trí lở loét cũng đánh dấu như trên.



    Chàng vẽ liền một hơi là xong xuôi, tựa như vị trí mỗi vết lở loét đều đã ghi nhớ kỹ trong đầu rồi.



    Phí Khiêm không nhịn được hỏi: "Liệu ngài có nhớ nhầm không? Có cần bảo nó bỏ mũ xuống kiểm tra lại một lượt không?".



    Mộ Dung Vô Phong lườm hắn một cái: "Tôi không nhớ nhầm được. Nếu ông muốn đếm lại thì về nhà mà đếm cũng chưa muộn".



    Phí Khiêm nghĩ một lát rồi hỏi: "Thuốc trong bốn đơn này, có đắt lắm không?".



    Mộ Dung Vô Phong hỏi: "Trong tay ông giờ có bao nhiêu tiền?".



    Phí Khiêm nói: "Hai mươi lượng. Mười lượng là phí khám bệnh, mười lượng mua thuốc. Chẳng giấu gì đại phu, bệnh này của tiểu muội tôi đã bị bảy tám năm nay rồi, tiền bỏ ra chữa chạy cứ tuôn đi như nước. Loại thuốc kỳ lạ hiếm có nào cũng thoa qua rồi, chẳng có chút tác dụng nào cả. Bộ dạng nó như thế, thật muốn gả củng chẳng gả cho ai được, của hồi môn cũng sớm đã bị tiêu sạch rồi. Bây giờ trong nhà chỉ còn lại chút tiền, thật không sao chịu nổi chi tiêu như thế. Nhưng, ài... cuối cùng vẫn là người có học mà. Ai bảo nó là tiểu muội của tôi cơ chứ".



    Mộ Dung Vô Phong nhìn Phí Khiêm một cái, cầm lại đơn thuốc, loạt xoạt vài nét gạch đi mấy loại thuốc, rồi lại thêm vào mấy vị, nói: "Cô bé là bệnh nhân đầu tiên của tôi, tiền khám miễn đi. Vị thuốc quý, chỉ cần không quá quan trọng tôi đã bỏ đi rồi, đổi thành vài vị khác rẻ hơn một chút. Tính ra, hai mươi lượng đại khái cũng đủ rồi".



    Phí Khiêm nhìn chàng, nói: "Trông ngài quả đúng là một đại phu cao minh. Trước đây mấy vị đại phu khác xem bệnh đều chỉ kê có một đơn thuốc".



    Mộ Dung Vô Phong cười nhạt nói: "Vết lở loét trên đầu cô bé đâu phải chỉ có một loại. Phải dùng các loại thuốc khác nhau chữa riêng mới được".



    Phí Khiêm cúi đầu nói: "Vậy xin đa tạ. Bây giờ bọn tôi sẽ đi mua thuốc, cáo từ".



    Truyền Hạnh đường.



    Phùng Lão Cửu tay cầm đơn thuốc, tay kia luân chuyển trên kệ thuốc lớn hình bát giác đầy ắp thuốc, chớp mắt đã lấy đủ phân lượng vị thuốc theo bốn đơn thuốc Phí Khiêm đưa cho.



    Đợi tới lúc đang bọc thuốc lại, ông ta đột nhiên dừng tay thắc mắc: "Lạ thật, phương thuốc này hình như không phải do Diệp lão tiên sinh kê!".



    Loại giấy Diệp lão tiên sinh hay dùng để kê đơn thuốc thống nhất dùng giấy Tố Vân Hoa Tiên, ở góc dưới bên phải còn có đóng ấn ba chữ "Truyền Hạnh đường".



    Trong vòng trăm dặm quanh đây cũng có tới mười mấy tiệm thuốc nhưng y quán thì chỉ có một nơi, chính là Truyền Hạnh đường của Diệp thị.



    Người một dải quanh đầy đều biết, thuốc, ở kho của Truyền Hạnh đường là đầy đủ nhất; đại phu, Diệp lão tiên sinh của Truyền Hạnh đường là tốt nhất.



    Ở Truyền Hạnh đường, trừ Diệp lão tiên sinh ra cũng chỉ còn hai vị đại phu ngồi khám bệnh trong y quan là có thể kê đơn, tuy nhiên bất kể hai người họ cần xin khẩn khoản thế nào, Diệp tiên sinh cũng kiên quyết không đồng ý thu nhận bọn họ làm học trò.



    Hai vị đại phu này, một vị họ Trương, một vị họ Cảnh, tuổi đều đã xấp xỉ bốn mươi.



    Giấy mà bọn họ dùng cũng là giấy Hoa Tiên chuyên dụng của Truyền Hạnh đường.



    Phí Khiêm cũng là khách thường xuyên của Truyền Hạnh đường. Mọi người đều biết hắn có một người em gái nhan sắc không tệ nhưng đầy đầu lở loét. Chỉ vì căn bệnh này của em gái, Phí Khiêm tới nơi đây bốc thuốc chưa phải một trăm thì cũng đã chín mươi lần rồi.



    Nhưng lần này, tờ đơn thuốc trong tay Phùng Lão Cửu chỉ là một tờ giấy Mai Hoa tùy tiện mua từ một tiệm bán giấy nào đó, chữ trên đó là Triệu thể được viết ngay ngắn mềm mại, bên dưới đề "Lâm Xử Hòa" ba chữ, cũng là một cái tên cực kỳ xa lạ.



    "Vị Lâm đại phu này là ai?", Phùng Lão Cửu không nhịn được hỏi.



    "Là một đại phu mới tới, vừa khai trương hôm nay", Phí Khiêm thật thà trả lời.



    "Vừa mới tới? Sao tôi chẳng nghe ai nói? Có ai tiến cử à?"



    Hành nghề đại phu đều phải có người trong nghề tiến cử thì mới có chỗ đứng chân. Người này vừa mới tới, cho dù không muốn chào hỏi đồng nghiệp thì chí ít cũng phải gửi tới một tấm thiếp thông báo một tiếng. Cứ thế ngang nhiên khai trương, há chẳng phải cố ý không thèm để Diệp lão tiên sinh vào mắt sao?



    "Tôi không biết, hình như không có", Phí Khiêm đáp.



    "Thế thì ngươi không đúng rồi", Phùng Lão Cửu nghiêm mặt nói: "Lẽ nào hắn nói hắn là đại phu thì hắn đúng là đại phu sao? Mấy năm nay những kẻ đi lừa gạt còn ít à? Bọn lang băm giang hồ hành nghề y là thô bỉ nhất, kê một đơn thuốc, ôm tiền vào tay là chạy, nào có quản tới sống chết của người bệnh? Ngươi xem phương thuốc này, đều là vị nặng. Lão đầu này đây bốc thuốc đã mấy chục năm cũng chưa từng nhìn thấy đơn thuốc nào mạnh thế này. Muội muội ngươi mới chỉ là một nha đầu mười ba, mười bốn tuổi, có chịu nổi không? Nếu như thoa vào rồi có mệnh hệ gì, thế thì phải làm sao?".



    Ông ta nói một hồi, làm Phí Khiêm cũng bị dọa sợ tới không dám mở miệng. Mãi một lúc sau mới ấp a ấp úng nói: "Không phải chứ? Xem ra hắn còn rất trẻ tuổi. Đại khái là mới hơn hai mươi. Phí khám bệnh lại đòi những mười lượng, không giống bọn lang băm giang hồ đâu!".



    "Cái gì? Mười lượng một lượt khám? Thế còn không phải muốn giết người sao? Diệp lão tiên sinh tuổi cao đức lớn, hành nghề đại phu đã mấy chục năm cũng chỉ mới thu ba lượng một lần khám thôi. Người trẻ tuổi muốn phát tài cũng không thể vội vàng đến thế chứ!", Phùng Lão Cửu cực kỳ bực bội, cảm thấy việc này là việc lớn, bèn cầm phương thuốc đi vào trong nhà, xin Diệp lão tiên sinh xem qua.



    Phí Khiêm chỉ đành đứng ngoài cửa đợi, tim đập không yên. Trong lòng thầm cảm thấy may mắn vì tên họ Lâm kia không hề thu phí khám bệnh, nếu không số bạc trắng phau kia lại chẳng phải là ném xuống sông xuống biển rồi sao?



    Một lúc sau, Diệp Sĩ Viễn từ trong nhà bước ra.



    Đó là một lão nhân dáng cao, mặt mũi đầy đặn, ánh mắt bức người, tay vuốt chòm râu, vừa gặp Phí Khiêm liền hỏi: "Phí huynh đệ, vị Lâm đại phu mà ngươi nói sống ở đâu?".



    "Vâng, việc này... hắn sống ở ngõ Xuyên Sơn Giáp, kế bên nhà Vạn viên ngoại", Phí Khiêm nói: "Bên cửa có treo một tấm bảng hiệu, viết là Lâm thị y quán".



    "Ừm, liệu có thể mời huynh đệ tới trước thông báo một tiếng, nói là có Diệp Sĩ Viễn ta muốn tới nhà thăm hỏi không?"



    Phùng Lão Cứu nghe thấy câu này không khỏi sững người. Thăm hỏi? Câu này có phải quá khách khí rồi không?



    "Điều này... điều này... hôm nay sợ không được tiện lắm. Hình như hắn đang bệnh rất nặng. Với lại... với lại chân của hắn cũng không được tiện cho lắm... hình như hắn chỉ có một chân, chân kia cũng không thể đi lại được", Phí Khiêm lắp bắp nói.



    "Ái chà!', Diệp Sĩ Viễn thầm giật mình.



    "Ngài ấy ở một mình, hay là cùng ở với người khác nữa? Có gia quyến gì không?"



    "Hắn ở một mình. Theo tôi thấy thì trong nhà không còn ai khác. Lúc bọn tôi đi khỏi, hắn còn đang mê man trên giường, hình như ốm đã lâu lắm rồi, cũng không ai chăm. Bộ dạng... đáng thương lắm."



    "Vậy ta càng muốn tới xem xem. Người đâu, chuẩn bị kiệu. Phùng Cửu, ngươi chỉ cần bốc thuốc theo đơn ấy đưa cho hắn là được. Vị Lâm Xử Hòa này có lẽ không phải là một đại phu bình thường đâu."
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 39





    Kiệu đi lòng vòng bảy tám lượt cuối cùng cũng dừng trước cửa Lâm thị y quán. Diệp Sĩ Viễn xuống kiệu, sai kiệu phu đợi bên ngoài, đích thân bước tới gõ cửa.



    Không có ai trả lời.



    Chẳng lẽ Lâm Xử Hòa ốm quá nặng? Hay là bất tỉnh nhân sự rồi?



    Cửa viện hoàn toàn không khóa, chỉ khép hờ, Diệp Sĩ Viễn chỉ đành đẩy cửa bước vào, phòng khách không có ai, sân viện tĩnh lặng, đang là giờ cơm trưa, vậy mà trong bếp củi lửa nguội ngắt, cảnh vật tuyền một vẻ tĩnh mịch.



    Ông ta đi vào phòng trong, lại gõ cửa, lần này thì nghe thấy bên trong vọng ra một giọng nói trầm thấp, kèm theo cơn ho kéo dài, hỏi: "Ai thế?".



    "Diệp Sĩ Viễn", ông ta đáp.



    “Là Diệp lão tiên sinh?", Mộ Dung Vô Phong đang trong giấc ngủ, đầu óc mơ màng, vừa nghe thấy cái tên ấy thì lập tức tỉnh táo trở lại, nói: "Xin đợi một chút, tôi... tôi lập tức ra đây".



    Chàng liền thay áo, ngồi lên xe lăn, ra ngoài mở cửa.



    Diệp Sĩ Viễn chỉ thấy một thanh niên mặt mũi xanh xao nhưng tướng mạo cực kỳ anh tuấn, dáng vẻ thanh tú, tay dài, eo thon, thân người ngay thẳng, ngồi trên một chiếc xe lăn tinh xảo. Có vẻ như người này rất sợ lạnh, đang lúc đầu xuân mà thân dưới vẫn đắp một tấm chăn lông.



    Diệp Sĩ Viễn cảm tạ ngồi xuống nhìn chàng hỏi: "Lâm tiên sinh không phải người phương bắc?".



    "Vâng, vốn chỉ là khách ngụ cư nơi đây, muốn kiếm chút tiền trả tiền thuê nhà mà thôi."



    "Nhân tài trung nguyên nhiều không kể xiết, lão phu sớm đã nghe qua. Vừa rồi được xem đơn thuốc của Lâm tiên sinh, cao minh, quả là cao minh, thật bội phục, bội phục."



    "Diệp thị mạch độc của Diệp tiên sinh, vãn sinh từng đọc đi đọc lại, quả đúng là tác phẩm lưu truyền hậu thế. Đặc biệt là quyển sáu, quyển bảy về mạch pháp là tinh túy nhất, thật khiến người ta tỉnh ngộ, hôm nay được gặp thật còn gì hân hạnh hơn! Xin mời ngồi, tôi đi pha trà."



    Chàng nói câu này, thật trúng lòng Diệp Sĩ Viễn, vốn hai chương ấy là có sáng tạo nhất, ông ta rất lấy làm đắc ý, ngay lập túc cảm thấy tâm đầu ý hợp.



    Chàng đẩy xe tới bên lư trà đỏ hồng, bỏ thêm mấy viên than thơm vào rồi đặt ấm trà lên, sau đó dùng nước sạch rửa hai chén trà.



    Diệp Sĩ Viễn nhìn chàng hơi cúi mình mà một tay cứ phải nắm chắc lấy tay vịn xe lăn, cử động cực kỳ bất tiện, trong lòng không khỏi thương cảm mà thở dài.



    "Vãn sinh nghe nói tiên sinh từ trước tới giờ hành nghề y ở một dải Tần Phượng, sao lại tới nơi này rồi?", Mộ Dung Vô Phong hỏi.



    "Ài, thời vận không tốt, số mệnh đa đoan. Đắc tội với quan phủ nên phải chạy tới nơi này. May là những người ờ đây đều là những kẻ từng đắc tội với quan phủ, nếu không phải là một vài chính khách sa cơ thì là dăm tay văn nhân thất ý. Đất này tuy hẻo lánh, lại là đất của phường man di nhưng lão phu lại như cá gặp nước, sống rất thoải mái. Lâm lão đệ quả thật tài cao, ngay đơn thuốc vừa rồi, lão phu nhìn một cái là biết, đó không phải thứ kẻ phàm nhân có thế làm đuọc Chỉ là lão đã ở nơi xa xôi này quá lâu, đối với sự tình trung nguyên càng ngày càng ít biết, xin hỏi lão đệ nhà ở vùng nào, quê quán nơi đâu?", Diệp Sĩ Viễn cười hỏi.



    Mộ Dung Vô Phong tinh tường các nhân vật trong ngành y, những người lợi hại dưới gầm trời này, đếm đi đếm lại cũng chỉ có mấy người. Mà ba chữ Lâm Xử Hòa này quả thật quá xa lạ, liền nói: "Vãn sinh nhà ở Giang Đông[1], nhiều đời hành nghề y, lại tuân theo gia huấn, 'thuật nhi bất tác[2]', cho nên chẳng có tên tuổi gì, chỉ là một lang y tầm thường mà thôi".



    [1] Giang Đông là một địa danh lịch sử của Trung Quốc, để chỉ khu vực phía đông của sống Dương Tử, còn được gọi là Giang Tả.



    [2] Chữ trong thiên Thuật nhi, sách Luận ngữ, nghĩa là chỉ thuật lại thành tựu của cổ nhân mà không sáng tác thêm vào



    Diệp Sĩ Viễn gật đầu nói: "Vùng Giang Tả nhiều anh tài, đời nào cũng có danh gia. Tàng long ngọa hổ, không màng danh lợi. Thật chẳng phải điều kẻ thô dã như lão phu có thể tường tận hết được. Đấy gọi là 'Nói theo cái học chính thống, không đem cái học sai trái lòe đời[3]', cái học chính thống của trung nguyên lão phu ngưỡng mộ đã lâu".



    [3] Lời trong Nho lâm liệt truyện sách Sử ký của Tư Mã Thiên.



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Lão tiên sinh không nên tự khiêm. Diệp thị mạch độc tất sẽ lưu truyền y sử".



    Diệp Sĩ Viễn hỏi: "Lão đệ sống ở trung nguyên, có từng bái vọng Mộ Dung tiên sinh ở Vân Mộng cốc chăng?".



    Mộ Dung Vô Phong đang uống trà, nghe thấy câu này thiếu chút nữa thì sặc, vội vàng nói: "Chưa từng. Vãn sinh đi lại không được thuận tiện, rất ít ra ngoài. Chuyến này... chuyến này đi xa là vì nhận lời mời của bằng hữu”.



    Diệp Sĩ Viễn than rằng: "Lão phu rất muốn gặp người này một lần, hỏi xem thiên kế tiếp sách Vân Mộng nghiệm án loại thuyết của anh ta bao giờ mới ra. Chỉ đáng tiếc vài ngày trước lão phu nghe được một tin, nói rằng mấy tháng trước vị này đã đột ngột qua đời rồi. Vân Mộng cốc vì việc này đã cử hành lang lễ cực kỳ long trọng, bạn hữu trong giới Hạnh lâm[4] nghe tin cũng lũ lượt tới phúng viếng. Thật là trời ghét người tài, đáng tiếc, đáng tiếc".



    [4] Từ phiếm chỉ cho giới Y học Trung Quốc ngày xưa. Điển xuất phát từ thời Tam Quốc, nước Ngô cỏ một vị y sinh tên là Đổng Phụng. Vị này chữa bệnh cứu người nhưng không nhận tiền cảm ơn. Nếu người bệnh nặng được ông ta chữa khỏi thì sẽ trồng năm cây hạnh, nếu người bệnh không nặng được chữa khỏi, sẽ trồng một cây hạnh. Cứ như thế sau mười năm nơi đó đã có tới mười mấy vạn cây hạnh. Đổng Phụng nhìn rừng hạnh cảm thấy rất vui liền làm một ngôi nhà cỏ ở nơi ấy. Đến khi quả hạnh chín, ông nói với mọi người, ai muốn mua hạnh thì không cần nói với ông, chỉ cần đem một thúng gạo đổ vào kho gạo của ông là có thể lấy một thúng hạnh về. Đổng Phụng đem hạnh đổi lấy gạo rồi lại đem gạo đi cứu tế cho nông dân nghèo khổ. Về sau người ta nói tới “Hạnh lâm" là để ca tụng người làm nghề y. Y đường của Diệp Sĩ Viễn trong truyện cũng nhân đó mà lấy lên Truyền Hạnh đường, ý muốn nói tới việc noi theo y đức của Đổng Phụng mà hành nghề y.



    Mộ Dung Vô Phong chỉ đành nói theo: "Đáng tiếc, thật đáng tiếc".



    Thầm nghĩ Hà Y khuấy đảo Đường môn đất Thục một trận rồi ôm mình nhảy từ vách đá xuống, chỉ sợ đã có người nhìn thấy. Người ở Vân Mộng cốc cho rằng hai người đã cùng nhau qua đời cũng chẳng phải việc gì kỳ lạ.



    Diệp Sĩ Viễn nói: “Lão phu cũng đã phái một tên đồ đệ kém cỏi đi trước rồi, đến được đó đại khái cũng phải mất bốn tháng. Nhân tiện cũng tìm hiểu luôn trong Vân Mộng cốc liệu có còn sách mới nào mà người ấy chưa viết xong không".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "A... việc này chỉ sợ là không có rồi. Có điều nơi ấy vẫn còn hai vị Sái đại phu và Trần đại phu, cũng rất hay viết sách".



    "Đương nhiên, đương nhiên, lão đệ nói tới Sái Tuyên và Trần Sách hả? Trước đây lão phu từng gặp qua tiểu Sái một lần rồi. Tên tiểu tử đó mắt để trên trán, quá mức cao ngạo, phụ thân hắn nói chuyện với lão phu hãy còn vài phần khách khí, hắn nói chuyện thì nửa điểm khách khí cũng chẳng có. Làm ta tức muốn chết. Người trẻ tuổi cậy tài phóng đãng, chẳng có chút khuôn phép nào cả. A, nói thế thôi chứ tên tiểu tử ấy cũng đúng là thông minh thật. CuốnTrừng minh y giải của hắn và Úy phong tam cấp của Trần Sách vẽ mặt ngoại khoa và tạp bệnh cũng xem như rất có kiến giải rồi. Đương nhiên so với mấy cuốn sách kia của Mộ Dung Vô Phong - nghe nói người này còn rất trẻ, cũng tương đương với lão đệ - thì vẫn còn thua xa lắm. Ta thấy hắn cũng chưa tìm được học trò nào thông minh hơn mình, khà khà."



    Mộ Dung Vô Phong cũng cười nhạt, cúi đầu không nói năng gì.



    Diệp Sĩ Viễn lại nói: "Nghe nói nơi ấy còn có một vị Ngô đại phu rất nổi tiếng về nhi khoa và phụ khoa”.



    Mộ Dung Vô Phong đáp: "Vâng, là Ngô Du. Cô ấy cững có viết một cuôn sách".



    "Đọc qua rồi, đọc qua rồi, là Ấu khoa tạp luận. Nghe nói Ngô đại phu cực kỳ xinh đẹp, cả đời sùng bái nhất là sư phụ Mộ Dung tiên sinh của mình. Trong lời tựa của cuốn sách ấy, có quá nửa là để dành khen sư phụ của mình, lúc lão phu mới đọc sách ấy còn cho rằng sách này là do Mộ Dung tiên sinh giúp cô ấy viết ra. Ai ai cũng nói sớm muộn gì cô ấy cũng gả cho Mộ Dung tiên sinh, nhưng không biết trước khi Mộ Dung tiên sinh qua đời cô ấy rốt cuộc đã gả cho người hay chưa?”



    Mộ Dung Vô Phong thầm lấy làm may mắn vì Hà Y không ở bên cạnh lúc này, nếu không nàng nghe thấy mà để yên cho chàng mới là lạ.



    Ban đầu vị Diệp Sĩ Viễn này là danh sĩ vùng Tây Bắc, từ nhỏ đã có tài văn chương, tự thị rất cao, tuy vốn xuất thân từ danh y thế gia nhưng lại yêu thích nghiệp học hành, nhất quyết không chịu lấy nghề y làm nghiệp chính. Không ngờ, khoa cử hắc ám, mấy lần thi chẳng được, lúc ấy mới trong cơn phẫn nộ mà vứt bỏ nghiệp khoa cử, chuyên tâm làm một vị đại phu. Lúc đến nơi này, xa gần trong ngoài, tới một người có thể cùng ông ta bình luận về y thuật cũng không có. Bây giờ gặp được Mộ Dung Vô Phong, thấy chàng là người trong nghề, trình độ cũng chẳng thấp hơn mình thì lập tức cảm thấy như có được tri kỷ, không nén được mà mừng ra mặt, liền đem chuyện trong nghề, những hay dở của sách y, những giai thoại của ngành y bao nhiêu năm nay tích trong lòng không có người để nói mà đàm đạo thảo luận hết với chàng. Cứ liên miên bất tuyệt mãi, nói tới hơn một canh giờ vẫn không sao khép nổi miệng lại. Nếu không phải vì thấy sức khỏe Mộ Dung Vô Phong còn kém, chỉ sợ ông ta đã cùng ngủ chung giường, thắp đèn nói chuyện thâu đêm với chàng rồi.



    Mộ Dung Vô Phong thì vốn là một người ít nói ít cưòi, không thích trò chuyện với người xa lạ. Chỉ có ở trước mặt Hà Y mới hoạt bát tự do, dám bầy trò đùa vui. Lúc gặp người trong nghề, chàng lại trở thành bộ dạng nói năng thận trọng, chỉ bàn việc công.



    Gần tời giờ thắp đèn, Diệp Sĩ Viễn mới từ biệt, về đến nhà lại nghĩ tới Mộ Dung Vô Phong cô đơn một mình, ốm đau nơi đất khách, không khỏi chạnh lòng, liền vội sai tiểu đồng đem tới một hộp bánh điểm tâm và vài loại thuốc bị phong hàn, rồi lại hẹn chàng ngày sau bệnh khỏi nhất định phải tới Truyền Hạnh đường tụ họp với mấy tên đệ tử của ông ta "trao đổi thân tình". Mộ Dung Vô Phong tuy không thích ồn ào nhưng thấy lão tiên sinh thịnh tình như thế mà bản thân cũng là đêm dài vò võ một mình, thấy thật khó từ chối liền theo hẹn mà tới.



    Cứ thế, năm tháng trời loáng cái đã qua. Chớp mắt một cái đã vào đầu tháng Tám. Khí hậu miền Tái Băc mùa này sớm đã nóng chẳng khác gì Giang Nam. Việc làm ăn của “Lâm thị y quán" cũng cực kỳ tấp nập, ngoài cửa lúc nào cùng đông đúc, càng ngày càng bận rộn. Mộ Dung Vô Phong không muốn cướp mối làm ăn của Diệp tiên sinh, thêm vào đó thân thể chàng cũng yếu ớt, không chịu nổi vất vá quá độ thế là cứ hết lần này tới lần khác tăng tiền khám bệnh đẻ giảm bớt bệnh nhân tìm tới. Nhưng chẳng ngờ y thuật chàng quá cao, một truyền mười, mười truyền trăm, chàng đã hô một lần khám sẽ thu năm mươi lượng bạc, thế mà bệnh nhân đợi ngoài cửa lớn vẫn chỉ tăng không giảm, mà tiền vung ra cũng càng lúc càng hào phóng. Cực chẳng đã, chàng dứt khoát dán một cáo thị ngoài cửa lớn, nói rõ bản thân một ngày chỉ khám tối đa là mười bệnh nhân, tuyệt đối không hơn. Ban đầu mọi người đều cho là chàng đang đùa. Tiền khám đã đòi cao như thế, không kiếm thì quá uổng. Không ngờ, sau khi cáo thị được dán lên, khám xong mười bệnh nhân, tuy mới tới trưa, chàng đã đóng kín cửa lớn, mặc kệ người ta ở bên ngoài kêu gào van xin thế nào cũng tuyệt đối không ngó ngàng tới. Tính khí của Mộ Dung Vô Phong thế nào, lúc đấy mọi người mới biết.



    Vạn viên ngoại cũng rất hay tới hàn huyên. Thì ra ông ta thấy việc làm ăn của Mộ Dung Vô Phong cực tốt, bèn lập tức mở một quán ăn bên cạnh y quán, rồi lại đem một hậu viện bỏ trống làm một khách điếm đơn giản. Tiền bạc nhờ thế cũng càng ngày càng nhiều. Đối với Mộ Dung Vô Phong lại càng quan tâm hơn, không những để bảo tiêu của nhà mình bảo vệ luôn tòa tiểu viện của Mộ Dung Vô Phong, lại còn ba lần bảy lượt muốn tặng chàng mấy đứa nha hoàn giúp việc.



    "Lão đệ, không phải lão ca ta nói đệ. Việc y vụ của đệ rõ ràng bận tối mắt, tới nước cũng không kịp uống, vậy mà bên người đến một đứa coi cửa cùng không có. Cơm ngày ba bữa cũng vẫn là lão đệ tự mình lo liệu, đến việc xách nước, giặt quần áo cũng không chịu để người khác tới giúp. Lão đệ ngươi chỉ cần động ngón tay là một ngày đã kiếm được năm trăm lượng bạc. Đấy vẫn chỉ là thích kiếm thì kiếm không thích thì thôi. Nói ra thật khiến mã tặc ở quan ngoại nhìn muốn đỏ con mắt. Đứa sai vặt đó giá chẳng mấy đồng, năm lượng bạc là có thể mua được một đứa nhanh nhẹn hoạt bát rồi. Ngón tay này của đệ, chỉ vào đâu là nơi đó biến thành bạc trắng xóa, thật đúng là vật quý giá biết bao nhiêu! Vậy mà hàng ngày vẫn cứ dùng để nấu ăn, giặt quần áo. Chân của đệ cũng không được tiện lắm, dịp nọ chẳng phải còn mệt tới mức thở không ra hơi sao. Mấy việc lặt vặt kia cứ để nha hoàn làm, bảo đảm vừa nhanh vừa gọn. Dứt khoát như thế này đi, ta tặng đệ hai đứa nha hoàn, một đứa sai vặt, thế nào? Nha hoàn để giặt giũ nấu nướng, xoa lưng bóp chân. Sai vặt để coi cửa tiếp khách, chạy đi mua đồ. Cũng chẳng phải đệ không nuôi nổi! Ta tặng cho đệ đấy, ngày mai sẽ đưa đến."



    Mộ Dung Vô Phong thong thả đáp: “Ý tốt của Vạn huynh, đệ xin nhận nhưng quả thật đệ không cần .



    Vạn viên ngoại trố mắt nhìn chàng, khẽ hỏi: "Phu nhân đệ đâu rồi? Lâu lắm rồi ta chẳng thấy cô ấy đâu?".



    Mộ Dung Vô Phong nói: "Cô ấy về nhà mẹ đẻ rồi".



    Vạn viên ngoại nói: "Có câu này không phải là huynh đệ thân thiết, ta chẳng nói với đệ. Ta có một đứa cháu gái nhà thì bần cùng nhưng rất xinh đẹp. Ta thấy đệ vốn cũng là người đọc sách, lại có thế kiếm tiền, sau này nhất định không đến nỗi để nó chết đói. Ta sẽ đi hỏi giúp đệ nhé? Lấy làm tiểu thiếp?"



    Mộ Dung Vô Phong lập tức lắc đầu lia lịa nói: "Không dám, không dám. Đệ trời sinh sợ vợ, lão bà mà biết được sẽ giết đệ mất".



    "Ha ha ha... cô nào gả cho đệ, thật sự là có phúc", biết chàng nhất quyết không chịu, Vạn viên ngoại cũng không để bụng liền trêu chọc chàng một trận, cười ha hả rồi rời đi.



    Chạng vạng tối, trong trấn đã sớm điểm đèn, nhà nhà khói bếp nghi ngút, thật là một cảnh tượng yên bình. Mộ Dung Vô Phong đã ăn xong cơm tối, tự mình rửa bát, tắm táp rồi nằm ngả trên chiếc giường mềm trước cửa sổ, lặng lẽ ngắm nhìn những đốm sao sáng trong bốn góc song cửa. Hoa trong sân đã nở rộ từ lâu, cây cối xanh tươi, rậm rạp lá, bao phủ xuống trang viện nhỏ một không gian trong mát.



    Chàng thong dong nhấp một ngụm trà, thưởng thức đêm hè phương bắc trước giờ hiếm có.



    Trong mùa ấm áp chàng luôn tràn trề tinh lực, từ trước tới giờ đa số sách chàng viết ra đều là vào mùa hè. Trong trấn nhỏ lại ấm áp tình người, càng khiến chàng cảm thấy từng ngày trôi qua cũng không hề cô đơn. Đấy là còn chưa nói ông chủ cho thuê nhà của chàng luôn luôn quan tâm tới chàng, chỉ cấn chàng mở miệng thì chẳng việc gì là khó làm cả. Lại cả Diệp Sĩ Viễn nữa, cứ ba ngày hai bữa dẫn theo đám đệ tử tới chuyện phiếm, luận đàm y vụ. Hai người họ khâm phục lẫn nhau, càng nói càng thân, cuối cùng bỏ ra bốn tháng trời, cùng nhau viết một cuốn sách về những dược liệu hiếm gặp vùng Tây Bắc, Mộ Dung Vô Phong kiên quyết muốn dặt tên sách là Truyền Hạnh đường bản mộc tập lục. Tháng trước vừa mới giao bản thảo mang đi in. Mấy ngày trước Diệp Sĩ Viễn đã đem một bản còn thơm mùi mực, trang đầu có đề "Diệp Sĩ Viễn, Lâm Xử Hòa" tới trao tận tay cho chàng, vô cùng đắc ý: "Lâm lão đệ, lần này có lẽ đệ phạm vào gia huấn rồi. Rõ ràng nói 'thuật nhi bất tác', nhưng trong cuốn này của chúng ta thì đã là 'vừa thuật vừa tác' rồi. Lúc về mà để phụ thân đệ nhìn thấy, lại chẳng lấy gia pháp ra giáo huấn một trận sao?".



    Nếu như hai người không gặp nhau độ năm ngày, Mộ Dung Vô Phong thì chẳng sao chứ Diệp Sĩ Viễn chắc chắn sẽ cả nghĩ tới phát hoảng, ắt phải tìm một lý do nào đó tới kéo chàng ra quán uống rượu, không thì rẽ vào quán nhỏ ven đường làm vài chén qua loa. Một đám người say túy lúy thêm đồ nhắm nào là lạc, nào là đậu khô, nào lã hạt điều, liền có thể tán chuyện đến khi trời sáng.



    Mộ Dung Vô Phong dần dần cảm thấy ở cùng đám người ấy, thời gian trôi qua cũng rất nhanh nên chẳng muốn nghĩ ngợi gì quá nhiều, cười cười nói nói ồn ào, cứ thế qua ngày. Những ngày tháng như thế, trước đây chàng chưa từng trải qua, bây giờ nghĩ lại cũng không đến nỗi tệ.



    Chỉ là mỗi khi đêm xuống, người người đã say ngủ, còn chàng thì không tự chủ được cứ nhớ tới Hà Y, mỗi khi nhớ tới nàng, ký ức trong đầu cứ cuồn cuộn trào dâng. Chàng nhớ từng chi tiết nhỏ lúc mình và nàng sống cùng nhau, y phục cùa nàng, ánh mắt của nàng, nụ cười của nàng, bàn tay của nàng... dáng vẻ nàng khi say ngủ, khi ăn cơm, lúc giặt đồ...



    Nếu như trong một ký ức nào đó có chỗ mơ hồ, thậm chí chàng còn cố gắng nghĩ đi nghĩ lại nhớ tái nhớ hồi, cho đến khi mỗi một tình tiết trong đầu lại rõ ràng như cũ mới thôi. Có những khi chỉ để nhớ cho được trong sự kiện nọ rốt cuộc nàng mặc chiếc váy nào, khuy áo trên đó là dạng gì, hoa văn thêu ở bên trên hay là bên dưới mà chàng vắt hết cả đầu óc. Chàng như còn sợ mình quên mất, còn vẽ lại nàng trên giấy tuyên, vẽ liền một mạch sáu bức, dán hết lên tường phòng ngủ. Rồi lại sợ để Diệp Sĩ Viễn nhìn thấy sẽ lại nói linh tinh, thế là cố ý vẽ thêm dưới người Hà Y một con hổ hoặc một con báo. Thật ra thần thái trên khuôn mặt Hà Y đã không giống thục nữ, lại tuyệt đối không như Hoa Mộc Lan, mấy kiểu truyền thống như trong các bứcĐấu Miêu đồ, Triển Tú đồ hay Du Xuân đồ đều không sao lột tả hết được thần thái của nàng. Nếu hỏi chàng vẽ cái gì đó, chàng sẽ đáp “Sơn Quỷ".



    "Lão đệ à, bức họa Sơn Quỷ này của đệ rất khá nhé! Không ngờ họa pháp cúa tiểu tứ ngươi lại tốt đến thế. Sớm biết như vậy, mấy loại cây thuốc cổ quái trong cuốn sách kia cùa chúng ta đã để đệ vẽ hết. Chữ đề bên cạnh cũng viết rất đẹp. Tặng ta một bức nhé", Diệp Sĩ Viễn vuốt vuốt chòm râu dài, gật gù tán thưởng nói.



    "Đây không phải bức tốt nhất, để vãn bối vẽ một bức khác tặng cho người là được", Mộ Dung Vô Phong vội vàng nói.



    Đêm hôm ây chàng trằn trọc không ngủ được, trời vừa sáng đã dậy khỏi giường.



    Tiết hè oi nóng, trời sáng rất nhanh. Chàng dậy tắm rửa rồi khoác lên một chiếc áo xám, cưỡi lên lạc dà, thong dong đi dạo trên con phố dài.



    Tuy bình thường rất ít ra ngoài nhưng tên tuổi của Mộ Dung Vô Phong thì nhà nhà đều biết. Bộ dạng của chàng cũng khác xa người bình thường, cho nên lúc đi trên đường, người nhận ra chàng cũng chào hỏi mà người không nhận ra chàng cũng tới hỏi thăm.



    "Lâm đại phu, ra ngoài đi dạo à? Chào buổi sáng!"



    Chàng nhìn kỹ một lượt nhưng không nhận ra người đang chào hỏi, chợt cảm thấy cực kỳ xấu hổ, chỉ đành đáp qua loa lấy lệ.



    Chàng buông lỏng dây cương, suốt dọc đường đầu óc cứ suy nghĩ vẩn vơ, con lạc đà đã đưa chàng rẽ vào một ngả đường khác. Càng đi càng xa, lúc đầu chàng vẫn không để ý, sau đó mới từ từ phát hiện con đường càng ngày càng thấy xa lạ, không còn nhận ra nữa.



    Chàng quay trái quay phái, cuối cùng cũng xác định được muốn quay về phải đi đường nào, có điều con đường ấy bắt buộc phải đi qua khu chợ ồn ào tạp nham kia.



    Chẳng thể làm khác, chàng đành theo đám con buôn từ bốn phương tám hướng đổ tới tụ tập đi vào chợ.



    Đưa mắt nhìn một lượt, xung quanh đầu người lúc nhúc, đầu kề đầu, vai kề vai, thật là một cánh tượng náo nhiệt, lộn xộn phi thuờng.



    Hãy còn may là chàng đang cưỡi lạc đà, ngồi cao hơn hẳn những người xung quanh, nhờ thế mới không đến nỗi bị không khí ngột ngạt nơi đây hun chết.



    Chàng theo dòng người tiến về phía trước, rồi mới phát hiện, thật ra đám tiểu thương này vẫn coi là có quy củ, bọn họ đều theo mặt hàng của mình mà đứng vào một chỗ nhất định, để ra một con đường nhỏ cát bụi tung mù mịt trước mặt để khách qua đường và người mua hàng đi lại xem xẻt



    Tiếng mời chào đây đó vang lên không ngớt:



    "Sữa ngựa mới vắt đây! Sáu văn tiền một bát!"



    "Hạt tiêu hảo hạng đất Thục đây, không thơm không lấy tiền!''



    "Khách Ngõa Phù đê! Khách Ngõa Phù đê!"



    "Rượu Cao Xương đây! Hai lượng năm vò!"



    "Đồ trang sức bằng bạc của phường Tân Long đê! Vừa rẻ vừa đẹp, bây giờ không mua ngày mai chẳng còn đê!"



    Chàng bật cười, cảm thấy nơi đây tuy chen chúc khó chịu, nhưng cũng không phải là nơi không thế đến.



    Mấy tiểu thương này vì một xu tiền mà cũng bằng lòng rã bọt mép thương lượng với khách. Một xu cũng là tiền, một người cố gắng kiếm tiền nuôi gia đình, bất kể nghề nghiệp của anh ta là gì thì đều đáng được tôn trọng.



    Sau đó, trong âm thanh ồn ào inh ỏi nơi chợ búa, bỗng có một giọng nói lanh lảnh rất trong, rất rõ cất lên, cứ thế vọng thẳng vào tai Mộ Dung Vô Phong:



    "Bánh nướng, bánh nưóng đi, bánh nướng nóng hổi mới ra lò. Đại ca này, huynh mua một cái à? Bánh này có hai lớp đây, bên trong còn nhồi thịt dê, lại còn thêm mười bảy loại gia vị với bơ và tương ớt nữa. Huynh ăn một cái thì cả ngày hôm nay không cần xuống bếp luôn. Rẻ thôi, mười xu một cái. Hai cái tôi lấy huynh mười tám xu."



    Mộ Dung Vô Phong vừa nghe thấy giọng nói này, toàn thân chấn động, vội dừng lạc đà lại đưa mắt tìm bốn phía. Chỉ thấy người đông nghìn nghịt, so vai kề lưng, ùn ùn như một con sông bùn chảy vòng qua chàng. Trong không gian vang lên cả ngàn thứ âm thanh: tiếng chào hàng, tiếng lừa, ngựa khít mũi, tiếng lạp xưởng nướng trong lò, tiếng mua bán mặc cả, tiếng kim loại leng keng. Đủ các kiểu âm thanh không gọi tên nổi, tựa như sóng biển cuộn dâng, dội tới người chàng, còn tiếng chào hàng bánh nướng kia thì lại mất tăm không thấy đâu. Một lúc sau, chàng không còn phân biệt nổi rốt cuộc giọng nói ấy tới từ phía trước hay phía sau mình nữa.



    Chàng liền nín thở, nhắm mắt, đợi cho giọng nói ấy vọng tới tai mình một lần nữa.



    Một lúc sau quả nhiên giọng nói kia lại rao lên: "Bánh nướng! Bánh nướng đi! Bánh nướng nóng hổi vừa mới ra lò đây!".



    Mí mắt chàng khẽ động, dòng người chen chúc qua lại bỗng như nhạt đi, xa xa có một bóng người áo xám tựa như nét chấm phá trong tranh thủy mặc, trên nền là khung cảnh chợ búa bụi bặm hiện lên thật rõ ràng.



    Mắt chàng lập tức đăm đăm ghim chặt vào bóng người áo xám hãy còn cách chàng mấy trượng kia. Bóng lưng đó lại là của một cô gái thấp béo, dáng vẻ hoàn toàn xa lạ. Từ đằng sau nhìn lại, bụng nàng to tựa như một cái thùng nước vậy.



    Nghe thấy giọng nói ấy, cả người chàng kích động tới run lên, gần như sắp ngã khỏi lưng lạc đà. Chàng vỗ lạc đà, từ từ đi tới sau lưng cô gái vẫn đang vô tư buôn bán kia.



    Chỉ thấy một tay nàng đỡ lưng, đang vùi đầu vào đếm tiền, đếm xong thì nhét tất tần tật vào túi áo rồi lại rút ra một cái kẹp lớn, gắp từ trong lò ra một cái bánh nướng vừa to vừa dày, lớn tiếng chào hàng: "Bánh nướng! Bánh nướng đi! Bánh nướng nóng hổi đây!".



    Có một người đàn ông đi qua trước mặt nàng, nàng liền không do dự kéo hắn lại, nói: "Bánh nướng mới ra lò đây, đại ca, lấy một cái đi! Chỉ có mười xu thôi!".



    Nam nhân đó chẳng thèm quan tâm, gạt tay nàng ra, nói: "Ta không mua, đừng có lôi lôi kéo kéo nữa!".



    Cô gái mặc kệ, liền tiếp tục kéo một phụ nữ đứng tuổi nói: "Đại tẩu, bánh nướng mới ra lò, mười xu một cái. Xem người tuổi cũng lớn, lấy rẻ đi một chút, trả tám xu là được".



    Người phụ nữ đứng tuổi kia nhìn cái bánh nướng, ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Năm xu thì ta mua".



    "Năm xu? Thế có phải quá... quá rẻ rồi không? Xem người có lòng, tôi chịu lỗ một chút vậy, cắn răng căn lợi chịu thiệt đấy nhé, bảy xu được chưa", nàng hừng hực khí thế ra giá.



    Người phụ nữ đứng tuổi kia liễn quay phắt đầu đi luôn.



    "Này... này... đại tẩu, đừng đi chứ. Đưọc rồi, năm xu thì năm xu vậy, tôi bán đấy!", nói rồi nhận tiền, lấy một tờ giấy gói bánh nướng lại bỏ vào trong túi của bà ta.



    Mộ Dung Vô Phong cứ nhìn tấm lưng ấy mãi, tới khi cô gái xoay người lại, chuẩn bị găp thêm một cái bánh nướng trong lò ra.



    Bụng của nàng rất lớn, xem ra đã mang thai được bảy, tám tháng rồi, mặc trên người một tấm áo thụng rõ ràng là sửa lại từ quần áo cũ, phần bụng bị bó lại, hiển nhiên là rất không vừa người. Thân thể nàng, trừ khuôn mặt ra, những nơi khác trông đã béo hơn ngày xưa tới gấp đôi. Chỉ là thần thái của nàng vẫn nguyên vẻ oai phong hoạt bát. Mái tóc của nàng vẫn dài như cũ, buộc qua loa lại thành một túm, dùng trâm gỗ búi lên mà hình như lâu lắm rồi cũng chẳng buồn gội, bên trên có ám một lớp dầu khói ẩn ẩn hiện hiện. Khuôn mặt tuy bởi sán vào nướng bánh trong lò mà nhễ nhại mồ hôi nhưng vẫn vừa sáng vừa rạng rỡ. Cả người nàng nồng nặc mùi dầu mỡ.



    Mộ Dung Vô Phong ngây ngẩn nhìn nàng, gắng sức khống chế nhịp tim mỗi lúc một nhanh của mình, nước mắt như sắp trào ra lại bị chàng ép mình ngăn lại!



    “Hà Y”



    Giọng của chàng xưa nay rất thấp, vừa cất lên đã bị âm thanh ồn ào xung quanh nuốt gọn nhưng cô gái bụng lớn kia lại lập tức quay người, vừa nhìn thấy chàng thì có chút kinh ngạc rồi liền nở nụ cười, bước tới chào hỏi:



    "Xin chào! Mộ Dung Vô Phong!"



    Chàng vỗ vỗ lạc đà để nó ngồi xuống rồi lê người lên xe lăn, lăn bánh tới trước mặt nàng, chẳng quản tất thảy, cứ sống chết túm chặt lấy bàn tay đầy dầu mỡ cùa nàng.



    "Làm gì thế? Bỏ tay ra đi! Người ta còn phải làm ăn nữa nhé! A! Bánh nướng đây!", nàng muốn rút tay lại nhưng phát hiện tay của chàng dứt khoát nắm chặt lấy tay mình, chẳng chịu buông ra.



    "Hà Y... nàng... nàng mang thai từ lúc nào?", chàng ngắm nhìn cái bụng to đùng của nàng, hỏi.



    Hỏi vớ vẩn, chàng là đại phu, đương nhiên biết thân hình đó là của người đã mang thai tám tháng rồi. Lúc Hà Y rời khỏi chàng, nàng đã thụ thai hai tháng. Trong lòng chàng tự mắng chửi mình một trận. Lúc ấy chàng chỉ để ý tới việc dưỡng thương, một lòng chỉ nghĩ tới chuyện của mình, nếu không nên sớm nhận ra rồi.



    "Thiếp...", Hà Y đang định trả lời, chợt thấy có một người đàn ông tới hỏi: "Bánh nướng bao nhiêu tiền một cái”.



    Hà Y đáp: "Mười….”



    Mộ Dung Vô Phong đã ngắt lời nàng, quăng một đĩnh bạc cho người kia, nói: "Đây là năm lượng bạc, chỗ bánh nướng này anh lấy hết đi".



    Người đàn ông đó trợn mắt há mồm nhìn chàng, trong lòng nhủ: "Vừa cho tiền vừa tặng bánh nướng, thằng cha này nhất định điên rồi. Trên đời còn có việc tốt thế này sao?", rồi lại sợ chàng đổi ý, lập tức đem tất cả bánh nướng dốc hết vào bao của mình rồi co chân chạy biến như gió.



    Hà Y tức tối giậm chân, nói: "Mộ Dung Vô Phong, sao chàng lại phá việc làm ăn của thiếp!".



    Chàng mặc kệ, lại quay sang hỏi một ông lão bán bánh nướng bên cạnh: "Cái lò này ông có thích không?".



    Lão đầu đó nói: "Lò tốt thế này ai mà không thích?".



    Chàng liền đưa cho ông ta một tấm ngân phiếu nói: "Tất cả những thứ trong lò đều tặng cho ông hết, tôi còn đưa thêm hai mươi lượng bạc chỉ mong ông nhanh chóng lấy nó đi".



    Lão đầu kia nhận lây ngân phiếu, rồi chất lò nướng của Hà Y lên xe đẩy, ba chân bốn cẳng chuồn thẳng.



    Hà Y lớn tiếng kêu: “Này! Này! Lão đầu, ông đứng lại! Trả lò của tôi đây!".



    Lão đầu kia vừa nghe thấy, lại càng chạy nhanh hơn, thoắt cái đã chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.



    Hà Y giậm chân, quay lại véo vào vai Mộ Dung Vô Phong: "Mộ Dung Vô Phong! Chàng trúng tà rồi hả? Sao lại bán hết gia sản của thiếp? Sao thiếp cứ gặp chàng là xúi quẩy thế này!".



    Mộ Dung Vô Phong bảo: "Tùy nàng nói sao cũng được. Nói cho ta biết, sao nàng... sao nàng...", trong lòng chàng dấy lên một cơn chua xót, hỏi: "Bụng đã lớn nhường này rồi mà vẫn muốn bán bánh kiếm sống sao?".



    Hà Y càng ưỡn bụng cao hơn, nói: "Chàng quản nổi à? Từ nhỏ thiếp đã thích bán bánh đấy. Thiếp cứ thích bán đấy!”



    Mộ Dung Vô Phong lại nói: "Sao nàng không đi Thọ Ninh? Sao vẫn còn ở đây mà không chịu tới tìm ta? Thời gian vừa rồi... nàng sống ở đâu? Lại phải... lại phải chịu bao nhiêu khổ cực rồi?".



    Mộ Dung Vô Phong nhìn nàng, nhẹ nhàng chạm vào cái bụng nhô lên của nàng, cảm thấy rất đau lòng.



    "Khổ cực gì đâu? Thiếp thế này chẳng phải rất tốt sao?", lòng nàng lại mềm nhũn, bèn vuốt ve mái tóc chàng, hỏi lại: "Những nơi như thế này trước giờ chàng chẳng bao giờ tới, hôm nay lại lên cơn quái gở gì thế?".
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này