Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 15: Hái hoa đại đạo


    “Mộc Huyền Hư, hai mươi bảy tuổi. Vũ khí thành danh: Yến tử đang[1], giết người không thấy máu, học được hết nội công do Thiết Phong đạo trưởng của Tâm Ý môn, Long Môn phái, Võ Đang mật truyền, là đệ tử tục gia đời thứ bảy của Võ Đang. Ba năm trước do hành vi hái hoa gian ác bị bại lộ, bị đuổi khỏi Võ Đang. Từng đang đêm lẻn vào môn phái cưỡng hiếp và giết mười mấy nữ nhân. Là tên hái hoa đại đạo nổi tiếng nhất trên giang hồ, quan phủ phát lệnh truy nã treo thưởng.”

    [1] Một loại phi tiêu.

    “Lý Thu Dương, tuổi không rõ. Quen dùng một thanh thiết kiếm lưỡi cực hẹp. Nghe nói là đệ tử phái Hải Nam, là sát thủ đòi giá cao nhất trong võ lâm chỉ sau “Tam tinh”, rất giữ chữ tín, từ khi bắt đầu hành nghề tới nay chưa từng thất thủ. Tính tình kẻ này hung bạo hiếu sát, chỉ cần lúc giết người mà có người ngoài không may trông thấy thì cũng bị hắn giết không tha.”

    Hai tờ giấy này đang nằm trong tay Đường Tầm, đọc tới đây, tay hắn không khỏi run lên, thiếu chút nữa làm tách trà trong tay trào nước ra ngoài, nói: “Nghe nói sau khi hắn giết người, thường thích nhét một chiếc khăn tay có thêu tên hắn vào miệng người chết”.

    “Tính tình bọn sát thủ thường tương đối quái gở…”, Đường Tiềm từ tốn hé mở nắp chén trà, nhấp một ngụm, ngữ khí chẳng có vẻ ngạc nhiên chút nào.

    “Đường Hồng, Đường Hoán hai người này đệ đương nhiên biết, không cần ta nhiều lời nữa.”

    Đường Tiềm hơi chau mày, không rõ câu này rốt cuộc là muốn dẫn tới đâu: “Mấy kẻ ấy có liên quan gì tới đệ?”.

    Đường Tầm vỗ vỗ vai hắn, tỏ ra cực kỳ thân thiết: “Lão đệ, phải giam hai năm, mới năm tháng ta đã thả đệ rồi, đệ cũng phải lấy công chuộc tội đi chứ?”, không đợi hắn mở miệng, Đường Tầm tiếp luôn, “Đệ phải giúp Đường môn giải quyết bốn kẻ này đi… Hai kẻ trước coi là hành hiệp, hai kẻ sau tính là thanh lý môn hộ. Với lại thanh lý môn hộ là trách nhiệm của Hình đường, đệ đi chuyến này, chẳng bằng tiện tay làm luôn một thể. Đường gia cần là cần một vị đại hiệp hành hiệp trượng nghĩa, trên giang hồ cũng có tiếng nói… Chí ít thì bọn chủ nợ gặp chúng ta cũng phải có ba phần khách khí”.

    Phải nói thế này, giao tình giữa Đường Tiềm và Đường Tầm có thể tính về tít từ khi cả hai còn là trẻ sơ sinh. Đường Tầm chỉ lớn hơn Đường Tiềm có hai tháng, lúc còn nhỏ cả hai thường bị người khác nhầm là anh em sinh đôi.

    Là bạn bè thân thiết từ nhỏ tới lớn thì đều sẽ gặp vấn đề như thế này: Bất kể người này tương lai thành đạt thế nào, trong đầu anh hắn vẫn vĩnh viễn mang hình tượng là một đứa nhóc vắt mũi chưa sạch, cho nên rất khó coi lời hắn là thật.

    Ngồi trên ghế chưởng môn chưa được một năm, Đường Tầm đã bị món nợ to đùng chưa trả nổi làm cho bận rộn tới sứt đầu mẻ trán, gần như cứ cách chưa được mươi ngày nửa tháng là lại phải tiếp một vị chủ nợ. Cho dù hắn lanh lợi thông minh, khéo ăn khéo nói, nhưng đối phó với tình cảnh nợ nần chồng chất thế này, việc có thể làm được cũng không ngoài bốn chữ “giật gấu vá vai”. Chỉ đành lúc thì lấp liếm, lúc thì kêu khổ, lúc thì thề thốt hứa hẹn, lúc thì nhìn trái nhìn phải mà đánh trống lảng… Cùng đường đuối lý thì cũng phải mặt không đổi sắc, lỗ tai mài cho chai ra. Tuy giờ Đường Tầm mở miệng, nói ra mấy câu y chang Đường Lan nói mấy năm trước nhưng lời lẽ vẫn ngang ngược như lúc bình thường… Người ta có chỗ khó khăn, mười mấy năm huynh đệ ở cùng một chỗ, không tìm hắn thì tìm ai? Hắn không giúp thì ai giúp?

    “Nếu như đệ không nghe nhầm, ý của huynh là muốn đệ phụng lệnh hành hiệp hả?”, Đường Tiềm khinh thường hừ một tiếng, “Thế chẳng phải rất không ổn sao?”.

    “Lão đệ, rốt cuộc đệ đi hay không đi?”

    “Đi”, chẳng biết làm sao, hắn đành đáp một câu.

    “Hảo huynh đệ, lúc đệ về hai người bọn ta sẽ uống một trận”, vai hắn lại bị Đường Tầm vỗ cho phát nữa, “Nhớ kỹ, đánh được thì đánh, đánh không được thì chuồn, tính mạng là trên hết”.

    … Còn nhớ mang máng, từ ngày đầu tiên quen với Đường Tầm, hắn đã không ngừng vỗ vai mình. Bản thân từ bé không biết đã giúp hắn đánh nhau bao nhiêu trận.

    … Có lẽ đây chính là nguyên nhân bất kể Đường Tầm làm gì thì đều là hữu kinh vô hiểm.

    Trong lòng hắn thầm thở dài, một lần nữa thề rằng lần sau tuyệt đối không thể dễ dàng với tay này nữa.

    “Có điều.” Đường Tiềm rất không thoải mái ngồi trên chiếc thái sư kỷ cứng ngắc… người thì quá cao, ghế lại quá thấp… hại cặp chân dài của hắn chẳng biết để vào đâu, hắn tiếp tục khoan thai nhâm nhi tách trà trong tay, từ tốn nhả thêm một câu, “Chắc không phải để đệ đi một mình chứ?”.

    Đường Tầm vội nói: “Đương nhiên! Có một người đệ rất thích cứ nhặng cả lên đòi đi theo đệ”.

    Đường Tiềm nhướng mày, đang định mở miệng thì nghe thấy một giọng nói phấn khởi vui vẻ cất lên: “Tiềm thúc, là cháu… là cháu đấy!”.

    Kế đó là tiếng bước chân phơi phới, Đường Bồng sải bước vào đại sảnh, hi hi ha ha chào hỏi hai người.

    Đường Tiềm lập tức thấy đầu mình to như cái đấu, nói nhỏ với Đường Tầm: “Có thể đổi người khác không? Thằng nhóc này rất thích gây sự…”.

    “Người võ công cao hơn nó không nhiều, lựa chọn khác còn có Đường Dung, Đường Tân, Đường…”

    “Vậy cứ để Đường Bồng cũng được rồi”, Đường Tiềm nói.

    “Dược các đã phối chế cho đệ một bao thuốc giải, theo điều tra thì ‘Song Hồng’ hiện đang ở Hoa gia, Sâm Châu. Những kẻ khác vẫn chưa tìm được, có điều Đường Bồng nói nó sẽ có cách…”

    “Đúng đấy Tiềm thúc, việc tìm người cứ để cháu làm, chính phái tà phái cháu đều tìm được”, vừa thấy Đường Tiềm đồng ý, Đường Bồng đã mừng rỡ khoa chân múa tay, chỉ hận không thể lập tức sửa soạn hành lý.

    “Theo ta đi cũng không sao nhưng phải đồng ý một điều kiện, làm xong chính sự phải về nhà ngay, không được gây chuyện thị phi.”

    “Cái gì cũng nhận lời thúc hết.”

    “Đúng là đứa trẻ ngoan”, Đường Tầm và Đường Tiềm đồng thanh.

    Mùa đông năm Tân Mùi, mùng Hai tháng Mười hai.

    Giang hồ khoái báo đăng: Đường Tiềm, Đường Bồng giết “Đường thị Song Hồng”.

    Cặp huynh đệ thanh danh thối tha nhất giang hồ của Đường gia, hiệu xưng “Quỷ thủ song ma”, Đường Hồng, Đường Hoàn từ đấy biến mất.

    Hạ tuần tháng ấy, trang chủ Khoái Kiếm sơn trang ở Giang Nam là Tạ Tĩnh bỏ ra mười vạn lượng bạc thuê Lý Thu Dương giết Đường Tiềm.

    Bạc, cực nhiều bạc là cách duy nhất để tìm được Lý Thu Dương.

    Mùng Năm tháng Hai năm Nhâm Thân, Đường Tiềm giết Lý Thu Dương tại bến Hồng Khẩu Loan.

    Cả giang hồ xôn xao, khoái báo truyền khắp, sau một đêm thanh danh của Đường môn lại vang dội.

    Vị Bắc đẩu của võ lâm là Tây Sơn tiên sinh vì thế đã đặc biệt gọi Đường Tiềm, Đường Bồng tới Tây Sơn Thảo đường của ông ta uống rượu, cùng mâm nghe nói còn có bốn vị lão nhân đức cao vọng trọng nhưng ít khi lộ diện trong võ lâm khác.

    Đây quả thật là vinh dự hiếm có.

    Lần yến hội đó, Đường Tiềm ứng đối tự nhiên, nói cười phóng khoáng, lại cực kỳ khiêm tốn và cung kính trước mặt các lão nhân kia.

    “Qua nhiên không hổ là nhi tử của song đao”, Tây Sơn tiên sinh hòa nhã sai gia nhân gắp thức ăn cho Đường Tiềm, “Phụ thân ngươi khi còn trẻ cũng là khách thường xuyên ở nơi đây… chỉ tiếc sau này không hay xuất môn nữa”.

    “Có lẽ là vì tiểu bối làm liên lụy người”, Đường Tiềm cười nhạt, cảm ơn người bên cạnh vừa gắp cho hắn một miếng bánh, lễ độ trả lời.

    “Hiền điệt chớ nói như thế. Phụ thân ngươi trên trời có linh, thấy ngươi làm được những chuyện lớn như thế này trong lòng nhất định cũng rất tự hào”, Tây Sơn tiên sinh cười ha ha, cực kỳ ưa thích thanh niên cử chỉ ôn hòa này.

    “Thế bá quá thương yêu rồi.”

    “Hiền điệt sang đông một chuyến, trong võ lâm lập lức bớt đi ba tên bại hoại, thật sự không đơn giản, Thiết Phong, ông nói đúng hay không?”

    “Lại còn không sao? Năm ấy ta cũng từng cùng Đường Ẩn Đao thử mấy chiếu đấy… ha ha… chỉ là ta không có phúc như hắn, có được một đứa con giỏi giang hiểu biết thế này, ài… không nói nữa”, Thiết Phong đạo trưởng vuốt chòm râu dài, thở than một tiếng.

    Ông ta mặc một tấm đạo bào cũ đã giặt nhiều tới mức trắng bạc ra, diện mạo nghiêm túc, mày rậm mắt ưng, dáng vẻ vào khoảng năm mươi đổ lại, tuy là sư đệ của chưởng môn Võ Đang Tùng Phong đạo trưởng nhưng lại ít hơn ông ta tới mười tuổi. Có thể xem là một nhân vật xuất sắc nhất của Võ Đang, là người trẻ tuổi nhất thuộc lớp tiền bối, địa vị rất được tôn sùng trên giang hồ, kết giao cũng rất tốt. Chỉ là không ngờ lại dạy ra một tên đệ tử ác danh vang dội như thế, khiến ông ta mất hết thể diện. Nghe nói năm ấy ông ta từng tự chặt một ngón tay, sám hối trước tượng tổ sư, lại thề nhất định phải bắt bằng được Mộc Huyền Hư về, thanh lý môn hộ.

    “Chúng tiểu bối cũng đang tìm Mộc Huyền Hư”, trông thấy ngón út tay trái của Thiết Phong quả nhiên bị cụt tận gốc, trong lòng Đường Bồng nóng lên, đột nhiên nói một câu.

    “A!”, Thiết Phong đột nhiên ngẩng đầu, rõ ràng cực kỳ kinh ngạc.

    “Lão bá đã là sư phụ hắn, liệu có biết hắn ở đâu không?”, Đường Bồng oang oang nói, một câu chọc đúng nỗi đau của ông ta.

    Mặt Thiết Phong lập tức méo xệch đi, nghiến răng nói: “Thằng súc sinh ấy tránh ta còn không kịp, làm sao ta biết được chỗ hắn trốn? Nếu ngươi nghe ngóng được, đừng ngại nói cho ta!”.

    Đường Bồng đang định nói gì đó, Đường Tiềm đã nhạt giọng cắt lời: “Bọn vãn bối cũng đang nghe ngóng, nếu có tin tức gì nhất định thông báo”.

    Thiết Phong nghiêm mặt nói: “Vì thằng súc sinh ấy ta đã tái xuất giang hồ ba năm nay, tới giờ vẫn không biết được tung tích hắn. Chỉ hối hận lúc xưa lại đem hết công phu cả đời dạy cho hắn! Các ngươi trẻ tuổi, tin tức nhanh nhạy, bất kể thế nào, xin hai người nhất định phải để cho ta giải hắn về Võ Đang. Đời này kiếp này, Thiết mỗ dù có vào địa ngục cũng nhất định phải tự tay giết hắn!”.

    Đường Tiềm cúi đầu: “Vãn bối xin nghe lời dặn dò, không dám không tuân mệnh. Chỉ là… vãn bối và Đường Bồng đều không nhận ra Mộc Huyền Hư”.

    “Chỗ ta còn có hình truy nã của quan phủ, lại còn một bức họa do ta tự vẽ, thiết nghĩ cũng tốt hơn nhiều rồi”, Thiết Phong quay người rút hai tờ giấy trong hành trang ra, đưa cho Đường Bồng.

    Đường Bồng mở ra xem, cười nói: “Thật không ngờ đạo trưởng còn là cao thủ đan thanh[2]. Đã có bức họa này rồi nếu bọn vãn bối vẫn không tìm được hắn vậy thì người Đường môn quá ngu ngốc rồi”.

    [2] Đan là màu son đỏ, thanh là màu xanh. Đan thanh là chỉ việc vẽ vời.

    “Hành tung hắn ẩn mật, lại am hiểu thuật cải trang, tìm được hắn cũng không phải chuyện dễ dàng gì. Hai vị phải vất vả nhiều rồi”, Thiết Phong nghiêm nghị nói. Nói xong lại có chút không yên tâm cho lắm mà nhìn Đường Bồng, cảm thấy thiếu niên này ăn mặc lòe loẹt, nói cười rạng rỡ, hoàn toàn là dáng vẻ tùy tiện cẩu thả, tinh nghịch xốc nổi.

    … Loại người này làm việc liệu có chắc chắn không?

    Ăn xong bữa tối, lại hầu tiếp năm người kia hàn huyên một chập, chú cháu hai người Đường Tiềm mới cáo từ ra về, đi trên con đường nhỏ xóm quê.

    Hoàng hôn đã tận, nhà nhà khói bếp, ngoài đồng là một khoảng yên tĩnh hiếm gặp.

    Đang đi, Đường Bồng đột nhiên hỏi: “Sao thúc không nói cho Thiết Phong, theo tin tức đáng tin cậy, Mộc Huyền Hư rất có khả năng đang ở một dải Thần Nông trấn?”.

    Đường Tiềm khẽ cười nói: “Ngươi quên bọn ta tới đây làm gì rồi à”.

    “Không quên, chúng ta đi làm đại hiệp.”

    “Nếu Thiết Phong mà tìm được Mộc Huyền Hư, vậy đại hiệp bọn ta há chẳng phải là làm không được sao?”

    Đường Bồng chắp tay sau lưng cười nói: “Từ bao giờ Tiềm thúc nói chuyện lại ra dáng ‘Đường môn’ rồi thế? Tên Mộc Huyền Hư ấy chẳng phải kẻ tầm thường, võ công chỉ sợ còn hơn Lý Thu Dương một bậc, thêm một người giúp chẳng phải càng tốt sao?”.

    Đường Tiềm nói: “Nếu quả Mộc Huyền Hư lợi hại như lời đồn, Thiết Phong đã chẳng phải đối thủ của hắn. Nếu không ông ta há lại có thể để hắn trốn bên ngoài bao nhiêu năm như thế? Vừa rồi ta nghe lúc ông ta vận khí nói chuyện giống như một lão nhân xế chiều rồi, năm đó ắt hẳn đã bị nội thương rất nặng. Chúng ta nên giúp ông ấy sống thêm vài năm thì hơn”.

    Đường Bồng vò đầu bứt tai nói: “Cháu vẫn nghĩ không ra sao Mộc Huyền Hư lại có thể trốn vào Thần Nông trấn? Nơi đó là địa bàn của Mộ Dung Vô Phong. Muốn ở đó làm loạn, Mộ Dung Vô Phong cũng không bỏ qua cho hắn”.

    “Rất có thể Vân Mộng cốc hoàn toàn không biết việc này, trước nay Mộ Dung Vô Phong vẫn giữ khoảng cách với giang hồ.”

    Hai người ruổi ngựa chạy tới Vân Mộng cốc, tìm một gian khách điếm trú lại. Bọn họ tìm khắp trấn trọn mười ngày trời, thậm chí không tiếc đút tiền cho Cái bang vùng này nhưng vẫn chẳng tìm thấy chút tăm hơi nào của Mộc Huyền Hư.

    “Hắn quả là người thông minh. Nơi đây thuyền bè tấp nập, ngựa xe thông suốt, người bên ngoài đến cực nhiều, tới lui cũng tiện. Những kẻ chỉ lưu lại khách điếm một ngày cũng chẳng biết bao nhiêu mà lần. Bất kể là ai cũng có thể vô thanh vô tức tới đây rồi lại vô thanh vô tức rời đi. Tìm người ở đây quả thật còn khó hơn lên trời”, ngày hôm ấy, Đường Bồng nhìn đường phố chen chúc toàn người với người, cuối cùng cũng phải than phiền.

    “Ta đang nghĩ, liệu có phải Mộc Huyền Hư đã trà trộn vào Vân Mộng cốc rồi không”, Đường Tiềm nói.

    “Thế thì hắn phải giả vờ bệnh mới được. Từ sau khi Sở Hà Y gặp chuyện, Vân Mộng cốc đã biến thành nơi phòng bị nghiêm ngặt.”

    “Giả bệnh trước mặt Mộ Dung Vô Phong cũng không dễ.”

    “Hay là chúng ta tìm Ngô đại phu cùng nghĩ cách?”, Đường Bồng chớp chớp mắt, thử thăm dò, “Thúc đi qua cửa y quán của người ta không phải mười thì cũng chín lần rồi còn gì? Đã đến đây rồi mà cũng không chịu tới chào hỏi, Tiềm thúc, định lực của thúc đúng là vững vàng vô tỉ”.

    “Đấy chỉ là ta chuyên tâm làm việc mà thôi”, Đường Tiềm đẩy cái đầu đang thò sang của Đường Bồng ra, nhạt giọng nói.

    Trên đường lớn toàn là khách bộ hành vội vàng tới lui và những tiểu thương đang cao giọng chào mời.

    Không khí mát lạnh, mấy cỗ xe ngựa phóng vụt qua cạnh hắn, cuốn lên một lớp bụi mù.

    Phía trước đưa tới mùi son phấn rất nồng cùng với mùi dầu đánh bóng gỗ. Hắn biết mình lại đi qua Tích Dạ lâu rồi… đấy là nơi hắn lần đầu tiên cũng là lần duy nhất thật sự tiếp xúc với nữ nhân… không kìm được nhớ tới cái đêm cuồng nhiệt hoang đường ấy.

    Người con gái tên gọi “Tam Canh” ấy không hề lưu lại cho hắn bất kỳ ấn tượng xấu xa nào giống như những kỹ nữ trong lời kể, mà ngược lại, nàng giống như người thiếu nữ trong đêm đầu tiên, chân thành hầu hạ, lưu lại cho hắn một phen ngọt ngào… Đương nhiên, có lẽ đối với ai nàng cũng đều như vậy. nàng không muốn lớn lên, hết lần này tới lần khác chơi trò ‘Quá gia gia’, ngày tiếp ngày đắm mình trong khoái lạc thuở niên thiếu.

    … Có lẽ nàng khi đeo mặt nạ, khi đang nô đùa, hoặc nàng trong những câu chuyện lưu truyền hay trong tưởng tượng còn chân thực hơn nàng chân chính ngoài đời.

    Dạ nữ Tam Canh, bây giờ nàng có còn đó chăng?

    Hắn thừa nhân bản thân khi nghe được Mộc Huyền Hư đang trốn trong Thần Nông trấn thì cảm thấy có một sự hưng phấn khó tả. Nhưng mỗi khi đi qua Trúc Gian quán, hắn lại cảm thấy thất vọng và hoang mang. Từ ngày gặp Mộ Dung Vô Phong bên Lăng Hư động, hắn đã hiểu nỗi tuyệt vọng của Mộ Dung Vô Phong, cũng hiểu được nỗi tuyệt vọng của Ngô Du, kế đó hắn liền hiểu được nỗi tuyệt vọng của chính mình. Có điều hắn vẫn không sao ngăn được mình lúc nào cũng nghĩ tới nàng, nghĩ tới khoảng thời gian ngắn ngủi hai người ở cùng nhau. Tuy rằng từ đầu tới cuối rõ ràng hắn rất ngốc nghếch, nhưng hắn vẫn cảm thấy quãng thời gian ấy cực kỳ đẹp đẽ. Đẹp đẽ tới mức bản thân hắn cũng phải thể hiện thật tốt đẹp mới có thể sánh được với khoảng thời gian đó. Cho nên, khi hắn phải ngồi trong nhà ngục lạnh lẽo ẩm ướt quay mặt vào tường sám hối, hắn chưa từng mảy may thấy hối hận.

    Đúng thế, hắn chẳng hiểu gì về nữ nhân.

    Từ khi quen biết Ngô Du, hắn đột nhiên hiểu được nữ nhân vốn không hề giống như các huynh đệ hắn thường miêu tả.

    Nữ nhân có thể là bất cứ hạng người nào.

    Bởi thế, hắn cứ hết lần này tới lần khác đi qua cửa nhà nàng.

    Chỉ là đi ngang đường.

    “Bất kể con chán ghét thế giới này tới thế nào, cũng không được từ bỏ hy vọng đối với nó”, đây là lời của phụ thân hắn lúc lâm chung.

    Đúng vậy, hy vọng.

    Hắn trầm mặc nghĩ ngợi.

    Hôm nay là ngày Hai mươi chín tháng Hai.

    Hắn chợt có một loại linh cảm kỳ diệu.

    “Thúc phải biết, trên giang hồ những kẻ muốn làm đại hiệp nhiều lắm, ai cũng đi rồi, người muốn bắt Mộc Huyền Hư, trừ bổ khoái của quan phủ, còn có mấy vị công tử của Thí Kiếm sơn trang nữa. Bọn họ hễ có việc gì cũng đều thích ra mặt, nghe nói đã truy bắt liền mấy tháng nhưng đều công cốc quay về”, tìm một quán nhỏ ven đường, ngồi xuống yên ổn, Đường Bồng gọi một bình rượu rồi tiếp tục nói.

    Dọc đường hắn cứ nói mãi không thôi, Đường Tiềm thì lại chỉ đắm mình vào tâm sự của bản thân, gần như chẳng để vào tai câu nào.

    Trong quán nhỏ mùi thịt dê nồng nồng, hắn không khỏi nhíu mày nhăn mặt.

    Chỉ nghe thấy tiếng Đường Bồng hớn hở nói: “Mùi vị của quán thịt dê này e rằng đã là tuyệt nhất ở đây. Chúng ta gọi một bát canh ăn đi. Đây là rượu Băng Đường Tam Hoa, thúc nếm thử coi…”.

    Hắn đang định nói gì đó thì Đường Bồng đã nhanh nhẹn bày xong bát đũa cho hắn.

    Hắn đành ngậm miệng lại. Một lúc sau, thấy Đường Bồng vẫn cứ nhiệt tình bưng canh rót nước, hắn đặt chén trà xuống, nhạt giọng mở miệng: “Ngươi cứ tự mình thưởng thức đi, ta không ăn thịt dê”.

    “Tiềm thúc, cho thịt dê một cơ hội đi mà…”, Đường Bồng ra sức khuyên nhủ, “Thúc phải hiểu, bát cơm canh này lão bản đã cố ý múc cho thúc rất nhiều, để thúc một lần không thể ăn hết. Trước khi đi, thúc sẽ phải cho bọn họ hai mươi xu, bảo bọn họ xào lại một lần nữa, cái này gọi là ‘Tẩu Oa’, còn nếu muốn xào khô dầu mỡ thì gọi là ‘Khứ Vĩ’. Tẩu Oa vẫn là ngon nhất đấy!”.

    … Đường Bồng luôn muốn nếm thử các thứ mới lạ. Hắn mặc kệ chỉ lắc đầu, tự mình gọi một bát chân giò hun khói nấu măng, một đĩa bánh bao hoa mai, một bình rượu quả ép.

    Vừa định nâng đũa, Đường Bồng đột nhiên huých huých chân hắn, thấp giọng nói: “Hắn xuất hiện rồi, ở bên trái thúc”.

    Tiếng bước chân nặng nề vang lên, đi qua bàn hai người ngồi tiến sâu vào trong đại sảnh.

    Tiếp đến một giọng thanh niên trầm thấp truyền tới: “Tiểu nhị, cho một bát mì thịt dê”.

    … Kẻ này hiển nhiên rất nghèo, mì thịt dê năm xu một bát, là thứ rẻ tiền nhất ở đây.

    Đường Bồng liếc mắt qua, chỉ thấy người đó mình cao bảy thước mặt đen gầy, râu ria tua tủa, mặc một chiếc áo bẩn tới mức gần như không thể nhận ra nổi màu sắc ban đầu nữa, đôi mắt thì ủ rũ phờ phạc.

    “Ngươi khẳng định là hắn?”, Đường Tiềm thì thầm hỏi.

    “Tuy hắn để râu dài, nhưng thoát sao khỏi mắt cháu. Huống chi trên mặt hắn còn có một vết sẹo, giống y chang trong bức họa. Ai da, kẻ này cũng chẳng biết đường mà cải trang một chút, bộ dạng thế này vừa nhìn đã giống như tội phạm bỏ trốn rồi”, Đường Bồng thấp giọng nói, tay đã sờ kiếm chỉ chực động thủ.

    “Nơi đây là phố xá đông đúc, cẩn thận làm bị thương người vô can. Cứ nên báo một tiếng, mời hắn tới miếu thổ địa phía tây trấn đi.”

    “Còn phải dùng quy củ võ lâm với hạng người này sao? Cháu sợ hắn thừa cơ chuồn mất.”

    “Cho nên ngươi ở đây ra gặp hắn, ta sẽ ở bên kia đợi. Ngươi không được giao thủ với hắn, nhớ chưa?”

    “Tại sao?”

    “Ngươi không phải đối thủ của hắn.”

    Đường Bồng tức đỏ cả mặt, muốn nói lại thôi.

    Kẻ kia gọi một bát rượu lớn… dường như hắn định đem hết bạc trên người ra mua rượu… kế đó liền hết bát này tới bát khác nốc bằng hết.

    Đường Bồng tới trước mặt hắn, chào hỏi: “Mộc Huyền Hư?”.

    Kẻ kia say khướt, đáp: “Ta… ta không phải họ Mộc, cũng không phải tên là Mộc Huyền Hư. Ta gọi là… Vương Đại Hổ”.

    “Thế à?”, Đường Bồng cười vang, đột nhiên đạp đổ chiếc ghế kẻ kia đang ngồi.

    Cùng lúc ấy, kẻ kia chân trượt một cái, tựa như sắp ngã đến nơi, thân hình nghiêng nghiêng nhưng không sai không lệch vừa vặn ngồi sang một chiếc ghế khác.

    “Ngươi biết ta là ai không?”, Đường Bồng hỏi.

    “Ngươi và hắn đều là tới tìm ta?”, kẻ kia cười khổ, ngẩng đầu một cái, dốc hết rượu trong chén vào hòng, tay chỉ sang bàn Đường Tiềm.

    “Nói như vật ngươi đã nhận mình là Mộc Huyền Hư?”

    “Không sai. Các hạ là?”

    “Ta là Đường Bồng, kia là Đường Tiềm.”

    “Từ khi nào thằng mù cũng thích quản chuyện của người khác vậy?”

    Đường Bồng một chưởng vung tới nhưng bị Mộc Huyền Hư tóm được.

    Rõ ràng hắn đã uống tới say túy lúy, nhưng tay vẫn rất vững, đôi mắt bỗng tóe lên quang mang tựa như đao phong.

    Đường Bồng rụt tay về, nói: “Chỗ này quá đông người, không bằng bọn ta tới miếu thổ địa phía tây trấn nói chuyện. Mộc huynh nghĩ sao?”.

    Mộc Huyền Hư nhìn Đường Tiềm, dáng vẻ như đã tỉnh rượu, lạnh lùng nói: “Xem ra hình như ta không thể không đi”.

    Đường Bồng nói: “Nếu ta là ngươi, tuyệt đối sẽ không chết trong quán thịt dê. Chết kiểu này sẽ khiến người ta cười thối mũi”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Ta chẳng phải là ngươi, ta cũng không để tâm mình chết thế nào”.

    Đường Tiềm bước tới, nói: “Trong này còn có hai đứa trẻ”.

    Mộc Huyền Hư im lặng, nhìn hai đứa bé gái đang chơi đùa ở bàn bên cạnh, rồi vắt bọc hành lý màu tro trong tay lên vai, nói: “Được, ta đi cùng các ngươi”.

    Con đường này tuyệt không dài, đối với Đường Tiềm, đại khái là khoảng ba trăm bước chân.

    Tâm tình hắn không tốt lắm. Trong ngày sắp thắng lợi tới nơi này, đến bản thân hắn cũng không nói rõ được là tại sao.

    Hắn có một loại trực giác, thanh niên này đã đánh động hắn ở một điểm nào đó, tuy nhiên hắn hoàn toàn không nghĩ ra nguyên nhân.

    Có lẽ là bởi giọng nói trầm và ngữ điệu lạnh lùng của hắn; có lẽ bởi những lời hắn vừa nói; có lẽ bởi hắn đã uống rất nhiều rượu, mà một kẻ đang phải lẩn trốn tứ xứ thì nhẽ ra không nên phóng túng uống rượu như thế…

    Có lẽ từng ấy thứ cũng đủ nhiều rồi.

    “Hắn chỉ là một tên hái hoa đại đạo không việc ác nào không làm”, hắn thầm nghĩ.

    Bùn đất tháng đông cực kỳ rắn chắc. Miếu thổ địa ở trên một ngọn núi nhỏ hoang vắng.

    Không biết vì sao, hắn lại nghĩ tới bùn đất. Hắn đang nghĩ, hắn sẽ chôn tên ác nhân vô ác bất tác này ở đâu.

    Mỗi một cô gái bị kẻ này cưỡng hiếp đều chết rất thê thảm. Đầu tiên là bị hắn dùng một sợi dây thừng siết chết, sau đó, sợ người chưa chết hẳn, hắn còn chặt đầu họ xuống.

    Nạn nhân đầu tiên là hai cô bé mới mười bốn tuổi, ở trong trấn dưới chân núi Võ Đang. Hai cô bé này là hàng xóm, đến ngày hôm sau cùng được phát hiện ra.

    Từ đó về sau, gần như cứ ba tháng là lại có một người chết.

    “Đối với hạng như ngươi, vốn chẳng cần nói rõ quy củ võ lâm. Có điều, ta hi vọng ngươi chết tâm phục khẩu phục. Cho nên, Đường Bồng, lùi lại mười bước”, Đường Tiềm đứng trên đỉnh núi nói.

    “Chết dưới tay thiên hạ đệ nhất đao, Mộc Huyền Hư ta cũng xem như chết không uổng”, hắn mở bọc đồ, rút ra một đôi Yến tử đang, “choang” một tiếng kim loại cọ vào nhau phát ra âm thanh chỉ có ở thứ sắt thép đã qua trăm lần tôi luyện.

    “Được lắm. Ta tuy là người Đường môn nhưng trước giờ không dùng ám khí, ngươi không cần lo.”

    “Ta tuy xuất thân từ Võ Đang nhưng trước giờ không thích sĩ diện, ngươi cũng không cần bận tâm”, Mộc Huyền Hư đột nhiên nói một câu như vậy.

    … Đường Tiềm cảm thấy lời hắn nói cũng rất thú vị. Sau đó, hắn ổn định tinh thần, muốn xua trực giác của mình đi.

    “Mời”, Đường Tiềm lạnh nhạt nói.

    “Mời”, Mộc Huyền Hư nói, “Ngươi xuất chiêu trước”.

    Đường Tiềm sững người, có chút nổi giận, nhưng lập tức bình tĩnh lại: “Vậy không khách sáo nữa”.

    Tay nhoáng một cái, ánh đao sáng loáng, bổ thẳng xuống đầu Mộc Huyền Hư.

    Mỗi một kích Yến tử đang trong tay Mộc Huyền Hư đánh tới đều có tiếng gió rất rõ cho nên lúc đao thứ hai của hắn bổ tới liền đánh chiếc Yến tử đang trong tay trái Mộc Huyền Hư tóe lửa, gần như bị đánh bay khỏi tay, hai người lộn mình trong không trung, đối nhau một chưởng.

    “Bình” một tiếng, nội lực ập tới, trùng trùng mãnh liệt, tay Mộc Huyền Hư thu về đẹp mắt, rồi lại đẩy về phía trước thành ra thế Thái ất nhu hóa tựa như liễu xuân đón gió.

    “Bên ngoài truyền nhau rằng Mộc huynh là nhân vật kiệt xuất nhất trong hàng đệ tử đời thứ bảy của Võ Đang, học được hết chân truyền của Tâm Ý môn. Hôm nay được thấy quả nhiên không giả”, Đường Tiềm tự biết một chưởng vừa rồi tuy bản thân chưa dốc hết sức nhưng cũng chẳng chiếm được bao nhiêu lợi thế, trong lòng không khỏi có chút bội phục.

    “Đường huynh nếu muốn thưởng thức kỹ hơn, sao không tới tiếp?”, Mộc Huyền Hư hít sâu một hơi, nội tức bình ổn, gân cốt trên người kêu lạo xạo.

    Nội lực hắn thâm hậu, thu phóng như ý, đã có thể liệt vào hàng mười đại cao thủ trong đám thanh niên đương thời.

    Chẳng trách bao nhiêu người truy sát mà vẫn không giết được hắn.

    “Cũng nên đến lượt Mộc huynh thưởng thức đao pháp của ta rồi”, thân hình Đường Tiềm chợt động đã như bạch hạc xung thiên, đường rãnh đỏ trên thân đao dưới ánh dương lại càng toát ra màu đỏ sẫm. Mộc Huyền Hư lùi liền ba bước, nghiêng người nhảy chếch, một mũi đang nhanh chóng đâm tới chân trái Đường Tiềm, mũi kia xoáy tít phóng thẳng hướng Đường Tiềm, nhắm đúng đỉnh đầu hắn!

    Một chiêu này gọi là “Lâm kính khán hoa”, là tuyệt chiêu thành danh năm xưa của Thiết Phong đạo nhân.

    Mộc Huyền Hư đã sớm tính toán, Đường Tiềm dù có thông minh, nhiều nhất cũng chỉ có thể tránh được một trong hai chiêu.

    Trên sườn núi không biết từ lúc nào đã nổi lên một tầng sương mù mỏng, trong không khí đột nhiên có hơi lạnh khiến người ta nghẹt thở.

    Ánh đao trong như xuân thủy nhanh tựa sao băng.

    Lúc mũi ngân đang đâm tới, tựa như sớm đã lường tới chiêu này, Đường Tiềm đột nhiên nghiêng đầu, than thể chếch đi, nhẹ nhàng hóa giải hết. Kế đó hắn cắp đao tung người, lộn mình trong không trung, hữu chưởng đánh ra, một chưởng đánh trúng ngực Mộc Huyền Hư!

    Hắn dùng gần chín thành công lực, thân thể Mộc Huyền Hư văng lên không trung, “bình” một tiếng va vào sườn núi rồi rơi xuống, vừa vặn đúng dưới chân Đường Bồng.

    Mộc Huyền Hư gắng gượng muốn đứng lên nhưng cố mấy lần cũng không sao đủ sức. Miệng thấy mằn mặn, trong ngực nội khí cuộn trào, không nhịn được”phì” một tiếng, nôn ra một ngụm máu lớn.

    Đường Bồng giẫm chân lên ngực hắn, rút quyển trục trong người ra, nói: “Mộc Huyền Hư, kể từ ba năm trước ngươi đã gian sát tổng cộng mười ba cô gái. Lần gần đây nhất là ngày mùng Năm tháng Mười một năm Tân Mùi, ngươi đang đêm lẻn vào Tưởng gia trang cách đây mười dặm, gian sát quả phụ nhà họ Tưởng là Phùng thị. Những tội danh này, ngươi nhận hay không?”.

    Mộc Huyền Hư lạnh lùng nói: “Tội danh ta không nhận, ngươi muốn giết thì cứ giết”.

    “Phì! Chết đến nơi rồi vẫn còn giảo biện, tên súc sinh tội ác ngập đầu nhà ngươi!”, Đường Bồng thấy hắn vẫn còn chối cãi, không nhịn được lại đạp cho hắn một cước.

    Đường Tiềm quát mắng: “Đường Bồng, ngươi tránh ra”, hắn quăng một thanh chủy thủ tới trước mặt Mộc Huyền Hư, lạnh nhạt nói: “Ngươi trúng một chưởng của ta, mạng đã chẳng còn bao lâu nữa. Dám làm dám chịu, đó mới là hảo hán. Bọn ta không ép ngươi, ngươi nên tự vẫn ở đây đi, thế còn được toàn thây. Nếu không để bổ đầu của quan phủ bắt được, người chỉ còn nước bị lăng trì trên đường, lại càng thê thảm hơn”.

    Mộc Huyền Hư cuồng tiếu, nói: “Ta thà chết dưới đao của ngươi chứ tuyệt không tự vẫn. Tự vẫn là hành vi của bọn nhát gan sợ tội, Mộc Huyền Hư ta tuyệt đối sẽ không tự vẫn. Đường Tiềm, sao ngươi không cho ta một đao thống khoái? Đao của ngươi phải uống máu ác nhân thì mới không uổng danh nghĩa hiệp, chẳng phải sao?”.

    Không biết tại sao, nghe câu này, trong lòng Đường Tiềm lại có chút không thoải mái, đành nói: “Ngươi còn muốn nói gì nữa?”.

    Mộc Huyền Hư dang hai tay, nói: “Lúc này rồi, ta muốn tự biện hộ một câu được không?”.

    Đường Tiềm vừa nâng đao, lại hạ xuống nói: “Ngươi nói đi”.

    Mộc Huyền Hư cổ họng giật giật, hổn hển nói: “Cứ coi như tất cả nữ nhân trước đây đều là do ta giết, nhưng ả cuối cùng Tưởng cái gì gì đó thì không phải ta làm”.

    Đường Tiềm sững người: “Khẩu thiệt vô bằng. Huống chi cách cô ta chết giống hệt với các cô gái trước đây, ngươi lại vừa khéo xuất hiện ở vùng này”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Ngươi nói không sai. Có điều mùng Ba tháng Mười một, ta bị người khác tập kích trọng thương, bởi thế ngày hôm sau tới đứng ta còn đứng không nổi, càng không nói tới chuyện đi giết người”.

    Đường Tiềm hỏi: “Có người làm chứng không?”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Ngày hôm đó ta giả danh là Vương Đại Hổ tới Vân Mộng cốc cầu cứu chữa. Đại phu ra tay chữa trị trên người ta, bận rộn gần hết một ngày, ta còn phải lưu lại trong cốc gần mười ngày mới có thể miễn cưỡng đi đứng”.

    Đường Tiềm hỏi tiếp: “Ngươi còn nhớ là ai đã chữa trị cho ngươi không?”.

    Mộc Huyền Hư đáp: “Lúc ấy ta luôn hôn mê bất tỉnh, lúc tỉnh lại thì đã được chuyển tới gian phòng khác, do hai thị nữ trong cốc chăm sóc. Bọn họ nói là ta được đích thân Mộ Dung tiên sinh cứu chữa, nếu không hiện giờ ta đã là một hồn ma rồi”.

    Đường Tiềm nghĩ một lát, đột nhiên điểm vào đại huyệt toàn thân Mộc Huyền Hư, nói: “Ngươi đã có chứng cứ, chúng ta sẽ đi gặp Mộ Dung Vô Phong nghe xem sự việc đúng thật là như vậy không”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Ngươi đã có lòng hoài nghi chuyện này, vậy tâm nguyện của ta đã toại rồi, ta… mệt rồi”, thương thế hắn trầm trọng, đầu lệch sang một bên ngất đi.

    Đường Tiềm vác thân thể nặng nề ấy lên vai, bảo: “Đường Bồng, tìm xe ngựa, chúng ta tới Vân Mộng cốc”.
  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 16: Kiến xanh bò miệng cốc


    Trang viện thâm trầm, buổi hoàng hôn.

    Cuối đông tuyết tạnh.

    Ngoài hiên mưa nhẹ giăng ướt cây ngô đồng, từng giọt từng giọt từ cành lá nhỏ xuống “tích tích”, rơi thẳng vào lòng người sầu muộn.

    Trong phòng ấm áp như đương xuân.

    Lò sưởi vừa được nhét đầy than hồng la hương, than bắt lửa cháy, phát ra tiếng tí tách nghe khoan khoái.

    Hồng thúc ngồi lặng lẽ trên một chiếc ghế cạnh giường; mặt mày buồn rầu nhìn bóng người áo tuyền một màu trắng đang ngồi tựa giường ẩn sau lớp rèm lụa đỏ.

    Sau khi Hà Y qua đời, người sau rèm trở lại trầm mặc như ngày trước.

    Mỗi đêm, sau khi làm xong công việc một ngày, chàng đều uống một chút rượu, sau đó, ngồi tựa ở đầu giường, ngắm nhìn ngọn lửa phập phù phiêu động của cây nến màu bạc đặt trên chiếc kỷ nhỏ, cứ thế cho tới nửa đêm mới đặt mình xuống.

    Trước đây, lúc chàng một mình ở trong trang viện này, không ai biết được rốt cuộc chàng thức qua những đêm dài dằng dặc ấy như thế nào.

    Chàng chỉ là ngồi bất động, ngồi tới đờ ra, tựa như bản thân là một đồ vật trong gian phòng.

    Cái ảo giác đáng cười kia vẫn thường phát sinh, dần dần dường như càng ngày càng nghiêm trọng. Sau khi nhận ra, chàng càng trầm mặc hơn nhưng lại thường không nén nổi mà cảm thấy hoang mang.

    Mọi người đều biết, trong nội tâm chàng đang lẩm nhẩm tự nói chuyện một mình, giống như Hà Y vẫn đang ở bên cạnh.

    Thứ khiến người ta khóc cười không xong chính là chiếc rương chứa tất cả di vật cùa Hà Y.

    Mỗi khi tới đêm khuya người vắng, bản thân say khướt, chàng đều sẽ kéo dây chuông, sai người nạy chiếc rương ấy ra, hết lần này tới lần khác mân mê từng vật trong đó.

    Hôm sau tỉnh rượu, chàng sẽ lại gọi thợ mộc tới đóng lại rương, lại còn sai ông ta “tăng thêm một cái khóa”.

    Kế đến, hình như sợ bản thân không kiềm chế được, chàng chạy tới bên hồ, ném hết chìa khóa xuống nước.

    Chẳng được bao lâu, lại là một ngày rượu say nào đó, chàng sẽ lặp lại những hành động trên.

    Đến hôm sau, khóa trên rương đã thành ba chiếc, bốn chiếc... sáu chiếc.

    Dần dần, đến một lần sau chót, thợ mộc nhận ra nắp nương đã hoàn toàn thủng lỗ chỗ, chẳng thế đóng thêm khóa mới vào nữa, đành ngập ngừng kiến nghị:

    “Cốc chủ, không cách nào thay khóa nữa, nắp rương đã tã hết rồi.”

    “Vậy thì đổi rương khác”, Mộ Dung Vô Phong nói.

    Bác thợ mộc gom hết dũng khí, lại nói thêm một câu: “Tôi thấy không bằng kiếm thợ rèn làm chiếc rương này thành rương sắt, sau đó nghĩ cách vĩnh viễn niêm chặt nắp lại. Như thế, ngài cũng chẳng có cách nào mở được nó ra nữa”.

    “Ừm, nói có lý”, Mộ Dung Vô Phong nhìn ông ta một cái, đôi mày nhướng lên “Có điều, ta vẫn thích rương gỗ”.

    Bác thợ mộc nhìn chàng chẳng biết phải làm sao, trong lòng thở dài, bệnh của người này bao giờ mới có thế tốt lên?

    * * *

    Đã chẳng nhớ nổi lần cuối cùng bản thân uống rượu như thế này là từ bao giờ.

    Chỉ nhớ được đó là một buổi hoàng hôn.

    Tịch dương rực rỡ, sen trên hồ nở rộ.

    Chàng ngồi trong tiểu đình, cảm thấy không chịu nổi mỹ cảnh truớc mắt.

    Đành nhanh chóng chạy về phòng, vội vàng mở bình rượu, ngửa đầu dốc xuống.

    Bây giờ, hoàng hôn lại tới.

    Chàng xua tất cả người bên cạnh đi.

    Nén chịu cơn đau thấu xương, cắn răng rót cho mình đầy một chén rượu.

    Chàng uống không nhanh, chỉ muốn hưởng thụ từng chút men say của rượu.

    Giờ này bất kể chàng làm gì đều không muốn người bên cạnh trông thấy.

    Nốc một ngụm lớn, trong đầu bắt đầu nóng lên, cả cơ thể cứ phiêu phiêu như muốn bay bổng.

    Chàng nhắm mắt lại, lặng lẽ hưởng thụ thời khắc tự do hiếm có này.

    Cho dù đấy chỉ là ảo giác.

    Ngồi một mình rất lâu, ánh nến trên kỷ mờ mịt đi, dường như có một cơn gió nhẹ từ ngoài cửa sổ lùa vào.

    Cùng lúc ấy chàng nghe có tiếng gõ cửa.

    Tiếng gõ cửa rất khách khí, lịch sự.

    Chỉ có ngưòi lạ hiểu lễ độ mới có thế gõ cửa như thế.

    Chàng chớp mắt, cố hết sức muốn lôi bản thân ra khỏi ảo giác.

    Hai bóng người cao lớn lặng lẽ không một tiếng động đi tới bên giường chàng.

    Chàng miễn cưỡng ngồi dậy, tựa lưng vào gốì, đưa ánh mắt mông lung say xỉn nhìn người vừa tới, thầm nghĩ: sao trong cốc đi thuê bao nhiêu cao thủ như thế, người Đường môn vẫn cứ có thể tự do ra vào.

    Đường Tiềm cung kính lễ độ nói: “Đang đêm tìm đến, quả thật không cố ý làm phiền, đúng là có việc gấp cần thỉnh giáo”.

    “Có việc gì vậy”

    “Có bệnh nhân tính mạng nguy cấp, muốn xin tiên sinh ra tay chữa trị.”

    “Chỉ sợ các hạ phải đợi một ngày. Trong cốc có quy định, người trọng bệnh thì lấy thứ tự vào cốc trước sau mới lần lượt chữa trị. Hôm nay tất cả đại phu đều rất bận”, Mộ Dung Vô Phong từ tốn nói.

    ... Tuy không hề thăm khám, y vụ mỗi ngày đều do một tay chàng sắp xếp, trong tay ai có bệnh nhân gì, chàng đều nắm rất rõ ràng.

    “Cho nên chúng tôi chỉ đành tới tìm ngài”, Đường Tiềm một câu áp tới, “Hình như ngài không bận lắm”.

    ... Há chỉ không bận, chàng lại còn có cả thời gian nhàn rỗi uống rượu.

    Trong phòng nồng nặc mùi rượu.

    Nhìn hắn ngạc nhiên và chẳng biết phải làm sao, Mộ Dung Vô Phong đành nói: “Người ở đâu?”.

    Đường Bồng nói: "Chúng tôi đã đưa hắn vào phòng khám của ngài”.

    Chàng cười lạnh: “Hai vị đúng là tỏ tường Trúc Ngô viện như lòng bàn tay”.

    Đường Tiềm không biến sắc đáp: “Quá khen”.

    Tình trạng của Mộ Dung Vô Phong còn xấu hơn Đường Tiềm, Đường Bồng tưởng tượng.

    Chàng còn không thể tự mình rửa tay.

    Đường Bồng đành rửa tay thật kỹ cho chàng.

    Kế đó, hắn lại phát hiện cánh tay của Mộ Dung Vô Phong không sao nhấc cao được, đành nhấc tay trái chàng đặt lên cổ tay Mộc Huyền Hư.

    Ngón tay thon dài ấn khẽ lên mạch của bệnh nhân, Mộ Dung Vô Phong ngẩng đầu hỏi Đường Tiềm: “Người này là do ngươi đả thương?”.

    Đường Tiềm hơi lúng túng: “Ngài cũng có nghiên cứu về nội công?”.

    “Ta rất thành thạo về nội thương”, chàng nói tiếp, “Hắn đã bị đứt một kinh mạch”.

    “Ngài muốn nói... võ công của hắn đã bị phế?”, Đường Tiềm lo lắng hỏi.

    “Ngươi hạ thủ nặng nhẹ ra sao há lại không bết ư?”

    “Nếu không ta đã chẳng tới tìm ngài, đúng không?”, biết bản thân đuối lý, hắn dứt khoát không nói nữa.

    “Nói như vậy, ngươi nhất định đã làm sai chuyện gì, nếu không đã chẳng chột dạ như thế, Mộ Đung Vô Phong chẳng chút khách khí.

    Nghe câu này, Đường Tiềm cảm thấy hổ khẩu cứng đanh lại, suýt nữa bẻ gẫy cây gậy trúc nắm trong tay, lưỡng lự một lúc rồi hói: “Rốt cuộc ngài có cứu không?”.

    “Không chết được đâu, chỉ có chút phiền hà thôi. Hắn cần thời gian một tháng hoàn toàn tĩnh dưỡng dùng thuốc, lại cần một người nội lực thâm hậu giúp hắn điều trị thương thế”

    “Tôi có thể giúp hắn”, hắn thở phào một hơi.

    “Hiện giờ thương thế hắn quá nặng, lại đang hôn mê bất tỉnh, trước tiên phải nghỉ ngơi bốn ngày mới có thể chữa trị lúc ấy ta tin Điền đại phu có thể ra tay được. Ta sẽ đứng bên xem xét, sẽ không có vấn đề gì.”

    “Tốt quá rồi”, Đường Tiềm nói: “Ngài nói thế tôi hoàn toàn yên tâm rồi. Có điều, người này tôi tuyệt không yên tâm để hắn lại Vân Mộng cốc. Cứ như bây giờ có thể nói, hắn không phải người tốt...”.

    Lời hắn chưa dứt, Mộ Dung Vô Phong đột nhiên ho khạc dữ dội, tựa như bị sặc đờm, khuôn mặt đỏ bừng lên.

    Hai người kia lập tức cuống cả lên, một người giữ lấy chàng, tránh cho chàng ngã xuống. Người kia nhấc ống nhổ dưới đất lên rồi vỗ mạnh một chưởng sau lưng chàng, ép chàng khạc đờm tắc trong phổi ra.

    Trầy trật hồi lâu, cơn ho tạm dừng, khuôn mặt Mộ Dung Vô Phong lại bắt đầu xám tái.

    Đường Bồng nói: “Chúng ta phải nhanh nhanh đưa hắn về giường, sắc mặt hắn trông thật đáng sợ”.

    Hai người rón rén khiêng chàng về tẩm thất, lại rón rén như phường trộm cắp nhét chàng vào trong chăn. Đúng lúc nghĩ kế sách thì chợt nghe ngoàỉ cửa có tiếng bước chân, kế đó, một giọng nói lạnh lùng vang lên sau lưng họ:

    “Hai vị muốn làm gì?”

    Đường Bồng quay đầu nhìn, thấy một người áo xanh tuổi độ năm mươi mặt mày thâm trầm nhìn bọn họ, giờ muốn tránh cũng không kịp chỉ đành nói: “Bọn tôi... là bằng hữu của cốc chủ, lần này là cố ý tới thăm hỏi người”.

    Người áo xanh hừ lạnh một tiếng, nói: “Bằng hữu của cốc chủ? Cốc chủ trước giờ không có bằng hữu. Thêm nữa, đã là bằng hữu, hà tất không thông báo mà lại lẻn vào?”.

    Ông ta bước tới nhìn Mộ Dung Vô Phong đang nằm trên giường rồi thấp giọng nói vài lời bên tai chàng. Mộ Dung Vô Phong nhắm mắt, cũng đáp lại một câu. Thần sắc nguời áo xanh giãn ra, nổi: “Cốc chủ mời hai vị vào thư phòng đợi tạm”.

    Hai người ngồi trong thư phòng gần một nén hương mới thấy người áo xanh đưa Mộ Dung Vô Phong tới.

    Chàng đã đổi y phục mới, trong phòng rõ ràng đang đốt một cái lò sưởi cao hơn ba thước vậy mà chàng vẫn cảm thấy lạnh, hơn nữa thân thể cuộn trong một tấm chăn lông vuông dày cộp.

    Còn Đường Bồng, Đường Tiềm ngồi đối diện chàng thì lại chỉ khoác một tấm áo bào rộng, tuy đã ngồi cách lò suởi tới hơn một trượng nhưng vẫn bị hơi nóng hun cho toàn thân ướt đẫm mồ hôi.

    Không biết vì sao, Đường Bồng chỉ cảm thấy thư phòng nội thất toàn bằng gỗ hoa lê nặng nề này chỗ nào cũng âm trầm cứ như một huyệt động thâm u.

    Còn chủ nhân của thư phòng thì nhắm mắt ngồi tĩnh lặng, thân thể tàn phế nhưng tư thái lại rất cao quý.

    Khuôn mặt Mộ Dung Vô Phong gầy guộc, nhưng đôi mắt thì kiên định, khi nhìn người khác hai mắt nhắm hờ, trong cái nhìn thường mang chút lạnh lùng.

    Giọng của chàng rất thấp nhưng rất êm tai, chỉ có điều người thường buộc phải dỏng tai lên mới có thể nghe rõ rốt cuộc chàng đang nói gì.

    Chàng rất khách khí với người xa lạ, khách khi tới mức khiến người khác cảm thấy chàng căn bản chẳng muốn quen biết mình.

    Người áo xanh nói bên tai Mộ Dung Vô Phong vài câu, tựa như hỏi chàng còn cần gì không. Mộ Dung Vô Phong lắc đầu: “Ta không sao, thúc đi đi”.

    Người này rất không yên tâm nhìn Đường Tiêm một cái rồi lặng lẽ rời đi.

    Căn phòng lại chìm vào yên lặng.

    Vừa trải qua một phen hốt hoảng, mọi người đều quên đi mất bản thân muốn nói gì.

    Mộ Dung Vô Phong khẽ ho một tiếng, nói: “Nói tiếp đi, người này rốt cuộc là ai?”.

    Hắn tên là Mộc Huyền Hư. Có lẽ ngài chưa hề nghe qua cái tên này...”

    Mộ Dung Vô Phong hơi chau mày, dường như lại đắm mình vào trầm tư, một lúc sau chợt hỏi: “Mộc Huyền Hư... có phải tên hái hoa đại đạo khét tiếng nọ?".

    ... Xem ra người này vẫn có chút hiểu biết về giang hồ.

    Đường Tiềm, Đường Bồng không khỏi đồng thời nghĩ tới.

    Đường Tiềm nói: “Không sai. Mấy tháng nay hắn đều ở trong Thần Nông trấn”.

    Mộ Dung Vô Phong nhìn hắn, không nói năng gì, ý đợi hắn nói tiếp.

    Kế đó, Đường Tiềm đem sự tình kế lại một lượt rồi nói:

    Hắn nói với tôi, mùng Bốn tháng Mười một năm trước, hắn từng lấy tên là Vương Đại Hổ tới chỗ ngài xin chữa tri, còn nói do ngài tự mình chữa trị thương thế cho hắn.”

    Mộ Dung Vô Phong lắc đẩu: “Ta chưa từng gặp người này”.

    Chưa từng gặp?”, Đường Tiềm sững người, “Nói như vậy là hắn đang dối trá”.

    Cũng chưa chắc. Việc này dễ tra, chỗ ta có tất cả ghi chép, rất nhanh có thể tìm ra đáp án thôi.”

    Đường Bồng đi tới, theo chỗ Mộ Dung Vô Phong chỉ, Lấy mấy cuốn sổ trên kệ bên cạnh đem tới trước mặt chàng, rồi từ từ lật từng Trang để chàng xem qua.

    Xem một lúc, Mộ Dung Vô Phong nói: “Không sai, mùng Bốn tháng Mười một đích xác có một bệnh nhân tên là Vương Đại Hổ. Ghi chép có nói người này tới lúc cuối giờ Tuất, ngực trúng một đao, nội thương nghiêm trọng, thổ huyết không ngừng. Là do Vương đại phu chữa trị”.

    Ngày hôm đó ngài có từng tới chỗ Vương đại phu không?”

    Có tới. Có điều lúc ấy ta và một vị đại phu khác ở phòng khám bên cạnh chữa cho một bệnh nhân khác. Mấy thị nữ đó thấy ta ra vào nên chắc là nhớ nhầm người rồi, chàng kéo dây chuông bên cạnh, sai người đi gọi Vương Tử Kinh.

    Ba người lại đưa Vương Tử Kinh tới phòng khám xem xét. Vương Tử Kình khẳng định chắc chắn: “Không sai, đúng là hắn, học trò nhớ rất rõ. Vết sẹo trên ngực vẫn đúng chỗ đó”.

    Chữa trị mất bao nhiêu lâu?”, Mộ Dung Vô Phong hỏi.

    Khoảng một canh giờ, sau đó hắn hôn mê bất tỉnh, tới tối ngày hôm sau mới tỉnh lại.”

    Đường Tiềm nói: “Căn cứ vào ghi chép, hôm đó hái hoa đại đạo hành động vào lúc tảng sáng, Với thương thế của Mộc Huyền Hư…”.

    Tuyệt đối không thể”, Mộ Dung Vô Phong nói.

    "Nói vậy là hắn bị oan?”

    Ít nhất thì lần này đúng là thế.”

    Liệu tôi có thể tin ngài giúp một chuyện?”, Đường Tiềm chợt hỏi.

    Việc gì?”

    Ngài có thể làm Mộc Huyền Hư tỉnh lại không?”

    Hà Y, bưng cho ta một bát canh sâm tới đây.”

    Lúc chàng nói, đầu ngước qua một bên cứ như thật sự có một người đang đứng bên cạnh mình.

    Trước mắt là một khoảng tối tăm, Đường Tiềm chợt cảm thấy có chút lạnh toát da đầu.

    Lẽ nào trong phòng này đúng là còn một nữ nhân?

    Sao bản thân không mảy may phát hiện?

    Sở Hà Y không phải đã qua đời rồi sao?

    Vương Tử Kinh biều tình phức tạp nhìn Đường Tiềm, không nói gì, hấp tấp ra ngoài.

    Chỉ có Đường Bồng chẳng phát giác ra cái gì, còn tưởng Mộ Dung Vô Phong nhất thời nói nhầm, cười với chàng, nói: “Liệu có thể cho tôi chén nước không?”.

    Hai người họ vác một người tìm đại phu cả buổi chiều, còn chưa kịp uống một ngụm nước. Bây giờ đã có thể yên tâm liền lập tức cảm thấy khát khô cả cổ.

    Đợi nội tử bưng thuốc tới sẽ pha trà cho hai vị. Vừa hay ở đây ta có một hộp trà Thiết quan âm mùi vị rất khá”, Mộ Dung Vô Phong vui vẻ nói, trên mặt còn có chút hồng hào.

    Đường Bồng ngẩng đầu, mê mê hoặc hoặc khó hiểu nhìn chàng, lại sợ bản thân thất lễ vội cúi gằm mặt xuống, nhưng vẫn cứ len lén liếc Đường Tiềm một cái.

    Đường Tiềm nhạt giọng đáp: “Vậy thì đa tạ rồi”.

    Chẳng bao lâu sau, Vương Tử Kinh bưng thuốc vào, đi thẳng tới trước giường Mộc Huyền Hư, dùng ngân châm châm hai mũi trên đỉnh đầu hắn rồi đổ thuốc vào miệng hắn, sau đó lại nhẹ nhàng xoa bóp trưóc ngực hắn một lúc, Mộc Huyền Hư cuối cùng cũng yếu ớt tỉnh lại.

    Vương đại phu bưng một tách trà tới trước mặt Mộ Dung Vô Phong, thấp giọng nói: “Tiên sinh, có cấn uống chút trà không?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Ta không khát anh đi đi. Có Hà Y ở đây lo liệu là được rồi”.

    Vương đại phu ngây ra, không dám nói gì một lúc sau mới đáp: “Vậy học trò xin cáo lui”.

    Nhìn Vương Tử Kinh đi khỏi, Mộ Dung Vô Phong quay đầu sang Đường Bổng hỏi: “Mùi vị Thiết quan âm thế nào?”.

    Lúc chàng nói câu này, trong tay hai người kia không hề có chén trà nào lại càng chẳng có trà. Đường Bồng thì sớm đã khát khô cổ. Hắn nghĩ một lúc đã đoán ra có lẽ là vì chuyện gì, liền nói: “Mùi vị cực ngon. Xin lỗi, tôi phải ra ngoài tiểu tiện một lát”.


    Nói xong loáng cái hắn đã chuồn ra ngoài tìm nước uống.

    Đường Tiềm ngẩng đầu, mơ màng nhìn vào không trung, trong đôi mắt sâu thẳm tĩnh lặng như hồ nước chợt dấy lên một chút trống rỗng và tịch mịch khó tả, muốn nói gì đó nhưng rồi lại nuốt những lời ấy xuống.

    Trầm ngâm hồi lâu, hắn hỏi: “Có phải Mộc Huyền Hư đã tỉnh rồi không?”.

    Chỉ nghe thấy một giọng khàn khàn: “Quà nhiên ngươi đã đem ta tới chỗ Mộ Dung Vô Phong!”.

    Tuy giọng Mộc Huyền Hư nói ra nhàn nhạt nhưng Đường Tiềm vừa nghe lại vẫn cứ sợ hắn tâm địa xấu xa, xuất thủ đả thương người khác, lập tức kéo xe lăn của Mộ Dung Vô Phong tới bên người mình, xuất thủ điểm nhanh, “bách bách” mấy tiếng, đã điểm hết đại huyệt toàn thân Mộc Huyền Hư một lần nữa, trầm giọng nói: “Các hạ chẳng phải bằng hữu gì, đành chịu thiệt một chút”.

    Mùi sâm đắng vẫn còn trong miệng, Mộc Huyền Hư nhìn Mộ Dung Vô Phong, trong mắt lại hiện ra vẻ trào phúng, nói: “Mộc mỗ có tài đức gì mà hôm nay lại được Đường đại hiệp với thần y tiên sinh chiếu cố”.

    Mộ Dung Vô Phong hừ lạnh một tiếng, hỏi: “Ngưoi nhận ra ta?”.

    Thiên hạ ai mà không nhận ra ngài?”

    Thì ra là một vị hái hoa tặc có học vấn, thất kính rồi.”

    Nói không sai, Mộ Dung tiên sinh, lúc tôi tuyệt vọng nhất từng nghĩ tới việc một đao tự cung để rửa nỗi oan.”

    Vì chứng minh trong sạch mà biến bản thân thành kẻ bất nam bất nữ, loại trong sạch này cái giá phải trả chẳng phải hơi quá cao sao?”, Mộ Dung Vô Phong từ tốn nói.

    Cho nên một nam nhân có thể bị người ta hiểu nhầm thành loại người gì cũng được, nhưng tuyệt đối không thể là một hái hoa tặc.”

    Nói câu này, tựa như cảm thấy rất buồn cười, hắn cười phá lên, cười tới bi thương, tiếng cười vút cao, quỷ mị vang vọng trong tai Đường Tiềm.

    Tới cả Mộ Dung Vô Phong nghe cũng có phần cám cảnh.

    Mãi mới đợi được hắn cười xong, Mộ Dung Vô Phong nói: “Chúng ta vừa mới tra sổ sách, vụ án cuối cùng đó đúng là không phải ngươi làm”.

    Mộc Huyền Hư cười khổ: “Tôi còn cho rằng trên đời này không còn ai chịu nghe tôi nói nữa”.

    Mộ Dung Vô Phong nhìn hắn nói: “Nếu như là lời thật rốt cuộc sẽ có người nghe”.

    Đường Tiềm nói: “Nếu lần đó không phải là ngươi làm, vậy ngươi có biết ai là hung thủ thực sự?”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Ta đương nhiên biết”.

    Mộ Dung Vô Phong liếc Đường Tiềm một cái rồi nói: “Ngươi nói đi”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Là Thiết Phong”.

    Hai người kia kinh ngạc, trầm mặc hồi lâu, Đường Tiềm mới hỏi: “Có chứng cứ gì không?”.

    Ta chính là chứng cứ”, Mộc Huyền Hư nói, “Lần đầu tiên lão làm việc ấy vẫn còn chưa lão luyện như bây giờ. Hôm đó trời vừa sáng, tôi ra ngoài thăm một vị bằng hữu, trở về rất muộn, đang đi trên một ngã rẽ lên trên núi, kết quả là giữa đường vừa hay gặp sư phụ. Lão đang mặc đồ dạ hành, sau khi gặp tôi, lão lắp ba lắp bắp, thần trí hoảng hốt. Lúc ấy tôi rất kinh ngạc, nhưng cũng chẳng nghĩ nhiều. Đến hôm sau tôi mới nghe được chuyện dưới núi có thiếu nữ bị gian sát”.

    Mộ Dung Vô Phong hỏi: “Lúc ấy sư phụ ngươi bao nhiêu tuổi?”.

    Mộc Huyên Hư nỏi: "Bốn mươi chín tuổi".

    Đường Tiềm nói: “Cứ coi như là hôm đó ngươi vừa hay gặp sư phụ mình, cứ coi như ông ta mặc đồ dạ hành, thế cũng không thể chứng minh ông ta là hung thủ. Nhiều nhất chỉ là có khả năng mà thôi”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Có lẽ ngươi không tin, lúc ấy ta còn nghĩ đơn giản hơn ngươi. Căn bản ta không hề hoài nghi lão. Trông lão tuy rất nghiêm túc cũng là người rất ôn hòa hiền hậu. Trong đạo quán quan hệ với mọi người cực tốt, trên giang hồ cũng rất có tiếng tăm. Đối với mấy đồ đệ thì lại càng chiếu cố. Lúc ấy ta gần như được xem là đệ tử được ông ta yêu quý nhất. Nói một câu, ngươi có nhìn thế nào cũng không thể nhìn ra ông ta có thể làm loại chuyện ấy. Ngày thứ ba sau khi xảy ra chuyện, lão còn gọi ta vào phòng mình, nói rằng nộỉ công ta tiến bộ rất nhanh, lão quyết định bẩm rõ với chưởng môn, đem công phu thượng thừa nhất Thái ất nhu hỏa công của Tâm Ý môn, Long Môn phái truyền cho ta. Đầu ta nóng lên, dứt khoát đem chuyện kia quăng khỏi đầu. Cho tới một ngày...”.

    Hắn cắn răng, trên mặt lộ ra nét thống khổ, nói: “Cho tới một ngày, ta lại đi thăm hỏi bằng hữu, đến nhà hắn rồi mới biết hai hôm trước hắn đã chết bất đắc kỳ tử. Lúc ấy ta mới hoài nghi. Bằng hữu của ta là một thư sinh từ vùng khác tới tham gia khảo thí, nửa đường lộ phí không đủ nên đến tiểu trấn dưới chân núi thuê phòng đọc sách. Lúc ta tới người trong thôn mới gom đủ tiền mua quan tài cho hắn, còn chưa nhập thổ. Ta mở quan tài xem thử, liền biết hắn bị cao thủ hãm hại. Trên người tuy không có vết thương nhưng nội tạng đã nát. Chiêu này là chiêu lợi hại nhất trong Long Môn chưởng pháp, gọi là “Dạ khí du sơn”. Dưới gầm trời này có thế đánh ra chưởng ấy chỉ có duy nhất một người là Thiết Phong”.

    Lúc ấy ta giận tới mức tay chân lạnh toát, lập tức xâu chuỗi mấy việc lại từ đầu tới cuối. Buổi tối hôm đó, ta bèn quyết định phải về Võ Đang tìm sư phụ đối chất. Không ngờ còn chưa tới được sơn môn đã bị lão dẫn một đám đệ tử truy sát. Ta trốn đông né tây, đến hôm sau mới biết trong thôn ta vừa tới lại có một cô gái bị người ta gian sát một cách tàn nhẫn. Nghe bảo tin ấy vừa truyền lên núi, sư phụ đã tố giác ta, nói rằng đây chẳng phải lần đầu tiên ta làm thế, đêm hôm trước lão bắt gặp ta trên sơn đạo, lúc ấy ta lại còn mặc đồ dạ hành chỉ là lúc đó lão hoàn toàn không nghĩ tới mà thôi.”

    Mộ Dung Vô Phong ngắt lời hắn, hỏi: “Ngươi không ở trên núi, việc sư phụ ngươi tố cáo ngươi là ai nói cho ngươi biết?”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Là tam sư đệ Đinh Hoành báo cho tôi. Bọn tôi từ rất nhỏ đã cùng vào Võ Đang, luôn là hảo bằng hữu. Hôm đó nó nghe sư phụ nói thế, vẫn không tin đó là hành vi của tôi nên mới một mình xuống núi tìm tôi”.

    Đường Tiềm hỏi: “Sao hắn không tin đó là hành vi của ngươi?”.

    Mộc Huyền Hư đáp: “Là vì trước đây một tháng ta vừa mới quen được một cô gái rất xinh đẹp, bọn ta thường xuống núi tìm nàng. Cô gái ấy cũng có ý với ta cho nên nó mới không tin ta có thể làm ra loại chuyện đó”.

    Mộ Dung Vô Phong lãnh đạm nói: “Hẳn Thiết Phong cũng đã giết vị sư đệ này của ngươi”.

    Mộc Huyền Hư ngẩn ra, hỏi: “Sao ngài biết?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Ta đoán ra”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Còn có một việc nhất định ngài không nghĩ tới”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Chắc Thiết Phong cũng giết vị nữ tử yêu thương ngươi kia luôn”.

    Mộc Huyền Hư lại ngẩn ra, hỏi: “Sao ngài biết?”.

    Mộ Dung Vô Phong đáp: “Ta đoán ra”.

    Sắc mặt Mộc Huyền Hư nhợt nhạt, nói: “Tôi vĩnh viễn không quên được cảnh tượng lúc A Thanh chết đi. Vừa nghe được tin sư đệ chết, tôi liền mặc kệ tất thảy chạy như điên về tìm A Thanh... nhưng vẫn chậm một bước, lại còn bị bổ khoái canh ở đó bắt gặp. Hôm đó tôi đã gần như phát điên, chém giết một trận rồi chạy lên núi, ngồi một mình trên vách đá cheo leo hết đêm. Tôi chỉ muốn chết ngay lập tức nhưng cảm thấy như thế thì dễ dàng cho lão quá, chí ít cũng phái đồng quy vu tận với lão!”.

    Lúc hắn nói câu này, đôi mắt hừng hực, thần tình kích động, chạm tới nội thương, không kìm được ho kịch liệt một trận.

    Mộ Dung Vô Phong cố sức với một bình ngọc trên kệ bên cạnh, đưa cho Đường Tiềm:

    Đây là thuốc, cho hắn uống một viên.”

    Đường Tiềm dốc một viên thuốc vào miệng Mộc Huyền Hư, hắn mới dần bình tĩnh trở lại.

    Một lúc sau, nhận thấy Mộc Huyền Hư không nói tiếp nữa, Đường Tiềm không nhịn được hỏi: “Hắn hôn mê rồi sao?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Không”.

    Sao hắn không nói nữa?”

    Vì hắn đã uống thuốc của ta... hiện giờ... e là đang gặp ảo giác”

    Đường Tiềm hỏi: “Lời hắn vừa nói, ngài tin không?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Nghe thì không có vẻ là nói dối, có điều người nào muốn biện hộ cho bản thân thì đều có thể bịa ra một câu chuyện. Huống chi người biết chuyện đều chết hết rồi”.

    Đường Tiềm gật đầu, nói: “Chỉ có một điểm ta không tin lắm. Ta từng gặp Thiết Phong đạo trưởng. Nghe giọng của ông ta trung khí không đủ, bộ dạng tựa như một người già nua. Người như thế... liệu có... liệu có ham muốn làm chuyện kia đến thế không?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Rất khó nói. Công pháp mật truyền của đạo gia có không ít thuật luyện đan. Trước đây các đạo sĩ đều luyện ngoại đan, cũng chính là phối chế các loại đan dược trường sinh. Hiện có không ít người chuyển sang luyện nội đan”.

    Đường Tiềm hỏi: “Nội đan?”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Có một vài kẻ luyện nội đan tin rằng giao hợp với nữ nhân có thể trường sinh bất lão. Những nữ nhân này thường bị gọi là ‘đỉnh’. Quá trình luyện đan thì gọi là ‘Chú kiếm[1]’”.

    [1] Đúc kiếm.

    Đường Tiềm không nhìn được muốn cười hỏi: “Sao ngài biết rõ thế? Luyện qua rồi à?”.

    Trong sách có chép.”

    Đường Tiềm thở đài một tiếng, nói: “Tôi hy vọng ngài đừng đoán đúng tiếp”.

    Mộ Dung Vô Phong cười nhạt: “Ta rất ít khi đoán sai”.

    Nói rồi chàng thổi tắt một ngọn nến, ánh sáng trong phòng lập tức mờ mịt.

    Đường Tiềm nghe thấy Mộ Dung Vô Phong vỗ nhè nhẹ lên ngực Mộc Huyền Hư, dùng giọng nói trống rỗng gọi hắn: “Mộc Huyền Hư... Mộc Huyền Hư..”

    Kế đó, hắn nghe thấy một tiếng thở dài. Một lúc lâu sau, Mộc Huyền Hư hỏi: “Ngươi là ai? Đây... đây là nơi nào?”.

    Ta là sư phụ ngươi...”

    Sư phụ?...”

    Ta biết... những chuyện ấy... đều là ngươi làm... là ngươi làm, đúng không?”, Mộ Dung Vô Phong khe khẽ hỏi.

    Không phải!”, Mộc Huyền Hư đột nhiên gào lên: “Không phải! Là ngươi! Là ngươi làm! Tại sao ngươi phải hại ta? Tại sao... tại sao ngươi phải giết Tiếu Thanh? Nguơi... ngươi... không phải là sư phụ ta!”, hai mắt hắn nhắm chặt, nghiến răng ken két, ngực phập phù, toàn thân run lên bần bật.

    Mộ Dung Vô Phong quay đầu lại, đưa một bình thuốc khác vào tay Đường Tiềm, nói: “Xem ra lời hắn nói là thật. Thuốc vừa rồi hắn uống là Mê ảo tễ do ta điều chế, sau khi uống vào thì liền giống như nằm mộng”.

    Uống thuốc giải xong, Mộc Huyền Hư yên bình chìm vào giấc ngủ.

    Đường Tiềm than dài một tiếng, cảm thấy toàn thân đẫm mồ hôi lạnh, than rằng: “May mà tôi chưa giết hắn!”.

    Xem ra làm đại hiệp cùng chẳng phải chuyện dễ dàng gì”, Mộ Dung Vô Phong lạnh lùng trào phúng một câu.

    Đường Tiềm cứng đờ mặt hỏi: “Ngài chế giễu tôi?”.

    Mộ Dung Vô Phong nhướng đôi mày: “Người Đường môn trước nay việc gì cũng đều là làm trước nghĩ sau, ta nói sai sao?”.

    Đường Tiềm nói: “Chớ có đem cả Đường môn gom hết lên đầu tôi, tôi chỉ là Đường Tiềm mà thôi”.

    Tóm lại việc lần này ngươi làm sai, hiện giờ đã thành đồng lõa của Thiết phong rồi”

    Đường Tiềm im lặng không nói, một lúc sau mới cất tiếng: “Cho dù lời hắn nói là thật, tôi đi giết Thiết Phong cũng phải có chứng cứ, nếu không tôi lại chẳng phải thành nối giáo cho giặc ư?”.

    Thiết Phong là trưởng lão nổi tiếng của Võ Đang, lại đang vào lúc sung sức, võ công hẳn phải cao hơn ngươi. Huống chi lão còn có khả năng đánh lừa đôi tai của ngươi, việc này chí ít cũng cho thấy nội lực của lão hoàn toàn tự do khống chế. Có khả năng ngươi không phải đối thủ của lão.”

    “Tôi thừa nhận ngài là chuyên gia về phương diện nội thuơng, có điều về mặt võ công, ngài căn bản là kẻ ngoại đạo”, Đường Tiềm lạnh lùng nói.

    Mộ Dung Vô Phong tức xanh mặt.

    Việc chúng ta có thể làm chỉ là nghĩ cách khiến hắn lại gây án một lần nữa, rồi bắt quả tang tại hiện trường. Đồng thời lúc ấy phải có người làm chứng bên cạnh”, một lúc sau Mộ Dung Vô Phong nói.

    Đường Tiềm hỏi: “Chúng ta?”.

    Chúng ta. Ta và ngươi. Đường Bồng cũng có thể tính thêm vào nữa.”

    Từ lúc nào thần y cũng thích di quản việc không liên quan tới mình thế?”

    Ta chỉ là không thích có một tên hái hoa đại đạo làm loạn lên trước cửa nhà mình mà thôi.”

    Tuy Thiết Phong cứ định kỳ lại gây án nhưng muốn bắt lão đúng lúc lão đang gây án thì rất khó. Thần Nông trấn lớn thế này lại lộn xộn như thế, Cho dù chúng ta có tìm được lão, cũng chẳng biết phải đợi bao lâu lão mới nhắm tới mục tiêu kế tiếp.”

    Đương nhiên ta có cách khiến lão phải nhanh một chút”, Mộ Dung Vô Phong thong thả nhả một câu.

    Cách gì?”

    Ngươi có từng nghe tới một loại thuốc, tên là ‘Mỹ nhân nhất tiêu tán’ chưa?”

    Đây là một loại xuân dược lưu hành chốn ăn chơi, hắn đương nhiên có nghe qua, chỉ là xấu hổ không tiện thừa nhận, mặt không khỏi đỏ lên một chút, nói: “Hình như ngài quên tôi là người của Đường môn”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Ta có thể giảm liều lượng đi. Nếu là nam nhân ngay thẳng, sau khi uống vào thì chỉ cảm thấy có chút không thoải mái, hoàn toàn có thể khắc chế. Còn như là hạng không ra gì... kỹ viện trong Thần Nông trấn cũng có vài nhà. Còn nếu như là hạng cực kỳ đồi bại... vậy thì ta cũng không biêt hắn sẽ làm cái gì”.

    Đường Tiềm nói: “Ngài đi hạ thủ, tôi sẽ trông chừng lão”.

    Ta?”, Mộ Dung Vô Phong nhíu mày, “Ta đi lừa lão uống thuốc? Loại người này ta vừa nhìn là buồn nôn”.

    Ngài có biết địa vị của Thiết Phong trên giang hồ thế nào không? Mấy tên tiểu bối chúng tôi làm sao mời được lão?”

    Ngươi muốn ta làm thế nào?”

    Lấy danh nghĩa của ngài mời lão ăn cơm, nhân cơ hội động thủ. Thế diện của ngài rất lớn, lão nhất định sẽ tới.”

    Trên thực tế, trừ khi làm ăn, Mộ Dung Vô Phong trước giờ chưa từng dùng danh nghĩa bản thân mời khách.

    Cá tính không thích gặp người ngoài cùa chàng, trên giang hồ ai ai cũng biết,

    Cho nên, dùng danh nghĩa của chàng mời khách ăn cơm, đây là một chuyện cực kỳ hiếm có.

    Mộ Dung Vô Phong nhíu mày, nói: “Ở cùng một chỗ với loại người ấy, làm sao ta nuốt nổi?”.

    Đường Tiềm vỗ vỗ vai Mộ Dung Vô Phong, nói: “Lão huynh, vì sự an toàn của Thần Nông trấn, bữa cơm này ngài phải ăn thôi”.

    Mộ Dung Vô Phong thở dải, nghĩ ngợi một lát rồi nói: '”Thôi được rồi”.

    Đường Tiềm chợt hiểu tại sao Đường Tầm lại hay vỗ vai hắn.

    Nếu như anh muốn người khác làm chuyện gì anh chỉ cần vừa vỗ vai người ta, vừa nói, hắn sẽ rất khó cự tuyệt.

    Vậy thì đa tạ ngài giúp đỡ”, hắn cười nói, “Oa... trà Thiết quan âm này so với trà Long đoàn ở Kiên Khê còn ngon hơn, ngày mai tôi cũng phải đi mua mấy gói đem về nhà mới được”.

    Mộ Dung Vô Phong hỏi: “Ta mời ngươi uống Thiết quan âm lúc nào thế?”.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 17: Trăng sáng sao mờ


    Hai mươi tư tháng Hai, đêm.

    Trăng mờ mây mỏng.

    Đường Tiềm một thân hắc y, tay chắp sau lưng đứng khuất nơi góc tối ngõ nhỏ. Đi bên cạnh hắn còn có một người lạ mặt khác.

    Người này họ Diệp, người đất Lâm An, là bổ khoái phủ Lâm An.

    Tên của hắn gọi là Diệp Lâm An.

    Vừa nghe tới cái tên này Đường Tiềm không khỏi mỉm cười. Trên đời này có không ít những bậc phụ mẫu thích bớt việc, song thân của vị nhân huynh này đặt tên có thể gọi là rất thống khoái, có điều nếu người trong thiên hạ đều đặt tên con mình kiểu như thế, vậy thì hỏng bét.

    Đường Bồng nói với hắn, Diệp Lâm An thân hình tầm tầm, người gầy guộc, da đen tóc đen, dung mạo bình thường, là một thanh niên không tùy tiện nói cười. Nhìn không ra võ công của hắn thuộc nhà nào, có điều nghe tiếng bước chân thì biết võ công người này tuyệt không yếu.

    Thể hình... dung mạo... màu da, mấy thứ miêu tả này đối với người mù mà nói thì gần như bằng không. Đường Tiềm sinh được ba tháng đã mù rồi, căn bản không nhớ nổi thế giới trước khi tối tăm trông ra sao. Nhưng Đường Bồng và Đường Tầm thì lại bắt đầu tin, cho dù có là trẻ sơ sinh thì cũng phải có chút ấn tượng với đoạn thời gian ấy, trong ký ức chí ít vẫn lưu lại một chút màu sắc và ánh sáng.

    Cho nên Đường Bồng rất nhiệt tình tả, hắn cũng không đành lãng phí ý tốt của người ta.

    Trong lòng hắn không phải là không tiếc nuối mà ngầm thở dài một tiếng, cảm thấy rằng thế giới của mình người khác không cách nào tưởng tượng ra được.

    Từ rất sớm hắn đã hiểu được đạo lý này, và từ lâu lắm rồi hắn chẳng buồn tranh luận nữa.

    Có điều, trên người Diệp Lâm An luôn có mùi hành và rượu, khiến hắn không thích lắm. Đương nhiên, có lẽ là do khứu giác của bản thân quá mức mẫn cảm, kỳ thực chỉ là mùi rất nhạt nhòa, sợ rằng người thường chưa chắc đã ngửi được.

    So ra hắn thích ngồi trong thư phòng của Mộ Dung Vô Phong hơn.

    Trong căn phòng đó có một mùi hương kỳ diệu, chẳng phải hương hoa, cũng không phải khói thơm, mùi thanh nhã man mác, cực kỳ dễ chịu.

    Hắn luôn cho rằng Mộ Dung Vô Phong là dạng ru rú trong nhà, không thích giao lưu với người lạ, cho nên ngày thứ hai sau khi vào Vân Mộng cốc, nhận được thiếp mời tới dự “bữa cơm rượu nhạt” do Mộ Dung Vô Phong sai người mang tới, hắn không khỏi có chút ngạc nhiên.

    Trong mâm tiệc, Mộ Dung Vô Phong giới thiệu Diệp Lâm An với bọn họ.

    Hai vị luôn nói là cần người làm chứng, người làm chứng ta đã tìm được cho hai vị rồi đây. Vị Diệp huynh này là bổ khoái phủ Lâm An, là một nhân vật rất có tiếng trong nghề”, Mộ Dung Vô Phong ngồi trong sảnh tiếp khách, thong thả nói.

    Đường Bồng lập tức tiếp lời: “Danh bổ một dải Thiểm Cam bọn tôi biết không ít, Hồ Dĩ Tiêu, Hồ bổ đầu năm kia tận diệt Hà gian đại đạo, Nghê Tuấn, Nghê đại hiệp khiêu chiến với Thái Hành đều là đồng nghiệp của Diệp huynh phải không?''.

    Diệp Lâm An mặt mày dửng dưng đáp: “Tại hạ đi chuyến này vốn là vì truy lùng ‘Đường thị Song Hồng’ của quý phủ và cái án hái hoa đạo tặc này, không ngờ Đường Tiềm huynh đã tự thanh lý môn hộ, miễn cho tôi phải động thủ, bội phục", trong lời nói có chút coi thường Đường môn.

    Đường Bồng đang định nổi cơn thịnh nộ thì đã bị Đường Tiềm ngầm đá một cái.

    Vậy phải đa tạ Diệp huynh hạ thủ lưu tình, cho ‘Song Hồng’ hai người ấy được toàn thây, Đường mỗ cảm kích”, Đường Tiềm không nhanh không chậm đáp lại một câu, bảo trì khách khí.

    Diệp Lâm An thăm dò đôi mắt trống rỗng của Đường Tiềm rồi ôn hòa nhã nhặn nói thêm một câu: “Tại hạ đang định báo cho Đường huynh một tin xấu khác. Đường Linh đã bị bắt vào đại lao phủ Lâm An, định tới sau thu sẽ xử trảm".

    Tuy rằng Đường Thập đi lại trên giang hồ hay lạm dụng ám khí độc, giết người vô số, tiếng ác truyền xa, hắn cũng biết ả sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp gì, nhưng nghe được câu này, trong lòng vẫn có chút chua chát. Hắn cười khổ:

    Hẳn là tin do Hạ Hồi phái Nga My và Thẩm Đồng báo cho Diệp huynh?”.

    Diệp Lâm An đáp: “Không sai”.

    Hạ Hồi nổi tiếng cao ngạo, tuyệt đối không thèm làm việc không biết xấu hổ là giết nữ nhân. Có điều, có thể toàn mạng thoát được độc dược và ám khí của Đường Thập đã là không dễ, càng chớ nói tới việc bắt sống ả.

    Đồ ăn trên bàn tiệc toàn là hạng nhất nhưng không khí thì rất không thoải mái.

    Mộ Dung Vô Phong thản nhiên uống trà mặt chẳng đổi sắc nhìn mấy người đối diện đang kiếm bạt cung giương minh tranh ám đấu. Mấy ngày nay thời tiết ấm áp, sức khỏe của chàng cũng chuyển biến tốt, bệnh phong thấp ở tay giảm đi không ít.

    Lúc ăn xong mọi người đứng dậy cáo từ, Diệp Lâm An đột nhiên hỏi: “Bữa cơm này giá bao nhiêu?”.

    Mộ Dung Vô Phong sững ra, kế đó đáp: “Tôi cũng không rõ”.

    Tổng quản chắc biết rõ”, Diệp Lâm An quay sang nhìn Quách Tất Viên.

    Tôi nghĩ... đại khái khoảng mười lăm lượng bạc”. Quách Tất Viên cứng lưỡi đáp.

    Diệp Lâm An rút trong mình ra một túi tiền nhăn nhúm, lấy ba lượng bạc đặt lên bàn: “Trước nay tại hạ không nợ nhân tình, ăn cơm luôn tự mình trả tiền. Chỉ xin cốc chủ lần sau có mời tôi ăn cơm thì mời thứ gì rẻ một chút. Lương bổng của tôi có hạn”.

    Mộ Dung Vô Phong cười nhạt: "Diệp huynh quá khách sáo rồi”.

    Hai người đợi trong góc khuất ngõ nhỏ rất lâu, tiệc rượu ở Thính Phong lâu sớm đã tàn nhưng tuyệt không thấy bóng Thiết Phong đâu.

    Được một lúc, tựa như muốn bắt chuyện, Diệp Lâm An hỏi: “Trước giờ tôi chưa từng gặp Thiết Phong, hắn thật sự là trưởng lão trẻ tuổi nhất trên núi Võ Đang sao?”.

    Đường Tiềm đáp: “Không sai”.

    Diệp Lâm An nói: “Huynh cảm thấy võ công của lão so với huynh thế nào?”.

    Đường Tiềm nói: “Bọn tôi chưa từng giao thủ, tạm thời chưa rõ”.

    Diệp Lâm An hỏi: “Vậy thì chốc nữa chúng ta đồng thời ra tay hay là lần lượt đơn đả độc đấu với lão?”.

    Đường Tiềm đáp: “Xem tình hình rồi quyết”.

    Diệp Lâm An nói: “Tôi thích làm việc gì cũng có kế hoạch trước”.

    Đường Tiềm nói: “Thế thì đầu tiên là đơn đả, nếu không được thì xông cả lên. Đối với hạng người này chúng ta chẳng cần khách khí, huynh nghĩ sao?”.

    Cứ làm như thế đi.”

    Đường Tiềm than dài trong lòng, thật ra hắn không thích Diệp Lâm An, cảm thấy người này quá phiền phức, còn đang hối hận sao lại để Đuờng Bồng lại Vân Mộng cốc, Diệp Lâm An đã chợt nhỏ giọng lên tiếng: “Lão tới rồi, trên nóc nhà”.

    Đường Tiềm đáp: “Tôi nghe thấy rồi”.

    Nói xong thân hình thoáng động, một bước mấy trượng, biến mất trong màn đêm.

    Hắn nghe tiếng đuổi theo, lại phát hiện Diệp Lâm An không nhanh không chậm theo sát ngay sau lưng, bước chân nhẹ như lông vũ, hô hấp dài mà ổn định.

    Hắn không nén được mà kinh ngạc, thật không ngờ trong Lục Phiến môn lại có cao thủ thế này.

    Để tránh bị phát hiện, hai người luôn giữ cự ly rất xa với Thiết Phong.

    Tôi nghĩ... nơi lão định đến là kỹ viện”, Diệp Lâm An nén giọng thật thấp nói.

    Thế sao?”, Đường Tiềm hỏi.

    Tôi đã điều tra qua, đêm đầu tiên lão tới đây thì đã lập tức tới căn phòng nhỏ trên tầng cao nhất của Tích Dạ lâu, muốn gặp một nữ nhân tên gọi ‘Tam Canh’. Nghe nói giá của ả này cực cao, cực kỳ khó gặp. Cũng không biết là lão đắc tội chỗ nào, hay là có khoản thủ tục nào không qua được thế là bị người ta cự tuyệt rồi.”

    Đằng xa vẳng lại trống tam canh, lòng hắn trầm hẳn xuống.

    Ánh đèn của Tích Dạ lâu chợt hiện ra trước mặt, căn phòng nhỏ trên đỉnh lầu vẫn tối đen. Bóng áo đen xuyên qua cửa sổ, nhẹ nhàng cưỡi gió đạp mây, tung người lướt tới.

    Giờ tàn canh tận. Trong lầu tuy vẫn còn tiếng khách nhân cười nói ồn ã, tiếng khách nhân rượu say phát cuồng, tiếng gõ nhịp phạt rượu... nhưng tòa trang viện ngày thường lúc nào cũng có bóng hồng chào mời, người tới người lui tấp nập thì giờ đã trống không.

    Đường Tiềm tăng tốc bước mau, nhảy vào cửa sổ gần như ngay sau bóng đen kia.

    Đây chỉ là cái bẫy họ giăng sẵn, hai bước quan trọng nhất chính là thời gian và kỹ thuật theo dấu.

    Trong phòng lặng ngắt, hương đưa thoang thoảng.

    Hắn chẳng thấy gì, chỉ cảm nhận được đằng sau có mùi rượu phảng phất truyền tới, Diệp Lâm An vô thanh vô tức theo vào phòng, vỗ nhẹ lên vai phải hắn một cái, coi như đánh tiếng.

    Hắn chợt cảm thấy có chút may mắn.

    Một đường truy đuổi đã khiến hắn hiểu được, nếu như người đi cùng hắn là Đường Bồng, hai người có liên thủ cũng chưa chắc là đối thủ của Thiết Phong. Kẻ vừa lén vào phòng kia thân thủ nhanh nhẹn, khinh công trác tuyệt, so với lão nhân già nua hắn gặp ở Tây Sơn thảo đường quả thật là một trời một vực.

    Lẳng lặng tiến về trước hai bước, dưới chân chợt chạm vào một vật gì đó nằm ngang. Hắn dừng chân đạp nhẹ, rồi cúi người xuống đưa tay sờ thử.

    Là một nam nhân, chắc là khách tối nay, dĩ nhiên là đã toi mạng.

    Đột nhiên hắn nghe thấy dưới đất phát ra một tiếng “choang”, hình như có ai đó không cẩn thận làm rơi vỡ thứ gì.

    Âm thanh này vọng ra từ phòng trong, là tẩm thất của nữ nhân kia.

    Đường Tiềm chuyển mình, không phát ra tiếng động, xông thẳng vào.

    Trong bóng tối đao quang lóe lên rồi biến mất.

    Kẻ kia khẽ nghiêng người, một lùi, một tiến, vung chưởng đánh tới, đánh thẳng vào sống đao hắn vừa chém ra. Một luồng kình lực thâm hậu mà mềm dẻo mãnh liệt ập tới. Đường Tiềm lách người chắn trước nữ nhân ở bên bàn trang điểm, vung chưởng đối một chưởng với kẻ kia.

    Nội lực kẻ kia thuần hậu liên miên, tựa như nước sông cuồn cuộn, ào ạt bất tuyệt ập tới hắn!

    Chỉ nghe có tiếng Diệp Lâm An cười nói: “Đường huynh hôm nay thật có phúc khí, lại có thể được lĩnh giáo tuyệt chiêu nổi tiếng nhất của Tâm Ý môn là ‘Dạ khí phù sơn’... Thiết trưởng lão thong thả, Đường huynh lĩnh giáo xong còn có kẻ hèn này”.

    Nói xong có tiếng mồi lửa kêu “tách” một tiếng, ngón tay búng ra, đèn ở bốn bức vách lập tức được thắp sáng.

    Đường Tiềm chưởng đao một cái, nội tức trong ngực quặn lại, bước về phía trước một bước, thân thể cứ như bị chưởng lực của Thiết Phong dính lại.

    Đồng thời có tiếng cười lạnh vọng lại, Thiết Phong nói: “Thằng lỏi con vừa mới xuất đạo đã cho rằng mình là thiên hạ đệ nhất... thật nực cười”, nói xong thu chưởng lại, tay búng ra một quân cờ, may mà Diệp Lâm An tránh cũng nhanh, nếu không trên trán đã thủng một lổ.

    Đường Tiềm tự biết một chưởng vừa rồi về nội lực đã chịu thiệt to, nhất định không được đọ nội lực với lão nữa, lập tức, ào ạt mấy đao như bạo vũ cuồng phong quét tới, chớp mắt đã xuất ra hơn ba chục đao, hoàn toàn không để cho người khác có nửa khắc hít thở, ép Thiết Phong liên tục lùi lại.

    Mội chiêu "Sậu vũ quy nhạ" này là tuyệt chiêu thành danh của Đường Ẩn Đao năm xưa, cho tới giờ vẫn chưa có ai an toàn tránh thoát.

    Để luyện được một chiêu này, Đường Tiềm đã phải bỏ trọn một năm. Trong một năm đó, mỗi ngày hắn nghe tiếng quạ kêu thì thức dậy, mỗi ngày luyện đao hơn sáu canh giờ, đến cả lúc ngủ nằm mộng đầu ngón tay vẫn còn cử động.

    Kiểu luyện tập điên cuồng như thế, đến cả phụ thân hắn trông cũng cảm thấy bất nhẫn.

    Mẫu thân hắn thì cứ cách mấy ngày lại phải thay tấm chăn bị con trai nằm mộng đá rách bằng tấm chăn mới.

    Luyện tập lâu như thế, đây vẫn là lần đầu tiên hắn dùng chiêu này trong thực chiến.

    Ai ngờ được lần đầu tiên sử dụng lại chẳng chút hiệu quả gì. Tuy dưới đao chiêu lăng lệ của bản thân, Thiết Phong không tránh khỏi phải thụt trái cụp phải, cực kỳ chật vật nhưng ba mươi mấy đao kia chẳng qua chỉ chém rách được áo lão, một đao cuối cùng rốt cuộc cũng chém được lên vai lão nhưng cũng chỉ là một vết thương nông toẹt, chảy được mấy giọt máu.

    Nữ nhân kia vẫn luôn cúi đầu im lặng, cực kỳ an tĩnh. Ba nam nhân đột nhiên xuất hiện trong phòng nàng, lại còn xuất thủ đánh nhau, vậy mà nàng chẳng hề hoang mang.

    Diệp Lâm An rút thẻ bài ở eo lưng, nói: “Đây là quan phủ bắt người, cô nương không cần sợ hãi”.

    Nữ nhân kia gật đầu, lạnh nhạt nói: “Lúc đi nhớ thổi nến đóng cửa”, nói rồi buông tấm rèm lụa thêu hoa, cứ thế đi ngủ.

    Nàng vừa nằm xuống, chợt nghe “binh” một tiếng, bàn cờ đặt cạnh cửa sổ bên ngoài đã bị Thiết Phong một cước đá bay lên, quân cờ trên mặt bàn lập tức rơi xuống đầy đất ào ào như mưa, lão thuận tay múa bàn cờ một cái, mười mấy quân cờ như tên bắn lao vun vút về phía trong rèm!

    Lúc ấy Diệp Lâm An đang đứng ở bên giường, vội vàng vươn tay kéo nữ nhân kia ra.

    Khổ đấu hơn trăm hiệp vẫn chưa phân thắng bại, Thiết Phong đã cảm thấy tâm phiền ý loạn, chợt thấy nữ nhân kia nhoài ra thì không hề nghĩ ngợi, một chưởng hung mãnh vồ tới! Một chưởng này đánh xuống dù có là thân cao thủ võ lâm thì cũng phải thổ huyết ba ngày. Còn như người thường, dính phải một chút chưởng phong là mất mạng rồi. May mà lúc ấy Đường Tiềm đã tới kịp, đưa tay kéo cô gái ra sau lưng mình, không làm sao được đành cắn răng tiếp chưởng thay nàng.

    Cho dù nội lực thâm hậu, hắn vẫn cảm thấy trong ngực nôn nao khó chịu, một ngụm máu đã dâng tới miệng lại miễn cưỡng nuốt xuống. Nhân cơ hội ấy, hắn đột nhiên lật tay một đao chém tới!

    Chỉ nghe “phụp” một tiếng, trúng ngay cổ Thiết Phong, máu tươi tức thì phun ra, tưới ướt đẫm mọi người.

    Một cỗ thân thể nặng nề cuối cùng đổ ập xuống.

    Đường Tiềm không khỏi nghĩ thầm, vừa rồi nếu không phải cô gái này đột nhiên nhoài người ra, tự dưng cho hắn một cơ hội thì có lẽ kẻ gục ngã kia chính là hắn rồi.

    Lão chết rồi”, Diệp Lâm An thuần thục kiểm tra thi thể, nói, “Mọi việc còn lại để tôi xử lý...”.

    Đường Tiềm bổ sung một câu: “Chớ có quên huynh là nhân chứng”.

    Diệp Lâm An bật cười: “Việc ấy dù tự huynh quên tôi cũng không quên”.

    Đường Tiềm gật đầu: “Tôi muốn đưa cô gái này rời khỏi đây”.

    Diệp Lâm An lập tức phản đốì: “Ả cũng là nhân chứng, tôi đang định hỏi ả họ gì tên gì, quê quán phương nào, có giấy phép hành nghề không. Nếu là quan kỹ bỏ trốn thì còn phải tra thực thân phận, bắt về bộ Lễ quy án”, hắn đưa mắt đánh giá cô gái, thấy nàng mặt thoa một lớp phấn trắng dày, tô vẽ rất đậm, tóc dài búi cao, trang điểm trông cứ như quỷ thần, không khỏi chán ghét trong lòng, “Loại nữ nhân này lại còn đòi một đêm thu một trăm lượng của người ta, so với một năm lương bổng của tôi còn nhiều hơn!”.

    Dưới đất rành rành có hai xác chết, nhân chứng của huynh thế còn chưa đủ à? Hà tất phải phá việc làm ăn của người ta? Lại nói vừa rồi thiếu chút nữa nàng cũng mất mạng rồi”, Đường Tiềm tiếp tục cầu cạnh cho nàng.

    Diệp Lâm An do dự một lúc, nghĩ ngợi rồi miễn cưỡng nói: “Thôi được rồi”.

    Đường sá không bụi bặm, đầu phố xa xa đưa lại mùi hoa mai như có như không.

    Cô gái nọ khoác lên một chiếc áo trùm đầu. Đường Tiềm đưa nàng tới đầu phố thì dừng bước, trong ngực khí huyết đảo lộn, không khống chế nổi nữa bèn tìm một góc nôn liền ba ngụm máu lớn mới cảm thấy khí tức nôn nao trong ngực giảm bớt. Sau đó hắn rút khăn tay lau máu ở miệng bước về chỗ cũ nói với cô gái: “Nàng ở chỗ nào? Ta đưa nàng về”.

    Cô gái nhẹ nhàng hỏi: “Thương thế của huynh có nặng không?”.

    Hắn mỉm cười với nàng: “Ta không sao... nàng còn nhận ra ta?”.

    Dọc đường hắn luôn dìu đỡ cánh tay nàng, nghĩ rằng nàng thân gái yếu ớt, vừa rồi phải chịu một phen kinh sợ, không khỏi đi đứng loạng choạng. Đi được một lát, dần dần có chút mù mờ, không biết là mình dìu nàng hay là nàng đang đỡ mình. Lời vừa dứt, chỉ cảm thấy tay nàng run mạnh, giọng nói tĩnh lặng như nước hồ giờ đã có chút dao động: “Huynh từng tới đây sao?”.

    Thì ra nàng đã sớm quên hắn rồi.

    Trong căn phòng tối đen như mực, đó đây trần trụi đối diện nhau, bọn họ không hề nhiều lời, với lại đó là lần đầu tiên của hắn, bất kể làm thế nào thì rõ ràng đều là chân tay vụng về, tin rằng chẳng hề cho nàng chút hưởng thụ nào.

    Từng tới một lần.”

    "Xin lỗi, thiếp quả thật không nhớ”, nàng có chút áy náy.

    Trước khi đi, nàng muốn ta không được tới nữa, cho nên ta không quay lại.”

    Đối với ai thiếp cũng nói như thế”, nàng đã hoàn toàn bình tĩnh lại, ngữ khí dần dần thư thả, “Tránh cho bị cùng một người cuốn lấy”.

    Câu trả lời này làm hắn bất ngờ, nhưng cũng khiến hắn chẳng biết nói sao.

    Hắn lại hỏi sang một vấn đề ngốc nghếch: “Như thế này, nàng cũng không kiếm được bao nhiêu tiền, bà chủ của Tích Dạ lâu liệu có hài lòng không?”, hắn thường nghe nói tú bà của kỹ viện đối xử với kỹ nữ cực kỳ hà khắc, nếu có nhan sắc là sẽ bị ép tiếp khách cả ngày. Còn như nàng động một chút là cự tuyệt khách ngoài cửa thế này, lại còn không đón khách quay lại, cho dù giá một đêm có cao nữa thì thu vào cũng cực kỳ hữu hạn.

    Tam Canh cười nói: “Hóa ra huynh đang lo lắng cho kế sinh nhai của ta”.

    Hắn bối rối.

    Đúng là thiếp chẳng kiếm được bao nhiêu tiền... lúc vắng khách còn phải bù thêm nữa. May mà ngày thường thiếp còn việc làm ăn khác, có thể bù đắp cho nhau.”

    Hắn lại càng kinh ngạc hơn, định hỏi thêm mấy câu nữa nhưng đã tới một ngã tư, nàng chợt dừng bước hỏi: “Huynh còn nhớ được đường về khách điếm không?”

    Hắn lập tức hỏi lại: “Sao nàng biết ta ở khách điếm?”.

    Nghe khẩu âm huynh không phải người ở đây.”

    Là người đất Thục.”

    Nàng ngẩng đâu chăm chú nhìn khuôn mặt hắn, ánh trăng vừa vặn chiếu lên mình hắn, hắn có đôi mắt rất đẹp, tĩnh lặng như rừng rậm lúc đêm khuya, sâu thẳm như nước hồ tiết thu. Nàng hít sâu một hơi, cười nhẹ: “Chúng ta chia tay ở đây, được không?”.

    Được”, hắn buông tay nàng, tiếp tục đi về hướng đông.

    Đa tạ huynh đã cứu thiếp”, nàng quyến luyến nhìn bóng lưng hắn, bình tĩnh dặn thêm một câu, “Nhưng chia tay rồi xin quên thiếp đi”.

    Đương nhiên”, hắn không quay đầu lại, đưa tay lên làm một tư thế “bảo trọng”.

    Nàng đứng ở góc phố, dõi mắt nhìn theo cho tới khi hắn khuất nẻo mới quay người rời đi.

    ***

    Bịch”

    Quan cô nương, đây là gì vậy?”

    Cá muối.”

    A…không cần đâu…thực ra tiền thuốc chưa có thì nợ cũng được, cuối năm tính luôn là xong.”

    Cuối năm tính nợ thì vẫn phải trả cá muối, không bằng bây giờ đưa luôn cho bác”, cô gái nhỏ nhắn đặt cái sọt mây nặng nề trên vai xuống.

    Cái sọt mây này to gần như vại nước, đủ để chính nàng chui lọt vào.

    Lão Kim ngồi ở bên quầy thở dài nói:

    Nghe ta nói một câu xui xẻo này, Quan cô nương. Đứa bé này vừa gầy vừa ốm, ta xem không có hy vọng gì đâu, không bằng hiến lên miếu có khi còn cho nó ăn ngon được vài bữa.”

    Không phải con bác, đương nhiên bác không xót. Ai nói nó không sống được... không phải vẫn đang sống tốt đây sao?”, nàng dịu dàng nhìn đứa trẻ đang ngủ ngoan trong lòng.

    Đã năm tháng rồi mà trông nó hình như không hề lớn lên, bộ dạng vẫn như một chú mèo nhỏ vừa mới sinh ra nhắm chặt mắt cuộn mình trong bọc chăn. Hơi có chút xíu gió lay ngọn cỏ là nó sẽ sốt ho, sau đó ốm mấy ngày, ăn cái gì là đều sẽ nôn ra hết, tới cả sức bú sữa mẹ cũng không có.

    Trông thế này mà cũng gọi là sống sao? Chưa tới một năm đã đem tích lũy của cả nhà tiêu sạch rồi... uống bao nhiêu thuốc, châm bao nhiêu mũi, có tác dụng gì đâu?”

    Thế thì phải hỏi bác rồi. Bác là đại phu, châm này chẳng phải đều do bác châm à?”

    Chút y thuật mèo ba chân của ta, chỉ có thể trị đau đầu chóng mặt thôi, xấu hổ quá.”

    Bác có cách nào khác không?”

    Chẳng có cách nào đâu, được ngày nào hay ngày ấy, nghỉ thoáng chút đi. À... đúng rồi, hôm trước trong trấn có một vị Phương đại tiên đến, được Trương gia ở thôn đông mời tới đó ba ngày rồi, cô có muốn tới thử xem sao không? Ta xem đứa bé này có lẽ... khụ khụ... bị trúng tà rồi... đấy cô xem, nhờ đại tiên đuổi hộ cũng hay...”

    Bao nhiêu tiền một lượt thế?”

    Một trăm xu một lần, cũng không đắt. Chỉ là đòi một con lợn, đương nhiên... không thế thiếu rượu rồi.”

    Thế mà bác còn bảo không đắt? Không có lợn, cá muối được không?”

    Người ta là nguời phương bắc, không ăn thứ ấy.”

    Ài”, nàng chán nản than.

    Lão Kim cũng là ngư dân, thời trẻ từng theo một vị lang trung giang hồ “ra ngoài”, xem như là người duy nhất trong thôn từng thấy mặt mũi thế đời. Đúng mùa thì bắt cá, không thì mở một cửa tiệm nhỏ, bán chút đồ tạp hóa với thuốc men. Thôn nhỏ, bốn phía sông to núi lớn, mọi người ai nhiễm chút đau đầu sốt vặt thì đều tới tìm lão. Lão kim châm lửa cứu, cứ thế mà làm, dần dần mọi người đều coi lão là đại phu.

    Không muốn thế cũng được...”, lão Kim ngắm eo thon của nàng, ấp úng một lúc rồi nói: “Vợ ta mất năm ngoái rồi, không bằng cô gả cho ta... Con lợn kia ta bỏ ra cho cô... bệnh của con cô cũng giao hết cho ta... nuôi nó sống thêm mấy năm...”.

    Lão Kim tới nay mới chỉ bốn mươi, chưa tính là già. Người ta giới thiệu cho lão mấy cô rồi, lão nhìn trái nhìn phải xem mãi đều không thấy bằng Quan cô nương trước mắt cả ngày tìm lão bốc thuốc này. Xem trúng chính là giọng nói ngọt ngào với thân hình thon thả của nàng, lại cả tài bắt cá nữa. Cô gái này hễ xuống nước thì bắt cá so với thanh niên khỏe mạnh nhất trong thôn còn nhiều hơn gấp đôi, cưới được về, nhất định có thể lo liệu tốt việc trong nhà.

    Mỗi tội, mọi người đều nói, tính tình Quan cô nương cũng rất khó trêu vào. Sau khi sinh đứa con trai lại càng không nên chọc. Trong thôn có một đám trai làng, sau khi đánh cá thường thích tụ tập tại sân phơi cá tây thôn nói cười trêu ghẹo đàn bà con gái đi ngang qua. Vừa vặn Quan Nguyệt ngày nào cũng đi qua con đường ấy.

    Nàng chỉnh cho gã to gan nhất là Tiểu La một trận, về sau đám ấy hễ thấy nàng là đều khách khí chào hỏi, không dám nói thừa một chữ.

    Lần đó, nàng tát cho Tiểu La một cái, ngày hôm sau đầu Tiểu La sưng to bằng cái đầu heo.

    Phải hết một tháng, thoa không biết bao nhiêu cao vết sưng ấy mới tiêu hết.

    Phải sau một năm, Tiểu La mới thấp tha thấp thỏm tới sân phơi cá, trông thấy Quan Nguyệt thì ngoan ngoãn cúi đầu bộ dạng hoàn toàn thuần phục.

    Bọn thanh niên thầm nghĩ: Cô ả bé người này thân thủ cực kỳ phi phàm, ngày thường nhìn thế nào cùng không ra.

    Nghĩ tới đây, lão Kim len lén nhìn Quan Nguyệt, thấy sắc mặt nàng không thay đổi, trong lòng không khỏi mừng thầm.

    Bác thật biết nói đùa!”, Quan Nguyệt cười.

    Ta chân thành đấy”, lão Kim tươi cười nói.

    Vì con mà lấy chồng, ừ thì cũng không có gì là không được”, đôi mắt Quan Nguyệt chợt sắc như đao quét lên khuôn mật rỗ lỗ chỗ của lão Kim, nhìn tới mức toàn thân lão toát mồ hôi rồi mới không nhanh không chậm nói, “chỉ là cũng phải gả cho ai dễ coi. Bác à... nhà bác không nên nhân lúc người ta khó khăn chứ?”.

    Người thôn vùng này thích tôn xưng người khác là “nhà bác”.

    Ở đây một năm, nàng đã nói trôi chảy tiếng địa phương, sớm đã đem khẩu âm trước đây của mình tống đi tận đẩu tận đâu rồi.

    Cái này... khụ khụ... đâu có đâu có”, lão Kim cứng đờ mặt ra.

    Cá muối này nhà bác có lấy hay không? Nếu không, sau này bác không cần làm cá muối với cá hun khói nữa, tôi bao hết cho nhà bác, được không? Tính là tiền thuốc.”

    Việc này... cá muối thì trong nhà ta đã có mấy sọt lớn rồi”, lão Kim nhíu mày.

    Vậy thì trả bác tiền đồng là được”, Quan Nguyệt móc trong người ra một bao nhỏ, rút bên trong ra một xâu tiên, tuy một xâu là một trăm đồng, nàng vẫn cứ thật thà từng đồng từng đồng một đếm lại một lượt.

    Thuốc ta đã gói xong rồi. Mỗi ngày uống một lần, tổng cộng một trăm lẻ tám đồng, lấy cô một trăm, tám đồng kia thôi đi.”

    Nhân tình không được nhưng việc làm ăn vẫn đấy, mua bán phải chăng. Lão Kim mất mặt thì mất mặt rồi nhưng cũng không muốn để người ta bảo mình ức hiếp cô nhi quả phụ. Vừa nhận lấy tiền xong, cùng không đếm lại, bỏ ngay vào ngăn kéo nhỏ dưới quầy, trưng ra bộ mặt làm ăn.

    Vậy phải cảm ơn rồi”, Quan Nguyệt cầm thuốc, ôm đứa con đang ngủ say trong lòng, bước ra ngoài cửa.

    Đợi đã”, lão Kim đột nhiên gọi nàng.

    Nàng đứng lại.

    Tốt nhất là mang nó vào trấn tới nhờ Khưu đại phu xem xem... Tiền khám tuy đắt một chút nhưng dù gì người ta cũng là đại phu tử tế, hay ra ngoài đi lại hiểu nhiều biết rộng, có khi lại có cách”, nhìn bóng hình lẻ loi của cô gái này, lão Kim không nén được nói thêm một câu.

    Từ đấy tới trấn phải đi hai ngày đường núi, trèo qua hai quả núi. Trong núi có sói, có báo, có rắn độc. Ngày thường dù là thanh thiên bạch nhật cũng phải có bảy tám trai tráng kết thành đoàn mới dám đi, một cô gái lại còn đem theo một đứa trẻ bệnh tật, làm gì có gan ấy?

    Quan Nguyệt quay mình nhìn núi non trùng điệp sau thôn, cười khổ.

    Dù là chèo thuyền đi đường sông cũng phải tốn sáu canh giờ mới có thể tới được một trấn lớn.

    Trong trấn lớn cái gì cũng đắt, tiền tích cóp một năm còn không đủ nửa ngày tiền phòng trọ.

    Đa tạ bác, tạm thời chưa có tiền, tích đủ tiền rồi nhất định đi”, nàng cúi đầu, buồn rầu cắn môi.
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 18: Giang hồ khoái báo


    Tuy trong phòng vẫn phải đốt một chậu sưởi be bé, ánh mặt trời xán lạn tháng Ba đã rạng rỡ xuyên qua song cửa trang trí hình hoa bằng lăng rọi khắp phòng. Sân viện hoa tươi mới, khung cảnh tràn trề ý xuân.

    Mộc Huyền Hư pha một ấm trà mới, bưng ra ngoài phòng ngồi bắt chéo chân trên chiếc ghế mây đặt chính giữa viện.

    Hắn gần như sắp quên đi những ngày nhàn rỗi tắm nắng như thế này.

    Trải qua ba năm trốn chui trốn nhủi người không ra người quỷ không ra quỷ, hắn đã sớm hiểu ra, trên đời này không gì có thể khiến ngưòi ta yên tâm thanh thản bằng cuộc sống tự do trong sạch.

    Mặt trời chính Ngọ sáng chói chiếu lên khóm thạch trúc màu hồng nhạt cạnh chân hắn, mấy con bướm màu tím vờn bay trong đám hoa.

    Đạo pháp tự nhiên.”

    Hắn chợt nhớ tới cái câu sư phụ hắn thường đeo trên miệng này.

    Tới bây giờ hắn vẫn không hiểu sao sư phụ mình phải làm như thế, sao có thể tàn nhẫn đến vậy.

    Càng nghĩ không ra lão cả ngày đem bộ mặt giả dối chường ra với đời thì sẽ có tư vị gì?

    Hắn đột nhiên cảm thấy thì ra người gần gũi với mình nhất cũng xa lạ như thế, tựa như ai ai cũng có một vài việc người khác không sao hiểu nổi.

    Hắn thà tin Thiết Phong suốt ngày dạy hắn luyện công, giảng Nam Hoa chân kinh cho hắn mới là Thiết Phong thật sự.

    Bóng nắng từ từ di chuyển trong đám hoa, mặt hồ xa xa hải âu giỡn nước.

    Tiếng vượn kêu trong núi thấp thoáng, gió thổi ngọn cây xao xạc xao xạc.

    Thiên nhiên mỹ diệu nhường này. Hắn nhắm mắt lại, đang định lặng lẽ hưởng thụ ngày nắng đẹp đầu tiên sau khi lành vết thương thì bỗng nhiên có tiếng gõ cửa, Đường Tiềm khoan thai bước vào, nói:

    Thời tiết hôm nay thật đẹp.”

    Hắn không xoay người lại, chỉ kéo một chiếc ghế mây khác tới đặt cạnh chỗ mình, cười nói: “Trừ phi ánh dương cũng có cân nặng, nếu không Đường huynh làm sao cảm thấy được? Mời ngồi”.

    Đường Tiềm cười nói: “Ánh dương thì chẳng có trọng lượng, có điều, ánh dương rất ấm áp”.

    Cây gậy trúc của hắn đã chạm được vào cái ghế nhưng bản thân hắn thì lại không ngồi xuống: “Tôi đắc ý tới thông báo với Mộc huynh, tuy thương thế của huynh đã lành hẳn nhưng tốt nhất là đừng tùy tiện rời cốc”.

    Hả?”, hắn sửng người, “Tại sao?”.

    Việc này tôi cũng cảm thấy kỳ lạ. Sau cái hôm giết Thiết Phong đó, tôi đã viết một tấm thiệp rồi nhờ người đưa tới chỗ Phần Trai tiên sinh, hy vọng lão nhân có thể đăng chuyện này lên Giang hồ khoái báo số gần nhất để tiện chiêu cáo võ lâm. Có như thế, huynh mới an toàn rời cốc được”.

    Tôi cũng đang định đa tạ Đường huynh!”

    Nhưng mà vừa rồi Đường Bồng có báo cho tôi. khoái báo vừa ra lại chẳng đề cập tới chuyện này dù chỉ một chữ”.

    Mộc Huyền Hư “phốc” một tiếng đứng phắt dậy, mi mày nheo lại, nói: “Tôi tự mình đi một chuyến, hỏi Phần Trai tiên sinh xem rốt cuộc đây là chuyện gì!”.

    Đường Tiềm giữ hắn lại: “Việc này không đơn giản như thế. Ngoài cổng lớn chỉ sợ vẫn đang có người mai phục muốn bắt huynh về quy án”.

    Mộc Huyền Hư nói: “Quan phủ đáng nhẽ phải có kết luận rồi chứ”.

    Đương Tiềm nói: “Quan phủ phải làm việc theo lệ, từng buớc từng bước kết án. Án này đầu tiên xảy ra ở khu vực núi Võ Đang, thủ phạm đã chết, thi thế đã sớm được chôn ở Loạn táng cuơng. Ắt hẳn tất cả công văn đều đã được chuyển tới huyện nha vùng đấy. Diệp Lâm An cũng ra ngoài phụng lệnh làm việc khác từ lâu, giờ chẳng thấy bóng dáng đâu nữa".

    Mộc Huyền Hư cười khổ: “Nói như vậy, tuy vụ án đã kết thúc nhưng tội danh thì tôi vẫn cứ phải cõng trên lưng? Chí ít thì người trên giang hồ chẳng biết chút gì về việc này cả”.

    Gần như thế, có điều huynh không cần lo lắng. Bọn tôi đang nghĩ cách.”

    Mộc Huyền Hư vỗ vai Đường Tiềm hỏi: “Vết thương của huynh...”.

    Đường Tiềm cười, nói: “Chẳng đáng gì. Có điều, chiêu ‘Dạ khí du sơn’ của sư phụ huynh quả là lợi hại. May mà bên cạnh tôi có một đại phu không tệ cho nên khỏi rất nhanh”.

    Mộc Huyền Hư ha ha cười lớn: “Tiểu tử huynh cũng thật có bản lĩnh, đến cả một người cố chấp như Mộ Dung tiên sinh cũng đồng ý giúp huynh. Tôi vẫn luôn cho rằng hai người không đội trời chung đấy...”.

    * * *

    Công tử, chúng ta đã tới nơi”, mã phu họ một tiếng dừng ngựa lại, lớn tiếng báo với Đường Tiềm ngồi trong xe.

    Đa tạ”, hắn nhảy xuống xe, đang định rút gậy trúc dò đường, mã phu kia đã không yên tâm chạy tới, kéo tay áo hắn nói: “Khách điếm đi bên này”.

    Hắn cười khổ.

    Tuy là người mù, hắn không hồ đồ tới mức không nhận ra được đường tới cổng, huống chi nơi này hẳn sớm đã qua lại bao nhiêu lần. Nhưng người tốt bụng nhiều như thế này, hắn cũng chẳng biết làm sao chỉ đành lại nói: “Đa tạ”, rồi tiếp: “Không sao, tôi nhận được đường”.

    Mã phu nọ ngập ngừng một lúc mới buông tay, nhưng vẫn không yên tâm theo sau hắn.

    Hắn đành tiếp tục cười gượng.

    Ngoài cửa tiếng người ồn ã, vừa tới đầu phố, một giọng nói ôn hòa chợt vang lên từ sau lưng hắn: “Xin hỏi, các hạ Là Đường Tiềm, Đường công tử phải không?”.

    Giọng nói này hoàn toàn xa lạ.

    Hắn đứng lại, quay người qua hỏi: “Không sai, chính là kẻ hèn này. Các hạ là...”.

    Bần đạo Hồng Vũ, người phái Võ Đang.”

    Người rành rẽ chuyện chốn giang hồ không thể không nhận ra Hồng Vũ - sư huynh của Thiết Phong - nhân vật thứ hai của phái Võ Đang. Hồng Vũ ước chừng là vị trưởng lão tính tình ôn hòa khiêm nhường nhất trong số các trưởng lão của Võ Đang. Chớ xem ông ta thân hình thấp bé, dung mạo tầm thường, năm xưa ông ta bằng vào ba mươi ba thức Thái âm càn khôn chưởng tung hoành giang hồ, chỉ dựa vào đôi tay không, trong một đêm quét sạch hang ổ của thổ phỉ Quan Đông. Bây giờ tuy tuổi đã hơn sáu chục, người mộ danh tới xin bái sư vẫn cứ nườm nượp cho nên đệ tử của ông ta so với các trưởng lão khác đông hơn tới mấy lần, chỉ tiếc là kẻ kiệt xuất thì không nhiều. Nghe nói đều tại vị này quá mềm lòng, không nỡ khiển trách nghiêm khắc.

    Đường Tiềm cung kính chắp tay cúi đầu đáp lễ: “Thì ra là Hồng Vũ đạo trưởng, vãn bối thất kính”.

    Hồng Vũ cười nhạt: “Không biết hiện công tử có rảnh chăng? Bần đạo có mấy vị bằng hữu đang đợi ở lầu hai Thính Phong lâu, muốn diện kiến công tử một phen”.

    Trong lòng Đường Tiềm cảm thấy kinh ngạc, đành chân thành đáp: “Đạo trưởng là bậc tông sư một đời, vãn bối được gặp mặt đã là vạn hạnh, lại còn quấy quả cơm rượu, làm sao dám nhận?”.

    Hồng Vũ kéo tay hắn, cười vui vẻ, khen: “Nhóc con nói năng thật khách khí, bần đạo thích, không cần khách sáo”.

    Đường phố lúc hoàng hôn mang mùi rượu nhàn nhạt.

    Tửu lâu khác nhau, mùi rượu đưa tới cũng khác nhau.

    Chạng vạng chính là lúc Thính Phong lâu náo nhiệt nhất, xe ngựa đỗ trước cổng nhiều tới mức nước chảy không lọt đàn sáo đất Giang Nam, tiếng ca kỹ hát xướng, khách khứa phạt rượu, tiếng ly chén cụng nhau, tiếng bát đĩa va chạm, tất cả ùa hết vào tai.

    Đường Tiềm im lặng theo bước Hồng Vũ vào một gian phòng khách rộng rãi trên lầu hai.

    Đóng cửa lại, đi qua một tấm bình phong bằng đá Vân Nam trong phòng mùi trầm hương thoang thoảng, không gian yên tĩnh đáng ngạc nhiên.

    Hắn cảm thấy có chút kỳ quái. Hồng Vũ rõ ràng bảo hắn là có “mấy vị bằng hữu” đang đợi, hắn thì lại chẳng nghe thấy tiếng thở của bất kỳ ai. Hắn đột nhiến cảm thấy có chút lo lắng, bởi trực giác mách bảo hắn, trong phòng khẳng định là có mấy người nữa.

    Quả nhiên, một giọng nói thân thuộc vang lên từ phía đối diện: “Tiếu Đường tới rồi, mau ngồi xuống, ngồi xuống đây”.

    Hẳn mỉm cười quay mặt sang, nói: “Thì ra là Tây Sơn tiên sinh”, nói xong thung dung kéo ghế, ngồi xuống cạnh bàn.

    Ta nói Đường Tiềm cao to dễ nhận, không hề khó tìm. Lão Hồng, ta nói có sai không?”, tiếp đó là một giọng hoàn toàn xa lạ khác, giọng hơi thấp nhưng trung khí đầy đủ.

    Vị ngồi bên trái ngươi là Phần Trai tiên sinh, tên tuổi ông ta hẳn Đường công từ không hề xa lạ”, Hồng Vũ nói.

    Đường Tiềm nói: “Ngưỡng mộ đã lâu”.

    Phần Trai nói; “Mấy kỳ Giang hồ khoái báo gần đây Đường công tử đều là nhân vật lừng lẫy. Trừ Thu Dương, diệt Song Hồng, khoái đao phạt ác, đại nghĩa diệt thân, trên giang hồ không ai là không phục, không ai là không tán tụng”.

    Đường Tiềm cười nhẹ: “Vãn bối chỉ là thanh lý môn hộ cho Đường môn, là việc thuộc chức trách, không dám chối từ. Còn như Lý Thu Dương, nguời này tác ác đa đoan, ai ai cũng muốn diệt hắn, chẳng qua trùng hợp để vãn bối gặp được mà thôi. Lão tiên sinh quá khen, vãn bối thật không dám nhận”.

    Chợt nghe một giọng nói già nua vang lên: “Bần đạo nghe nói, tháng trước Đường công tử đã giết Thiết Phong đạo trưởng rồi đưa thiệp tới chỗ Tiểu Khưu, nói rằng hắn mới là hái hoa đại đạo thực sự?”.

    Phần Trai lão nhân tên tục là Khưu Cận Hoan, người rành chuyện giang hồ không ai là không biết. Người này tuổi gần năm mươi, từng là tài tử nổi tiếng trong giang hồ. Luận tuổi tác thì vẫn chưa coi là “lão nhân”, nhưng lại có địa vị ngang bằng với các tiền bối võ lâm nhất đẳng. Nhiều năm chủ trì sắp xếp các bảng đề danh của giang hồ, lại rất công tâm, nhờ thế rất được quần hùng trong giang hồ kính trọng. Thế mà người này trực tiếp gọi thẳng ông ta là “Tiểu Khưu”, có thể thấy bối phận lại càng cao hơn.

    Đường Tiềm cực kỳ kinh ngạc. Người vừa nói rõ ràng ngồi không xa bên phải hắn, thế mà bàn thân hắn đã ngồi đây bao lâu mà chẳng mảy may phát giác ra. Công phu cao thâm mạc trắc của người này có thể nhận ra đôi chút.

    Chỉ nghe thấy Phần Trai lão nhân nói: “Vị ngồi bên phải ngươi là khách hiếm có, đã ba mươi năm chưa xuống núi lấy một bước, lão phu dày mặt, muốn để Đường công tử đoán thử xem rốt cuộc là ai?”.

    Đường Tiềm đứng dậy cung kính hành lễ, nghiêm trang nói: “Ắt hẳn là Tùng Phong đạo trưởng, vãn bối hận mình đui mù, không có may mắn được thấy phong thái bậc cao nhân”.

    Giọng già nua kia cười đáp: “Không cần đa lễ, phụ thân ngươi năm đó là bạn vong niên với bần đạo. từng cùng nhau hẹn phân cao thấp trên đỉnh Võ Đang, về sau ta phái người nhiều lần tới mời ông ta đến phó ước, ông ta lại thế nào cũng không chịu đi, gửi lại cho ta một tấm thiếp dù có vẻn vẹn mười chữ: ‘khuyển tử có bệnh, thân này không dám đi chết’. Lão phu đọc rồi thở dài, người chí tình chí nghĩa trên đời này không nhiều, Đường Ẩn Đao là một trong số đó!”.

    Đường Tiềm trong lòng bất giác buồn bã, đây là lần đầu tiên hắn được nghe chuyện này. Thế rồi ổn định lại tinh thần, nói: “Gia phụ gia mẫu vì đứa con bất hiếu là vãn bối mã hao tâm tổn sức, đã cùng nhau khuất núi rồi”.

    Tùng Phong cảm khái nói: “Đáng tiếc, đáng tiếc! Có điều, tiểu tử nhà ngươi đã học được hết tinh túy của song đao, gần đây tuy Đường môn liên tiếp mất đi cao thủ, chỉ cần còn ngươi, từ nay về sau cũng vẫn có chỗ đứng trên giang hồ”.

    Đường Tiềm cúi đầu: “Vãn bối mới vào giang hồ, còn nhiều chỗ lỗ mãng, vẫn phải xin các vị tiền bối chỉ giáo nhiều hơn”.

    Tùng Phong vuốt chòm râu dài, từ từ mở miệng: “Lổ mãng thì không có, chỉ là việc của Thiết Phong vẫn phải xin Đường công tử thay mặt hòa giải. Việc của Thiết Phong xảy ra, ta quả thật cực kỳ kinh hãi, đương lúc ấy còn đang bế quan lại tức đến nỗi thiếu chút nữa thì tẩu hỏa nhập ma. Đường công tử phải biết, Thiết Phong vốn là người kế thừa phái Võ Đang chỉ định, địa vị trên giang hồ hiển hách, hành sự trên đời cũng được người ta tôn kính. Ta với Hồng Vũ sư đệ nhiều năm nay bế quan tham tu, không hỏi sự đời, tất tật sự vụ của phái Võ Đang đều do Thiết Phong bôn ba xử lý. Mấy năm nay, hắn tuy không có công thì cũng tốn sức. Còn Mộc Huyền Hư đứa trẻ đó, ta vẫn luôn ưa thích hắn, không ngờ lại bị cuốn vào vụ bê bối này. Bây giờ chân tướng đã tỏ, chúng ta đang định chuẩn bị mời nó về Võ Đang làm chủ trì Thái Ất viện. Chỉ là... Đường công tử hẳn cũng hiểu được, thanh danh mấy trăm năm phái Võ Đang chúng ta vạn lần không thể mất trên tay Thiết Phong. Võ Đang quả thật không thể mất cái thể diện này!”.

    Đường Tiềm trầm ngâm hồi lâu rồi nói: “Thứ cho vãn bối ngu độn, Mộc công tử vì chuyện này mà phải khốn khổ suốt ba năm, lẩn trốn tứ xứ, thiếu chút nữa thì mất mạng. Như nay trên giang hồ tiếng xấu chưa trừ, oan lớn chưa rửa. Vãn bối cho rằng... ít nhất đem công bố chuyện này ra ngoài, trả lại công bằng cho Mộc công tử. Huống chi, mấy vị công tử của Thí Kiếm sơn trang đã phát thệ phải giết cho được hái hoa ác tặc, gần đây đang lùng tìm hành tung của Mộc công tử khắp nơi, nếu như việc này không quyết, Mộc công tử vẫn phải mang mối lo về tính mạng”.

    Tùng Phong nói: “Mộc Huyền Hư là đệ tử Võ Đang, từ nhỏ đã nổi danh nhưng vào đời chưa lâu, cũng rất ít khi lộ diện trên giang hồ. Nói thật nó vốn là đứa trẻ sơ sinh người nhà bỏ ngoài sơn môn, tên cũng là do Thiết Phong đặt cho. Chúng ta đã thương lượng một chút, cho rằng không bằng để nó đổi tên, ta đích thân nhận làm đệ tử. Thiết Phong đã chết, việc này cũng chẳng làm sao. Đường công tử không nói ra thì cũng chẳng ai biết được, không biết ý kiến công tử ra sao?”.

    Đường Tiềm lạnh nhạt hỏi: “Nếu thật như đạo trường nói xin hỏi công đạo ở đâu?”.

    Tùng Phong vỗ vỗ vai hắn, than rằng: “Công tử vẫn là người trẻ tuổi, tuổi trẻ khí thịnh, không biết phong ba hiểm ác chốn giang hồ. Trên giang hồ không có việc gì sóng cũng đã cao ba thước huống chi có việc? Địa vị của Võ Đang trên giang hồ hẳn công tử cũng biết, gánh lấy mối nhục này, đến ta còn cảm thấy không mặt mũi nào mà gặp người khác. Có lời rằng, không thể vạch áo cho người xem lưng, Đường môn mấy năm nay náo loạn không ra thể thống, chẳng phải cũng là tiếng xấu truyền xa, người người chán ghét sao? Hiện giờ Đường công tử tuổi trẻ tài hoa, bần đạo cực kỳ yêu thích, tương lai nếu Đường môn gặp chuyện, Võ Đang chúng ta quyết không khoanh tay đứng nhìn. Việc này thôi thì việc lớn hóa nhỏ, được chăng? Về phía Mộc Huyền Hư, công tử không cần lo, nó trước nay đều rất nghe lời ta”.

    Đường Tiềm trầm mặc hồi lâu, rồi đứng dậy, nói: “Phần Trai tiên sinh, nếu vãn bối đoán không sai, đây chính là nguyên nhân các vị đem chuyện của Thiết Phong im đi không công bố, phải không?”.

    Phần Trai nói: “Ta và Tùng Phong đạo trưởng quen biết bao nhiêu năm nay, việc này quan hệ tới địa vị và thanh danh Võ Đang trong giang hồ, đương nhiên phải thận trọng hành sự”.

    Đường Tiềm lạnh lùng hỏi: “Vãn bối chỉ muốn thỉnh giáo lão tiên sinh, chuyện của Thiết Phong, Giang hồ khoái báorốt cuộc đăng hay không đăng?”.

    Phần Trai cười nói: “Người trẻ tuổi, không nên cố chấp như thế...”.

    Sắc mặt Đường Tiềm đã tái đi, nói: “Mấy vị ngồi đây trước nay đều là tiền bối võ lâm, vãn bối rất mực kính phục, vãn bối ngu si, những lời vừa rồi của các vị, vãn bối quá thật không dám thụ giáo”.

    Phần Trai than: “Dù công tử không nghĩ cho danh dự của Võ Đang thì cũng nên nghĩ cho tương lai của Đường môn. Nay Đường môn nguy cơ trùng trùng, đang cần chi viện từ khắp nơi. Việc này lắng xuống, Võ Đang ắt sẽ giao hảo với Đường môn, giúp Đường môn qua được ải khó này, thế nào?”.

    Đường Tiềm cười lạnh: “Thì ra Phần Trai tiên sinh cũng là thuyết khách, vãn bối bất tài nhưng cũng có thể cân nhắc quan hệ lợi hại. Chỉ là hai chữ công dạo, trước nay không liên quan gì tới quan hệ”, nói xong chắp tay, xoay mình bỏ đi, “Vãn bối cáo từ”.

    Hắn đẩy cửa bước ra, phất tay áo đi thẳng, bỏ lại đám người trong phòng bối rối.

    Gió đêm phất nhẹ, người đi đường vẫn rất đông đúc. Trong đầu hắn là một khoảng hỗn loạn. Hắn đột nhiên có chút hối hận, hối hận bản thân sao không khôn khéo chút nào, không suy nghĩ cho tương lai của Đường môn đang được ngày nào hay ngày ấy. Kết giao với Võ Đang, chỗ dựa to lớn ổn định như thế mà mình lại vì một thoáng bồng bột mà đánh mất cơ hội. Thật không biết Đường Tầm nghe rồi sẽ nghĩ sao! Đối địch với mấy lão nhân có khả năng nhất cử nhất động khuấy đảo giang hồ này thì liệu có được kết cục tốt đẹp gì đây?

    Mình làm sai rồi sao?

    Hắn chậm chạp thả bộ đầu phố, ngơ ngẩn mất hồn, lòng rối như tơ vò, không kìm nổi cứ thở vắn than dài.

    ***

    Hoàng hôn.

    Mặt hồ sóng yên gió lặng, nước trong như ngọc, khoảng nước và trời ráng chiều đỏ như máu, tỏa ra mấy đạo ánh sáng màu vàng chói mắt.

    Rặng liễu ven đê đã đâm cành vàng nhạt, khí vị mùa xuân ùa lên từ trong bùn đất, tiếng chim hót trong núi vang động một vùng trời màu bích, cùng với đàn cá hồng tranh ăn trong hồ càng tôn lên vẻ sống động thú vị.

    Gió ấm miên man, cành liễu phơ phất, chàng đã ngồi chăm chú ngắm nhìn những gợn sóng lăn tản trên mạt hô rất lâu.

    Cho tới khi Đường Tiềm tới bên cạnh, Mộ Dung Vô Phong mới choàng tỉnh: “Tìm ta có việc gì?”.

    Huynh nhất định đoán không ra, vừa rồi ai tới tìm ta", Đường Tiềm vén vạt áo, ngồi xuống ghế đá.

    Sợ rằng lần này ta lại đoán trúng rồi, là Hồng Vũ đạo trưởng của Võ Đang đúng không?”, Mộ Dung Vô Phong nhạt giọng nói, “Lần này thì ta không phải là đoán, ông ta cũng tới tìm ta. Ta viện cớ đang có bệnh nhân, không gặp. Sau đó ta phái người đi tìm huynh thì huynh đã đi rồi”.

    Có phải ông ta cũng muốn tìm Mộc Huyền Hư?”

    Không sai. Phỏng chừng Võ Đang sớm đã có được tin tức, bọn họ không thế mất thế diện phen này cho nên muốn nghĩ cách dàn xếp ổn thỏa.”

    Mộc Huyền Hư nghĩ sao?”

    Hắn lửa bốc ba trượng, nói Võ Đang không trả lại sự trong sạch cho hắn, hắn thề không về Võ Đang.”

    Hình như tính khí hắn đúng là thế này.”

    Huynh thì sao?”, Mộ Dung Vô Phong nhìn hắn hỏi: “Huynh nghĩ sao?”.

    Đường Tiềm cười khổ: “Ta còn chưa bắt đầu nghĩ thì đã đắc tội với người ta hết rồi”.

    A?”

    Vì chuyện lần này, đến cả Tùng Phong đạo trưởng nhiều năm không xuất sơn cũng đích thân tới Thần Nông trấn.”

    Ánh mắt Mộ Dung Vô Phong chợt sắc bén, kinh ngạc thốt. “Thể diện Đường huynh thật là lớn!”.

    Không chỉ là Tùng Phong, còn có cả Phần Trai và Tây Sơn hai vị lão tiên sinh!”, trong giọng nói của Đường Tiềm còn mang chút trào phúng bỡn cợt.

    Mấy lão đầu ấy đều đến cả rồi sao?”, Mộ Dung Vô Phong không nhanh không chậm hỏi.

    Đều là thuyết khách Tùng Phong mời tới, muốn đem chuyện này dìm đi, coi như không có... để Mộc Huyền Hư gánh tiếng ác tới cùng.”

    Huynh nói sao?”

    Đương nhiên ta đòi trả lại công đạo cho Mộc Huyền Hư, Đường Tiềm đưa đôi mắt trống rỗng của mình nhìn Mộ Dung Vô Phong thong thả nói: “Chỉ là ta thực không ngờ tới, đám trưởng bối ngày thường ta kính trọng nhường ấy lại là loại người này!”.

    Đối với vấn đề này, Mộ Dung Vô Phong không đáp, cũng không biết phải đáp sao.

    Nghĩ ngợi một lúc, chàng lại hỏi: “Nói như vậy, Phần Trai cố ý cắt bỏ tin về Thiết Phong?”.

    Đường Tiềm gật đầu: “Nếu như Giang hồ khoái báo không đăng, dựa vào mấy cái miệng của đám người ta với huynh, chỉ sợ rất khó công bố với chúng nhân”.

    Mộ Dung Vô Phong nói: “Việc này không hề khó. Chúng ta chỉ cần đem việc này viết cả lên thiếp, bên trên ký tên ta, huynh và Diệp Lâm An, lại tìm mấy người thợ khắc in mấy vạn bản, phát tán rộng ra là được. Phần Trai dù có muốn bịt kín tin tức cũng chẳng làm sao được. Huynh chỉ cần tìm người có tiền bỏ ra khoản phí ấy là được”.

    Đường Tiềm vỗ vai Mộ Dung Vô Phong cười nói: “Nhắc đên người có tiền, huynh chính là một người rất có tiền”.

    Mộ Dung Vô Phong khẽ cười: “Việc tiền nong huynh không cần lo, bất kể thế nào chúng ta cũng không để việc lần này uổng phí”.

    Thế thì tốt quá rồi!”, Đường Tiềm mừng ra mặt, nhưng lại chợt lo âu, “Chỉ là làm như thế, Đường môn và Vân Mộng cốc đều sẽ đắc tội lớn với Võ Đang, hậu quả thế nào huynh không thể không cân nhắc”.

    Ta chẳng thấy tương lai có việc gì cần nhờ tới Võ Đang, ta chẳng qua chỉ là một đại phu mà thôi”, Mộ Dung Vô Phong nhìn hắn, ý tứ sâu xa nói, “Hậu quả ấy huynh nghĩ tới chưa?”.

    Đường Tiềm trầm mặc hồi lâu, đáp: “Nghĩ rổi, Ta không phải là người quá thực tế, cũng chẳng rõ làm như thế rốt cuộc có ổn hay không”.

    Ánh mắt Mộ Dung Vô Phong rời ra phía xa: “Có lúc, một thoáng xung động trước khi hối hận là chân thực nhất”.

    Đường Tiềm trầm ngâm, chợt nói: “Kỳ thực... huynh không cần giúp ta như thế”.

    Mộ Dung Vô Phong chầm chậm nói: “Huynh có thể nhận lời với ta một việc không?”.

    Việc gì?”

    Chàng đăm đăm nhìn về phương xa, nói: “Tương lai có một ngày, Vân Mộng cốc và Đường môn lại có chuyện can qua, huynh có thể bảo vệ con gái ta an toàn không?”.

    Đường Tiềm sững người, cảm thấy có chút bất ngờ, nhưng chân thành đáp: “Ta nhận lời với huynh”, nói rồi chợt hiểu ý tứ trong đó, trong lòng không khỏi nặng nề, lại thở dài nói: “Huynh cả nghĩ rồi”.

    Mộ Dung Vô Phong nhìn một khoảng nước biếc mênh mông mù mịt trước mặt, bình tĩnh nói: “Trời tối rồi, huynh về đi".

    Trên mặt nước, một chiếc thuyền gỗ treo đèn lồng bồng bềnh trôi về phía chàng.

    Gió trời dịu êm, hương thầm phảng phất, dưới ánh trăng lúc hoàng hôn, màu áo tím quen thuộc nhường này…

    Nàng tới rồi...”, khuôn mặt trắng tái cùa chàng chợt có chút sáng lên.

    Cô gái áo tím cầm đèn, từ đầu thuyền nhẹ nhàng nhảy lên bờ tay vén ống quần, đôi chân để trần, bước lên từng bậc. Nàng vĩnh viễn chẳng bao giờ chịu đi đứng cho bình thường, toàn nhún nhảy, thoáng cái đã tới trước mặt chàng như một cơn gió.

    Chàng nghênh đón, chăm chú nhìn rất lâu, chỉ cảm thấy tất thảy trước mắt mù mịt như mộng, run giọng hỏi: “Hà Y, lúc nào thì nàng đưa ta đi?”.

    Làm sao thế? Còn đang tốt, sao lại muốn đi?”, bóng hình kia tới trước mặt chàng, vuốt ve khuôn mặt chàng, nhẹ giọng nói: “Thiếp tới thăm chàng... xem chàng sống có tốt không”.

    Ở lại đi... đừng đi nữa!”, chàng với tay túm lấv áo nàng nhưng chỉ nắm vào không khí, thân thế lao đi, suýt nữa thì ngã nhào xuống đất.

    Chàng gầy quá... lại gầy đi rồi...”, giọng nói dịu dàng kia nhẹ than bên tai chàng, nàng cúi mình xuống, đắp lại chăn phủ trên chân cho chàng: “Hứa với thiếp, tự chăm sóc bản thân cho tốt, có được không?”.

    Một trận gió khẽ thổi tới, bóng hình theo gió lung lay.

    Chàng đột nhiên xoay người đi, cắn chặt răng, quay lưng lớn tiếng nói với nàng: “Hà Y, ta biết nàng không phải là thật…”

    Chỉ cần chàng vui, sao cứ nhất định phải là thật?” bóng hình kia nói.

    Khuôn mặt nàng trắng bệch, trắng như xương khô trong phẫn mộ.

    Trừ cái lần bị thương lúc trước, khuôn mặt nàng luôn luôn có sắc hồng.

    Trong lòng chàng đau đớn, nghẹn ngào hỏi: “Hà Y... nói cho ta, lúc ấy... thời khắc cuối cùng ấy, nàng có đau đớn không?”.

    Nàng cười nhẹ, không đáp.

    Hết lần này tới lần khác chàng mơ thấy nàng bị đè dưới tảng đá lớn, lúc hấp hối, nàng đưa đôi mắt đẫm lệ, đau khổ bất lực nhìn chàng, còn bản thân chàng thì ở bên lo tới phát cuồng nhưng chẳng thể làm được gì.

    Đương nhiên không đau đớn, sao chàng lại nghĩ như thế?”, đôi tay nàng nhẹ nhàng đặt lên ngực chàng, thì thầm: “Chàng cứ thích nghĩ ngợi lung tung...”.

    Chàng ngơ ngẩn sững sờ hồi lâu rồi chợt thở dài: “Nếu không phải vì ta, nàng cũng sẽ chẳng chết sớm thế”, thoáng chốc mặt mày buồn rầu, tâm ý nguội lạnh. Cảnh tượng trước mắt bỗng tan biến như mộng ảo, hòa vào màn đêm mênh mang, bóng áo tím kia cũng theo một tiếng vượn kêu thảm thiết mà tan vỡ, lùi xa dần theo ánh đèn hồng nhạt rồi biến mất không thấy đâu nữa.

    Hà Y… ta phải quên nàng đi”, chàng bừng tỉnh nhắc lại với bản thân một câu đã nhủ thầm trong lòng mấy nghìn lần.
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 19: Sương khói mịt mù


    Lúc Hà Y còn sống, thời gian của chàng đầy những khoảnh khắc. Hà Y khuất đi, thời gian biến thành một đường thẳng trơn tuột.

    Cuối cùng chàng cũng dần dần tin điều này: Chỉ cần thời gian đủ lâu, một người có thể quen với mọi việc.

    Bởi vậy, hai năm nay ngày tháng của chàng trôi đi khá bình yên.

    Trừ mùa đông bệnh phong thấp tái phát không thể không nằm liệt giường ra, phần còn lại của năm chàng đều bận rộn không ngơi không nghỉ.

    Chuyện cũ gác bỏ, ảo ảnh ngày càng nhạt nhòa. Chàng cảm thấy sự đáng sợ của lý trí, nhưng dưới sự thúc ép của lý trí lại một lần nữa chàng hòa mình vào dòng chảy ào ạt của cuộc đời, cứ lao về phía trước một cách không mục đích. Chàng không nghĩ ngợi nhiều nữa, cũng chẳng muốn hỏi bản thân tại sao.

    Từ kể từ khi Hà Y qua đời, chàng càng hiểu rõ ý nghĩa của thế giới này không cách nào truy rõ được. Những thứ bản thân mỗi ngày trải qua hay đối mặt chẳng qua chỉ là một vài mảnh tán loạn, chẳng có gì hơn.

    Thế giới của mỗi người đều khác nhau. Hà Y ra đi, đã mang theo thế giới của chàng.

    Tới mùa thu, chàng gọi thợ xây, mở cuộc xây dựng rầm rộ, tu sửa tất tần tật phòng ốc trong cốc từ trong ra ngoài hết một lượt, lại xây thêm chín trang viện và bốn dãy hành lang, muốn gọi về mấy vị đệ tử nhiều năm đóng ở bên ngoài để ứng phó với y vụ nặng nề do danh vọng ngày một lớn của Vân Mộng cốc đem lại.

    Đối với việc Mộ Dung Vô Phong "bình thường" trở lại, người trong Vân Mộng cốc hết sức kinh ngạc. Chàng rõ ràng rành mạch sắp xếp thời gian nghỉ ngơi của bản thân, đúng giờ uống thuốc, định kỳ tham dự hội chẩn, lên lớp cho đệ tử mới thu nhận, việc phê bệnh án cũng không chậm trễ. Tuy Ngô Du đã mang về cho chàng túy ngư thảo nhưng cũng chỉ là giải dược mạn độc của Đường môn, các chứng bệnh khác vẫn nguyên xi không giảm, đến mùa lại tái phát. Mọi người không sao hiểu được, tại sao dáng hình chàng ngày một hao mòn, nhưng sức lực lại ngày càng dồi dào?

    Việc sửa sang xây cất phòng ốc vốn thuộc chức trách của Triệu Khiêm Hòa, lúc trước đều là do ông ta toàn lực đôn đốc. Lần này Mộ Dung Vô Phong lại gạt ông ta sang một bên, hoàn toàn biến ông ta thành một chân sai vặt. Từ việc từng phân từng li bản vẽ phòng ốc, tới phong cách đường lối, san đất, làm móng, việc gì chàng cũng hỏi tới, lại còn hỏi rất kỹ càng.

    Triệu Khiêm Hòa do đó cực kỳ đau đầu. Mấy vị tổng quản đều sợ Mộ Dung Vô Phong thật sự "quan tâm" việc gì, bởi vì con mắt chàng cực kỳ bới móc, đã tốt còn muốn tốt hơn, phải giống như đơn thuốc do chính tay chàng kê ra, không có nửa điểm sai lầm. Nếu có chỗ không hài lòng, là sẽ nổi giận, bắt đập đi làm lại, tới mức người đi theo chàng cả ngày nơm nớp hệt như bước trên băng mỏng. Bản vẽ đã vẽ tới bảy lần tám lượt vẫn không thể khiến chàng hài lòng, cuối cùng chàng đem một bản trong số đó về phòng mình, nghiên cứu mấy canh giờ, sau đó sửa tới mức khác hẳn rồi mới giao cho Triệu Khiêm Hòa bảo: "Chính là cái này".

    "Có cần nhờ Phương đại sư xem qua không ạ?", Triệu Khiêm Hòa thăm dò, cẩn thận hỏi.

    "Cứ làm theo bản vẽ này là được rồi", Mộ Dung Vô Phong nói.

    Sau khi Phương Thiên Ninh nhận lấy bản vẽ, không nói câu nào, theo lịch động thổ làm móng. Không lâu sau, sang mùa đông, bệnh cũ của Mộ Dung Vô Phong tái phát phải nằm liệt giường, việc xây dựng không hỏi tới nữa. Phương Thiên Ninh cũng đã nêm qua tính khí của chàng, nghiêm chỉnh làm theo bản vẽ, tuyệt không làm thừa ra nửa viên gạch nào. Đến đầu mùa hè năm sau công trình hoàn thành, chín trang viện do bốn hành lang uốn khúc nối nhau, gác xanh đình đỏ, song buông rèm lụa, tựa núi ngắm sông, quanh co ẩn hiện. Bên cạnh lại có đường đá uốn quanh, theo bậc mà lên sẽ vào vườn cây khóm quế, cực độ yêu kiều u mặc.

    Ngày hôm đó, bệnh của Mộ Dung Vô Phong chưa khỏi hẳn nhưng cũng không nỡ phụ ý tốt của Phương Thiên Ninh liền ngồi kiệu, bên cạnh có mấy vị tổng quản tháp tùng đi thăm hết một lượt kiến trúc mới. Dọc đường rõ ràng chàng mệt mỏi ủ rũ thấy rõ, gần như chẳng nói câu nào. Khiến cho đám người đi cạnh tim đập như trống, cho rằng chàng không hài lòng. Sau cùng mới thấy chàng khẽ gật đầu, nói với Phương Thiên Ninh:

    "Đúng là không tồi, đa tạ đã phí công tốn sức."

    Từ đấy mấy người kia mới vững tâm trở lại. Mộ Dung Vô Phong kiệm lời như vàng, hiếm khi khen ai trước mặt. Hai chữ "không tồi", đã là đánh giá tốt nhất của chàng rồi.

    Sau khi tiễn Phương Thiên Ninh, ba vị tổng quản cuối cùng được thở phào một tiếng, Tạ Đình Vân nói: "Đã có hứng thế này sao không làm một chén?".

    Triệu Khiêm Hòa cười nói: "Hôm kia tôi câu được hai con cá lô, đang nuôi trong ao. Bây giờ sẽ bảo đầu bếp làm một bàn, thế nào?".

    Hai người kia bèn theo Triệu Khiêm Hòa tới một gian sảnh trong nhà ông ta, vừa nhàn đàm, vừa nhâm nhi rượu.

    Đang bàn những việc mỗi người phải bận bịu lo toan và dự định năm sau, Quách Tất Viên chợt nói: "Các ông có cảm thấy không...".

    Câu này không tiện nói, ông ta cũng không biết phải nói sao.

    Hai người đối diện thì vẫn hiểu ý tứ của Quách Tất Viên, tâm tình nặng nề gật đầu.

    Triệu Khiêu Hòa buồn rầu thở than nói: "Bắt đầu từ năm trước, cứ chẳng bao lâu cốc chủ lại đưa tiểu thư tới chỗ ông cậu, một lần ở hai tháng. Nhìn là biết, hình như người cố ý xa lánh tiểu thư".

    Tạ Đình Viên nâng chén uống cạn, cũng nói: "Phu nhân chết thảm như thế, cốc chủ nhất định đau lòng muốn chết. Cứ theo tính khí trước đây của người há lại dễ dàng bỏ qua cho Đường môn? Cho dù không báo thù, cũng tuyệt đối không có chuyện hòa hảo. Tôi nghĩ, có lẽ là người nghĩ ngày tháng của mình chẳng còn bao nhiêu, trả thù cố nhiên là thoải mái nhưng thủ đoạn của Đường môn đối phó người khác luôn là có thù sẽ báo, đeo bám không thôi, Tiểu thư tuổi hãy còn nhỏ, không ai chèo chống đại cục, chỉ sợ hậu họa vô cùng, bởi thế mới không thể không miễn cưỡng hòa hoãn".

    Quách Tất Viên gật đầu tán thánh: "Tính toán này của cốc chủ có thể nói là sâu sắc".

    Triệu Khiêm Hòa nói: "Hôm qua gặp Sái đại phu, có hỏi ông ta về bệnh tình của cốc chủ. Ông ta nói cốc chủ tâm mạch vốn yếu lại thêm bị nạn ở Đường môn, bây giờ khắp người mang bệnh, cứ gặp ngày trời lạnh ẩm là bệnh cũ tái phát, đau tận xương tủy, không sao ngủ được. Đến cả việc tới phòng bệnh khám chữa cũng phải uống thuốc trước, khiến người tê đi mới có thể tập trung tinh thần. Mà dù đã khốn khổ như thế nhưng cũng không thể duy trì được lâu", ông ta than dài một tiếng, tiếp tục nói, "Cốc chủ từ nhỏ chuyên tâm học y, gần như say mê. Bây giờ tất cả các ca phải chữa lâu người đều không cầm nổi dao... đành ngồi một bên chỉ điểm... tuy người không nói gì những hẳn cũng chịu đả kích không nhỏ, Đúng là lo nhiều người ốm, mệt quá hóa bệnh. Nếu phu nhân vẫn còn, thường hay căn dặn người chú ý giữ gìn thì còn có thể sổng yên ổn qua ngày. Giờ cốc chủ làm việc quá độ, tâm ý nguội lạnh, cứ tiếp tục thế này, dù có là người sắt cũng chẳng chịu được bao lâu...".

    Tạ Đình Vân tròng mắt đã ươn ướt, không nhịn được nói "Ý ông là…"

    Triệu Khiẻm Hòa không trả lời, chỉ lặng lẽ gật đầu.

    Quách Tất Viên nói: "Lần xây dựng nhà cửa này, bảy chỗ đều men triền núi mà lên, xuôi dòng nước mà xuống, cốc chủ không để làm đường phẳng, nhất loạt dùng bậc thang. Hoàn toàn không tính toán cho xe lăn của mình thuận tiện đi lại... rõ ràng là không tin bản thân còn có thể sống ở đây bao lâu nữa. Ngoài ra, bảy đại phu được gọi về đều là những đệ tử đắc lực nhất trước đây, ở bên ngoài đã lâu, kinh nghiệm phong phú. Tôi nghĩ... có lẽ cốc chủ đang an bài hậu sự, lo sau khi người khuất đi, trong cốc không đủ đại phu để ứng phó với y vụ khó khăn".

    Triệu Khiêm Hòa gật đầu, tay cầm một hạt đậu phộng bỏ vào miệng, nhất thời tâm tư rối loạn, quên luôn cả nhai mà nuốt thẳng xuống.

    Tạ Đình Vân cười khổ: "Tôi vẫn còn một tin xấu nữa".

    Triệu Khiêm Hòa ngẩng đầu: "Tin xấu gì?".

    Tạ Đình Vân nói: "Cốc chủ vừa thông báo với tôi, muốn tôi chuẩn bị cho tốt, người muốn một ngày gần đây sẽ khởi hành đi Thọ Ninh”.

    Triệu Khiêm Hòa cuống lên: "Thế sao được? Thọ Ninh xa như thế, thân thể của cốc chủ ngồi thuyền ngồi xe đều không tiện, sao có thể chịu được vất vả thế? Lại nói, Thọ Ninh... là nơi thế nào? Ở đây cốc chủ chẳng có ai thân thích…"

    Quách Tất Viên nói: "Việc này nhắc lại thì dài. Tôi cũng biết được một chút. Các vị còn nhớ không, cốc chủ và phu nhân từng có một đứa con...".

    Việc nãy ai cũng biết, Mộ Dung Vô Phong còn suýt nữa mất mạng vì việc này, Triệu Khiêm Hòa gật đầu giục: "Mau mau nói xem, giờ này rồi ông còn mào đầu mào đuôi gì nữa...".

    "Đầu năm nay tôi có đi Hàng Châu bán một vụ làm ăn, cốc chủ từng bảo tôi thuận đường đi Thọ Ninh một chuyến, hỏi thăm về một vị sư thái pháp hiệu là 'Thủy Nguyệt'. Người nói phu nhân thân thế đáng thương, thuở nhỏ may được vị sư thái này nuôi dưỡng. Sau này phu nhân đem đứa con đã chết chôn trong am ni cô đó. Người sai tôi tới bái phòng Thủy Nguyệt, thuận tiện đem di cốt của đứa trẻ về an táng trong cốc."

    "Ồ!"

    "Nhưng tôi tới đó hỏi thăm mới biết một dọc đấy người ta theo đạo, chỉ có đạo quán, trước giờ chưa từng có am ni cô, cũng không có vị Thủy Nguyệt đấy. Lúc ấy tôi nghe mà cực kỳ kinh ngạc, còn cho rằng cốc chủ nhớ nhầm tên, lại đến mấy trấn lân cận tìm, vẫn cứ công cốc. Sau khi về, cốc chủ nói người tuyệt đối không nhớ nhầm, còn bảo nếu đã như thế, người nhất định phải tự mình đi một chuyến, làm rõ đến cùng... Lúc ấy người còn đang nằm bệnh đã có ý nghĩ này. Giờ thời tiết ấm dần, chắc muốn khởi hành rồi."

    Triệu Khiêm Hòa và Tạ Đình Vân bốn mắt nhìn nhau.

    Qua một lúc, Tạ Đình Vân nói: "Vừa rồi tôi ra sức khuyên cốc chủ nhưng người chẳng chịu nghe, muốn tôi lập tức chuẩn bị ngựa xe, không ngồi thuyền được thì đi đường bộ. Còn nói... còn nói người muốn tiện đường thăm một vị cố nhân".

    "Cố nhân?"

    "Người hỏi tôi có biết Khoái Đao đường của họ Vương ở Thanh Châu ở đâu không."

    "Ông muốn nói tới Khoái Đao Vương Thông?"

    "Ừm. Con trai duy nhất của Vương Thông, Vương Nhất Vĩ, là sư huynh của phu nhân. Cốc chủ đi xa chuyến này, muốn tưởng niệm hết thảy, không sao ngăn nổi. Chắc hẳn là muốn hỏi thăm chuyện cũ của phu nhân, tìm lại một vài di vật mà thôi…"

    Những người còn lại không khỏi cảm thương.

    Chuyến đi đó hoàn toàn không thu được gì, hoặc có thể nói những thứ mong muốn đều không đạt được.

    Câu đố về thân thế của Hà Y cuối cùng vẫn chìm trong mê hoặc.

    Nơi đó là một vùng núi non giáp biển, có nhưng tập tục kỳ dị, tất thảy đều xa lạ, tiếng của người bản địa chàng hoàn toàn không hiểu.

    Chàng không có cách nào liên hệ mảnh đất này với Hà Y. Hà Y dịu dàng mà thần bí, trong trí tưởng tượng của chàng, nàng luôn luôn sống ở vùng quê sông nước, bốn phía giậu che, hồ sen khắp chốn. Hà Y rất ít khi nhắc tới thời thơ ấu của bản thân, trước nay chàng cũng không hỏi tình nguyện cứ để nàng tồn tại như thế trong tưởng tượng của mình.

    Chàng có ý muốn tìm vị Thủy Nguyệt sư thái mà nàng từng nhắc tới, nhưng cái tên này đối với người bản địa thì lại hoàn toàn xa lạ. Kể cả như thế, chàng vẫn không nản lòng, tìm hỏi mấy vị lão tiên sinh am tường chuyện đất này mới biết dọc này đúng là chưa từng có am ni cô, cũng chẳng có cái người "Thủy Nguyệt" đó, lại chẳng có ai mang họ "Sở".

    Khẩu âm của Hà Y vốn là khẩu âm phương bắc, là bởi nàng học võ ở Kinh Đông. Thỉnh thoảng lẫn vài tiếng đất Ngô êm ái là do vị sư phụ dạy nàng tạp kỹ hồi còn lang bạt. Sau khi quen chàng, chẳng bao lâu sau nàng liền học giọng đất Thục giống hệt với chàng, từ đó không sửa nữa. Chàng quen thuộc với giọng nàng như quen với giọng bản thân vậy.

    Ở Thọ Ninh trọn hai tháng trời, chàng phái người chạy khắp tứ phương thăm hỏi, tới mấy huyện thành gần đó cũng không bỏ qua nhưng vẫn không tìm ra nửa phần tung tích của Hà Y.

    Chàng bắt đầu sa vào khốn cảnh, điên cuồng muốn biết tại sao nàng phải che giấu thân thế mình.

    Nàng đã là một đứa trẻ bị bỏ rơi... còn chuyện gì có thể tồi tệ hơn thế nữa?

    Chuyến đi dài đã vắt kiệt tinh lực của chàng, khó khăn lắm mới tới được Thọ Ninh, lại bởi thủy thổ không hợp, nôn mửa không thôi. Thời gian còn lại, chàng chỉ có thể nằm thoi thóp trên giường. Lúc cơn bệnh nặng nhất, chàng đã nghĩ tới cái chết, dự định chôn bản thân trên một ngọn núi sát biển ở đất này.

    Hà Y bảo, nơi đây là quê hương của nàng, tuy cố hương không có dấu tích của nàng, chàng vẫn tin lời nàng, tin rằng vùng đất này đối với cuộc đời nàng nhất định có ý nghĩa nào đó... Chàng tình nguyện chết ở nơi đây, để linh hồn tiếp tục kiếm tìm, cho tới khi có được đáp án.

    Nhưng khi đêm khuya tĩnh lặng, chàng lại bắt đầu cười nhạo bản thân. Một đời này của chàng dường như rất có hứng thú với "câu đố". Chàng lúc nào cũng đang tìm tòi gốc rễ của vấn đề, lúc nào cũng truy cầu đáp án. Sau đó, những câu đố ấy biến mất, thay vào đó là một câu đố khác, càng mê hoặc hơn. Đến mức, cuối cùng chàng lâm vào quẫn bách, không rõ rốt cuộc là mình đang giải đố hay là câu đố đang giải chàng, hay là vì giải đố mà bản thân không ngừng ra những câu đố mới?

    Treo giải thưởng kia, chàng trao câu đố cho Hà Y, lại nhờ đó mà quen biết nàng, rồi từ đây chàng lại nhận được câu đố mới. Chàng không ngừng bị vây hãm trong khổ não. Thật ứng với một câu Hà Y từng nói: "Có đôi khi đáp án làm người ta hồ đồ hơn cả câu hỏi".

    "Vì sao?", chàng hỏi.

    “Bởi vì chàng là một con mọt sách." Nàng cười nhẹ.

    Mỗi khi Hà Y nói ra những câu như thế thì thường làm cho chàng hoài nghi năng lực trí tuệ của bản thân, có nhiều khi chàng nghĩ mãi không hiểu sự tình thì nàng lại sớm đã hiểu rõ.

    Bệnh thế có chuyển biến tốt, chàng liền không do dự lên phương bắc, đi suốt tháng trời chạy tới Thanh Châu.

    Những bí ẩn kia càng lúc càng quan trọng, gần như đã thành dũng khí để chàng tiếp tục sống.

    Chàng tìm đến ngõ Lạc Đà, nơi đặt tổng đường của Khoái Đao đường. Vương Thông đã mất từ lâu, Vương Nhất Vĩ kế thừa phụ thân, nắm giữ cơ nghiệp lớn.

    Hắn là vị sư huynh không thích lộ diện trên giang hồ nhất trong mấy vị sư huynh của Hà Y, võ công nghe nói cũng là tệ nhất. Như bây giờ tuổi ngoài ba mươi, cưới vợ sinh con, thân thể đã có chút đẫy đà nhưng vẫn mang dáng vẻ cười nói thân thiện, nho nhã lễ phép, lúc gặp được Mộ Dung Vô Phong thì có chút kinh ngạc nhưng lập tức hiểu mục đích của chàng.

    Đương nhiên hắn đã nghe được tin Hà Y qua đời, lúc hai người gặp mặt đều thấy thương cảm, hắn không nói gì, chỉ vỗ vỗ vai Mộ Dung Vô Phong.

    …Chàng vốn không có phụ mẫu huynh đệ, vào thời khắc Vương Nhất Vĩ vỗ vai chàng, chàng chợt cảm thấy nếu bản thân có huynh đệ thì cũng không phải chuyện gì không tốt.

    Câu chuyện tiếp theo thì lại khiến chàng chán nản.

    Thì ra thời gian Vương Nhất Vĩ ở trong nhà Trần Thanh Đình tuyệt không dài. Hắn là con một, mà phụ thân thì hay bệnh, hắn chỉ đành thường xuyên về nhà chăm sóc. Thường thường thì cứ về là hai năm, quay lại được nửa năm, ở không bao lâu thì lại đi.

    Trần Thanh Đình dù sao cũng là đại sư một đời, rất trân trọng thanh danh của mình trên giang hồ. Tuy về tiền bạc phải ỷ lại vào đám đệ tử con em nhà phú gia nhưng việc dạy võ công thì không hàm hồ chút nào. Người bái ông ta làm sư phụ không ít, bị ông ta tức giận đuổi đi cũng lắm. Vương Nhất Vĩ lấy cớ phụ thân bệnh trốn được không ít trách phạt của sư phụ. Lúc phụ thân hắn còn sống từng vung vàng như đất, giao thiệp rộng khắp. Cho nên Vương Nhất Vĩ đi đến đâu cũng được hoan nghênh, còn đến lúc phải thật sự động thủ thì tự khắc có một đám thuộc hạ trung thành liều chết nhảy ra che chắn.

    "Hồi tôi ở chỗ sư phụ thì thường lười biếng. Lúc nhập môn đã có sẵn chủ ý, chỉ học vài chiêu hình thức, lúc cần đến giở ra cho giống thật, không đến nỗi làm mất mặt Khoái Đao đường quá là được rồi", hắn thẳng thắn nói "Tôi trên giang hổ tuy thường hay phải đấu đá với người khác nhưng thông thường đều là nói chuyện không xong thì mới đánh nhau. Tôi thì thường giải quyết xong vấn đề ngay lúc nói chuyện cho nên không phải động đao kiếm... Mấy vị sư huynh hiếu dũng thích đánh nhau, tuổi tác tương đương tôi, bây giờ người chết, kẻ bị thương, chỉ có mình tôi lành lặn nguyên xi. Có thể thấy lười biếng cũng có chỗ tốt của lười biếng", hắn cười nhạt, chẳng xấu hổ chút nào. Chén rượu đưa tới bên miệng ngừng lại trước mũi một chút rồi mới uống.

    "Tôi chẳng thấy sống như thế có gì không đúng", Mộ Dung Vô Phong cười khổ. Trong mấy người tử thương kia, chỉ sợ cũng tính Hà Y vào đó chăng?

    "Tôi đã là kẻ lười biếng như thế có thể tưởng tượng ra bọn sư huynh sư đệ coi thường tôi đến mức nào. Hà Y thì lại chẳng để ý, cũng chưa từng lấy tôi ra làm trò cười. Nó là một cô bé thần bí, hình như lúc nào cũng đầy bụng tâm sự. Mỗi ngày từ sớm đã dậy luyện công, ngày thường thì ở trong bếp chạy việc vặt cho đầu bếp. Chẳng nói nhiều với ai bao giờ, cứtrầm mặc im hơi lặng tiếng như thế sáu bảy năm. Nói thật, trên giang hồ đồn Mộ Dung huynh tính tình trầm mặc, lúc ấy tôi còn nghĩ, hai người đều không thích nói chuyện cùng với nhau thì sẽ như thế nào. Xem ra hai người sống rất tốt."

    Nghe câu này chàng ngẩn người ra, cảm thấy có chút bực. Lúc bọn họ ở cùng nhau, hai người đều nói rất nhiều. So ra Hà Y còn nói nhiều hơn. Hứng chí lên nàng còn hoa chân múa tay, vừa nói vừa tả, ríu rít mãi không nói xong.

    Chàng quả thật không ngờ được trước đây nàng cũng là người ít nói.

    ... Xem ra, Vương Nhất Vĩ cũng không hiểu Hà Y lắm.

    Chàng không khỏi than thầm trong lòng.

    Chàng kỳ vọng Vương Nhất Vĩ có thể kể một chút chuyện cũ của Hà Y, nhưng rồi phát hiện dù có dốc cạn túi, những điều hắn biết chẳng qua cũng chỉ có vài mẩu chuyện lặt vặt thôi. Hà Y chỉ là một người bạn nhỏ thuở thiếu thời của hắn, có một đoạn hồi ức ấm áp, thế thôi. Hắn chưa từng chú tâm quan sát nàng, đương nhiên cũng chẳng có gì tâm đắc mà kể. Nếu như không phải chàng đột nhiên hỏi tới, có lẽ hắn cũng sẽ không nghĩ tới nàng. Xét cho cùng, mỗi người đều có cuộc sống của mình.

    Hai người tiếp tục chuyện trò, đề tài bắt đầu lan man, khiến người ta khó chịu.

    Không biết vì lý do gì, từ nhỏ chàng đã ghét chuyện trò, bất kể là với học trò hay là với thủ hạ, chàng đều trưng bộ mặt "không có chuyện thì chớ làm phiền ta". Ngồi nói chuyện hơn hai canh giờ, chàng hoàn toàn không biết rốt cuộc Vương Nhất Vĩ đã nói những gì, đề tài thay đổi vùn vụt... từ rượu tới kiếm, từ hoa tới nữ nhân... trên trời dưới đất không gì là không nhắc tới. Đến sau chót cuối cùng chàng cũng xem như hiểu được vị sư huynh năm xưa của thê tử mình muốn gì, đại khái là bây giờ hắn đã có gia đình có miệng ăn phải nuôi, thê thiếp lại cùng lúc mang thai, cửa hiệu của gia tộc càng lúc càng lớn, gần đây lại còn khai trương thêm hai tiêu cục, cho nên có chút túng thiếu vân vân... Hắn ngại ngùng nhìn Mộ Dung Vô Phong, thấy chàng thần thái bình thường mới ấp a ấp úng hỏi xem liệu chàng có thể cho hắn vay một vạn lượng để làm tiền vốn xoay vòng một thời gian không, sau một năm nhất định sẽ hoàn trả.

    Chàng khẽ cười, nhận lời hắn, trong lòng lại biết thừa người này sẽ nhanh chóng tiêu sạch khoản tiền ấy, cho dù có thêm ba năm nữa cũng chẳng thu về được... Người làm ăn gặp người làm ăn, mở miệng là biết nhau. Người này nói ra thì hùng tâm tráng chí nhưng là thùng rỗng kêu to, chẳng phải kẻ biết làm ăn.

    ... Bất kể có là như thế, Hà Y nhất định sẽ vui khi mình làm vậy. Chàng tự an ủi bản thân.

    Sau cùng, cáo từ lên đường, chàng hỏi trong tay Vương Nhất Vĩ liệu có còn chút di vật của Hà Y không, quả không ngoài dự liệu, Vương Nhất Vĩ tay trắng chìa ra, nói: "Không có. Chỗ sư phụ có khi còn một ít. Từ khi con gái duy nhất củasư phụ lấy chồng tít tận Giang Nam, người lại bệnh mà qua đời, tòa nhà đó hiện giờ đã trống không, chỉ còn một lão bộc trông giữ, không biết bây giờ có còn sống hay không. Ài bọn đệ tử tôi cũng chẳng ra gì, sau khi thành gia lập nghiệp thì ai bận việc nấy, cuối năm ngày lễ cũng chưa từng về lại chỗ sư phụ bái tế...".

    Chàng lại có chút hy vọng, vội vàng hỏi địa chỉ của Trần Thanh Đình.

    Vì giữ lễ, chàng cứ sức cùng lực kiệt gắng gượng đợi tới khi gã nói xong câu chuyện. Triệu Khiêm Hòa vội vàng nói với Vương Nhất Vĩ "Cốc chủ đang trong cơn bệnh, không thể ngồi lâu", hắn mới ngậm miệng lại, tự mình tiễn Mộ Dung Vô Phong về khách điếm.

    Sáng sớm ngày hôm sau, chàng lại khởi hành đi Tề Châu.

    Tòa trang viện kia nằm trên một triền núi hoang vắng nọ. Từ ngoài nhìn vào, hẳn mây chục năm trước nó từng là một tòa đình viện nguy nga hoành tráng, chỉ là lâu rồi không tu sửa, đã cũ kỹ xuống cấp thấy rõ. Ở đây quả nhiên có một lão bộc tóc trắng như mây trông coi, có lẽ bởi cũng từng luyện võ công nên thân thể còn tương đối tráng kiện, chỉ tiếc là giọng đậm chất địa phương, lời ông ta nói chàng như hiểu như không.

    Lão bộc nói thật ra là nô bộc đời trước của Trần gia, vốn trước đây không ở chỗ này nhiều cho nên ấn tượng về Hà Y không sâu. Sau khi ông ta tới một năm thì Hà Y rời đi. Còn nhớ lúc ấy chủ nhân vừa mới mất, một bản kiếm phổ quý giá cũng theo đó thất tung. Vì tìm kiếm nó, giữa các đệ tử đã nảy sinh tranh chấp lớn. Sau cùng không biết vì sao, tất cả đều nhất trí cho rằng Hà Y đã trộm nó đi Hà Y trong cơn tức giận bèn đi khỏi Trần gia, bao lâu cũng không hề quay lại. Sau này các đệ tử trên giang hồ ngẫu nhiên bắt gặp từng không ít lần làm khổ nàng.

    Qua mấy năm, cuối cùng Hà Y cũng quay lại một lần, mua về rất nhiều hương nến, tiền giấy để bái tế sư phụ. Nàng chỉở lại một ngày rồi đi. Hồi đó nơi đây đã là một tòa nhà trống.

    Chàng nói cho lão bộc Hà Y đã qua đời, lão bộc bùi ngùi thở dài, nói rằng đệ tử của chủ nhân lưu lạc giang hồ đều sống không thuận lợi, giữa đường đứt bóng cũng có hơn bốn người rồi.

    Sau cùng, chàng hỏi lão bộc: "Chỗ lão nhân gia đây có còn chút di vật gì của Hà Y chăng?".

    Lão nhân giương đôi mắt mờ đục, ngẫm nghĩ một lúc rồi đột nhiên hỏi: "Công tử quý tính là gì?".

    "Họ Mộ Dung."

    "Công tử biết Mộ Dung Đinh Nhất không?"

    Chàng sững người nhìn ông ta, tròng mắt đã ươn uớt, giọng nói cũng có chút nghẹn ngào: "Biết... Nó là con gái tôi."

    Lão nhân gật đầu, mờ mịt nhìn về phía trước: "Hà Y chôn nó trong khu mộ của chủ nhân, công tử muốn tới thăm không?... Công tử nhắc tới di vật, đây là di vật duy nhất cô ấy lưu lại đây".

    Khu mộ nằm sau núi. Nhìn chữ trên bia đá mới biết thì ra tên của sư phụ Hà Y vốn là "Trần Định Huy", tự là "Dật Chương", "Thanh Đình" chỉ là biệt hiệu người trong võ lâm đặt cho ông ta thôi. Bên phải mộ phần của Trần Thanh Đình có một nấm mộ nhỏ thâm thấp, một tấm gỗ nhỏ, bên trên khắc bốn chữ "Mộ Dung Đinh Nhất", chữ viết như giun đất, to nhỏ không đều, rõ ràng là bút tích của Hà Y.

    Mộ Dung Vô Phong ngồi bên mộ con gái hồi lâu dằn vặt.

    Trước giờ Hà Y không nhắc tới chuyện cũ của mình, càng không đề cập tới sư phụ. Trừ ba chữ "Trần Thanh Đình", chàng chẳng biết gì về người này. Nhưng nàng lại đem con gái chôn cạnh mộ ông ta, có thể thấy sư phụ nàng trước đây nhất định rất thương yêu bảo vệ nàng. Vào lúc nàng cô độc tuyệt vọng, ông ta là người đầu tiên nàng nhớ tới.

    Có điều, tại sao nàng lại nói nàng chôn con gái ở Thọ Ninh?

    Chàng dò hỏi lão nhân liệu có thể để chàng đem di cốt của Đinh Nhất về quê hương an táng không, lão nhân cười nói: "Nó là con gái công tử, đương nhiên là có thể".

    Trong ngôi mộ đó, chàng đào được một chiếc hộp gấm chứa thi hài. Ngoài nó ra, còn có một chiếc hộp sơn đen tuyền có khóa.

    Đem theo hộp gấm, chàng một mình ở lại căn phòng Hà Y từng sống trọn một đêm.

    Việc xưa như nước hồ dâng lên trong lòng, chàng một lần nữa nhâm nhi những thống khổ, cay đắng, ngọt ngào trong đó.

    Đêm đó, chàng buông lỏng bản thân, chìm vào vô cùng vô tận hồi ức và ảo giác.

    Chỉ có hồi ức mới có thể giúp chàng cảm thấy sự tồn tại của thế giới.

    Chỉ có ảo giác mới có thể đưa chàng quay về thế giới.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này