Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    [IMG]
    Tên truyện: Tam mê hệ liệt - Mê hành ký
    Tác giả: Thi Định Nhu (Huyền Ẩn)
    Người dịch: Lục Phong
    Số trang: 550
    Kích thước: 14.5x20.5 cm
    Ngày xuất bản: 30-11-2012
    Giá bìa: 110.000 ₫
    Công ty phát hành: Bách Việt
    Nhà xuất bản: NXB Văn Học
    Chụp pic: Lizzy FtKat
    Type: Thuan Nguyen: 1-3; Ciel Le: 4-6; Quyen Ha Ngo: 7-9; Bỉ Ngạn: 10-12; Thùy Dương Nguyễn Thị: 13-15; Koibito Yo: 16-18; Vu Dinh: 19-21; Chào Buổi Sáng: 22-hết
    Làm ebook: Dâu Lê
    Nguồn: TVE

    Giới thiệu

    Sang đến Mê Hành Ký, bên cạnh mối tình đầy khó khăn trắc trở của Mộ Dung Vô Phong và Sở Hà Y là hành trình tình yêu êm đềm và ấm áp của Ngô Du và Đường Tiềm. Ngô Du, đệ tử duy nhất của Mộ Dung Vô Phong, đã ôm mối tình vô vọng với chính sư phụ của mình. Khi Ngô Du đối diện với lời giãi bày của Mộ Dung Vô Phong, bị những lời của anh làm tổn thương, cô quật cường mà cao ngạo quyết định cắt đứt với Vân Mộng cốc và Mộ Dung Vô Phong, đến chết cũng không chịu gặp lại.

    Đệ tử của Đường Môn - Đường Tiềm, một kiếm khách phải gánh vác trách nhiệm gây dựng lại uy danh cho Đường Môn, nhờ nhân duyên đã có cơ hội gặp gỡ, quen biết, và thành tri kỉ với Ngô Du. Chính sự bao dung và tình yêu chân thành của Đường Tiềm đã mang Ngô Du đến bến bờ hạnh phúc.

    Tiếp nối Mê hiệp ký, Mê hành ký vẫn mang đến cho độc giả một cốt truyện tiểu thuyết võ hiệp mới lạ, đã và đang gây xôn xao trên khắp các diễn đàn văn học Trung Quốc của tác giả Thi Định Nhu. Chốn giang hồ đầy rẫy những hiểm nguy, hiềm khích, tranh quyền đoạt vị, mưu mô thâm độc trong các tích xưa thì giờ đây, dưới ngòi bút Thi Định Nhu, lại huyền ảo, phiêu diêu hệt như một bức tranh thủy mặc đầy chất nhu tình. Nữ tác giả đã khéo léo đan xen giọng văn hài hước của mình vào những tình tiết vốn dĩ đầy thương cảm, bi lụy. Một thanh kiếm, một bầu rượu, một đại hiệp độc hành - giang hồ đơn giản là thế, không có tranh giành bang phái hay nhất cử nhất động đều hiệu triệu thiên quân vạn mã, chỉ một kiếm, một phi tiêu để phân định thắng thua. Văn phong của cô nhẹ nhàng, bay bổng, bút lực hùng hồn, giang hồ nhi nữ trong tác phẩm của Thi Định Nhu mang chút hơi hướm Cổ Long, từ đó nhào nặn nên một đôi truyền kì nhân vật Hà Y - Vô Phong khiến biết bao độc giả say mê, cuốn hút. Hãy dõi theo những diễn biến hấp dẫn tiếp theo của bộ tiểu thuyết Tam Mê hệ liệt.




    Tóm tắt nội dung

    Sau khi Mê hiệp ký kết thúc, những tưởng Mộ Dung Vô Phong và Sở hà Y đã có một kết thúc viên mãn với đứa con đầu lòng nhưng nào ngờ đâu, tình yêu của họ lại bị thử thách một lần nữa...

    Hạnh phúc ngắn ngủi của Mộ Dung Vô Phong đã chính thức lụi tàn sau trận chiến với Đường Môn, bởi Hà Y đã ra đi và không thể nào trở lại được nữa. Người ta nói với chàng, nàng đã chết. Người ta sợ rằng nghe tin này chàng cũng sẽ không chịu nổi mà gục ngã, nhưng không, chàng vẫn sống, vẫn kiên trì làm việc và chăm lo cho con gái của hai người. Mọi người vui mừng trước sự kiên cường của chàng, nhưng nào có ai biết bao nhiêu đêm chàng trầm mình trong hơi men để kiếm tìm một giấc mộng, bao nhiêu rượu chàng đã uống để tìm thấy một bóng hình hư ảo quay trở về.

    "... Trong cơn mê muội, một bóng người như ẩn như hiện đi tới chỗ chàng.

    Đêm sương, trông nàng nhợt nhạt biết bao.

    "Hà Y... nàng đã về", chàng lẩm bẩm.

    "Hà Y, nàng biết không?", chàng nghẹn ngào nói, "Ta không thể tới tìm nàng, bây giờ chưa được... Tử Duyệt còn nhỏ quá".

    "Nhưng nàng nhất định phải đợi ta, Ta biết nàng sẽ không quên ta, đến bên kia rồi cũng không quên, đúng không?", lòng chàng nguội lạnh, thương tâm chẳng muốn sống.

    "Đương nhiên là không rồi", nàng dịu dàng nhìn chàng.

    Đêm ấy, chàng không sao ngủ được, chỉ có thể uống rượu.

    Rất nhiều đêm sau ngày hôm ấy, chàng chỉ có thể uống rượu vào mới thiếp đi được..."

    "Nàng là sương mai lung linh hư ảo, chàng là chiếc lá ôm ấp nàng”. Chuyện tình của Mộ Dung Vô Phong và Sở Hà Y cũng tựa như chuyện tình giữa sương mai và lá. Giữa họ đã có quá nhiều thử thách đau đớn tưởng như không gì có thể chia lìa được họ. Nhưng rồi những biến cố trong cuộc đời, cuộc chiến với Đường môn đã mang Hà Y khỏi chàng. Như sương mai tan biến vào hư vô khi nắng lên. Để rồi mỗi đêm nàng lại đến bên bầu bạn cùng chàng… Liệu rằng cuộc tình thấm đẫm máu và nước mắt của Mộ Dung Vô Phong và Sở Hà Y lại phải trải qua những thử thách gì? Liệu họ có vượt qua được không? Bằng bút pháp chấm phá, với giọng kể đầy xúc động giàu sức gợi Thi Định Nhu sẽ cho chúng ta câu trả lời...

    Bên cạnh mối tình đầy khổ đau, trắc trở của Mộ Dung Vô Phong và Sở Hà Y, trong Mê hành ký, độc giả còn được chứng kiến hành trình tình yêu êm đềm và ấm áp của Ngô Du và Đường Tiềm. Ngô Du, đệ tử duy nhất của Mộ Dung Vô Phong, đã ôm mối tình vô vọng với chính sư phụ của mình. Khi Ngô Du đối diện với lời giãi bày của Mộ Dung Vô Phong, bị những lời của anh làm tổn thương, cô quật cường mà cao ngạo quyết định cắt đứt với Vân Mộng cốc và Mộ Dung Vô Phong, đến chết cũng không chịu gặp lại. Đệ tử của Đường Môn - Đường Tiềm, một kiếm khách phải gánh vác trách nhiệm gây dựng lại uy danh cho Đường Môn, nhờ nhân duyên đã có cơ hội gặp gỡ, quen biết, và thành tri kỉ với Ngô Du. Chính sự bao dung và tình yêu chân thành của Đường Tiềm đã mang Ngô Du đên bến bờ hạnh phúc...



    Thông tin tác giả

    Tác giả Thi Định Nhu (bút danh khác là Huyền Ẩn) là người Hồ Bắc Vũ Hán, hiện sinh sống ở Canada, là nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ khoa Đông Á trường ĐH Toronto. Cô là nữ tác giả đầu đàn trên các trang văn học mạng như Tấn Giang, Cửu Giới. Tác phẩm tiêu biểu của Thi Định Nhu bao gồm: Định Nhu tam hiệp; Mê hiệp ký; Mê hành ký; Mê thần ký... Đặc biệt, với “Tam Mê hệ liệt” sau lần đăng tải đầu tiên trên mạng từ năm 2004, chỉ trong vòng một năm đã đứng top 5 trên bảng xếp hạng của Tấn Giang về tác phẩm có tỉ lệ người xem cao nhất. Những bình luận về bộ ba “Tam Mê” cho đến nay vẫn còn là đề tài nóng hổi trên các diễn đàn, không chỉ hấp dẫn số đông độc giả mà còn thu hút cả sự quan tâm của giới phê bình văn học. Phong cách Thủy mặc giang hồ độc đáo, sáng tạo cùng với nữ tính chủ nghĩa trong “Tam Mê” giống như một bông hồng xứ lạ thổi bùng lên một trào lưu mới trên văn đàn Tân Võ Hiệp ngày nay.

    Đã có ebook tại đây
    CHỦ ĐỀ NGẪU NHIÊN CÙNG CHUYÊN MỤC
    CHIA SẺ Share






    Chia sẻ trang này

  2. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 1: Lời dẫn


    Sương mỏng mịt mùng, bình minh mới hé.

    Hắn cầm trong tay một cái kéo màu đen, quỳ một chân bên ruộng hoa cạnh đình nhỏ lợp cỏ mao. Tỉ mỉ tỉa tót một gốc anh đào thấp.

    Một trận gió bỗng lùa tới, sương sớm rơi vào khe cổ áo, tựa như một con rắn lạnh lẽo trườn vào trong hang, lướt trên làn da lưng ấm nóng của hắn. Mấy cánh hoa cúc khẽ lay động, lướt qua mũi hắn, lưu lại một mùi hương thoang thoảng.

    Trong một thoáng ấy, hắn cảm thấy được sự biến hóa giữa hai mùa.

    Gió cuối thu đã mang theo một chút hơi lạnh buôn buốt. Mùi quế trong vườn vẫn nồng đượm nhưng những cành du tím thì đã tàn úa. Tán cây bạch quả trên đầu xào xạc, lá cây rụng xuống như mưa, có một chiếc vừa khéo rơi trên vai hắn.

    Lá cây bạch quả có một thứ mùi hơi đắng, hắn đưa tay khẽ lần theo những đường gân tí xíu trên mặt lá, ngón tay hơi run rẩy, tựa như một con chuồn chuồn đứt cánh.

    Nếu như mẫu thân hắn còn sống, cứ vào thời gian này hằng năm, người sẽ gom những chiếc lá này lại, nhồi thành một chiếc gối, gối lên đó ngủ rất yên giấc.

    Hắn đưa mắt nhìn sân viện trống vắng, một nỗi phiền muộn dâng lên trong lòng.

    Sau khi thu dọn ổn thỏa, hắn vun những cành cây, bụi cỏ vừa xén lại, hốt vào trong một cái sọt trúc, vừa định tưới cây thì chợt nghe thấy sau lưng có tiếng bước chân quái dị vọng tới. Đương nhiên hắn biết ai đang đến, trong mấy chục huynh đệ con chú con bác, cũng chỉ có một mình lão tam mới có tiếng bước chân kiểu này.

    “Lão đại muốn gặp đệ”, Đường Uyên nói.

    “Ở đâu?”, hắn hỏi.

    “Vạn Tượng Canh Tân đường.”

    Sau khi phụ thân qua đời, chiếu theo lệ cũ, đương nhiên hắn phải kế thừa chức vị đường chủ Hình đường.

    Nhưng mà lần “theo lệ cũ” này, hắn cũng chấp hành rất miễn cưỡng. Bởi vì sự phản đối quyết liệt của Đường Lan, hội đồng trưởng lão cũng trù trừ lâu không quyết. Cho tới khi cuối cùng hắn tránh không thoát phải nhận chức cũng đã quá nửa năm.

    Vị đường huynh[1] này hơn hắn tới hai chục tuổi. Lúc mà đại đa số anh em cùng lứa hãy còn đang nũng nịu trong lòng cha mẹ, Đường Lan đã bắt đầu nối nghiệp tổ tông, tham gia vào tất cả những quyết sách quan trọng của gia tộc, hoạch định các kế hoạch chấn hưng Đường môn.

    [1] Anh em con chú con bác.

    Người sớm phải gánh vác trách nhiệm, đương nhiên cũng phải sớm trưởng thành. Huống chi truyền tới lúc Đường Lan làm chưởng môn, trong Đường gia bảo những đình viện, lầu tháp nguy nga uy vũ của ngày xưa vẫn sừng sững đứng đó, còn tất thảy những nơi khác đã sớm tan hoang tàn tạ. Cuộc sống của hắn cũng vì thế mà có thể coi như lúc nào cũng ngụp lặn trong gian khó. Trong hai chục năm vừa rồi, Đường môn phải chịu mấy lần sóng gió, tưởng như chết đi sống lại, nguy cơ lần nào lần nấy đều hung hiểm, như tai họa sắp nhấn chìm Đường gia tới nơi. Võ công của Đường Lan cũng bình thường nhưng có vẻ ngoài lãnh đạm, giọng nói trầm thấp, nét mặt cứng cỏi như được tạc ra, lại có tài nói năng biện giải, tranh luận giống như tổ phụ hắn vậy. Cho dù Thái Sơn có sụp trước mặt, hắn cũng có thể uốn ba tấc lưỡi, khích lệ những dũng sĩ cuối cùng hiến mình cho gia tộc. Cho nên kết quả của mỗi lần tai kiếp đều là Đường môn len qua khe cửa hẹp mà thắng lợi.

    Những viên gạch vuông cổ xưa toát ra một luồng khí lạnh. Đường Tiềm bước thẳng vào chính đường, đoán chắc trên hàng thái sư ký phía trước hắn là bảy vị trưởng lão thân phận tôn quý, giọng nói già nua trong truyền thuyết. Nhưng hắn chỉ nghe thấy giọng của một mình Đường Lan từ trước mặt truyền tới.

    “Ngồi đi.”

    Hắn kéo một chiếc ghế, ngồi xuống.

    Có người bưng lên cho hắn một tách trà.

    “Ta vừa xem xong tất cả Giang hồ khoái báo và các loại Binh khí bảng ba năm gần đây”, Đường Lan cất tiếng, “Đoán xem, bây giờ trên giang hồ Đường gia có biểu hiện thế nào?”.

    “Trung bình?”

    “Trên Khoái báo có tổng cộng ba mươi sáu lần nhắc tới Đường môn, quá nửa là tai tiếng. Trên Binh khí bảng có nhắc tới Đường Uyên đúng một lần…Tên tiểu tử này phải chịu gia hình, võ công dù có giỏi nhưng cũng bẽ mặt trước người khác. Càng không kể nó trầm mê tửu sắc, hai năm nay chẳng hề tham dự một trận quyết đấu nào.”

    Hắn biết Đường Lan muốn nói gì cho nên cũng không tiếp lời mà đợi Đường Lan nói tiếp.

    “Ta biết mẫu thân đệ qua đời chưa lâu, giờ đệ vẫn còn rất đau buồn, lại vừa tiếp quản Hình đường, việc phải xử lý cũng rất nhiều…”

    “…”

    “Nhưng”, giọng nói của Đường Lan bỗng trở nên trang nghiêm thần thánh, “Đường môn cần đệ”.

    Bất chợt, trên mặt Đường Tiềm thoáng hiện nét cười nhạt như có như không.

    Mỗi khi Đường Lan muốn ai đó đi làm một việc cực kỳ nguy hiểm, hắn đều sẽ nói:

    Đường môn cần ngươi.

    Hai mươi tư năm trước, cũng một câu ấy, Đường Lan đã sai hai người có địa vị cao nhất trên giang hồ của gia tộc, vợ chồng Đường Ẩn Tung tới Lũng Sơn miền Tây Bắc ngăn cản môn phái đang dốc toàn bộ lực lượng, chuẩn bị quyết một phen thư hùng với Đường môn là Thiết Hoàn môn. Để đảm bảo an toàn của Đường gia bảo, tất cả chủ lực đều được giữ lại phòng thủ gia môn, phái đi cũng chỉ có mười lăm người. Hai bên nhân mã đụng độ giữa đường, lập tức dấy lên một trường chém giết. Hai vợ chồng Đường Ẩn Tung tắm máu xung sát, liều chết đánh giết, tiêu diệt được huynh đệ Tần Long, Tần Hổ lợi hại nhất Thiết Hoàn môn, đồng thời đang trọng thương Chưởng môn Dư Thiên Uy, nhờ đó giúp gia tộc có được thế thắng về sau. Nhưng trong mười lăm tử đệ Đường môn phái đi, mười người mất mạng đương trường, hai người cả đời tàn phế, chỉ có ba người còn nhặt được cái mạng đem về. Chật vật lắm mới về được tới gia môn, Đường Lan lại ngập ngừng báo cho hai người một tin sét đánh ngang tai: trong lúc hai người họ vắng mặt, đứa con vừa tròn ba tháng tuổi của họ đột ngột lên cơn sốt cao, bởi vì lúc ấy trong Đường gia bảo đang hỗn loạn, làm chậm trễ việc chữa trị khiến cho bây giờ hai mắt đứa trẻ bị mù. Hai vợ chồng ôm nhau mà khóc, rồi ở trước mặt Đường Lan thề, cả đời này, để chăm sóc cho đứa con tuyệt đối sẽ không rời khỏi Đường môn nữa.

    Từ đấy về sau, quả nhiên vợ chồng hai người đó không rời đất Thục nửa bước. Trận chiến với Ngũ Độc giáo mười năm trước, Đường Lan lại dùng kế cũ, muốn mượn quyền uy của hội đồng trưởng lão thuyết phục phu phụ Đường thị một lần nữa viễn chinh. Đường Ẩn Tung phất tay áo bỏ đi, ngang nhiên quay lưng lại với Đường Lan. Ba năm sau đó, bất kể Đường Lan thân thiết nhiệt tình gọi “Tam thúc” như thế nào, ông ta cũng không thèm để mắt. Chẳng qua, chỉ cần Đường thị song đao vẫn còn đó, đối với giang hồ mà nói đó vẫn là một sự uy hiếp không lời. Ai ai cũng biết, nếu như thật sự có đại địch kéo đến phạm vi của Đường môn, song đao kia tuyệt đối sẽ không bàng quan. Hai năm trước, nếu không phải kiếm của Tạ Đình Vân, Vân Mộng cốc bại dưới đao của Đường Ẩn Tung, chỉ sợ Đường môn đã phải đối diện với cái họa phải bỏ đất mà đi.

    Đường Ẩn Tung chính là phụ thân của Đường Tiềm.

    “Có việc gì cần tới, đại ca cứ nói, không sao cả”, Đường Tiềm nói.

    “Hiện tại, đứng đầu trong Đao bảng là ‘Phá Không đao’ Hàn Duẫn, bọn ta nhận thấy đao pháp của đệ còn cao hơn hắn.”

    “Gia tộc muốn đệ khiêu chiến Hàn Duẫn?”

    “Không sai. Chúng ta phải nhanh chóng có được vài người có thanh danh địa vị trên giang hồ để giữ gìn thể diện môn phái. Mấy năm nay thiên tai địch họa, Đường môn liên tục mất đi mấy nhân vật quan trọng. Cừu nhân ngày trước nghe được tin tức này, lục đục muốn hành động. Ngoài ra, nghe nói Mộ Dung Vô Phong lại viết một cuốn sách, chuyên nhắm vào các phương thuốc mật của chúng ta… Ta vốn cho rằng sau khi hắn trọng thương sẽ chẳng sống được bao lâu nữa, vậy mà hắn vẫn cứ sống sờ sờ ra đó.”

    “Gia tộc muốn đoạt lấy cuốn sách đó?”

    “Cùng với cái mạng của Mộ Dung Vô Phong nữa”, nhắc đến hai chữ giết người, trước nay Đường Lan chẳng bao giờ đổi sắc mặt, “Địa điểm quyết đấu chính là ở Thần Nông trấn, ta sẽ gọi thêm mấy huynh đệ cùng đi, đến lúc đó tùy cơ hành động”.

    Đường Tiềm một mực trầm mặc.

    “Đệ có biết hiện giờ Đường môn nợ bao nhiêu không?”

    Đây là bí mật cao nhất của Đường môn, hắn cũng không tiện hỏi nhiều. Đường Lan lại khe khẽ nói bên tai hắn một con số.

    Khuôn mặt hắn tái nhợt đi.

    “Chúng ta đang làm việc dỡ tường đông để sửa tường tây. Nếu Đường môn mất đi uy tín trên giang hồ, khiến cho chủ nợ tới đòi, chỉ sợ khó mà qua được năm nay”, Đường Lan thở dài một tiếng, “Ta biết các huynh đệ đều nói ta keo kiệt bủn xỉn, lãnh khốc vô tình. Kẻ đến gặp ta xin tiền, mười người thì tám, chín về tay không… Bọn họ đâu có biết cái khó của người làm gia chủ ta đây!”.

    Tiếng thở dài đó lộ rõ sự mệt mỏi già nua, một thứ cảm giác tuyệt vọng không sao cứu vãn được dâng lên trong lòng. Trong trí nhớ của hắn, đây là lần đầu tiên Đường Lan dùng giọng điệu thương lượng nói chuyện với hắn. Hắn cũng biết tất thảy những lời đó, có quá nửa là thật… Cừu địch quá nhiều, gia tộc lại nội bộ lục đục, làm ăn sa sút… Sự sụp đổ không sao gượng nổi của Đường môn đã sớm chẳng còn là tin tức gì mới trên giang hồ. Tuy nói con rết trăm chân, chết rồi còn cựa nhưng trước khi một tòa nhà lớn đổ sập, người ở bên trong không thể không cảm thấy một chút lắc lư nào.

    “Lúc nào phải hành động?”, cuối cùng hắn mở miệng.

    “Ngày kia.”

    Bước ra khỏi cánh cửa gỗ nặng nề kia, Đường Tiềm cảm thấy trước trán có hơi ấm, hắn biết lúc này ánh dương đang chảy trên mặt mình, kế đó, có người vỗ vỗ vai hắn, thấp giọng nói: “Nhanh thế, đã đi ra rồi sao?”.

    Là Đường Tầm, vừa là đường huynh cũng là biểu huynh[2] của hắn.

    [2] Anh em con dì con cậu

    Hắn “Ừm” một tiếng đáp lại.

    “Có tin đồn, nói lão đại muốn thuyết phục đệ đi Phi Diên cốc?”

    “Huynh ấy muốn đệ tới đấu với Hàn Duẫn một trận.”

    “Đệ lại mắc lừa rồi.”

    Hắn nhíu mày: “Cái gì?”.

    “Sư phụ của Hàn Duẫn năm xưa từng thảm bại dưới đao của Tam thúc, cho nên đệ không việc gì phải ngại hắn”, Đường Tầm nói, “Có điều, kẻ này ba ngày trước trong vòng năm chiêu đã táng mạng dưới tay Tiểu Phó, thi thể hiện nằm dưới Loạn Phần đôi[3] trong Phi Diên cốc. Bởi thế kẻ đệ sẽ gặp không phải là Hàn Duẫn mà là Tiểu Phó, nhân vật hiển hách nhất trên Đao bảng hai năm trở lại đây… Chúng ta hoàn toàn chẳng biết chút gì về Tiểu Phó.”

    [3] Nghĩa là cái gò mộ hoang

    Đương nhiên Đường Tiềm từng nghe qua cái tên này. Mọi người đều truyền nhau rằng, Tiểu Phó và đao khách danh chấn một thời Phó Hồng Tuyết năm xưa có quan hệ không nhỏ, đao pháp của Tiểu Phó từng được đích thân Phó Hồng Tuyết chỉ điểm.

    “Có thể lão đại vẫn chưa biết tin này.”

    “Tình hình trận đấu đó là dùng bồ câu truyền về Đường môn, người đầu tiên biết tin chính là hắn.”

    Đường Tiềm cảm thấy một cơn lạnh buốt xương, nhưng chỉ một thoáng sau, hàn ý theo hơi thở thoát ra đằng mũi, biến thành một nụ cười nhẹ.

    “Trước mặt rành rành là Quỷ môn quan, đệ vẫn còn muốn đi sao?”, Đường Tầm lo lắng hỏi.

    “Đệ đã nhận lời rồi.”

    “Đệ không giống Tam thúc. Tam thúc có cái không làm, có cái ắt phải làm”, Đường Tầm thở dài lắc đầu, “Đệ thì dù biết việc không thể làm mà vẫn đâm đầu làm”.

    Đường Tiềm không tiếp tục tranh cãi, chỉ vỗ vai Đường Tầm: “Đệ không cách nào coi như không có gì được, huynh cũng không cần lo cho đệ”.
  3. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 2: Ưu sầu màu đỏ


    Hắn là một kẻ hay ưu sầu, thích ở cùng một nơi với những người ưu sầu.

    Đường Tầm nói, đao pháp của phụ thân hắn trầm ổn ngoan độc, đao pháp của mẫu thân hắn linh hoạt mau lẹ, trong cuốn Đao phẩm của Tây Sơn tiên sinh, đao pháp của họ đều được liệt vào hàng thượng thượng đẳng.

    “Đệ thì sao? Đao pháp của đệ thì thế nào?”

    “Đao pháp của đệ chứa đầy sầu muộn, lúc múa lên thật giống như một kẻ thất tình. Không giống đao pháp của phụ thân đệ, lại cũng chẳng như của mẫu thân đệ. Ta cũng không rõ hai người họ dạy đệ thế nào mà thành cái dạng này.”

    Hắn cảm thấy lời bình phẩm này cực kỳ hoang đường, nhưng cũng chỉ đành cười đáp lại một tiếng.

    Cơn mưa nhỏ mới tạnh, gió khẽ khàng thổi. Một dải vùng này thịnh việc trồng quýt, mùa thu hoạch vừa qua, trước cửa mỗi nhà đều treo từng chuỗi từng chuỗi vỏ quýt. Con đường lớn lát đá xanh nức mùi quýt.

    Hắn có thói quen luyện đao vào lúc chiều muộn mặt trời khuất núi, bốn bề sẩm tối. Sau khi luyện xong, giống như thói quen của phụ thân hắn, bưng một ấm trà ngồi trên sạp trúc nghỉ ngơi một lát.

    Sau khi tới Thần Nông trấn, Đường Tầm đã cùng hắn đi dạo phố phường một lượt, hắn lập tức ưa thích hương quýt tràn ngập đường phố nơi đây. Nghỉ ngơi một chút, hắn men theo con phố về phía đông, tản bộ một vòng, thuận đường mua mấy cân quýt ngọt khoái khẩu.

    Anh hùng nhìn quen rồi thì cũng chẳng khác người thường. Bất kể những truyền thuyết trên giang hồ về phụ mẫu hắn kinh tâm động phách như thế nào, trong lòng hắn đều chẳng lưu lại chút gì. Hắn chỉ biết phụ thân mình là một người đất Thục chính hiệu, thích náo nhiệt, thích đồ ăn ngon, mẫu thân hắn đến từ Cô Tô, có thể làm tôm rán ướp muối và sườn lợn ướp tương rất ngon. Ai ai cũng nói, thời Đường Ẩn Tung còn thét gió gầm mưa trong võ lâm, trên Đao bảng Hà Ngâm Xuân cứ luôn phải bám theo sau. Năm xưa, hai người đó tỉ đao kết bạn, thành đôi tri kỷ. Sau khi đứa con bị mù lòa, phu phụ Đường Ẩn Tung cùng nhau thoái ẩn, trên giang hồ không còn được thấy cảnh song đao hợp bích huy hoàng khi xưa.

    Hai mươi năm nay, phu phụ hai người đó không rời đất Thục nửa bước. Bằng lòng kiên nhẫn và trí tuệ khó có thể tưởng tượng, bọn họ đã truyền dạy được tuyệt kỹ của mình cho nhi tử.

    Hắn không biết đây chính là hạnh phúc mà chỉ cho rằng thế giới vốn là như thế.

    Sau khi lớn lên, hắn không muốn như xưa, một mực ỷ lại vào phụ mẫu mà thường theo huynh đệ bằng hữu ra ngoài du lịch, có khi mấy tháng không về. Người đi lại trên giang hồ, tất nhiên chẳng tránh khỏi có khi phải giao đấu.

    Tuy trước mắt lúc nào cũng là một mảnh đen tối nhưng hắn không hề cảm thấy cô độc, bởi hắn biết bất kể mình đi tới nơi nào, sau lưng mình luôn có hai đôi mắt quan hoài lặng lẽ dõi theo.

    Cho đến khi phụ thân đột nhiên qua đời hắn mới hiểu được hạnh phúc vốn rất mong manh.

    Vì Đường môn mà bôn ba chinh chiến bao nhiêu năm, trên người phụ mẫu hắn đều có nhiều vết thương. Hai năm trước, tổng quản Vân Mộng cốc Tạ Đình Vân kết hợp với các đệ tử phái Nga My vây công Đường gia bảo, hắn với một đám huynh đệ khổ thủ đông môn, không ngờ nam môn bị phá, cục diện nguy cấp, phụ thân hắn không thể không rút đao tương trợ. Đó là lần cuối cùng phu thê hai người liên thủ, Đường Ẩn Tung đánh bại được Tạ Đình Vân, khiến Tạ Đình Vân phải ôm vết thương rút về nhưng bản thân cũng chịu nội thương trầm trọng. Ba ngày sau, thương thế không sao khống chế nổi, Đường môn vì phụ thân hắn mà mời các danh y khắp nơi nhưng tiếc rằng lúc ấy đã muộn, tuy vừa châm cứu vừa dùng thuốc bổ trợ nhưng tất cả đều như nước len khe đá, chẳng có chút công hiệu nào.

    Sáng sớm ngày thứ năm sau trận quyết chiến, phụ thân hắn đột ngột qua đời.

    Thời khắc ấy, bi thương gần như nhấn chìm hắn. Hắn làm sao biết được đó mới chỉ là khởi đầu của chuỗi bất hạnh đang đợi mình.

    Một năm sau, mẫu thân hắn vì đau buồn quá độ cũng lâm bệnh qua đời.

    Bên cạnh hắn chỉ còn lại một chú chó từ thuở bé đã như hình với bóng không rời, tên gọi A Kim.

    Một tháng sau, A Kim đang chạy qua chạy lại, bỗng ngã vật xuống rồi không bao giờ đứng lên nữa.

    Đứng trước nấm mồ nho nhỏ, Đường Tầm chẳng tìm được lời nào để an ủi hắn, chỉ đành nói: “Động vật không chết đâu, chúng chỉ nằm xuống thôi”.

    Thoắt một cái, thế giới này chỉ còn lại một mình hắn.

    Hắn cảm thấy chiếc khóa của số mệnh đang chầm chậm di chuyển, tuyển lựa mắt xích cuối cùng cho hắn.

    Trong số những người còn sống, về huyết mạch thì Đường Tầm gần gũi với hắn nhất. Phụ thân của hai người là huynh đệ ruột, mẫu thân của hai người cũng là tỷ muội ruột thịt. Hai người tuổi tác tương đương, tướng mạo cũng cực kỳ giống nhau.

    Đường Tiềm bắt đầu giữ khoảng cách với Đường Tầm, sợ rằng hắn sẽ dính phải số phận hẩm hiu của mình.

    “Lúc đen đủi, thì cứ để huynh chịu cùng đệ”, Đường Tầm nói, “Bởi vì chúng ta là huynh đệ”.

    Mua xong một cân quýt ngọt ở đầu phố, hắn tiếp tục đi về phía trước.

    Một tiếng gọi chói tai vang vọng trong không trung.

    “Mẹ ơi… mẹ ơi… mẹ…”

    Hắn đi về hướng âm thanh phát ra, cũng không xa lắm ở phía trước, trong hương quýt rất nồng, hắn nghe thấy tiếng người xì xào nhưng tất cả đều bị tiếng nức nở quặn thắt tim gan của một cô bé che lấp.

    Tiếng khóc tuyệt vọng đau thương lo lắng thế này, đây là lần đầu tiên hắn nghe thấy, không kìm được bèn rảo bước nhanh thêm, len vào đám đông, túm lấy một người hỏi: “Xảy ra chuyện gì vậy?”.

    “Chậc chậc, tiểu nha đầu đáng thương!”, người kia đáp, “Có lẽ là bị lạc cha mẹ rồi”.

    Đây là con đường lớn nhất trong trấn, một mặt giáp sông, bên sông ven đường khách không ngừng lên xuống, lúc nào cũng đầy ắp người qua lại.

    “Trên đời sao lại có thứ phụ mẫu khốn nạn thế? Đây rõ ràng là con nhà bần cùng, không nuôi nổi, bị cha mẹ bỏ nơi đầu phố, xem xem có ai hảo tâm nhặt về nuôi không”, một người khác cải chính, “Ngươi xem nó ăn mặc rách rưới thế kia, đến đôi giày để đi cũng không có, bàn chân toàn là lở loét… Lại còn là một đứa bé gái nhỏ thế này, chỉ sợ đến bọn buôn người cũng chẳng muốn nhặt, thật đúng là trời tạo nghiệt!”.

    “Nó lớn chừng nào rồi?”, hắn lại hỏi.

    “Xem dáng vẻ còn chưa được hai tuổi…”

    Trên con phố này chẳng có nhiều người nhàn rỗi, mà kể cả có nhàn rỗi, kẻ có lòng thương xót cũng rất hữu hạn. Đám đông đứng túm lại bàn tán một lúc, thấy đứa bé gái ngoài một mảnh sứ khắc tên ra còn lại chẳng có gì khác thì cũng từ từ giải tán.

    Đứa bé gái gào khóc suốt một tuần hương, cổ họng khản đi, kế đó Đường Tiềm chỉ còn nghe thấy tiếng sụt sịt mà thôi. Hắn bước tới cúi người xuống, vươn tay ra, vừa mới chạm vào đầu đứa bé đã nghe thấy nó sợ hãi thét lên:

    “Con muốn mẹ! Hu hu… Con muốn mẹ cơ! Con không muốn sói xám!”

    Hắn sững người, ý thức được bản thân mình lưng thì đeo trường đao, người mặc áo xám, dọa cho cô bé sợ hãi mất rồi, thế là vội vàng rụt tay lại.

    Khóc tới khi sức cùng lực kiệt, đứa bé ngồi bệt trên mặt đất nhưng vẫn cực kỳ cảnh giác đối với hắn, đưa chân liều mạng đạp đạp về phía hắn.

    Mặt đá lát đường rất ẩm ướt, hắn túm lấy cái chân nhỏ bé đang đạp loạn, cuối cùng thì ôm lấy cô bé, thấp giọng dỗ dành: “Đừng khóc nữa, đừng khóc nữa, thúc thúc cùng ở đây đợi mẹ với con, có được không?”.

    Ở trong lòng hắn, cô bé quẫy đạp dữ dội, hắn chỉ đành đặt nó lại xuống đất. Đôi chân của nó đã bị lở loét mưng mủ không thể đi lại từ lâu, muốn chạy cũng không nổi, chỉ đành ngồi nức nở cạnh chân hắn. Đường Tiềm lanh trí, sang tiệm nhỏ ven đường mua về mấy cái bánh hoa quế đưa cho cô bé, nó lập tức ngừng khóc, giằng lấy mấy cái bánh mà nhai lấy nhai để.

    Nó đang đói.

    Sợ nó ăn quá vội, hắn lại mua về cho nó một bát sữa đậu nành. Con bé ừng ực uống mấy hơi là hết sạch.

    Hắn thở phào một tiếng, cho rằng thế là con bé sẽ không quấy nữa. Ai ngờ ăn uống có sức rồi, con bé lại bắt đầu khóc lớn. Hắn đứng bên cạnh, chẳng biết phải làm sao, một hồi sau, có vẻ như đã thấm mệt tiếng khóc nhanh chóng nhỏ lại. Hắn đang định rời bước, một bàn tay nhỏ bé đã túm lấy góc áo hắn, con bé tựa sát vào hắn, thân hình nhỏ không ngừng run rẩy. Hắn lại ôm lấy con bé, lần này nó không còn quẫy đạp nữa, chỉ vùi đầu vào lòng hắn.

    Lúc này Đường Tiềm mới phát hiện, đang tiết cuối thu thế mà con bé chỉ mặc độc một chiếc áo mỏng, lại còn rách bươm. Con bé như một con mèo nhỏ, ngoan ngoãn nằm trong lòng hắn, hơi thở gấp gáp, toàn thân đổ mồ hôi ướt sũng. Hắn không tin trên đời có thể có thứ cha mẹ đem bỏ đứa con đang bệnh nơi đầu đường, bèn cố chấp đứng nguyên nơi cũ đợi, đợi thêm hơn nửa canh giờ mà vẫn chẳng thấy ai tới nhận. Đứa bé thì rõ ràng đang lên cơn sốt. Thôi vậy, hắn đành quay sang một gánh hàng gần đó hỏi thăm: “Xin hỏi vị tiểu ca này, gần đây có y quán nào không?”.

    Người bán rong đáp: “Đi về phía trước khoảng trăm bước rồi rẽ trái, ngôi nhà đầu tiên ở khúc ngoặt chính là Trúc Gian quán của Ngô đại phu, chuyên chữa trị cho phụ nữ và trẻ nhỏ”.

    “Đa tạ”, con đường trước mặt hắn chưa từng đặt chân qua, bèn rút từ sau lưng một cây gập trúc được vót rất mảnh, dò dẫm phía trước, đang định cất bước thì nghe tiếng người bán hàng rong khẽ thở dài, nói: “Để tôi đưa anh đi”.

    Tới trước cửa Trúc Gian quán, Đường Tiềm gõ cửa, nghe thấy có người bên trong đáp bèn đẩy cửa bước vào.

    Trong nhà hương thơm thoang thoảng, yên tĩnh không tiếng người. Hắn lần tìm một cái ghế rồi ngồi xuống. Mành châu chợt động, một giọng nữ truyền tới: “Quán đã đóng cửa rồi, là bệnh nguy cấp sao?”

    “Trẻ nhỏ phát sốt.”

    “Tôi là Ngô đại phụ.”

    “Làm phiền rồi.”

    Cô gái đi tới cạnh hắn ôm đứa bé đi. Đầu tiên hắn nghe thấy tiếng ngọc bội kêu đinh đang, ngay sau đó là hương hoa thanh đạm. Đó là mùi hương trên tóc nàng, hỗn hợp mùi quán thảo và tử đinh hương. Giọng nói của nàng uyển chuyển, mang khẩu âm đất Ngô rõ ràng, giống hệt với mẫu thân của hắn, trong thoáng chốc, sâu trong đáy lòng dậy lên một cơn xao động, khiến hắn cảm thấy thoải mái gần gũi, cực kỳ dễ nghe.

    “Cô bé là con huynh?”, nàng vừa xem bệnh vừa hỏi.

    “Không phải.”

    “Là nhặt được trên phố phải không?”

    “Làm thế nào mà cô biết?”

    “Việc thế này vẫn thường xảy ra”, nàng xắn ống tay áo, “Trước tiên tôi sẽ tắm rửa cho nó, làm sạch vết thương rồi tính tiếp”.

    “Làm phiền cô nương rồi.”

    Ngô Du xoay người vào phòng trong, tiếng nước vang lên, đứa bé giật mình tỉnh giấc, lại khóc thét lên. Nàng nhỏ giọng vỗ về nhưng nói thế nào cô bé cũng không chịu ngừng khóc.

    Rèm cửa lại động, Ngô Du tới trước mặt hắn nói: “Tôi đã bôi thuốc cho nó, đây là gói thuốc. Cứ hai canh giờ thì thay một lần. Thuốc uống cần sắc với nước ít nhất một canh giờ. Còn một hộp ‘Vũ lộ thanh tâm hoàn’ dùng để giải độc. Cố gắng để con bé uống nhiều nước mát, nếu vẫn không hạ sốt, ngày mai phiền huynh quay lại”.

    Dặn dò xong, nàng dúi gói to gói nhỏ vào tay hắn.

    Hắn cảm thấy có chút kỳ quái, cô gái này giọng nói tuy rất dễ nghe, nhưng thái độ lại sắt đá không ngờ. Giao tiếp với người khác tuyệt không nhiều lời, tựa như đây đã là bệnh nhân thứ một trăm mà ngày hôm nay nàng tiếp.

    Có điều, ít nhất cô ta cũng biết hắn là người mù, rất khó phân biệt rõ bọc thuốc to nhỏ, cho nên cuối cùng còn thêm một câu: “Lúc buộc thuốc tôi đã đánh dấu: buộc hai nút là thuốc bôi ngoài, một nút là thuốc uống”.

    “Đa tạ. Đây là tiền khám và tiền thuốc, không cần trả lại”, hắn đưa cho nàng một đĩnh bạc.

    Ngô Du đi vào phòng trong, đem trả lại hắn một vốc tiền xu: “Tiền thuốc và phí khám đều đã có quy định, trả lại huynh bảy mươi bảy xu, xin nhận lấy”.

    Hắn hơi ngượng nghịu, đành cười nhạt, cất tiền xu vào túi.

    “Chỉ sợ huynh vẫn phải đợi ở đây một lát… Tôi vừa mới cho cô bé uống thuốc, dược lực hơi mạnh một chút, sợ nó chịu không được, cần giữ lại một lát nữa đề phòng bất trắc xảy ra. Huynh không có việc gì gấp chứ?”

    “Không có.”

    Hắn cứ ngồi đấy, cô bé nằm trên chiếc giường nhỏ bên cạnh, trở mình không thôi. Hắn nghe thấy cô gái khe khẽ vỗ về con bé, dịu dàng nói: “Cô bé ngoan mau ngủ nào”.

    “Con muốn mẹ…”, có lẽ thấy khuôn mặt nàng hiền hòa, cô bé cứ giữ tay nàng không chịu buông, thì thào gọi.

    “Cô bé ngoan ngủ đi, thúc thúc sẽ đưa con đi tìm mẹ…”

    “Con không muốn sói xám đưa con đi tìm mẹ…”

    Ngô Du ngẩng đầu nhìn hắn một cái. Hắn cười gượng, tự trào phúng bản thân: “Bộ dạng tôi có phải rất giống một con sói xám to không?”.

    Nàng không đáp, chỉ nhẹ giọng nói với đứa trẻ: “Ta kể cho con một câu chuyện, có được không?”.

    Cô bé gật gật đầu.

    “Ngày xưa, có một cô bé sống trong một thôn nọ. Một ngày, mẹ của cô bé đưa cho cô một giỏ táo chín, nói với cô bé: ‘Bà ngoại con ốm rồi, con đem giỏ táo này đến thăm bà nhé?’, cô bé nói, ‘Vâng ạ’.”

    “Bà ngoại của cô bé sống một mình ở một gian nhà nhỏ trong rừng sâu. Rừng vừa lớn vừa tối, có rất nhiều đường nhỏ. Cô bé đã đến nhà bà ngoại nhiều lần rồi, cho nên sẽ không lạc đường. Trước khi đi, mẹ còn đưa cho cô bé một con dao, nói trong rừng rậm có sói xám lớn, chỉ cần cô bé đi theo con đường mẹ chỉ, tránh con đường nhỏ ngập tràn dâu tây ngày thường cô bé thích đi nhất thì sẽ bình yên vô sự.”

    Đường Tiềm ở bên nghe vậy, lặng lẽ cười, không kiềm được nhớ lại thuở thơ ấu của mình. Trước khi đi ngủ, mẫu thân thường ngồi ở đầu giường kể cho hắn nghe một câu chuyện, Bà ngoại sói là một trong hàng trăm câu chuyện thời ấy.

    Mới kể đến đây, Ngô Du bỗng dừng lại không kể nữa.

    Hắn hỏi: “Có chuyện gì vậy?”.

    “Con bé ngủ rồi.”

    “Liệu tôi có thể thỉnh cầu cô nương một việc không?”, hắn chợt hỏi.

    “Việc gì?”

    “Tiếp tục kể nốt câu chuyện vừa rồi.”

    “Tại sao?”, cô gái lạnh lùng hỏi.

    “Tôi rất muốn được nghe cô kể tiếp.”

    Hắn biết lý do của mình cực kỳ hoang đường, chỉ là đối với giọng kể của nàng hắn vô cùng hoài niệm, cho nên mới nhẹ giọng thỉnh cầu.

    “Được rồi”, Ngô Du thở dài một tiếng, hỏi: “Vừa rồi kể tới đâu rồi?”.

    “Trong rừng rậm tuy có sói xám, nhưng chỉ cần cô bé đi theo đường mẹ dặn thì sẽ bình yên vô sự…”

    Nàng kể tiếp: “Cô bé vội vàng gật đầu vâng lời rồi thay bộ quần áo mình thích nhất, cẩn thận tết một bím tóc nhỏ, cài lên đó một đóa hoa sau đó vui mừng hớn hở lên đường”.

    “Dưới ánh nắng, khu rừng vẫn nguyên vẻ mờ tối, cô bé vừa đi vừa chơi, chẳng sợ hãi chút nào. Thứ cô bé thích ăn nhất chính là dâu tây, thế là lại đi trên con đường nhỏ mọc đầy dâu tây. Vừa đi được một lúc, trong lùm cỏ bỗng có một con sói xám lớn nhảy ra.”

    “Từ trước tới giờ cô bé chưa từng trông thấy sói xám, chỉ cảm thấy nó rất giống một con chó to, liền chào hỏi nó: ‘Chào mày, chó to!’. Sói xám vừa nghe thấy, vội vàng thu lại nanh nhọn vuốt sắc của mình, cười hữu hảo với cô bé, thật thà khen: ‘Tiểu cô nương, ngươi thật là xinh đẹp!... Ngươi là cô bé xinh đẹp nhất mà ta từng gặp’, cô bé nghe thấy thì đỏ bừng mặt, xấu hổ bẽn lẽn cười.”

    “Con sói hỏi cô bé đi đâu đấy, cô bé thành thực nói với nó. Sói xám nói: ‘Vừa hay ta cũng đi hướng đó, hay là chúng ta kết bạn cùng đi đi’, dọc đường, sói xám không ngừng chui vào lùm cỏ, hái cho cô bé những quả dâu tây to nhất, cũng không ngừng trêu đùa, làm mặt quỷ chọc cho cô bé cười khanh khách không thôi. Lại còn giúp cô bé bưng giỏ táo chín nặng nề kia nữa. Cô bé mời sói ăn táo, sói xám không ăn, nói là táo này để dành cho bà ngoại bị ốm. Thế là cả hai tay trong tay, càng lúc càng thân mật, lúc tới trước cửa nhà bà ngoại, cô bé đã thích sói xám mất rồi.”

    “Lúc này, sói xám mới dừng bước, thu hết dũng khí nói với cô bé: ‘Nếu em đã thích ta, ta phải thú thực với em một câu… Ta chính là sói xám ai nhìn thấy cũng sợ, ta không phải là chó xám đâu’, cô bé bĩu môi, nhất định không tin. Cô bé nói: ‘Ngươi là chó xám to… Ta nói ngươi là chó xám thì ngươi chính là chó xám’. Sói xám mới nhe nanh giương vuốt của mình, cất tiếng sói tru trước mặt cô bé sau đó nói: ‘Thế này thì em tin rồi chứ?’, cô bé lắc đầu cười lớn: ‘Chó xám to, ngươi thật thú vị, giả vờ làm sói rất giống nhé! Trời tối rồi, bên ngoài lạnh thế này, ngươi cùng ta vào bên trong uống rượu sưởi ấm nhé!’, sói xám cực kỳ chán nản, đành cụp đuôi theo sau cô bé.”

    “Cả hai vào nhà gặp bà ngoại. Bà ngoại đang nhóm lửa bên bếp, vừa trông thấy sói xám liền kéo lấy cô bé, không do dự chĩa que cặp than đỏ hồng trong tay đâm về phía sói xám, vừa khéo đâm chúng vai sói xám, đau tới mức nó phải gào rú lên. Cô bé vội vàng ngăn bà ngoại lại, lớn tiếng kêu: ‘Bà ngoại đừng làm nó bị thương, nó là bạn của cháu, không phải sói xám đâu’. Bà ngoại tức giận nói: ‘Không được tin lời thủ thỉ ngọt nhạt của nó, sói xám chính là sói xám, giờ không giết nó, sớm muộn gì nó cũng ăn thịt cháu chẳng chừa lấy xương đâu!’, nói rồi nhặt con dao làm bếp dưới đất lên, bổ về phía sói xám. Sói xám sợ hãi định nhảy qua cửa sổ chạy trốn, cô bé túm lấy đuôi nó, giận dỗi nói: ‘Đồ nhát gan nhà ngươi! Ngươi nói ngươi thích ta, vĩnh viễn sẽ không rời khỏi ta, giờ ngươi lại muốn chạy thoát thân sao?’. Bị ép tới mức không biết phải làm sao, sói xám giận dữ tru lên một tiếng rồi nhe nanh múa vuốt về phía bà ngoại, muốn dọa bà ngoại chạy đi.”

    “Có biết đâu bà ngoại chẳng hề sợ hãi chút gì, chẳng để tâm đến cô bé khổ sở van xin mà cặp một viên than đỏ rực trong lò ra quăng về phìa sói xám. Chỉ nghe thấy ‘xèo’ một tiếng, đã đốt hết đám lông dài trên mặt sói xám, sói xám vội vàng che mặt lại. Nhân lúc nó phân tâm, bà ngoại lại vung dao chặt xuống đầu sói xám!”

    “Nhát dao ấy không hề trúng vào sói xám nhưng vẫn khiến nó sợ hết vía, toát hết cả mồ hôi. Sau đó chợt nghe ‘lịch bịch’ một tiếng, bà ngoại chợt ngã xuống đất. Đưa mắt nhìn lại, trên người bà ta còn cắm một con dao, máu chảy đầy đất. Cô bé mặt mũi hầm hầm đứng bên cạnh, đanh giọng nói với sói xám: ‘Ngươi quả nhiên chẳng phải sói xám, đến bà ngoại ta mà cũng không dám làm gì’. Sau đó, cô bé chỉ huy sói xám đem thi thể bà chôn xuống hố bên ngoài rồi lấp lại…”

    Kể tới đây, cô gái im bặt, còn hắn nghe chăm chú tới mức toát hết mồ hôi hột, không nhịn được hỏi:

    “Sau đó thì sao?”

    “Sau đó, tiểu cô nương và sói xám sống hạnh phúc cùng nhau.”

    … Hắn thừa nhận câu chuyện này có chút tàn nhẫn, khiến hắn nghe mà thấy khó tiếp thu. Thậm chí hắn có thể đoán được cô gái kia vừa kể vừa nhìn chằm chằm vào mặt hắn, quan sát phản ứng của hắn.

    Thế là hắn nhớ kỹ câu chuyện này, cũng ghi nhớ người kể nó.

    Phố lớn hơi lạnh giá.

    Hắn quay lại chỗ cô bé bị lạc, vẫn ôm lấy nó mà đứng trơ trọi bên đường ngóng đợi. Vô số kẻ bộ hành đi lướt qua hắn nhưng chẳng ai nhìn lấy một cái.

    Xa xa nơi cổng thành vọng lại ba tiếng trống, hắn biết mình đã đợi gần hai canh giờ rồi. Giờ Tý vừa qua, thuyền đêm lũ lượt ngừng chèo, ngẫu nhiên chỉ có vài người khách vừa xuống bến, tiếng quang gánh kẽo kẹt, tiếng bước chân nặng nề đi trên những phiến đá lát đường.

    Những âm thanh hỗn tạp ấy vừa biến mất, đường phố cuối cùng cũng yên tĩnh trở lại. Lúc đó, hắn chợt cảm thấy có người cách hắn không xa đang lưỡng lự. Tiếng bước chân đó là của phụ nữ, vừa nhỏ vừa nhẹ, xen thêm vào tiếng sột soạt của y phục, dợm bước rồi lại ngừng, ngừng rồi lại bước, tựa hồ đang quan sát cái gì đó.

    Trong lòng hắn cảm thấy thoải mái, may mà mình đã đoán không sai. Người đang tới nhất định là mẹ của con bé.

    Hắn đợi cô ta đi tới nhưng tiếng bước chân chỉ dừng lại xa xa bên kia đường. Kể cả như thế, chỉ cần hắn ngưng thần đề khí tập trung vẫn có thể nghe được tiếng hô hấp của người phụ nữ đó.

    Sao cô ta lại không qua đây?

    Lẽ nào cô ta không nhận ra nổi cả con của mình?

    Hai người cứ đứng cách nhau một con đường rất lâu hắn đột nhiên nhớ lại lúc tới y quán, vị nữ đại phu kia thấy cô bé áo quần mỏng manh liền khoác thêm lên người nó một tấm chăn lông cho nên trông cô bé so với lúc đi lạc không giống nhau, chỉ sợ mẹ nó không dám mạo muội tới nhận. Đường Tiềm liền sải bước băng qua đường, dịu giọng nói với người kia: “Xin hỏi có phải cô nương đang tìm một đứa bé gái phải không?”.

    Nói xong câu này hắn liền biết mình nhầm rồi, mùi hương quán thảo hòa quyện với vị tử đinh hương lại thoang thoảng truyền tới, đồng thời là giọng nói vẫn lạnh lùng như lúc trước:

    “Là tôi, Ngô đại phu.”

    Hắn thất vọng “A” một tiếng.

    “Tôi có một vị hàng xóm nhiều năm rồi không có con cái, luôn muốn có một đứa trẻ. Nếu huynh không tìm được người thích hợp để nuôi dưỡng đứa bé, hay là thử cân nhắc một phen.”

    “Tự tôi có thể nuôi dưỡng nó.”

    “Huynh?”, cô ta cười lạnh, “Huynh là nam nhân”.

    “Vậy thì sao?”

    “Đừng hành sự theo cảm tính, điều trẻ con cần là một người mẹ… Loại sự tình này tôi hiểu rõ hơn huynh.”

    Chút ý tứ này đã thuyết phục được hắn, trầm tư một lúc, hắn hỏi: “Hàng xóm của cô là người như thế nào? Nhân phẩm có tốt không?”.

    “Ông ta cũng là một vị đại phu, chính là chủ nhân Trường Xuân các ở đường Tây Thủy phía trước, họ Thôi. Phu phụ hai người họ đều là người rất lương thiện ôn hòa, thành thân đã chục năm rồi mà vẫn chưa có con.”

    Hắn gật đầu, lại hỏi: “Xin hỏi, đại phu trong trấn này, có phải toàn bộ đều là học trò của Mộ Dung Vô Phong không?”.

    “Toàn bộ.”

    “Vậy thì cô nương cũng thế ư?”

    “Đương nhiên.”

    … Mộ Dung Vô Phong chỉ có duy nhất một nữ đệ tử, cũng là người rất có tiếng tăm, hắn lập tức biết được đối diện mình là ai.

    Do dự một lát, cuối cùng hắn cũng thận trọng nói: “Làm thế rất tốt, xin nhờ cậy rồi”.

    Hắn đưa Ngô Du về y quán, tới cửa thì trao cô bé vào lòng nàng.

    “Bất cứ lúc nào huynh cũng có thể tới thăm nó.”

    “Không cần thiết”, hắn lắc đầu, “Con bé còn nhỏ, chưa nhớ được gì nhiều, cứ để nó có một khởi đầu hoàn toàn mới thôi”.

    “Cách nghĩ này rất cao thượng.”

    Hắn hơi nghiêng đầu, thể hiện thái độ nghiêm túc lắng nghe, hỏi: “Xin hỏi, có phải tôi đã làm sai chuyện gì không?”

    “Không hề.”

    “Nhưng tôi cảm thấy dường như cô nương đang chế giễu mình.”

    “Nếu như huynh cho rằng sáng tạo ký ức cho một cô bé chưa có ký ức là một việc rất thú vị.”

    Hắn sững người, hoàn toàn không ngờ nàng lại nói thế.

    … Ký ức tuổi thơ có mấy phần là chân thực?

    Hắn còn nhớ thuở nhỏ thường hỏi cha mẹ mình thế giới này như thế nào. Mẫu thân xoa đầu hắn, dịu dàng đáp: “Con vốn là một đồng tử trên trời, vô ưu vô lo, cưỡi trên lưng một con hạc tiên. Có một ngày, con gặp được cha mẹ, cảm thấy chúng ta quá cô đơn liền tới nhân gian bầu bạn với chúng ta. Con là lễ vật trời ban cho cha mẹ”.

    Sau này, hắn đi hỏi bạn bè khác, đại đa số câu trả lời lại là: “Mẹ tớ bảo, tớ được nhặt về từ đống rác”.

    Bởi thế hắn đắc ý rất lâu, cảm thấy bản thân quý giá hơn những đứa trẻ khác.

    Sau khi lớn lên, tự nhiên phát hiện được câu chuyện ấy thật hoang đường vô lý nhưng tác dụng của lời bịa đặt đó đã ăn sâu vào trong đầu. Cho tới bây giờ hắn vẫn cảm thấy hạnh phúc vì cha mẹ đã không nói với hắn giống như những người khác nói với con của họ, rằng hắn cũng được nhặt về từ đống rác.

    Không biết phải trả lời như thế nào, hắn chỉ đành khẽ gật đầu, biểu lộ mình đã hiểu: “Tôi không hề có ý ấy. Có điều, đa tạ cô nương nhắc nhở”.

    “Đừng khách khí. Đi cẩn thận.”

    Hắn xoay người cáo từ, cách cửa đã “rầm” một tiếng đóng lại, cực kỳ không thân thiện.

    Hắn hoàn toàn không vì bản thân không được hoan nghênh mà cảm thấy buồn, ngược lại còn thấy trong giọng nói lạnh lùng của cô gái này còn ẩn chứa sự phẫn nộ, phải chăng hắn tới không đúng lúc, vừa khéo để nàng trút hết lên người mình.

    Nàng cũng là một người ưu sầu.

    Điều bất đồng duy nhất là, màu sắc ưu sầu của phần lớn người là màu xanh lam, còn của nàng thì ưu sầu lại mang màu đỏ.

    Gió đêm khẽ khàng, hắn thong thả dạo bước quay về khách điếm. Đại sảnh thật huyên náo, không biết là có chuyện vui gì mà các huynh đệ của hắn tới giờ vẫn còn uống rượu với chơi đoán số.

    Cảm thấy hơi mệt mỏi, hắn muốn lên thẳng trên lầu nghỉ ngơi, Đường Tầm ngăn hắn lại, dúi cho hắn một chén rượu: “Muộn thế này rồi mới về à? Uống mấy chén rồi hẵng đi ngủ”.

    “Có việc gì mà ồn ào thế?”

    “Chiều nay có người nhìn thấy Mộ Dung Vô Phong ở Thính Phong lâu.”

    “A!”

    “Tùy tùng của hắn không nhiều. Lão đại phái mười mấy người mai phục trên đường hắn quay về cốc. Nghe nói tập kích thành công, giết được ba thị vệ của bọn chúng, cả Mộ Dung Vô Phong cũng bị thương nặng.”

    Đường Tiềm nhíu mày nói: “Làm như thế chẳng phải quá lỗ mãng sao? Nơi đây là địa bàn của bọn họ”.

    “Ta cũng nói thế nhưng có ai nghe đâu. Lão đại còn nói nhân thủ của Vân Mộng cốc hữu hạn, không đáng phải sợ. Hắn thật sự lo lắng chính là về người của Long gia.”

    “Người của Long gia cũng tới rồi sao?”

    “Tới lâu rồi.”
  4. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 3: Vị khách lúc khuya


    Cách cuộc chiến chỉ còn hai ngày, chẳng ai tới làm phiền hắn.

    Sáng sớm, Đường Tầm và hắn đi tới Phi Diên cốc một chuyến để làm quen với địa thế.

    Trong đầm lầy tỏa ra một thứ mùi vị hỗn tạp của đỗ quyên, me, rong rêu, lau sậy rồi cả mùi lưu huỳnh, đá vôi, mùi rễ cỏ. Đường Tiềm dễ dàng phân biệt nó với khoảng rừng tùng đằng sau chiến trường.

    Kinh hữu Vân Mộng, tê hủy mi lộc mãn chi[1]. Năm đó Sở Tuyên Vương từng đi săn bắn suốt một dải này, nghe nói xe ngựa tới nghìn cỗ, cờ xí rợp trời. Khói lửa đồng hoang nghi ngút như mây, tiếng hổ rống vang như sấm”, Đường Tầm vốn mau miệng, lập tức liên miên bất tuyệt giới thiệu, “Nghìn năm sau, địa hình nơi này càng thêm trũng xuống, đầm lầy khắp nơi, nghe nói nếu không phải là cao thủ khinh công, rất khó để đi qua”.

    [1] Đất Kinh có Vân Mộng, nơi ấy đầy ắp tê giác với hươu nai. Trích sách Mặc Tử.

    Đường Tiềm gật đầu.

    Từ mà Đường Tầm rất thích dùng chính là “nghe nói”. Võ công hắn không tệ nhưng từ trước tới giờ chưa từng tham gia trận quyết đấu nào. Mỗi dịp náo nhiệt hắn đều có mặt nhưng tới khi thật sự bắt đầu thì lại chẳng thấy đâu nữa. Hắn đọc sách cũng không ít nhưng chẳng nhớ nổi tên sách, cũng chẳng nhớ được xuất xứ của điển cố. Phụ thân hắn, Đường Ẩn Tăng là chú ruột của Đường Tiềm, Đường Tiềm vẫn luôn cho rằng, cái tên này phải dành cho Đường Tầm mới đúng. Chính là vì cho dù đã thêm hai chữ “nghe nói” thì những lời tiếp sau rõ ràng đều không đủ độ tin cậy.

    Cho nên, mọi người đều biết võ công của Đường Tầm không dở nhưng không biết hay ở chỗ nào; đều biết hắn có học vấn nhưng cũng chẳng rõ điểm nào nên phục hắn.

    Đường Tiềm cho rằng, nếu hắn có thể ít nói hai chữ “nghe nói” đi thì tình hình sẽ tốt hơn rất nhiều. Có điều, kiến nghị này ôm ấp trong lòng đã mười mấy năm nhưng cũng chưa từng nhắc tới với hắn. Đường Tiềm là kẻ mù, cho nên không thể “nhìn” ai không thuận mắt. Hắn cũng không giỏi giáo huấn người khác, cũng không đủ kiên nhẫn nghe người khác giảng giải dông dài. Nhưng kiến nghị của Đường Tầm hắn thường nhớ kỹ. Ví dụ như Đường Tầm nói, nam nhân ít nhất cũng phải học thuộc lòng một nghìn bài Đường thi thì mới có thể hấp dẫn được nữ nhân. Thế là hắn học thuộc lòng ba nghìn bài nhưng chưa từng có dịp dùng tới dù chỉ là một lần.

    “Đệ vốn cho rằng người xưa nhắc tới Vân Mộng là chỉ một dải Động Đình. Không phải trong sách có nói ‘Khí chưng Vân Mộng trạch, Ba hám Nhạc Dương thành’[2] sao?”

    [2] Hai câu trong bài Vọng Động Đình hồ tặng Trương thừa tướng của Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740). Nghĩa là: Khi ôm đầm Vân Mộng. Sóng lay thành Nhạc Dương.

    “Đấy là đầm nam, nơi đây là đầm bắc. Nghe nói trong vòng tám, chín trăm dặm quanh đây ban đầu vốn cũng là một cái hồ lớn mênh mông khói sóng, hiện giờ đang dần khô cạn đi”, ngừng lại một chút, Đường Tầm chán nản cười một tiếng, kết thúc cuộc nghiên cứu, “Mục đích chúng ta tới đây hình như không phải để dạo chơi ngắm cảnh. Ta mang theo một ít hương với tiền giấy, có lẽ bọn ta nên tới mộ của các vị đao khách bái tế một phen”.

    “Từ lúc nào huynh bỗng biến thành người tin thần sợ quỷ thế?”

    “Ta không muốn đệ chết dưới đao của Tiểu Phó.”

    Mộ địa nằm sau khu rừng tùng. Đang là sáng sớm sương hãy còn giăng mỏng, gió khẽ động, mấy giọt sương đọng trên cây tùng nhỏ xuống vai hắn.

    Đến rừng tùng, bọn họ nghe thấy có tiếng bước chân nhẹ nhàng, tiếp đến phát hiện ra bên cạnh mộ phần của Hàn Duẫn có một thanh niên áo đen đang đứng cúi đầu yên lặng trong sương.

    Người đó thân hình không cao lớn, trên lưng có đeo một thanh đao màu đen. Thanh đao cán đen, tua cũng màu đen, đen giống hệt như màu mắt hắn.

    Tay hắn trước sau luôn đặt trên cán đao, bộ dạng tựa như có thể rút đao bất cứ lúc nào.

    Khói hương màu xanh bốc lên trong làn sương ẩm ướt đang ngấm dần xuống, trên không trung hãy còn vài tờ tiền giấy phiêu phất.

    Đường Tầm vừa định mở miệng, Đường Tiềm đã lên tiếng: “Tiểu Phó?”.

    Người áo đen ngẩng đầu, lãnh đạm nhìn hắn một cái, đáp: “Đúng”.

    … Giọng của hắn xa xôi mà lạ lùng, âm điệu rất khác người trung nguyên.

    Xem ra hắn không hề muốn bị người khác làm phiền, hai người bọn họ biết ý định rời đi.

    Mới đi được hai bước, Tiểu Phó đột nhiên quay người lại hỏi: “Ngươi chính là Đường Tiềm?”.

    “Là ta.”

    “Ngươi không nhìn thấy đao của ta?”

    “Không nhìn thấy.”

    “Ta nhìn được đao của ngươi cho nên cũng hy vọng ngươi biết được đao của ta ra sao”, nói rồi cởi đao xuống đưa tới.

    Đường Tiềm hiểu ý của hắn. Đối với một đao khách mà nói, từ chất lượng, độ dày mỏng, ngắn dài, nặng nhẹ, vết khắc trên mặt đao, độ cong của đao cho tới hình dáng cán đao, thủ pháp cầm đao đều có thể nói lên thói quen và những chi tiết trong việc dùng đao của chủ nhân thanh đao.

    Bất kỳ kẻ dùng đao nào cũng phải quan sát kỹ càng đao của đối thủ.

    “Không cần đâu”, hắn không đưa tay đón lấy, “Ta không có hứng thú đối với hình dáng đao, chỉ có hứng thú với âm thanh của đao”.

    Tiểu Phó sững người, ánh mắt lạnh đi: “Dưới đao của ta không có đường sống”.

    Đường Tiềm khẽ cười: “Ta thì vừa vặn ngược lại”.

    Trên đường quay về, Đường Tầm than thở: “Trông người này đơn giản là giống y chang Phó Hồng Tuyết mà trong sách tả”.

    Đường Tiềm lắc đầu: “Đệ không nghĩ thế”.

    “Đệ nghĩ thế nào?”

    “Thứ nhất, hắn không què. Thứ hai, hình như hắn cũng không hề bị động kinh. Thứ ba, đao của hắn có thể rời tay của hắn.”

    “Điều này nói lên cái gì?”

    “Nói lên rằng đao pháp của hắn có khả năng còn cao hơn Phó Hồng Tuyết.”

    Bốn tuổi, Đường Tiềm bắt đầu luyện đao. Trừ những lúc ra ngoài đi chơi hay những dịp nghỉ, hai mươi năm nay, ngày nào cũng luyện đao hai canh giờ, trước giờ chưa từng gián đoạn. Kể cả trận đại chiến đã ở ngay trước mắt, hắn cũng không thay đổi thói quen luyện đao của mình.

    Cho nên ngày hôm nay hắn hành xử không khác so với ngày thường. Sau khi luyện đao thì theo lệ ngồi trên sạp trúc uống trà, an nhàn hóng gió mát lúc chiều muộn một lát, rồi lại theo lệ ra ngoài tản bộ. Lúc quay về sắc trời đã tối, bữa tối rất thịnh soạn, rất nhiều người chúc rượu khích lệ hắn, hắn cũng vẫn như ngày thường, tự tiết chế chỉ uống hai chén. Uống xong ngụm canh cuối cùng, hắn quyết định rời bàn rượu, nghỉ ngơi sớm một chút.

    Trong tiếng ồn ào có người cất tiếng hỏi: “Sao bọn lão đại vẫn chưa về nhỉ?”.

    Vừa định đứng dậy, đột nhiên nghe “bình” một tiếng, một vật nặng nề được quăng lên bàn vừa khéo rơi trúng một bát canh cá, lập tức chén bát lộn xộn, nước bắn tung tóe bốn phía. Đường Tầm ở bên cạnh đang định uốn cạn chén rượu trong tay, không biết từ lúc nào, trong chén ngọc lại có thêm một vệt loang màu đỏ. Vệt loang từ từ lan rộng ra biến thành một mảng đỏ.

    Đó là một giọt máu.

    Đại sảnh đột nhiên im phăng phắc, mọi cặp mắt đều đổ dồn vào cái bọc máu me ướt đẫm trên bàn.

    Dõi về hướng cái bọc được quăng tới, bọn họ nhìn thấy một cô gái mặc áo tím kéo ghế ngồi cạnh cửa, dáng người rất nhỏ nhắn.

    “Lão đại quay về rồi đấy”, cô gái đó như cười như không, nhẹ nhàng phất tay một cái, “trên bàn kia kìa”.

    Nút thừng buộc cái bọc đó đột nhiên bị cắt đứt, lộ ra một cái đầu người quen thuộc.

    Đường Lan.

    Thoáng cái, tất cả mọi người đều biến sắc, ai nấy đều nín thở, trong mắt đầy ắp nỗi sợ hãi và phẫn hận!

    Đã có không ít người nhận ra kẻ vừa đến chính là Sở Hà Y, nữ nhân đã cứu Mộ Dung Vô Phong khỏi địa lao lúc trước.

    Ý thức được tình hình không ổn, lão tứ Đường Hoài sắc giọng hỏi: “Đường Ngũ đâu?”.

    Đường Ngũ là mưu thần, cũng là hộ vệ thân cận nhất của Đường Lan, võ công cực kỳ cao cường, là một trong bốn thanh niên đại cao thủ của Đường gia.

    Các loại “Phục hưng kế hoạch” của Đường môn gần như đều xuất phát từ Đường Ngũ.

    “Bình” một tiếng nữa, Sở Hà Y quăng tới một cái bọc máu me ướt đẫm khác. Tất cả đều là người trên giang hồ, tất nhiên mọi thứ đều không cần giải thích gì.

    Đường Tầm siết chặt nắm tay, nghiến răng nghiến lợi hỏi: “Ngươi đã giết bọn họ, lại còn dám tới đây tìm chết?”.

    Nữ nhân áo tím cười lạnh một tiếng, tay vung lên, một viên dược hoàn màu đỏ tươi đã rơi vào một cái bát không trên bàn.

    Viên dược hoàn màu đỏ tươi đó không ngừng xoay tít trong bát, lúc dừng lại đã biến thành một đám bột màu đỏ. Hà Y đi tới cạnh bàn vỗ nhẹ lên bàn một cái, đám bụi phấn kia bốc lên thoắt cái đã biến mất không còn tăm tích gì.

    Đường Tam đứng vụt dậy, nhanh chóng lùi lại sau bàn, lớn tiếng kêu: “Mọi người cẩn thận! Là thuốc mê!”.

    Trong khoảnh khắc, tất cả mọi người đều lùi lại ba thước, trong lòng thầm nhủ: Loại bột thuốc này đã tan vào trong không khí, chỉ sợ đã sớm trúng độc rồi.

    Hạ Y lạnh lùng đưa mắt quét qua đám người, cất tiếng: “Ngươi nói không sai, người biết điều hiện giờ tốt nhất là thật thà một chút. Ta có hai con đường, các vị cứ tự mình chọn lấy một. Thứ nhất, kẻ nào muốn toàn mạng thì xéo hết đi, người của Hình đường ở lại. Hoặc, tất cả đều ở lại, mỗi người chặt đi một chân”.

    Tiếng nói vừa dứt, Đường Tam đã chống nạng bay vụt ra khỏi cửa lớn.

    “Ta đi trước, ta chỉ có một chân.”

    Nháy mắt, bóng người chớp động, người trong đại sảnh thoáng cái đã không còn thấy đâu nữa.

    Chỉ còn lại Đường Tầm và Đường Tiềm.

    Hà Y nhìn trái nhìn phải đánh giá hai người này một lượt rồi hỏi: “Ai là Đường Tiềm?”.

    Đường Tiềm đáp: “Ta”.

    “Kẻ đứng cạnh ngươi là ai?”

    “Là huynh đệ của ta, không có bất cứ quan hệ gì với Hình đường.”

    Hà Y hỏi: “Vậy sao ngươi còn không mời hắn rời đi?”.

    Đường Tiềm vỗ vai Đường Tầm, nói: “Huynh đi trước đi, đệ sẽ không sao đâu”.

    “Nhưng…”

    “Huynh ở lại đây có thể chỉ càng thêm phiền phức”, hắn đanh mặt, bồi thêm một câu.

    Đường Tầm lưỡng lự giây lát rồi đẩy cửa đi ra.

    Hắn khẽ vận khí, phát hiện nội lực không vận dụng được chút nào, biết rằng thuốc mê đã bắt đầu có hiệu lực.

    Trong đại sảnh nồng nặc mùi tanh của máu, đến cả khói bốc lên từ những ngọn nến lớn trên tường cũng khó che lấp đi. Hắn kéo một cái ghế, dứt khoát ngồi xuống.

    “Ẩn đao và Tiềm đao hai vị tiên sinh, năm xưa cũng là những người ta cực kỳ khâm phục.”

    Phụ thân hắn ngoại hiệu là “Ẩn đao”, cùng với mẫu thân hắn Hà Ngâm Xuân hiệu “Tiềm đao” rất được tôn sùng trên giang hồ, có thể coi là những nhân vật kỳ tích, thần thoại thuộc thế hệ trước của Đường môn. Bọn họ từng liên tục mười năm song song xuất hiện ở ba vị trí đầu trên Đao bảng. Một đôi phu phụ đều là cao thủ tuyệt đỉnh là chuyện cực kỳ hiếm thấy trên giang hồ, năm mươi năm gần đây quả thật có một không hai.

    “Ông ta là tổng quản Hình đường, đáng nhẽ ta sớm phải nghĩ ra chính ông ta là người dùng hình với Mộ Dung Vô Phong”, Hà Y quắc mắt, trong lời nói ẩn chứa sát khí, “Chỉ vì không muốn tin tông sư đao pháp một thời cũng có thể làm loại chuyện ti bỉ vô sỉ như thế”.

    Đường Tiềm khẽ nhíu mày.

    Thực ra việc dùng hình với Mộ Dung Vô Phong là quyết định của Đường Lan, năm đó phụ thân hắn từng kịch liệt phản đối, cho rằng làm thế sẽ khiến Vân Mộng cốc phẫn nộ, càng mang tới cho Đường gia bảo thêm nhiều nguy hiểm. Nhưng Đường Lan chẳng để vào tai, thuyết phục bảy vị trưởng lão đồng thời gây sức ép với Hình đường. Căn cứ vào gia pháp, quyết định của hội đồng trưởng lão, Hình đường không thể phản kháng, buộc phải chấp hành.

    Hắn biết một chút nội tình nhưng không muốn giải thích, chỉ lãnh đạm nói: “Gia phụ, gia mẫu đều đã qua đời. Bất kể ngươi muốn tính nợ gì thì đều có thể tìm ta. Ta là con trai duy nhất của bọn họ”.

    “Yên tâm đi, ta không thể để ngươi chết dễ dàng thế được”, Hà Y nói, “Hiện phải phiền ngươi đi với ta một chuyến”.

    “Đi đâu?”

    “Vân Mộng cốc.”

    Trong lòng hắn lạnh toát, không tự chủ được sờ sờ chân của mình: “Nếu ngươi muốn giết ta, tốt nhất là ra tay luôn đi”.

    “Nếu ngươi không đi cùng ta, trước tiên ta sẽ giết ngươi rồi sẽ đi giết Đường Tam, Đường Tứ, Đường Thất, Đường Bát.”

    Cứ trông nàng đã giết Đường Đại và Đường Ngũ, câu này xem ra không phải là giả.

    Hắn đành đứng lên.

    Xe ngựa lao đi trên sơn đạo mấp mô, Hà Y rõ ràng cực kỳ căm ghét hắn, dọc đường chẳng buồn nói một câu. Đi được khoảng nửa canh giờ, xe ngựa chầm chậm dừng lại, hình như đã tới cổng lớn của Vân Mộng cốc. Hắn nghe thấy người gác cửa hỏi: “Là vị nào?”, phu xe trả lời ngắn gọn một tiếng: “Là phu nhân”. Tiếp đến xe ngựa qua cổng, lại đi thêm gần một tuần trà rồi mới từ từ đỗ lại. Hai người xuống xe, đi men theo con đường sỏi nhỏ một lúc, hắn chợt ngửi thấy mùi quế nức mũi, liền hỏi: “Có phải chúng ta đến nơi rồi không?”.

    Hà Y không hề trả lời, chỉ mở cửa rồi đẩy hắn vào trong.

    Dường như hắn đang đi vào một sân viện có tiếng nước chảy róc rách, bốn phía không có tiếng người, chỉ nghe tiếng lá xào xạc trong gió. Dọc đường hắn cố giải khai huyệt đạo, ý đồ khôi phục lại một thành nội lực nhưng không ngờ loại mê dược đó quá mạnh, không có cách nào giải được. Mới đi mấy bước, hai chân đã như muốn rời ra, may mà vào cửa là có hành lang, hắn phải vịn vào tay vịn mới có thể miễn cưỡng cất bước đi tới.

    Đến trước một cánh cửa, Hà Y gõ cửa rồi quay đầu bảo hắn: “Ta không phải nữ nhân duy nhất hận ngươi, cô ấy nhất định sẽ chăm sóc ngươi thật tốt”.

    Bên trong vọng ra một giọng nói rất trầm, rất dịu dàng khẽ hỏi: “Ai đấy?”.

    “Là ta.”

    “Có phải đã đem hắn tới rồi?”

    “Tới rồi.”

    Tựa như trong giọng nói dịu dàng đó có ẩn ý cười: “Phiền phu nhân chớ có nói lại với tiên sinh, nếu người biết được nhất định sẽ nổi giận”.

    “Đương nhiên”, Hà Y nói, “Ta cáo từ trước, người giao lại cho cô.”

    “Đi thong thả. Nguyệt Nhi, tiễn phu nhân.”

    “Không cần đâu.”

    ***

    Sương đêm trên hồ bắt đầu ngưng tụ, khói sương lan tỏa. Chân trời sao thưa nhưng sáng tỏ, một vì sao lạ mờ mờ treo trên đỉnh núi đang chìm trong đêm tối phía xa.

    “Muộn thế này rồi còn chưa đi nghỉ?”, một đôi tay vòng từ sau lưng ôm lấy chàng.

    Nàng ôm chặt lấy chàng, hơi thở phả vào gáy có chút nóng bỏng. Còn thân thể của chàng lại lạnh giá, ngồi trong đình quá lâu, không tránh khỏi toàn thân cứng lại.

    Chàng nắm lấy cổ tay nàng, nhẹ nhàng hỏi: “Nàng không sao chứ?”.

    “Không sao”, nói rồi nàng vùi đầu vào cổ chàng, hôn vào khe ngực áo hơi hé mở của chàng. Làn môi ấm áp ướt át của nàng hòa tan chàng, khiến chàng gần như sắp mất đi tri giác. Chàng đưa tay nhẹ nhàng vuốt ve má nàng.

    “Ngồi ở đây lâu lắm rồi phải không?”, nàng hỏi.

    “Không tính là lâu.”

    … Không biết rốt cuộc nàng đã làm gì, sao khuya thế này mới quay về. Chàng không hỏi.

    Về là tốt rồi.

    “Đã thấm mệt chưa?”, nàng vén lại tấm chăn lông đắp trên chân chàng.

    “Có một chút.”

    “Vết thương trên tay đỡ hơn chưa?”

    “Không sao nữa rồi.”

    … Chiều nay, trên đường về cốc, xe ngựa của chàng bất ngờ bị đột kích, cho dù Hà Y phản ứng cực nhanh, tay của chàng vẫn trúng một mũi tên. Tuy chỉ là vết thương ngoài da nhưng đầu tên có bôi kịch độc, thoáng cái cả cánh tay đều biến thành màu đen. Nếu không phải chàng nhanh tay phối chế ra thuốc giải, chỉ sợ tính mạng cũng khó giữ. Kể cả như thế, cũng đã dọa cho Hà Y một phen khiếp sợ. Về đến cốc, chàng hôn mê lịm đi một canh giờ, lúc tỉnh lại thì phát hiện Hà Y không ở bên cạnh mình.

    Chàng đoán được quá nửa nàng đi làm chuyện gì, định khuyên nàng không nên hành động theo cảm tính, bỗng cảm thấy trong ngực nôn nao, vội xoay người với lấy ống nhổ rồi nôn thốc nôn tháo không sao kiềm chế được.

    “Sao rồi?”, nàng thất thanh hỏi.

    Chàng nôn rất dữ dội, cả người gập xuống, cơ bụng co thắt từng hồi. Ngừng nôn rồi mà chén trà nàng bưng tới lúc nãy chàng cũng không muốn uống. Nước uống vào chẳng mấy chốc sẽ lại nôn ra bằng hết. Vật vã một lúc mới ngừng lại, khi ấy đã sức cùng lực kiệt rồi.

    Gần đây dạ dày chàng không tốt, cơm cũng ăn rất ít, người gầy đi nhiều. Sau khi từ Thiên Sơn quay về, tình hình sức khỏe của chàng ngày càng sa sút, bệnh phong thấp vốn đã cực kỳ nghiêm trọng giờ lan ra toàn thân. Chỉ cần tiết trời hơi lạnh là các khớp tay phải sẽ sưng phù cương cứng, tay trái cũng dần dần mất đi sự linh hoạt. Trong những ngày tệ nhất, chàng không cách nào khám bệnh được, đến ngồi dậy cũng không dễ dàng. Mùa đông năm ngoái lại lạnh đến bất ngờ, khiến cho bệnh phong thấp, bệnh tim của chàng rồi vết thương cũ mới thay nhau phát tác, khiến chàng hơn ba tháng trời nằm liệt giường, đến cả bệnh án cũng không làm sao phê duyệt được, chỉ đành đóng cửa không tiếp khách.

    Chàng là người cao ngạo quật cường, trước giờ vốn không muốn phiền lụy người khác. Nhìn khuôn mặt ngày càng hao gầy của thê tử, lòng chàng không nỡ, bắt đầu đồng ý cho phép học trò của mình thay phiên chăm sóc bản thân. Nhưng Hà Y kiên quyết phản đối, ngay hôm đó đuổi hết học trò của chàng ra khỏi cửa. Nàng thấu hiểu tính cách của Mộ Dung Vô Phong, không thích giao tiếp với người ngoài, những việc như tắm rửa, mặc y phục, thay thuốc phải do chính tay nàng lo liệu. Trừ khi bản thân đổ gục, tuyệt đối không để người ngoài chạm vào chàng.

    Dần dần, chàng bắt đầu che giấu bệnh tình của mình, bắt đầu nói nhẹ đi tất cả mọi thống khổ, bắt đầu chăm chỉ uống thuốc.

    “Uống thêm chút nước”, nàng vỗ vỗ lưng chàng, nhẹ giọng khuyên.

    Chàng thẳng lưng lên, đón lấy tách trà, súc miệng, không quên trấn an nàng một câu: “Không sao, bệnh cũ, ngẫu nhiên phát tác một chút thôi”.

    “Mấy ngày nay sương lớn, chỉ sợ lại phạm tới vết đao rồi”, nàng thở dài một tiếng, “Ban đêm cứ thấy chàng trằn trọc trên giường mãi”.

    “Sao thế được? Mấy ngày nay ta ngủ rất ngon mà.”

    “Nhất định là cực kỳ đau, thiếp phải đi hỏi Sái đại phu xem sao.”

    “Thật sự không sao đâu.”

    “Còn nói là không sao!”, nàng lo tới thất sắc, “Khăn trải giường bị chàng cào rách một lỗ lớn rồi”.

    Chàng đành im lặng không lên tiếng phản bác nữa.

    Nàng đưa chàng về phòng ngủ, tắt đèn, nằm yên lặng bên cạnh chàng. Biết chàng còn đang đoán hành tung của mình chiều tối nay, sợ chàng hỏi dồn, bèn cố ý chọn một đề tài nhẹ nhàng: “Sáng nay ở chỗ Sái đại phu thiếp gặp một đám học trò của chàng”.

    “Đó là hôm nay cử hành y hội theo lệ, ta không tới dự.”

    “Bọn họ bám lấy thiếp, hỏi xem rốt cuộc trong số tất cả học trò y thuật của ai cao nhất.”

    Ngày thường Mộ Dung Vô Phong dạy học trò cực kỳ nghiêm, luôn nói không so bì ai cả. Các học trò đều muốn từ miệng Hà Y moi được một chút cơ mật.

    “Nói với bọn họ: Ai cũng có cái hay riêng, khó phân cao thấp.”

    “Thiếp chính là nói như thế. Cái câu vô thưởng vô phạt ấy nói ra vô số lần rồi, đến bản thân thiếp cũng thấy phát chán. Hay là bây giờ chàng nói nhỏ cho thiếp, thiếp thề sẽ không nói cho ai khác, có được không?”

    “Ta muốn ngủ…”

    “Là Sái Tuyên à?”

    “…”

    “Hay Trần Sách?”

    “…”

    “Chẳng lẽ là Vương Tử Kinh?”

    “…”

    “Rốt cuộc là ai?”

    Trầm mặc hồi lâu, cuối cùng Mộ Dung Vô Phong cũng nói ra một cái tên:

    “Ngô Du.”

    Hà Y thở dài một tiếng, bỗng nói: “Chàng có phát hiện ra không? Ngô Du thay đổi nhiều rồi”.

    Lúc vừa từ Thiên Sơn quay về, người trong cốc kể lại với họ, sau khi nhận được tin Mộ Dung Vô Phong “qua đời”, Ngô Du từng lâm trọng bệnh một trận. Tuy mọi người đều biết tại sao nhưng không ai dám nói ra. Khoảng thời gian ấy, mọi người thường trông thấy nàng mặc đồ trắng tựa như âm hồn đứng bồi hồi ven hồ vào đêm khuya. Sợ nàng nghĩ quẩn, Quách Tất Viên không thể không sai thủ hạ lặng lẽ bám theo sau. Nhưng nàng không làm gì dại dột, chỉ nằm liệt giường vài tháng rồi dần dần khỏe lại, khuôn mặt hóp đi trông thấy, từ xa nhìn lại, chỉ thấy được đôi mắt to tròn. Nàng trở thành cực kỳ trầm mặc, tính tình càng ngày càng xấu, càng ngày càng khó đoán. Nàng bới móc phương thuốc của Trần Sách, chê Sái Tuyên tay nghề chậm chạp, trong y hội thì tranh cãi với tất cả mọi người, khiến các đại phu từ bên ngoài tới không cách nào giữ được thể diện. Dần dần, người trong cốc không ai dám va chạm với nàng nữa.

    Có một hôm, các đại phu cuối cùng cũng không nhịn nổi nữa, bèn nhất tề kêu khổ với Trần Sách lúc ấy là chủ quản y vụ. Trần Sách đành tìm lý do điều nàng tới Trúc Gian quán ngoài cốc. Tiếp đến, mọi người nhanh chóng phát hiện ra một chuyện: vai trò đại phu của Ngô Du là không thể thay thế. Những thủ thuật sở trường của nàng không ai bì được. Thiếu nàng, tốc độ khám chữa cho bệnh nhân trong cốc lập tức chậm đi rất nhiều.

    Vì đại cục, Trần Sách đành khuyên nàng về lại cốc. Lần này, ba vị chủ quản lần lượt thay phiên làm thuyết khách nhưng không ai có thể mời được nàng về cốc.

    Cho tới khi Mộ Dung Vô Phong quay về cốc nghe được chuyện này, bèn tự mình chạy tới Trúc Gian quán nói một câu “Thực sự ta rất cần cô về giúp”, nàng mới ngoan ngoãn cùng chàng lên xe ngựa quay về. Kể cả như thế, nàng cũng vẫn không muốn ở lại trong cốc. Mộ Dung Vô Phong chỉ có thể để nàng mười ngày đầu tháng ở lại cốc, hai mươi ngày sau về Trúc Gian quán. Nếu chàng sinh bệnh không dậy nổi, Ngô Du ắt sẽ tự động xin ở lại cốc cả tháng, giúp chàng lo liệu y vụ.

    “Cô ấy có chút thay đổi”, Mộ Dung Vô Phong thừa nhận, “Dạo trước, ta thường thấy cô ấy một mình ở lại băng thất giải phẫu thi thể, tận khuya vẫn không nghỉ. Cô ấy không phải là người gan nhỏ, nhưng những thi thể ấy đa phần là chân rời tay cụt, mặt mũi đáng sợ, đến cả ta nhìn lâu cũng thấy khó chịu. Vậy mà cô ấy dường như rất thích thú, thường thường vừa làm vừa ăn, có lúc còn uống rượu nữa”.

    “Không phải chàng cũng vừa làm vừa ăn nho đấy sao?”, Hà Y cười nói.

    “Ta với cô ấy không giống nhau.”

    “Sao lại không giống?”

    “Ta từ trước tới giờ luôn thế”, chàng nói, “Còn cô ấy trước đây hoàn toàn không như vậy. Cô ấy vốn không thích đối diện với tử thi. Tòa băng thất ấy, nếu không bắt buộc phải đi thì cô ấy sẽ không đi. Nếu bọn ta rời đi hết, cô ấy cũng sẽ đi theo, rất ít khi đơn độc ở lại đó một mình”.

    “Những thay đổi này bắt đầu từ khi nào thế?”

    “Sau khi chúng ta quay về.”

    “Cũng có thể khi cô ấy lấy chồng rồi sẽ khá hơn.”

    “Tại sao?”

    “Đối với một vài nữ nhân mà nói, lấy chồng vốn cũng là một liệu pháp.”
  5. jimjim_12990 Administrator

    Làm thành viên từ:
    31 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,164
    Đã được thích:
    403
    Điểm thành tích:
    83
    Giới tính:
    Nữ
    Chương 4: Một đao tới xương


    Tiếng “cọt kẹt” vang lên, cánh cửa đã mở ra.

    Hắn nghe thấy giọng một cô gái nói: “Tiểu thư mời ngươi vào, ngươi cứ đi thẳng tới là được.”

    Giọng nói vừa nhẹ vừa dứt khoát, mang địch ý rõ ràng.

    Thêm nữa, cô ta biết hắn là kẻ mù.

    Trong phòng có xông cỏ thơm, cực kỳ ấm áp. Mùi hương trầm nhàn nhạt, lẫn với mùi thuốc phảng phất như có như không.

    “Nếu ngươi nghĩ đây là khách sảnh thì nhầm rồi. Đây là phòng khám của tiểu thư.”

    Nha đầu nọ đứng sau lưng hắn tiếp thêm một câu.

    Hắn lãnh đạm quay đầu lại nói: “Cô không cần phải nói cho ta những điều ấy.”

    … Ý của câu này, hình như là sợ cô ta lắm lời.

    Nguyệt Nhi tức tối lườm hắn một cái.

    Ngô Du im lặng ngồi trên chiếc ghế mây phòng trong, chầm chậm thưởng trà.

    Nàng đăm đăm nhìn người thanh niên dáng người cao lớn, thần thái trầm tĩnh này. Vầng trán anh ta cao đấy, đôi mắt đen láy, ánh mắt mang một sắc thái trống rỗng khó tả, rõ ràng là chẳng thể thấy gì vậy mà dáng vẻ khi nhìn người khác lại chuyên chú đến vậy. Nàng thậm chí có thể cảm nhận được đằng sau đôi mắt ấy ẩn chứa một sức mạnh vô hình, khiến mỗi lần anh ta chăm chú nhìn đều như một con báo đen.

    “Là ngươi”, nàng bình tĩnh nói.

    “Là tôi”, đối với khẩu âm của người lạ hắn có khả năng nhớ rất kỹ, rất tường tận, thoắt cái đã nhận ra nàng.

    “Ngươi chính là Đường Tiềm?”

    “Trông tôi không giống sao?”

    Hắn có chút thất vọng, phát hiện ra khi nàng gặp mình, giọng nói không còn mềm mại ngọt ngào giống như lúc đối đáp ngoài cửa vừa rồi mà lập tức biến thành khẩu khí lúc hành nghề, lạnh lùng tựa băng giá như buổi nói chuyện ngày hôm qua.

    “Ngươi có biết nơi này là đâu không?”

    “Vi Tuyết các”, ngừng một lúc, hắn tiếp lời, “Hai chữ ‘Vi Tuyết’ này không được tốt lành cho lắm.”

    Nàng sững người một lúc rồi mới định thần lại. Không sai, ba chữ này khắc bên cạnh cửa lớn, chữ khắc chỉ hơi lõm vào, vậy mà hắn chỉ sờ một cát đã nhận ra.

    “Ta muốn thỉnh giáo xem có gì không ổn?”

    “Lệnh sư toàn thân mắc chứng phong thấp, gặp lạnh là đổ bệnh. Ngô đại phu còn dùng câu ‘Thanh chiên trướng noãn hỷ vi tuyết. Hồng địa lư thâm nghi tảo hàn’[1], há chẳng phải cố ý chọc người ta sao?”

    [1] Hai câu trong bài Sơ đông tức sự trình mộng đắc của Bạch Cư Dị (772 – 846) thời Đường. Hai câu này có nghĩa: Lều ấm chăn xanh vui ngắm tuyết nhẹ. Đất trải thảm hồng lò sưởi ấm chẳng ngại lạnh đầu mùa.

    Tay mù lòa này thế mà hiểu thi từ, Ngô Du cũng có chút bất ngờ, miệng thì càng khiêu khích: “Ta dùng không phải là điển ấy.”

    “Chắc không phải là ‘Sơ chung hàn biến quách. Vi tuyết tĩnh minh điều’[2] chứ?”, Đường Tiềm vừa nói vừa lắc đầu, “Thế lại càng hỏng bét.”

    [2] Hai câu trong bài Hàn dạ hữu hoài đồng chí của Quán Hưu (823 – 912) thời Đường. Hai câu này có nghĩa: Chuông sớm lạnh tòa khắp. Gió nhẹ lắng gió len.

    “Sao lại tới mức càng hỏng bét?”, Ngô Du lạnh lùng hỏi.

    “Hai câu trước là ‘Vĩnh dạ thủ bất mị. Hoài quân chính tịch liêu’[3] mượn lời tỏ ý chí, ý tứ chính là…”

    [3] Hai câu đầu trong bài Hàn dạ hữu hoài đồng chí. Có nghĩa: Cả đêm day dứt ngủ chẳng được. Chính bởi đang cô đơn nhớ người.

    “Ngươi nói bậy!”, Ngô Du mặt mũi đỏ bừng ngắt lời hắn, “Ta dùng chính là câu ‘Sơn minh dã tự thự chung vi. Tuyết mãn u lâm nhân tích hi’ của Hàn Tô Châu[4]…”

    [4] Hàn Tô Châu, tức Hàn Ứng Vật (737 – 792) thi nhân thời Đường, vì từng giữ chức Thích Sử Tô Châu nên được người đời gọi là Hàn Tô Châu. Đôi câu trên nằm trong bài Nhàn cư ký đoan cập trùng dương, có nghĩa: Núi vắng chùa xa chuông sớm vọng. Tuyết phủ rừng hoang dấu người thưa.

    Nàng biết mình đang giảo biện. Một từ chẳng lẽ lại có thể bẻ đôi vào hai dòng thơ sao?

    Đường Tiềm chỉ cười cười, sau đó không nhanh không chậm gật đầu nói: “Thì ra là như thế, hoàn toàn có thể hiểu được.”

    Hắn vẫn ngầm điều tức nội lực, đả thông kinh mạch, cho nên hy vọng nói với nàng thêm mấy câu, kéo dài thời gian, tranh thủ cơ hội phục hồi khí lực.

    … Thực ra, lúc Ngô Du nói với Mộ Dung Vô Phong muốn đặt tên cho tòa viện này là “Vi Tuyết các”, chàng cũng chỉ “Ừm” một tiếng. Tiếp đó nàng xin thủ bút của chàng, chàng vẫn chỉ buông một câu “Được”.

    Tối đó, Trần Sách đưa chữ chàng viết qua chỗ nàng.

    Chỉ đơn giản thế thôi.

    Đơn giản tới mức chẳng có chút ám thị nào cả. Đơn giản khiến người ta tuyệt vọng.

    Nàng định thần lại, cười lạnh: “Nếu ngươi đã biết ta là ai, ngươi cũng nên hiểu, ta mời ngươi tới, tuyệt đối không phải để làm bạn luận bàn thơ từ.”

    Đường Tiềm đợi nàng nói tiếp.

    “Bên tay phải ngươi vừa hay có một cái giường, sao không nằm xuống đi?”

    Hắn ngây người hỏi: “Cô muốn tôi nằm xuống?”

    “Nằm xuống đi, thế ta mới dễ chặt một chân ngươi. Ta không muốn để máu ngươi dây bẩn thảm ta đâu”, nàng đặt chén trà xuống, cố ý cao giọng, “Nguyệt Nhi, đao đã chuẩn bị xong chưa?”

    “Chuẩn bị xong rồi. Có điều em quên mất chưa mài, cho nên hơi cùn một chút, muốn chặt chỉ sợ phải tốn chút công phu.”

    “Hình như hắn vẫn không chịu nằm xuống…”

    “Đã hít phải ‘Thất tinh hoa phấn’ của tiểu thư mà vẫn không chịu nằm xuống? Em đành giúp hắn một chút vậy”, Nguyệt Nhi nhấc bồn hoa trong tay lên, hướng tới đầu Đường Tiềm đập xuống, “choang” một tiếng, hắn ngã dúi đầu xuống, vừa vặn ngã xuống giường.

    Lập tức, có bàn tay đem tứ chi của hắn trói chặt vào bốn góc giường.

    “Nguyệt Nhi, động thủ đi.”

    “Tiểu thư… muốn làm gì?”

    “Cởi hết y phục của hắn ra.”

    “Em…”

    “Em cái gì mà em? Ở đây nhìn thấy thân thể trần của đàn ông còn ít hay sao?”

    “Nhưng mà… em không phải là đại phu…”, Nguyệt Nhi giậm chân, rồi cởi hết y phục của Đường Tiềm, chỉ chừa lại độc cái khố.

    Ngô Du trừng mắt nhìn Nguyệt Nhi, chất vấn: “Ta bảo em cởi hết, thế này là cởi hết sao?”

    “Xấu hổ chết đi được, em không làm đâu, người ta vẫn còn muốn đi lấy chồng nữa”, Nguyệt Nhi bĩu môi lầm bầm, nhìn chằm chằm thân thể Đường Tiềm một lúc lâu rồi khúc khích cười nói, “Tiểu thư, thể hình của tên mù này thật là xấu nhỉ. Chân thì dài, eo thon,vai rộng thế này, làn da căng… Từ trước tới giờ em chưa thấy nam nhân nào xấu thế cả.”

    “Cho nên hôm nay chúng ta nhất định phải sửa chữa thân thể của hắn một chút. Đường công tử, ngươi nói xem đúng hay không nào?”, Ngô Du cầm một thanh thủy chủ sắc nhọn lên, khua khua trên đầu Đường Tiềm.

    Lúc mũi đao lướt qua trên mặt, cơ mặt hắn không tự chủ mà run lên.

    “Có thật hắn là người mù không? Sao em nhìn xuôi nhìn ngược thế nào cũng không thấy thế? Thuốc mê của chúng ta cuối cùng có cần dùng không? Có cần lấy bình ‘Hoan tâm’ lần trước tiểu thư phối chế tới không?”, Nguyệt Nhi gí mắt sát vào mặt hắn, chăm chú nghiên cứu kỹ càng cứ như hắn là một thi thể.

    “Sao thế được?”, Ngô Du thong thả nói.

    “Phải rồi, phải rồi. Cho bọn súc sinh Đường môn nếm thử mùi vị bị kẻ khác cắt gọt!”, Nguyệt Nhi nghiến răng nói.

    “Cho nên em phải cởi hết quần áo của hắn ra, có như thế chúng ta ra tay mới thuận tiện được”, Ngô Du lãnh đạm nói.

    Khuôn mặt hắn lập tức đỏ rực lên.

    Nguyệt Nhi nói: “Tiểu thư, người xem, mặt người này còn đỏ lên kìa!”

    Đường Tiềm nói: “Thỉnh cầu hai vị làm nhanh nhanh một chút. Tôi bây giờ như thế này, muốn động thủ cũng cực kỳ thuận tiện rồi, không cần cởi thêm nữa… Huống chi, đao chặt xuống, máu sẽ lập tức phun ra, hai vị vẫn nên chuẩn bị một ít vải băng thì tốt hơn.”

    Nguyệt Nhi cười nói: “Ha ha, hóa ra da mặt kẻ này lại mỏng như thế. Tiểu thư, để em cắt cái khố của hắn, chọc hắn tức chết luôn”.

    “Thôi đi, giữ cho hắn chút thể diện. Em đi gọi xe ngựa lại đây, đợi bọn ta làm xong thì đem hắn thần không biết quỷ không hay ném xuống mương ngầm ngoài cốc.”

    “Em đi ngay đây!”

    Đường Tiềm cảm thấy đầu giường khẽ rung, có người ngồi xuống bên cạnh, rồi lại nghe “keng” một tiếng, hình như Ngô Du đang búng lưỡi đao.

    Mũi đao vạch lên chân hắn một đường, đại khái là nàng dang thử đao xem có đủ sắc hay không.

    Sau đó, hắn cảm thấy dường như nàng đang giơ tay lên, định làm một động tác chặt chém nào đó.

    Đường Tiềm đột nhiên to giọng kêu lên: “Chậm đã!”.

    Ngô Du ngừng lại, hỏi: “Ngươi còn muốn nói gì nữa?”.

    “Cô nương chớ có quên, để tử của Vân Mộng cốc lúc vào cốc đã từng thề đời này kiếp này, trị bệnh cứu người, tuyệt đối không lạm dụng những điều học được hại tính mạng người khác.”

    “Không sai.”

    “Tôi không phải bệnh, cô nương lại lạm dụng tư hình với tôi, làm như thế là vi phạm lời thề của cô.”

    Ngô Du không nói câu gì, chỉ thong thả cẩn thận thoa một lại cao thuốc lên lưỡi đao.

    “Ngươi nói không sai”, nàng từ tốn đáp, “Chỉ chặt một chân của ngươi vậy cũng quá dễ dãi cho Đường môn các người rồi. Ta biết ngày mai có một trận quyết đấu khó khăn, người của Đường môn đều kỳ vọng ngươi ra mặt đại diện cho chúng. Cho nên, cơ hội khiến cho Đường môn mất mặt này, ta nhất định không thể để ngươi làm lỡ.”

    Tim Đường Tiềm thình thình đập dữ dội, nghe được câu này mới thở phào một tiếng: “Cô muốn nói, cô đã thay đổi ý định rồi sao?”.

    “Ta chỉ đang nghĩ tới việc cắt một đao trên chân ngươi, để ngươi bị thương nhẹ. Như thế, ngày mai ngươi vẫn có thể quyết đấu với người ta, chỉ có điều lần này ngươi nhất định sẽ thua”, nàng sờ sờ mũi đao, lãnh đạm nói, “Trong tình huống ấy, thua tức là chết.”

    Giọng nói của nàng nghe vừa hay lại vừa cay nghiệt; khiến người khác bị mê hoặc, đợi tới khi hắn hiểu được ý tứ trong lời nói thì không nhịn được mà lạnh toát người.

    Hắn đành cười khổ: “Kế sách này quả thật rất thâm độc, tôi vốn dĩ cho rằng chỉ có người của Đường môn chúng tôi mới có thể nghĩ ra được.”

    “Nếu ngươi biết hiện giờ tiên sinh phải chịu dày vò thế nào ngươi sẽ hiểu, ta làm thế với ngươi đã là rất khách khí rồi!”, cuối cùng nàng cũng bỏ qua lễ mạo, khẩu âm càng lúc càng cao, hung ác quát nạt hắn.

    “Hắn phải rất quen mới đúng… Hắn vốn tàn phế đa bệnh, nhiều hay ít đi một chân vốn chẳng là gì”, biết rõ kiếp nạn khó tránh, Đường Tiềm vẫn cố ý chọc giận nàng.

    “Bốp” một tiếng, nàng vung tay tát tới, lực đạo rất mạnh, đánh tới mức hắn đầu váng mắt hoa. Kế đó nàng nhào tới, siết chặt cổ hắn.

    Đường Tiềm không có cách nào giãy giụa, mặt mày tái xanh, gần như sắp bị nàng bóp chết.

    “Tiên sinh từ nhỏ tới lớn không gây sự với người khác, chẳng tranh đua với đời, một lòng nhân đức chỉ biết trị bệnh cứu người, đến một con ruồi cũng không nỡ giết. Thế mà lại bị các người hành hạ thành bộ dạng ấy! Ngươi có biết ta hận các ngươi đến thế nào không?”, Ngô Du không kiềm chế được, toàn thân run lên bần bật, gào lên với hắn.

    Bị nàng bóp nghẹt, chỉ có thể hít thở gượng gạo Đường Tiềm gần như choáng ngất.

    “Nếu không phải vì lời thề ấy, hôm nay há ta lại có thể dễ dàng bỏ qua cho ngươi sao?”, móng tay của nàng dài, thoáng cái đã vạch đầy vết thương lên cổ hắn.

    Cuối cùng, nàng nén được lửa giận trong lòng, buông lòng tay ra, lạnh lùng hỏi: “Ta sẽ cứa một nhát đao lên chân ngươi, ngươi tự mình chọn đi, muốn để lại chân nào lành lặn?”.

    Cổ hắn vừa mới được buông lỏng, đang hít lấy hít để, một lúc sau mới buông hai chữ: “Chân phải…”.

    Ngô Du cười lạnh: “Được”.

    Rồi nhấc tay lên, một đao đâm xuống chân phải Đường Tiềm, nhát đao này xuyên qua đùi hắn, gần như ghim hắn xuống giường.

    Đường Tiềm đau tới mức cả người giật bắn lên, máu tuôn như suối.

    ***

    Chẳng mấy chốc nàng đã chìm vào giấc ngủ.

    Chàng lặng lẽ bò dậy khỏi giường, tới thư phòng.

    Cả buổi tối, vì chờ Hà Y trở về, chàng chẳng làm gì cả, bệnh án vẫn chất đầy ở đầu bàn, đến một cái cũng chưa mở ra.

    Vừa rồi ngồi quá lâu ở đình giữa hồ, nhiễm chút khí lạnh, cánh tay trái dùng để viết của chàng lập tức cảm thấy yếu ớt. Lúc phê sửa bệnh án, câu đầu còn có thể miễn cưỡng viết chữ nào chữ nấy to nhỏ như nhau, về sau, chữ bắt đầu càng lúc càng to, càng lúc càng tán loạn.

    Chàng nắm chặt bút, viết từng nét cừng nét, viết xong một hàng đã mệt tới mức mồ hôi ướt sũng.

    Tiếp đó, cả cổ tay cũng đau mỏi khó chịu, cầm bút cực kỳ khó khăn.

    Chàng đặt bút xuống một bên, đổi sang dùng tay khác.

    Bệnh phong thấp bên tay phải càng nghiêm trọng, khủyu tay đã mất linh hoạt, may mà vẫn còn có thể cầm bút.

    Cứ như thế, chàng tiếp tục viết thật chậm, cố sức viết. Với tốc độ thế này, cho dù có viết tới sáng mai cũng không xong nổi.

    Chàng tựa lên bàn viết hết một canh giờ mới chỉ phê sửa xong sáu phần mà đã mệt tới mắt hoa mày chóng. Sau đó, trong ngực lại dấy lên cơn nôn nao khó tả, gân mạch ở huyệt Thái Dương căng lên. Chữ trước mắt cứ bồng bềnh qua lại.

    Chàng vội vàng đặt bút xuống, ra sức xoa xoa hốc mắt.

    Trà đặt trong chén nguội lạnh, trà trong ấm đã cạn sạch.

    “Đây”, một giọng nói nhẹ nhàng sau lưng chàng vang lên, một chén trà nóng được đưa tới.

    Chàng đón lấy chén trà, một hơi uống cạn: “Một mình ta làm là được rồi, nàng đi ngủ đi, không cần để ý tới ta.”

    Chén trà rất nhỏ, nhìn kỹ hóa ra là chén rượu.

    Chàng kỳ quái nhìn nàng hỏi: “Sao lại dùng chén rượu?”.

    “Tay của chàng còn cầm nổi tách trà sao?”, nàng nhìn cổ tay đã hơi sưng lên của chàng, than đáp.

    Chàng vội vàng rụt tay vào tay áo: “Có lẽ là nhiễm chút lạnh, không cần lo, ta đã uống thuốc rồi, qua hai ngày nữa là ổn thôi.”

    “Để thiếp giúp chàng. Chàng đọc thiếp viết, có điều không được chê bai chữ của thiếp đâu nhé! Dẫu có tệ cũng còn khỏe khoắn hơn chữ chàng bây giờ”, nàng chen ngồi lên ghế của chàng, với tay cầm lấy bút.

    Có lẽ là vì có liên quan tới luyện kiếm, chữ của Hà Y không hề tệ. Hai năm vừa rồi, nàng đã theo chàng học được khá nhiều chữ.

    “Không cần…”, chàng mệt mỏi tới mức cả người đổ tựa lên lưng nàng.

    “Lại còn khách khí với thiếp nữa?”, nàng huých huých chàng, cười nói, “Nói đi, viết cái gì, Mộ Dung đại sư.”

    “Mạch căng mỏng mà khẽ, đấy là đường kinh mạch Dương minh hư nhược.”

    Nàng hý hoáy một thoáng đã viết xong rồi.

    “Sao nhanh thế?”, chàng hơi ngạc nhiên. Tay Hà Y tuy chẳng có bệnh gì nhưng viết chữ thì hơi lề mề.

    Xem lại, hoàn toàn không sai gì cả.

    “Đã phục thiếp chưa? Đây chính là dùng kiếm pháp luyện thư pháp… Hì hì, chính là cái bà Công Tôn đại nương gì gì mà chàng nói đấy”, nàng dương dương đắc ý.

    “Phục lăn rồi”, chàng bật cười, tiếp tục đọc, “Dạ dày khí hư, khí ở kinh mạch cũng hư yếu. Cho nên rất kỵ gió lạnh. Đầu tiên cho uống mấy đợt Phụ tử lý trung hoàn, để làm ấm bên trong…”

    “Hồ ly cái gì hoàn?”, Hà Y hỏi lại.

    “Phụ tử lý trung hoàn”, Mộ Dung Vô Phong chỉnh lại.

    “Là mấy chữ thế này phải không?”, nàng viết ra cho chàng xem.

    “Không sai.”

    “Kế đến là dùng Thăng ma thang cho thêm Phụ tử để thông kinh mạch.”

    “Trước giờ thiếp vốn cho rằng có ‘Món gì đó’, hóa ra còn cả “Canh gì đó’[5]”, Hà Y bật cười ha ha.

    [5] Trong tiếng Trung “Canh gì đó” và “Thăng ma thang” có âm đọc gần giống nhau.

    “Là ‘Thăng ma thang’. Thăng trong ‘cao thăng’, Ma trong ‘ma dược’”, Mộ Dung Vô Phong sửa lại cho nàng.

    “Trước công bên trong, sau trừ bỏ phong nhiệt trong kinh mạch, cho nên Thăng ma thang thêm Hoàng liên, lấy hàn trị nhiệt.”

    Chàng lại quan sát, mấy câu này Hà Y lại viết đúng hết.

    Lúc Hà Y tập chữ, toàn dùng mấy bệnh án kiểu này để đọc. Chỗ nào đọc không hiểu, chàng thường giải thích cho nàng, thế nên đối với cú pháp cho tới từ vựng mà người hành nghề y thường dùng với Hà Y xem như cũng không xa lạ.

    “Đơn thuốc này thế là sửa xong rồi”, chàng vuốt ve đầu Hà Y, “Có lão bà giúp đỡ, quả nhiên nhanh hơn bao nhiêu.”

    “Không nói sớm! Cứ một mình lao tâm khổ tứ hì hục ở đây từ nãy tới giờ…”

    Thân thể xinh xắn nhỏ nhắn kia cứ xoay qua xoay lại trước mặt chàng, mái tóc dài bồng bềnh sau gáy, cứ mỗi lần quay đầu là lại khẽ quệt qua cằm chàng.

    Mộ Dung Vô Phong không nén được mà nảy sinh chút phiền muộn.

    Những ngày tháng thế này liệu còn được bao lâu nữa?
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này