Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. Sầu Đầy tớ nhân dân!

    Làm thành viên từ:
    11 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,175
    Đã được thích:
    544
    Điểm thành tích:
    203
    [IMG]
    Hồn ma sành điệu” là một câu chuyện về ma vui nhộn nhưng cũng có thể làm độc giả phải rơi nước mắt.

    Lara gặp đủ mọi rắc rối, từ khó khăn của công ty mới thành lập đến việc bị bạn thân lừa dối, người yêu bỏ rơi… Nhưng tất cả các tình huống ấy chưa phải là vấn đề. Vấn đề là linh hồn của người dì Sadie mới qua đời, trở về dưới hình dạng một cô gái thập niên hai mươi – sành điệu, nổi loạn, vui nhộn và đầy quyến rũ. Hồn ma này cứ quyết đòi Lara phải tìm một chuỗi hạt quý thì mới thanh thản ra đi.

    Lara bước vào một cuộc phiêu lưu mới đi tìm chuỗi hạt quý. Nhưng chính hành trình tìm kiếm này đã gắn chặt hai cô gái với nhau, và họ nhận ra giá trị của tuổi trẻ, tình yêu, tình cảm gia đình, lòng dũng cảm vượt qua khó khăn.

    Sophie Kinsella, tên thật là Madeleine Wickham, sinh ra tại London. Tác giả từng là giáo viên và phóng viên tài chính. Sophie Kinsella là tác giả của loạt truyện dành cho tuổi thiếu niên nổi tiếng “Tín đồ shopping” và lọt vào danh sách tác giả có sách bán chạy hàng đầu thế giới.

    Tờ USD Today nhận xét về cuốn “Hồn ma sành điệu” của Sophie Kinsella rằng: “Kinsella lại tiếp tục thọc lét và làm cay mắt độc giả”.
    CHỦ ĐỀ NGẪU NHIÊN CÙNG CHUYÊN MỤC
    CHIA SẺ Share






    Chia sẻ trang này

  2. Sầu Đầy tớ nhân dân!

    Làm thành viên từ:
    11 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,175
    Đã được thích:
    544
    Điểm thành tích:
    203
    Hồn ma – chương 1

    Chương 1
    Về chuyện nói dối bố mẹ, ta phải làm vậy để bảo vệ họ. Vì muốn tốt cho họ thôi. Ý tôi là giả dụ như bố mẹ tôi chẳng hạn. Nếu họ biết sự thật trần trụi về tình hình tài chính/ yêu đương/ hệ thống ống nước/ thuế địa phương của tôi thì hẳn họ sẽ lên cơn đau tim ngay tức khắc và bác sĩ hỏi, “Ai khiến họ bị sốc kinh khủng đến thế?” và tất cả đều là lỗi của tôi. Thế nên, bố mẹ tới căn hộ của tôi được gần mười phút rồi mà tôi đã nói dối họ những điều sau đây:
    1. Công ty Tư Vấn Nhân Sự cấp cao L&N sẽ bắt đầu sinh lợi sớm thôi, tôi chắc chắn về điều đó.
    2. Natalie là cạ làm ăn tuyệt vời và tôi thật sáng suốt khi quẳng công việc cũ đi để chuyển sang làm săn đầu người cùng cô ấy.
    3. Đương nhiên tôi không chỉ sống bằng pizza, sữa chua anh đào đen với vodka.
    4. Có chứ, tôi hiểu vé phạt đỗ xe càng trả chậm thì càng bị tính thêm lãi.
    5. Rồi, tôi đã xem cái đĩa DVD Charles Dickens bố mẹ tặng hồi Giáng sinh rồi, hay tuyệt, nhất là cái cô đội mũ bô nê ấy. Đúng rồi, Peggotty. Tôi định nói cái cô đó.
    6. Đúng là tôi định mua thiết bị báo cháy vào cuối tuần này, thật là trùng hợp bố mẹ lại nhắc đến nó.
    7. Đúng thế, sẽ thật tuyệt khi được gặp mặt cả đại gia đình.
    Bảy lời nói cuội. Chưa kể những câu về bộ đồ của mẹ. Mà chúng tôi còn chưa đụng chạm đến Chủ đề.
    Khi tôi bước ra khỏi phòng ngủ trong bộ váy đen và chuốt vội chuốt vàng mascara, tôi thấy mẹ đang nhìn cái hóa đơn điện thoại đã quá hạn trên bệ lò sưởi.
    “Mẹ yên tâm,” tôi nói nhanh. “Con sẽ giải quyết mà.”
    “Nhưng, nhỡ con không trả lời được,” mẹ nói, “thì họ sẽ cắt điện thoại và con sẽ tốn khá nhiều thì giờ lắp đặt lại đấy, mà sóng di động ở đây sao cứ chập chà chập chờn vậy. Nhỡ có chuyện khẩn cấp thì sao? Con sẽ làm gì?” Trán mẹ cau lại vì lo lắng. Nhìn mẹ cứ như thể chuyện đó xảy ra đến nơi rồi; như thể có bà nào đang rặn đẻ trên giường mà nước lụt thì đang dâng lên bên ngoài cửa sổ và chúng tôi phải làm thế nào để liên lạc được với trực thăng đây? Làm thế nào?
    “Ờ… con chưa nghĩ tới chuyện đó. Mẹ à, con sẽ thanh toán hóa đơn. Thật mà.”
    Mẹ lúc nào cũng cứ lo quýnh lên vậy đấy. Bà đón nhận nụ cười căng thẳng này bằng ánh mắt dè dặt sợ hãi, và bạn biết là một viễn cảnh thảm khốc nào đó đang diễn ra trong đầu bà. Trông bà giống y như vậy ở lễ trao bằng tốt nghiệp của tôi, và sau đó mới thú nhận là lúc ấy đột nhiên bà để ý thấy có cái đèn chùm móc vào sợi xích yếu ớt, thế là bà bắt đầu bị ám ảnh bởi ý nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó rơi xuống đầu lũ con gái và vỡ tan thành từng mảnh?
    Bà giật mạnh cái áo vest đen rộng thùng thình có cầu vai và hàng khuy kim loại kỳ dị. Tôi nhớ mang máng đâu hồi mười năm trước, khi mẹ đi phỏng vấn xin việc, tôi đã dạy bà mọi thủ thuật máy tính cơ bản nhất kiểu như dùng chuột như thế nào. Rốt cuộc bà đi làm cho một hội từ thiện cho trẻ em, chẳng có quy định nào về việc ăn mặc cả, ơn Chúa.
    Nhà tôi chẳng ai hợp màu đen. Bố thì mặc một bộ com lê may bằng loại vải đen xỉn làm cho mọi đường nét cơ thể của ông cứ phẳng lì. Thực ra thì ông cũng khá đẹp trai, bố tôi đấy mà, theo kiểu nhỏ xương, khó nhận thấy. Tóc bố màu nâu và thưa, còn tóc mẹ sáng màu và thưa giống tóc tôi. Trông cả hai thực sự rất ổn khi họ thoải mái và ở đúng chỗ của mình – thí dụ như khi họ cùng ở Cornwall trên chiếc thuyền cũ ọp ẹp của bố, mặc áo khoác nỉ và ăn bánh nướng. Hoặc khi bố mẹ chơi nhạc trong dàn hợp xướng nghiệp dư của địa phương, nơi họ gặp nhau lần đầu. Nhưng hôm nay thì cả hai chẳng ai thoải mái cả.
    “Vậy xong rồi chứ con?” Mẹ liếc đôi bàn chân mang bít tất của tôi. “Giày con đâu, con yêu?”
    Tôi ngồi phịch xuống sofa. “Con phải đi à?”
    “Lara!” mẹ nói, vẻ trách móc. “Cụ là bà dì của con. Con biết là cụ đã 105 tuổi rồi.”
    Mẹ nói với tôi về chuyện bà dì đã 105 tuổi gần 105 lần rồi. Tôi chắc chắn đó là vì mẹ chỉ biết mỗi thế về bà.
    “Thì sao? Con đâu có biết bà. Chẳng ai trong chúng ta biết cả. Chuyện này thật ngớ ngẩn. Tại sao chúng ta lại phải lết đến Potters Bar chỉ vì một bà già lụ khụ nào đó mà chúng ta chưa bao giờ gặp mặt?” Tôi ưỡn vai lên, cảm thấy giống một đứa bé ba tuổi đang hờn dỗi hơn là một cô gái hai mươi bảy trưởng thành có công ty riêng.
    “Chú Bill và những người khác đều đến,” bố nói. “Và nếu họ có thể cố gắng làm thế…”
    “Thì đây là một sự kiện đặc biệt của gia đình!” mẹ nhanh trí xen vào.
    Vai tôi ưỡn lên cao hơn. Tôi dị ứng với những sự kiện gia đình. Đôi khi tôi nghĩ người ta sẽ sống tốt hơn nếu được là hạt bồ công anh – không gia đình, không lịch sử, chỉ trôi nổi trong thế giới, mỗi hạt ở trên túm lông của mình.
    “Sẽ không lâu đâu,” mẹ dỗ dành.
    “Có mà.” Tôi nhìn chằm chằm vào tấm thảm. “Và mọi người sẽ hỏi con về… tình hình đâu.”
    Im lăng. Chủ đề lơ lửng trong không trung. Như thể tất cả chúng tôi đều đang tránh nhìn vào nó vậy. Cuối cùng bố xông lên.
    “Nào! Nói về… tình hình đi.” Ông ngập ngừng. “Nhìn chung con… ổn chứ?”
    Tôi có thể thấy mẹ đang lắng nghe với vẻ cảnh giác siêu cao độ, dù bà đang giả đò chải tóc.
    “Ờ thì, bố biết đấy,” tôi ngừng một chút rồi nói. “Con ổn. Ý con là, bố mẹ không thể hy vọng vụt cáo con lại trở lại như…”
    “Không, đương nhiên là không rồi!” bố lùi lại ngay tức khắc. Rồi ông lại cố. “Nhưng tinh thần con… vẫn tốt chứ?”
    Tôi gật đầu đồng ý.
    “Tốt!” mẹ nói, trông nhẹ nhõm hẳn. “Mẹ biết con đã vượt qua… tình hình.”
    Bố mẹ tôi không nói toạc ra cái tên “Josh” nữa, bởi tôi thường có cái kiểu bật khóc nức nở mỗi khi nghe nhắc tới tên anh. Có một thời gian mẹ gọi anh là “Kẻ Không Được Gọi Tên”. Giờ anh chỉ là “tình hình”.
    “Thế con không… liên lạc lại với nó đấy chứ?” bố đang nhìn thứ gì đó chứ không phải tôi, còn mẹ thì chú mục vào cái xắc tay.
    Lại một lời nói trại nữa. Ý ông là, “Thế con có còn gửi cho nó mấy tin nhắn ám ảnh nữa không?”
    “Không,” tôi đáp, đỏ mặt. “Con không làm vậy, được chưa?”
    Bố thật bất công khi khơi ra chuyện đó. Thực ra thì toàn bộ câu chuyện đã hoàn toàn bị thổi phồng lên quá mức. Tôi chỉ gửi cho Josh vài tin nhắn. Ba tin một ngày thì phải. Có nhiều nhặn gì đâu. Mà chúng không hề ám ảnh. Những tin nhắn ấy chỉ là tôi đang thành thật và cởi mở, với lại người ta vẫn cho là trong quan hệ thì cần phải như thế.
    Ý tôi là, người ta không thể dập tắt tình cảm của mình chỉ bởi vì người khác đã làm vậy, đúng không? Người ta không thể đơn giản nói, “Ra thế! Vậy kế hoạch của anh là chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa, không bao giờ làm tình nữa, không bao giờ nói chuyện hay liên lạc dưới bất cứ hình thức nào nữa. Quả là một ý tưởng phi thường Josh ạ, sao em lại không nghĩ ra nhỉ?”
    Thế nên chuyện xảy ra là, bạn viết ra những tình cảm chân thật của mình trong một tin nhắn đơn giản vì bạn muốn chia sẻ, rồi chỉ một phút sau anh bồ cũ của bạn đổi ngay số điện thoại và mách với bố mẹ bạn. Đúng là cái đồ mách lẻo.
    “Lara, bố biết con rất đau long, và thời gian này con đang khổ sở lắm.” Bố hắng giọng. “Nhưng đã gần hai tháng rồi mà con. Con con phải sống tiếp chứ, con yêu. Hãy gặp gỡ những chàng trai khác xem… cứ đi chơi và tận hưởng niềm vui…”
    Ôi Chúa ơi, tôi không thể đương đầu với một bài thuyết giáo nữa của bố về chuyện vô khối đàn ông sẽ quỳ mọp xuống chân một nhan sắc như tôi. Ý tôi là, trước tiên, chẳng có người đàn ông nào như vậy trên thế giới này cả, ai cũng biết thế. Và một cô gái cao chưa đầy mét sáu, mũi hếch mà lại chẳng rám nắng chút nào thì không hẳn là một cô gái đẹp.
    OK. Tôi biết đôi lúc trông mình cũng khá ổn. Tôi có gương mặt hình trái tim, đôi mắt xanh lục cách xa nhau và vài đốm tàn nhang nhỏ trên mũi. Trên hết tôi còn có đôi môi mọng gợi cảm chẳng giống ai trong nhà. Nhưng tin tôi đi, tôi chả phải siêu mẫu gì.
    “Vậy, đó có phải là điều bố mẹ đã làm khi hai người chia tay hồi ở Polzeath không? Đi chơi và gặp gỡ những người khác ấy?” Tôi không kìm lại được, dù làm vậy là bới móc chuyện cũ. Bố thở dài liếc nhìn mẹ.
    “Lẽ ra chúng ta không bao giờ nên kể với nó chuyện đó,” mẹ thì thào, xoa trán. “Lẽ ra chúng ta không bao giờ được nhắc đến chuyện đó…”
    “Vì nếu bố mẹ làm thế,” tôi nói tiếp không hề lay chuyển, “Bố mẹ đã không bao giờ trở lại đây cùng nhau, đúng không? Bố đã không giờ nói rằng bố là cái vĩ cho cây vĩ cầm của mẹ và mẹ cũng đã không bao giờ lấy chồng.”
    Cái câu về cái vĩ và cây vĩ cầm này đã đi vào kho truyện lưu truyền của gia đình tôi. Tôi được nghe kể chuyện này hàng tỷ tỷ lần rồi. Bố đến nhà mẹ, ướt sũng mồ hôi vì đạp xe, còn mẹ thì đang khóc nhưng lại vờ như bị cảm lạnh, rồi họ làm lành và bà ngoại mang cho họ trà cùng với bánh quy bơ giòn. (Tôi chẳng biết vụ bánh quy bơ này thì liên quan gì nhưng nó luôn luôn được nhắc đến).
    “Lara, con yêu,” mẹ thở dài. “Chuyện đó rất khác, lúc ấy bố mẹ yêu nhau được ba năm rồi, bố mẹ đã đính hôn…”
    “Con biết!” Tôi chống chế. “Con biết chuyện đó khác. Con chỉ định nói là đôi khi người ta vẫn quay lại với nhau. Chuyện đó có xảy ra mà.”
    Im lặng.
    “Lara, con lúc nào cũng lãng mạn…” bố bắt đầu.
    “Con không lãng mạn!” tôi kêu toáng lên, như thể bị xúc phạm khủng khiếp vậy. Tôi đang nhìn chằm chằm vào tấm thảm, lấy ngón châm miết lên mặt thảm mịn, nhưng tôi có thể thoáng thấy bố mẹ đang mấp máy môi một cách dữ dội đùn đẩy nhau nói tiếp. Mẹ đang lắc đầu và chỉ vào bố như thể muốn nói, “Anh nói đi!”
    “Khi con chia tay với ai đó,” bố lại bắt đầu với vẻ vội vã lúng túng, “dễ có chuyện ngoái nhìn lại và nghĩ rằng cuộc sống sẽ hoàn hảo nếu các con quay lại với nhau. Nhưng…”
    Ông lại định bảo tôi rằng cuộc đời giống chiếc thang cuốn. Tôi phải chặn ngay.
    “Bố. Nghe con này. Xin bố đấy.” Chẳng hiểu sao tôi lại lấy được cái giọng điềm tĩnh nhất. “Bố mẹ hiểu lầm hết rồi. Con không muốn quay lại với Josh.” Tôi cố gắng nói nghe như thể đó là một ý nghĩ lố bịch. “Đó không phải là lý do tại sao con nhắn tin cho anh ta. Con chỉ muốn kết thúc. Ý con là, anh ta cắt đứt mà không hề báo trước, không nói chuyện, không bàn bạc gì cả. Con chẳng hề có một lời giải đáp nào. Nó giống như… một công việc chưa hoàn tất. Nó giống như đọc một cuốn truyện của Agatha Christie mà chẳng bao giờ biết được kẻ nào là thủ phạm!”
    Thế. Giờ thì họ sẽ hiểu.
    “Ờ,” cuối cùng bố lên tiếng. “Bố có thể hiểu nỗi thất vọng của con…”
    “Đó là tất cả những gì con muốn,” tôi cố hết sức nói sao cho thuyết phục. “Để hiểu Josh đang nghĩ gì. Để nói cho ta nhẽ. Để giao tiếp với nhau như những con người có văn hóa.”
    Và để quay lại với anh ấy, tâm trí tôi thêm vào, giống như một mũi tên lặng lẽ, chân thực.Vì con biết Josh vẫn còn yêu con, mặc dù chẳng ai nghĩ thế.
    Nhưng nói vậy chẳng có tác dụng gì với bố mẹ tôi cả. Họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được. Làm sao họ hiểu được chứ? Họ chẳng có chút khái niệm gì về việc Josh và tôi là một cặp tuyệt vời ra sao; chúng tôi hợp nhau hoàn hảo đến mức nào. Họ không hiểu rằng rõ rang là anh đã có một quyết định hoang mang vội vã, trẻ con dựa trên một lý do không hề tồn tại nào đó, có lẽ vậy, và nếu tôi có thể nói chuyện với anh thì sẽ thế nào, tôi chắc chắn là mình có thể giải quyết mọi chuyện êm thấm và chúng tôi sẽ lại về bên nhau.
    Đôi khi tôi cảm thấy mình đi trước bố mẹ rất xa, chắc hẳn giống như Einstein khi bạn bè ông cứ nói, “Vũ trụ phẳng, Albert ạ, tin chúng tôi đi,” mà ông đang thầm nghĩ trong lòng rằng, “Tôi biết là nó cong. Một ngày nào đó tôi sẽ cho các anh thấy.”
    Bố mẹ lén mấp máy môi với nhau lần nữa. Tôi nên chấm dứt nỗi khốn khổ của họ thôi.
    “Mà bố mẹ cũng không phải lo lắng cho con đâu,” tôi nói vội. “Vì con đã vượt qua. Ý con là, thì vâng, có lẽ con chưa hoàn toàn vượt qua,” tôi sửa lại khi nhìn thấy vẻ mặt hồ nghi của bố mẹ, “nhưng con đã chấp nhận sự thật là Josh không muốn nói chuyện. Con đã nhận ra rằng bọn con không có duyên với nhau. Con đã rút ra được nhiều điều về bản than, và… con ổn cả. Thật đấy.”
    Tôi dán lên mặt mình một nụ cười. Tôi có cảm giác như đang niệm câu thần chú của một tôn giáo lập dị nào đó. Lẽ ra giờ tôi nên mặc áo thụng dài và đánh trống lục lạc.
    Úm ba la… Con đã vượt qua được… Úm ba la… Con ổn cả…
    Bố mẹ nhìn nhau. Tôi không biết họ có tin tôi không, nhưng ít ra tôi đã mở ra cho cả ba một lối thoát khỏi cuộc nói chuyện không hề dễ chịu này.
    “Phải có tinh thần thế chứ!” bố nói, trông nhẹ nhõm hẳn. “Cừ lắm, Lara, bố biết con sẽ vượt lên được. Và con còn phải tập trung vào chuyện làm ăn với Natalie, công việc rõ rang là đang tiến triển vô cùng tốt đẹp…”
    Nụ cười của tôi thậm chí còn gian tà hơn. “Hoàn toàn đúng!”
    Úm ba la… công việc của con đang tiến triển tốt… Úm ba la… nó không hề là một thảm họa…
    “Mẹ rất mừng là con đã vượt qua chuyện này.” Mẹ bước tới hôn lên đỉnh đầu tôi. “Giờ thì chúng ta xuất phát thôi. Tìm đôi giày đen đi vào đi con, chóng lên!”
    Thở dài một tiếng bực bội tôi nhúc nhích đôi chân và lê vào phòng ngủ. Hôm nay là ngày thứ Bảy nắng giòn. Thế mà tôi phải dành nó cho một sự kiện gia đình gớm guốc liên quan đến một người 105 tuổi đã chết. Đời sao có lúc ngao ngán thế.
    Khi chúng tôi rẽ vào bãi đỗ xe nhỏ xám xịt ở Trung tâm Tang lễ Potters Bar, tôi thấy có một đám người đứng bên ngoài cửa ngách. Rồi tôi thoáng thấy một chiếc máy quay và một chiếc micro nùi bong nhấp nhô trên đầu họ.
    “Có chuyện gì vậy?” Tôi thò đầu ra khỏi cửa kính xe. “Lại có vụ gì về chú Bill sao?”
    “Có lẽ vậy.” Bố gật đầu.
    “Mẹ nghĩ là có người đang quay một bộ phim tài liệu về chú ấy,” mẹ xen vào. “Cô Trudy có nhắc tới chuyện này rồi. Về cuốn sách của chú ấy.”
    Đây là chuyện xảy ra khi một người thân của bạn là người nổi tiếng. Bạn quen với việc đi đâu cũng thấy máy quay. Và mọi người sẽ hỏi bạn, khi bạn giới thiệu mình, rằng “Lington ư? Có liên quan gì tới Cà phê Lingtons không, ha ha?” rồi lặng người khi bạn đáp có, “Có.”
    Chú Bill của tôi chính là Bill Lington, người sáng lập Cà phê Lingtons từ hai bàn tay trắng hồi chú ai mươi sáu và phát triển nó thành một đế chế chuỗi cửa hiệu cà phê có mặt trên khắp thế giới. Khuôn mặt chú in hình trên mọi cốc cà phê, khiến chú thậm chí còn nổi tiếng hơn cả ban Beatles hay đại loại thế. Bạn sẽ nhận ra chú nếu gặp chú. Và hiện giờ thậm chí chú còn nổi đình nổi đám hơn nữa vì vừa xuất bản hồi ký Hai đồng xu nhỏ bé hồi tháng trước và hiện đang là một bestseller. Hình như Pierce Brosnan sẽ thủ vai chú trong bộ phim.
    Đương nhiên là tôi đã đọc từ đầu chí cuối. Cả cuốn sách nói về chuyện chú đã vét nhẵn tới tận hai mươi xu cuối cùng để mua một tách cà phê rồi nó dở đến mức khiến chú nảy ra ý tưởng mở một cửa hiệu cà phê. Thế là chú mở cửa hiệu, rồi phát triển thành một chuỗi cửa hàng, và giờ thì chú hầu như đã sở hữu cả thế giới. Biệt danh của chú là “Nhà Giả Kim”, và theo một bài báo năm ngoái, toàn bộ giới kinh doanh đều muốn biết bí quyết thành công của chú.
    Đó là lý do vì sao chú tổ chức các buổi hội thảo “Hai đồng xu nhỏ bé”. Mấy tháng trước tôi đã bí mật đến một trong các buổi hội thảo đó. Chỉ là để xem mình có thể học được thủ thuật nào trong việc tiến hành công việc làm ăn mới toanh không. Hai trăm người đến dự buổi hôm ấy, tất cả đều nuốt lấy từng lời, và đến cuối buổi chúng tôi phải cầm hai đồng xu giơ lên mà nói “Đây là khởi đầu của tôi”. Thật rẻ tiền và đáng xấu hổ, nhưng mọi người xung quanh tôi lại có vẻ thực sự tràn đầy cảm hứng. Về phần tôi, tôi đã nghe kỹ từ đầu đến cuối mà vẫn chả hiểu chú ấy đã làm việc đó như thế nào.
    Ý tôi là, chú ấy mới hai mươi sáu khi kiếm được triệu bảng đầu tiên. Hai mươi sáu! Chú ấy vừa bắt tay vào kinh doanh là đã thành công ngay. Trong khi tôi khởi nghiệp từ sáu tháng trước và ngay lập tức trở thành kẻ đầu óc có vấn đề.
    “Có lẽ một ngày nào đó con và Natalie cũng sẽ viết một cuốn sách về việc kinh doanh của hai đứa!” mẹ nói, như thể đọc được ý nghĩ của tôi vậy.
    “Việc thống trị toàn cầu chỉ còn là nay mai nữa thôi,” bố phụ họa nhiệt tình.
    “Nhìn kìa, có con sóc!” tôi hấp tấp chỉ ra ngoài cửa kính xe. Bố mẹ đã rất ủng hộ công việc kinh doanh của tôi, tôi không thể nói với họ sự thật. Vì vậy phải chuyển chủ đề ngay khi họ đề cập đến.
    Chính xác mà nói thì mẹ không ủng hộ ngay lập tức. Thực ra có thể nói là khi tôi mở miệng tuyên bố bỏ công việc marketing và đem toàn bộ tiền tiết kiệm đi mở một công ty săn đầu người trong khi chưa từng làm công việc ấy bao giờ trong đời hay biết chút xíu gì về nó thì mẹ tôi suýt ngất.
    Nhưng bà đã bình tĩnh lại khi nghe tôi giải thích là tôi sẽ làm ăn cùng với cô bạn thân Natalie. Và rằng Natalie là người làm nghề tư vấn nhân sự cực giỏi, cô ấy sẽ điều hành công việc trước còn tôi sẽ làm quản trị cùng marketing đồng thời tự học kỹ năng tư vấn nhân sự. Rằng chúng tôi đã có một vài hợp đồng đang chờ và sẽ trả hết khoản vay ngân hàng ngay.
    Nghe giống như một kế hoạch tươi sáng. Nó đúng là một kế hoạch tươi sáng mà. Cho tới tháng trước khi Natalie đi nghỉ, yêu một gã vô công rỗi nghề suốt ngày nằm thư giãn trên bãi biển ở Goa, rồi một tuần sau viết cho tôi lá thư bảo không biết lúc nào mới về, mọi dữ liệu đều trong máy tính và tôi sẽ ổn thôi và song ở đó tuyệt lắm, tôi nên đến chơi, hôn thắm thiết.
    Tôi sẽ không bao giờ hợp tác làm ăn với Natalie nữa. Không bao giờ.
    “Nó tắt rồi chứ hả?” mẹ chọc chọc chiếc điện thoại di động của mình vẻ không chắc chắn. “Em không thể để nó đổ chuông trong lúc buổi lễ diễn ra được.”
    “Xem nào.” Bố đánh xe vào chỗ đỗ, tắt máy và cầm lấy điện thoại. “Em muốn để chế độ ‘im lặng’ hả.”
    “Không!” mẹ hốt hoảng. “Em muốn tắt hẳn! Chế độ im lặng có thể gặp trục trặc!”
    “Được rồi.” Bố ấn nút bên rìa. “Tắt rồi.” Bố trả lại điện thoại cho mẹ, bà nhìn nó đầy lo âu.
    “Thế ngộ nhỡ tự dưng nó lại bật lên khi nằm trong túi xách của em thì sao?” Bà nhìn cả hai bố con tôi khẩn nài. “Anh biết là chuyện này đã xảy ra với Mary lúc ở câu lạc bộ du thuyền mà. Cái thứ đó đã sống dậy trong túi xách của cô ấy khi cô ấy đang làm giám khảo. Họ bảo chắc cô ấy đã va hay chạm vào nó kiểu gì đó…”
    Giọng của bà vót lên và trở nên đứt quãng. Cứ hễ nghe giọng mẹ như thế là chị Tonya mất kiên nhẫn và nổi quạu, “Đừng có ngớ ngẩn thế mẹ, đương nhiên là điện thoại của mẹ sẽ không tự động bật lại được!”
    “Mẹ.” Tôi nhẹ nhàng lấy chiếc điện thoại ra khỏi tay bà. “Sao chúng ta không để nó lại trong xe nhỉ?”
    “Đúng rồi.” Mẹ đỡ căng thẳng một chút. “Đúng rồi. Ý hay đấy. Mẹ sẽ cất nó vào ngăn để găng tay.”
    Tôi liếc sang bố, bố nhìn tôi hơi mỉm cười. Tội nghiệp mẹ. Mấy cái chuyện diễn ra trong đầu mẹ thật hết sức vớ vẩn phi lý. Thực sự là bà cần phải nhìn nhìn mọi việc đúng mức.
    Khi chúng tôi tới trung tâm tang lễ, tôi nghe thấy cái giọng lè nhè đặc trưng của chú Bill vọng ra, và quả vậy, khi chúng tôi len qua một đám đông nhỏ thì thấy chú ấy đang ở đó, mặc áo jacket da, da rám đều và mái tóc bồng bềnh. Ai cũng biết là chú Bill bị ám ảnh chuyện tóc tai. Nó dày, tốt um và đen nhánh, và nếu có tờ bào nào có ý bảo chú nhuộm tóc là chú dọa sẽ kiện họ ngay.
    “Gia đình là quan trọng nhất,” chú đang trả lời một người phỏng vấn vận đồ jean. “Gia đình là hòn đá tảng cho tất cả chúng ta đứng. Nếu phải cắt ngang lịch làm việc của mình vì một đám tang, tôi sẽ làm thế.” Tôi có thể thấy sự ngưỡng mộ lan ra khắp đám đông. Một cô gái, đang cầm một cốc cà phê Lingtons mang về, nhìn sang bên cạnh và liên tục thì thầm vào tai cô bạn, “Đích thị là ông ấy!”
    “Xin lỗi, chúng ta phải dừng lại ở đây thôi…” Một trợ lý của chú Bill đến gần người quay phim. “Bill phải vào nhà tang lễ. Cảm ơn các cậu. Chỉ một vài chữ ký thôi…” ông ta nói thêm với đám đông.
    Chúng tôi kiên nhẫn đứng đợi bên cạnh cho tới khi chú Bill ký xoèn xoẹt lên cốc cà phê và tờ chương trình tang lễ của từng người bằng một chiếc bút đánh dấu Sharpie, trong khi máy quay ghi hình họ. Rồi cuối cùng họ cũng tản mát dần và chú Bill dẫn đầu đoàn chúng tôi đi vào.
    “Chào Michael. Rất vui gặp lại anh.” Chú bắt tay bố rồi ngay lập tức quay lại nói với một trợ lý. “Anh gọi được cho Steve chưa?”
    “Đây ạ.” Viên trợ lý vội vàng đưa cho chú Bill một chiếc điện thoại.
    “Chào Bill!” Bố thì bất kể lúc nào cũng lịch sự với chú Bill. “Lâu rồi nhỉ. Chú dạo này thế nào? Chúc mừng cuốn sách của chú.”
    “Cảm ơn chú vì cuốn sách chú ký tặng!” mẹ vui vẻ xen vào.
    Bill gật cái rụp với cả nhà tôi, rồi nói thẳng vào điện thoại. “Steve, tôi nhận được email của anh rồi.” Bố mẹ liếc nhìn nhau. Rõ rang đây là kết cục đoàn viên của đại gia đình chúng tôi.
    “Đi xem chúng ta phải đi vào đâu nào,” mẹ thì thào với bố. “Lara, con vào chưa đấy?”
    “Con sẽ ở ngoài này một chút,” đột nhiên tôi nói. “Gặp bố mẹ trong đó nhé!”
    Tôi chờ tới lúc bố mẹ đã đi cả, rồi mon men tới gần chú Bill. Tôi vừa chợt nảy ra một kế hoạch đen tối. Tại buổi hội thảo, chú Bill đã nói rằng chìa khóa thành công cho bất cứ doanh nhân nào là nắm lấy mọi cơ hội. Ờ, tôi là một doanh nhân phải không nào? Và đây là cơ hội, đúng không?
    Tôi chờ đến khi có vẻ chú đã nói chuyện xong, mới ngập ngừng nói, “Chào chú Bill. Cháu nói chuyện với chú một lát được không?”
    “Chờ đã.” Chú giơ một tay lên, và áp chiếc Blackberry vào tai. “Chào Paulo. Chuyện gì thế?” Mắt chú đảo lại phía tôi và chú vẫy tay ra hiệu, tôi đoán là ý bảo tôi cứ nói đi.
    “Chú có biết giờ là cháu đang mở công ty tư vấn nhân sự không?” Tô nở một nụ cười căng thẳng. “Cháu đang hợp tác với một cô bạn học. Bọn cháu đặt tên công ty là công ty Tư vấn Nhân sự Cấp cao L&N. Cháu có thể kể với chú về công việc làm ăn của bọn cháu không?”
    Chú Bill nhíu mày vẻ suy nghĩ với tôi trong giây lát và nói, “Giữ máy nhé Paulo.”
    Ối trời! Chú ấy cắt ngang cuộc gọi của mình kìa! Vì tôi!
    “Bọn cháu chuyên tìm kiếm các cá nhân có trình độ cao, năng động cho các vị trí quản lý cấp cao,” tôi nói, cố gắng không lắp bắp. “Cháu không biết là liệu cháu có thể nói chuyện với ai đó ở phòng Nhân sự bên chú, giải thích các dịch vụ của bọn cháu, có thể sẽ cùng nhau tạo dựng…”
    “Lara.” Chú Bill giơ một tay lên ngắt lời tôi. “Cháu sẽ nói sau nếu chú giúp cháu liên hệ với Trưởng phòng Nhân sự của chú và bảo cô ấy” ‘Đây là cháu gái tôi, hãy cho cô ấy một cơ hội’?”
    Tôi thấy sung sướng muốn nổ tung. Tôi muốn hát vang Hallelujah. Hành động mạo hiểm của tôi đã thành công!
    “Cháu sẽ nói cảm ơn chú rất nhiều, chú Bill!” tôi kiềm chế, cố giữ bình tĩnh. “Cháu sẽ làm hết sức mình, cháu sẽ làm suốt ngày suốt đêm, cháu vô cùng cảm kích…”
    “Không.” Chú cắt ngang. “Không phải thế. Cháu sẽ không tôn trọng mình.”
    “S-sao cơ ạ?” tôi ngừng lại vì bối rối.
    “Chú bảo là không.” Chú nở một nụ cười trắng lóa. “Thế là chú ban ơn cho cháu đấy, Lara ạ. Nếu cháu tự mình làm nên thì cháu sẽ cảm thấy tuyệt vời hơn nhiều. Cháu sẽ cảm thấy là cháu đã giành được nó.”
    “Đúng thế.” Tôi nuốt nước bọt, mặt đỏ bừng vì bẽ bàng. “Ý cháu là, cháu muốn giành được nó. Cháu muốn làm việc chăm chỉ. Cháu chỉ nghĩ có lẽ…”
    “Nếu như chú có thể đi lên từ hai đồng xu nhỏ, Lara ạ, thì cháu cũng có thể.” Chú Bill nhìn vào mắt tôi một lát. “Hãy tin vào bản than. Tin vào ước mơ của cháu. Đây.”
    Ôi không. Đừng mà. Chú đã thò tay vào túi và giờ đang giơ lên hai đồng mười xu cho tôi.
    “Đây là hai đồng xu nhỏ bé của cháu.” Chú nhìn tôi một cái thật sâu, tha thiết, cái kiểu quen thuộc của chú trong chương trình quảng cáo trên ti vi. “Lara, nhắm mắt lại. Cảm nhận nó. Tin vào nó. Nói, ‘Đây là khởi đầu của tôi’.”
    “Đây là khởi đầu của tôi,” tôi lầm bầm, cả người co rúm lại. “Cảm ơn chú.”
    Chú Bill gật đầu, rồi lại tiếp tục điện thoại. “Paulo. Xin lỗi vì bắt anh chờ.”
    Nóng bừng cả người vì xấu hổ, tôi lỉnh mất. Chẳng hy vọng hy viếc gì có được cơ hội nữa. Chẳng có hợp đồng ký cọt gì nữa. Tôi chỉ muốn lễ tang này nhanh nhanh chóng chóng xong để về nhà.
    Tôi đi vòng qua tòa nhà, bước qua cửa kính ở mặt tiền của trung tâm tang lễ và lọt vào gian sảnh có bầu không khí dịu nhẹ, có đặt ghế tựa bọc vải và những tấm áp phích chim bồ câu. Không có ai quanh đó, kể cả ở quầy lễ tân.
    Đột nhiên tôi nghe có tiếng hát vọng ra từ phía sau cánh cửa gỗ bạc màu. Chết tiệt. Bắt đầu rồi. Tôi trễ rồi. Tôi vội vã đẩy cánh cửa ra – và quả đúng thế, những hàng ghế đã kín người ngồi. Căn phòng đông đến mức khi tôi len vào những người đứng cuối phải chèn nhau dạt sang bên. Tôi tìm cho mình một chỗ càng kín đáo càng tốt.
    Khi nhìn quanh, cố xem bố mẹ đang ở đâu, tôi bị choáng ngợp bởi vô khối người đang có mặt ở đây. Và hoa nữa. Dọc theo căn phòng là những lẵng hoa lộng lẫy sắc trắng và kem. Người phụ nữ đứng ở hàng đầu đang hát “Pie Jesu”, nhưng có nhiều người đứng trước mặt tôi quá nên tôi chẳng nhìn thấy gì. Đứng gần tôi, vài người đang sụt sùi, và một cô gái cứ để mặt nước mắt tuôn rơi trên má. Tôi thấy hơi ăn năn. Tất cả những người này tới đây vì bà dì của tôi, còn tôi thì thậm chí chẳng biết gì về bà.
    Tôi đã không hề gửi bông hoa nào, đột nhiên tôi ngượng ngùng nhận ra điều ấy. Liệu tôi có nên viết một tấm thiệp hay gì đó không nhỉ? Chúa ơi, tôi hy vọng là bố mẹ đã lo đâu vào đấy cả rồi.
    Nhạc thật dễ thương, và không khí trầm lặng tới mức đột nhiên tôi không thể kìm nén được, tôi cảm thấy mắt mình cũng cay cay. Đứng cạnh tôi là một bà đội mũ nhung đen, thấy tôi vậy bà liền tặc lưỡi đồng cảm.
    “Cháu có khăn tay chưa, cưng?” bà thì thào.
    “Không ạ,” tôi thú nhận, và ngay lập tức bà ta bật mở cái túi da lỗi mốt to đùng sáng bong. Mùi long não bốc lên, và tôi thoáng thấy bên trong có vài cặp kính, một hộp kẹo bạc hà, một gói ghim kẹp tóc, một hộp có nhãn “String” và nửa gói bích quy tốt cho tiêu hóa.
    “Mỗi khi tới lễ tang cháu nên mang theo khăn tay.” Bà đưa cho tôi một gói khăn giấy.
    “Cảm ơn bà,” tôi hít sâu, cầm lấy. “Bà thật tử thế. À mà tiện thể, cháu là cháu gọi bằng cụ.”
    Bà gật đầu thông cảm. “Đây chắc là khoảng thời gian kinh khủng đối với cháu. Gia đình cháu đương đầu với chuyện này ra sao?”
    “Ờ… à…” tôi gập chiếc khăn giấy lại, không biết phải trả lời ra sao. Tôi không thể nói chính xác là, “Chẳng có ai buồn phiền đến thế cả, thực tế chú Bill còn đang dính lấy chiếc Blackberry ngoài kia nữa kìa. “Cả nhà cháu phải động viên nhau lúc này,” tôi ứng phó.
    “Chính thế đấy.” Cụ bà gật đầu trang trọng như thể tôi vừa nói điều gì thực sự thông thái vậy, chứ không phải trích thẳng từ một tấm thiệp Hallmark ra. “Tất cả chúng ta đều phải động viên nhau.” Bà siết lấy tay tôi. “Cháu thân mến, bà rất sẵn lòng nói chuyện bất cứ lúc nào cháu muốn. Thật vinh dự khi được gặp một người thân của Bert.”
    “Cảm ơn bà…” tôi nói như máy, rồi ngập ngừng.
    Bert?
    Tôi chắc chắn là bà dì của tôi không phải tên Bert. Thực ra là tôi biết tên bà không phải vậy. Bà tên là Sadie.
    “Cháu biết không, trông cháu giống ông ấy lắm.” Bà cụ quan sát khuôn mặt tôi.
    Chết tiệt. Tôi nhầm tang lễ rồi.
    “Cái trán có gì đó giống. Và cháu có cái mũi của ông ấy nữa. Có ai bảo cháu điều đó chưa, cưng?”
    “Ừm… thỉnh thoảng ạ!” Tôi nói hoang mang. “Thực ra là, cháu phải… ở… Cảm ơn bà rất nhiều về chiếc khăn giấy…” tôi vội vã lách ra phía cửa.
    “Cháu gái của Bert đấy.” Tôi có thể nghe thấy tiếng của bà với theo phía sau. “Con bé buồn lắm, tội nghiệp.”
    Tôi gần như quăng mình vào cái cửa gỗ bạc phếch và lại thấy mình ở trong gian sảnh, suýt nữa bổ nhào vào bố mẹ. Họ đang đứng cùng một người phụ nữ mặc vest đen có mái tóc muối tiêu quăn tít cầm trên tay một tập tờ rơi.
    “Lara! Con đã ở đâu thế hả?” Mẹ hoang mang nhìn vào cánh cửa. “Con làm gì trong đó thế?”
    “Cháu vừa vào tham dự lễ tang cụ Cox hả?” người phụ nữ tóc muối tiêu trông sửng sốt.
    “Cháu bị lạc!” tôi chống chế. “Cháu không biết phải đi vào đâu! Các cô nên để biển chỉ dẫn ở cửa ra vào!”
    Người phụ nữ lặng lẽ giơ tay lên chỉ vào biển chỉ dẫn có in chữ nhựa trên cánh cửa: “Bertram Cox – một rưỡi chiều”. Chết tiệt. Sao tôi lại không thấy nó nhỉ?
    “À, ừ nhỉ.” Tôi cố lấy lại vẻ đường hoàng. “Đi thôi nào. Chúng ta cần phải kiếm một chỗ ngồi.”
  3. Sầu Đầy tớ nhân dân!

    Làm thành viên từ:
    11 Tháng một 2013
    Số bài viết:
    3,175
    Đã được thích:
    544
    Điểm thành tích:
    203
    Chương 2
    Kiếm một chỗ ngồi. Nực cười. Cả đời tôi chưa từng đến chỗ nào buồn thảm đến thế này.
    OK, tôi biết đây là một đám tang. Không có gì vui vẻ. Nhưng ít nhất thì đám tang của Bert còn nhiều người, đầy hoa, có nhạc và có không khí. Ít nhất thì ở căn phòng bên đấy còn cảm thấy chút gì đó.
    Căn phòng này tịnh không. Nó trống huơ và lạnh lẽo, độc trơ mỗi quan tài kín mít đặt ngay phía trước và dòng tên “Sadie Lancaster” bằng mấy chữ nhựa vớ vẩn trên bảng thông báo. Không hoa, không mùi thơm dễ chịu, không đàn hát, chỉ có thứ nhạc rẻ tiền thu sẵn lảnh lót phát ra từ dàn loa. Cả căn phòng hầu như trống hoác. Chỉ có bố mẹ và tôi đứng một bên; chú Bill, cô Trudy và con em họ tôi Diamanté đứng bên kia.
    Tôi lén đưa mắt liếc nhìn khắp phía bên kia của gia đình. Mặc dù chúng tôi là chỗ ruột rà song họ vẫn có vẻ giống như những nhân vật danh tiếng từ trong tạp chí bước ra. Chú Bill nằm ườn ra trên chiếc ghế nhựa như thể là chủ sở hữu căn phòng này, nhấn nhấn chiếc Blackberry. Cô Trudy đang lật nhanh tờ Hello, có lẽ đang đọc thông tin về tất cả bạn bè. Cô diện đầm đen bó sát, mái tóc vàng ươm uốn óp quanh khuôn mặt một cách cầu kỳ còn khe ngực của cô thì rám nâu và trông còn ấn tượng hơn cả lần trước tôi gặp cô. Cô Trudy và chú Bill lấy nhau hai mươi năm về trước, thế mà tôi thề là hôm nay trông cô còn trẻ hơn cả trong mấy bức ảnh cưới nữa.
    Mái tóc bạch kim của Diamanté buông xuống tận mông và bộ váy ngắn nó đang mặc in hình đầu lâu xương sọ. Quả là có thẩm mỹ đối với một đám tang. Nó đang nghe iPod và nhắn tin trên điện thoại, liên tục ngó đồng hồ đeo tay vẻ cau có sưng sỉa. Diamanté năm nay mười bảy, sở hữu hai xe hơi và một nhãn hiệu thời trang riêng mà chú Bill lập cho nó tên là “Váy xòe và Ngọc trai”. (Có lần tôi đã xem trên mạng. Váy áo ở đó toàn loại trên 400 bảng và ai mua đồ đều được đề tên vào danh sách đặc biệt “Bạn thân của Diamanté” và một nửa số đó là tụi trẻ còn nhà các loại sao. Nó giống như Facebook vậy, có điều là có quần áo).
    “Mẹ này,” tôi nói. “Sao ở đây lại chẳng có hoa gì vậy?”
    “À.” Ngay lập tức trông mẹ lại đầy lo lắng. “Mẹ đã bảo cô Trudy về chuyện hoa rồi, cô ấy bảo sẽ lo chuyện đó. Cô Trudy này?” Mẹ gọi với sang. “Hoa tang lễ thế nào rồi nhỉ?”
    “À,” cô Trudy gấp tờ Hello lại và quay người ra như thể chuẩn bị tán gẫu. “Em nhớ là chúng ta có bàn vụ này rồi. Nhưng chị có biết giá cả tất thảy tất cả những thứ này là bao nhiêu không?” Cô chỉ vòng quanh căn phòng. “Mà chúng ta lại chỉ ngồi đây có, xem nào, hai mươi phút? Pippa à, thực tế một chút đi. Hoa hoét làm gì cho lãng phí.”
    “Ờ chắc vậy,” mẹ ngần ngừ đáp.
    “Không phải là em tiếc bà cụ cái lễ tang.” Cô Trudy ngả về phía chúng tôi, hạ thấp giọng. “Nhưng thử hỏi bà cụ đã làm gì cho chúng ta nào? Ý em là em chẳng biết gì về bà cụ cả. Chị có biết gì không?”
    “Ờ, cũng khó.” Trông mẹ có vẻ khổ sở. “Bà cụ đã bị đột quỵ, rồi suốt từ đó cụ hầu như bị lẫn…”
    “Chính xác!” Cô Trudy gật đầu. “Bà cụ chẳng biết gì cả. Vậy vấn đề là gì? Chỉ vì Bill mà chúng ta có mặt ở đây.” Cô Trudy liếc nhìn chú Bill trìu mến. “Anh ấy mềm lòng quá. Em vẫn thường bảo với mọi người là…”
    “Vớ vẩn!” Diamanté gật tai nghe ra và nhìn mẹ mình đầy miệt thị. “Chúng ta ở đây chỉ vì màn trình diễn của bố. Bố đâu có định tới nhưng nhà sản xuất bảo đám tang sẽ ‘làm tăng vọt chỉ số cảm thông của bố lên’. Con đã nghe họ bàn vậy.”
    “Diamanté!” cô Trudy gắt lên.
    “Đúng thế đấy. Bố là kẻ đạo đức giả nhất quả đất mà mẹ cũng vậy. Lẽ ra bây giờ con phải ở nhà Hannah rồi.” Hai má Diamanté phùng lên bực bội. “Bố nó đang tổ chức một bữa tiệc lớn mừng bộ phim mới của ông ấy mà con lại lỡ mất. Chỉ vì để bố có thể mang vẻ ‘thuộc về gia đình’ và ‘quan tâm’. Thật quá bất công.”
    “Diamanté!” Cô Trudy nói gay gắt. “Con có nhớ là chính bố con đã trả tiền để con và Hannah tới Barbados không hả? Và cái vụ nâng ngực mà con cứ luôn miệng đòi đó, ai chi tiền cho con hả, con có nghĩ tới không?”
    Diamanté rít một hơi như thể bị xúc phạm ghê gớm. “Thế là không công bằng. Cái vụ nâng ngực đó là để làm từ thiện.”
    Tôi không thể ngăn mình ngả về phía trước vì tò mò, “Làm sao nâng ngực lại có thể làm từ thiện được?”
    “Em định sau đó trả lời phỏng vấn cho tạp chí về vụ đó và lấy tiền thu được để làm từ thiện,” nó nói đầy hãnh diện. “Kiểu như nửa số tiền thu được hay đại loại thế.”
    Tôi liếc mẹ. Trông bà sốc đến nỗi không nói nổi, suýt nữa thì tôi bật cười khúc khích.
    “Xin chào!” Tất cả chúng tôi ngước lên thì thấy một người phụ nữ vận quần xám và chiếc áo cổ đứng kiểu thầy dòng thẳng tiến qua lối đi giữa hai hàng ghế về phía chúng tôi.
    “Vô cùng xin lỗi,” bà ta nói, mở rộng hai bàn tay. “Mong là các vị đã không phải chờ quá lâu.” Bà ta có mái tóc muối tiêu cắt ngắn, cặp kính gọng đen và chất giọng trầm, nghe gần như giọng đàn ông. “Xin thành thật chia buồn cùng gia đình.” Bà ta liếc nhìn cái quan tài trơ trọi. “Tôi không biết là quý vị đã được thông báo gì chưa, nhưng thường thì người ta hay treo ảnh người thân…”
    Chúng tôi nhìn nhau lúng túng. Rồi đột nhiên cô Trudy chặc lưỡi một cái. “Tôi có một bức đây. Viện dưỡng lão có gửi tới.”
    Cô lục túi rút ra một phong bì màu nâu, lôi từ trong đó ra một bức ảnh chụp lấy ngay trong mờ tịt. Khi cô truyền nó cho mọi người xem, tôi cũng nhìn một cái. Trong bức ảnh là một bà già bé tí, nhăn nheo, khòng khoèo trên chiếc ghế đẩu, mặc cái áo len kỳ quái màu hoa cà nhạt. Khuôn mặt bà nhăn nhúm. Mái tóc trắng của bà như cái nùi bong trong mờ của cây kẹo bông. Đôi mắt bà mờ đục, như thể bà còn không nhìn thấy cuộc đời nữa.
    Bà dì Sadie của chúng tôi đó. Thậm chí tôi còn chưa từng gặp bà.
    Linh mục nhìn tấm ảnh đầy ngờ vực rồi gắn lên tấm bảng thông báo to đùng, ở đó trông nó cực kỳ buồn bã, đáng xấu hổ và đơn độc.
    “Có ai muốn nói gì về người đã khuất không?”
    Câm lặng, tất cả chúng tôi đều lắc đầu.
    “Tôi hiểu. Với thân quyến chuyện này thường quá đỗi đau đớn.” Linh mục rút một cuốn sổ và cây bút chì từ túi áo ra. “Trong trường hợp đó tôi hân hạnh được nói thay gia đình. Nếu gia đình ta có thể cung cấp cho tôi một số chi tiết. Những sự kiện trong cuộc đời bà cụ. Hãy nói cho tôi tất cả mọi chuyện về cụ bà Sadie mà chúng ta sắp tưởng niệm.”
    Im lặng.
    “Chúng tôi không rõ lắm về bà cụ,” bố nói có vẻ hối lỗi. “Bà cụ già lắm rồi.”
    “105 tuổi,” mẹ xen vào. “Bà ấy đã 105 tuổi.”
    “Bà cụ có kết hôn không?” linh mục gợi ý.
    “Ờ…” bố nhíu mày. “Có ông chồng nào không Bill?”
    “Em đâu biết. Có, em nghĩ là có. Nhưng chẳng biết ông ấy tên gì.”
    Chú Bill thậm chí còn chẳng buồn rời mắt khỏi chiếc Blackberry. “Chúng tôi có thể cử hành tang lễ với thông tin đó không?”
    “Tất nhiên rồi.” Nụ cười thông cảm của linh mục đông cứng lại. “Vậy thì, có lẽ là một câu chuyện nhỏ nào đó trong lần cuối gia đình tới thâm bà cụ… một sở thích nào đó…”
    Lại một hồi im lặng tội lỗi.
    “Trong bức hình chụp bà cụ mặc chiếc áo len đan,” cuối cùng mẹ đánh bạo lên tiếng. “Có lẽ bà cụ đã đan nó. Có lẽ bà cụ thích đan.”
    “Các vị chưa từng tới thăm bà cụ sao?” Vị linh mục rõ rang là đang cố giữ lịch sự.
    “Đương nhiên là có!” mẹ chống chế. “Chúng tôi đã tạt vào thăm cụ hồi năm…” Mẹ nghĩ. “Năm 1982, tôi nghĩ vậy đó. Hồi đó Lara còn bé lắm.”
    1982?” Linh mục trông có vẻ nóng mặt lắm rồi.
    “Bà cụ không biết chúng tôi,” bố nhanh miệng đỡ lời. “Bà cụ thật sự hoàn toàn không còn tỉnh táo.”
    “Thế còn cuộc sống của bà cụ trước đó thì sao?” Giọng linh mục nghe có vẻ hơi phẫn nộ. “Không thành tựu gì sao? Chuyện hồi trẻ của bà cụ?”
    “Giời ạ, bà không chịu thôi phải không?” Diamanté giật đôi tai nghe iPod ra khỏi tai. “Bà có hiểu là chúng tôi có mặt ở đây chỉ là do bị bắt phải thế không? Bà ấy chẳng làm gì đặc biệt cả. Bà ấy chẳng đạt được thứ gì cả. Bà ta chẳng là ai cả! Chỉ là một người vô giá trị già cóc đế.”
    “Diamanté!” Cô Trudy quở trách nhẹ nhàng. “Thế là hỗn.”
    “Nhưng mà đúng thế phải không nào! Nhìn xem!” Nó chỉ khắp căn phòng trống huơ trống hoác vẻ khinh miệt. “Nếu chỉ có sáu người tới dự tang lễ của con thỉ con sẽ tự bắn mình.”
    “Này cô gái trẻ.” Linh mục bước lên vài bước, khuôn mặt bà đỏ lên vì tức giận. “Không có con người nào trên mảnh đất của Chúa là người vô giá trị.”
    “Vâng, sao cũng được,” Diamanté đáp thô lỗ, và tôi có thể thấy linh mục đang mở miệng định vặn lại lần nữa.
    “Diamanté.” Chú Bill nhanh chóng giơ tay lên. “Đủ rồi đấy. Tất nhiên là tự tôi cũng thấy có lỗi vì không tới thăm cụ Sadie, tôi chắc cụ là một người hết sức đặc biệt, và tôi chắc chắn điều tôi nói cũng là suy nghĩ của cả gia đình.” Chú ấy mới duyên dáng làm sao, tôi có thể thấy những chiếc lông xù lên của vị mục sư xẹp dần xuống. “Nhưng lúc này đây điều chúng tôi muốn là tiễn đưa cụ với sự trang nghiêm. Tôi mong là bà có một lịch trình chặt chẽ, cũng như chúng tôi vậy.” Chú gõ nhẹ lên chiếc đồng hồ treo tay.
    “Thật ra,” vị linh mục nói sau một lúc im lặng. “Tôi cũng sắp sửa soạn ngay đây. Trong khi chờ đợi, quý vị làm ơn tắt di động.” Nhìn khắp lượt chúng tôi đầy chê trách lần cuối, bà ta lại đi ra, và cô Trudy ngay lập tức quay người lại.
    “Táo gan thật, bắt chúng ta phải cảm thấy tội lỗi! Mọi người biết đấy, chúng ta đâu có buộcphải tới đây.”
    Cánh cửa mở ra và chúng tôi đều ngẩng lên – nhưng đó không phải là vị linh mục mà là Tonya. Tôi không biết chị ấy sẽ tới. Ngày hôm nay sắp đủ trăm phần trăm tồi tệ rồi.
    “Con có tới trễ không?” Cái giọng như tiếng máy khoan bằng khí nén của chị vang vọng khắp căn phòng khi chị sải bước trên lối đi giữa hai hàng ghế. “Còn vừa chuồn được khỏi phòng Trẻ tập đi trước khi hai thằng nhóc song sinh nổi đóa. Nói thật là người giúp việc lần này còn tệ hơn cả lần trước nữa, và chuyện đó nói lên một điều là…”
    Chị mặc quần dài màu đen và một chiếc áo len đan màu đen điểm họa tiết da báo, mái tóc nhuộm highlight dày buộc túm đuôi ngựa. Tonya trước làm quản lý văn phòng cho Shell và rất giỏi sai phái. Giờ chị đang làm bà mẹ toàn thời gian với hai thằng nhóc sinh đôi, Lorcan và Declan, và thay vào đó sai phái người giúp việc.
    “Tụi trẻ thế nào?” mẹ hỏi, nhưng Tonya không để ý. Chị chỉ dán mắt vào chú Bill.
    “Chú Bill à, cháu vừa đọc cuốn sách của chú! Tuyệt vời! Nó đã thay đổi cả cuộc đời cháu. Cháu đã kể với mọi người về nó. Mà bức ảnh thì miễn chê, dù ngoài đời chú đẹp hơn nhiều.”
    “Cảm ơn cháu yêu.” Bill mỉm cười đúng kiểu “Đúng-tôi-biết-minh-xuất-sắc” nhưng có vẻ như chị không để ý.
    “Cuốn sách đó chẳng tuyệt vời lắm sao?” Chị khẩn khoản kêu gọi tất cả chúng tôi ủng hộ. “Chẳng phải chú Bill là một thiên tài sao? Khỏi nghiệp với hai bàn tay trắng! Chỉ có hai đồng xu và một giấc mơ lớn! Nó đem lại cảm hứng to lớn cho nhân loại!”
    Chị ấy đúng là đồ nịnh thần, tôi thấy buồn nôn. Rõ rang là bố mẹ cũng cảm thấy như vậy vì chẳng ai trả lời cả. Chú Bill cũng chẳng thèm chú ý tới chị, nên bất đắc dĩ chị đành xoay gót.
    “Lara, em thế nào? Dạo này chị hầu như chẳng thấy em. Em đang trốn đó!” Cặp mắt chị săm soi tôi đầy chủ ý khi bước tới gần và tôi lùi lại. Á à. Tôi biết cái nhìn đó rồi.
    Chị Tonya của tôi về cơ bản có ba bộ mặt:
    1. Trống rỗng và đần thối.
    2. Cười hô hố phô trương, như khi nói “Chú Bill, chú giết cháu mất!”
    3. Khoái chí hể hả ngụy trang bằng vẻ cảm thông khi chị xát muối vào nỗi đau của người khác. Chị nghiện kênh truyền hình thực tế và những cuốn sách ngoài bìa có hình những đứa trẻ khốn khổ, nhếch nhác, có tựa đề kiểu Ngoại ơi, làm ơn đừng đánh con bằng máy cán là.
    “Chị chưa gặp lại em từ khi em chia tay với Josh. Thật đáng tiếc. Bọn em có vẻ đẹp đôi thế mà.” Tonya nghiêng đầu đầy đau khổ. “Chẳng phải hai đứa nó đẹp đôi sao mẹ?”
    “Ờ, chuyện đó đã không kết thúc tốt đẹp.” Tôi cố nói sao cho có vẻ dửng dưng. “Mà dù sao…”
    “Có chuyện gì trục trặc vậy?” Chị lại nhìn tôi với cặp mắt thỏ non, giả đò quan tâm mỗi khi có chuyện gì tồi tệ xảy ra với một người nào đó mà chị lại rất, rất thích thú.
    “Tự nhiên thế thôi.” Tôi nhún vai.
    “Nhưng không phải thế đúng không nào? Phải có lý do gì đó chứ.” Tonya quả là tàn nhẫn. “Nó không nói gì sao?”
    “Tonya,” bố nhẹ nhàng xen vào. “Đây có phải lúc không con?”
    “Bố, con chỉ đang giúp Lara thôi mà,” Tonya nói, cảm thấy bẽ mặt. “Lúc nào cũng thích hợp để nói cho rõ những chuyện này! Vậy có ai khác à?” Cặp mắt chị xoay lại phía tôi.
    “Không phải đâu.”
    “Hai đứa vẫn hòa thuận chứ?”
    “Vâng.”
    “Thế tại sao?” Chị khoanh tay lại, vẻ dò hỏi và gần như là trách cứ. “Tại sao?”
    Em không biết tại sao! Tôi muốn hét lên như vậy. Chị không nghĩ là em đã tự hỏi mình câu đó hàng tỷ lần rồi ư?
    “Chỉ là thế thôi!” Tôi ép mình mỉm cười. “Về chuyện đó em ổn. Em đã nhận ra tụi em không có duyên với nhau vậy nên em đã vượt qua và giờ em rất thoải mái. Em thực sự hạnh phúc.”
    “Trông chị không hề hạnh phúc,” từ bên kia lối đi Diamanté với sang nhận xét. “Phải không mẹ?”
    Cô Trudy quan sát tôi một hồi.
    “Ừ,” cuối cùng cô nói, với một giọng dứt khoát. “Trông chị ấy không hạnh phúc.”
    “Có mà!” Tôi có thể thấy nước mắt làm cay sè mắt. “Chỉ là em đang giấu thôi! Em thực sự rất, rất hạnh phúc!”
    Chúa ơi, tôi ghét mấy người họ hàng này quá đi.
    “Tonya con yêu, ngồi xuống đi,” mẹ nói khéo léo. “Chuyến đi thăm trường thế nào con?”
    Chớp mắt khó khăn, tôi rút điện thoại ra và giả đò kiểm tra tin nhắn để không ai làm phiền tôi. Thế rồi, trước khi tôi kịp ngăn mình lại thì ngón tay tôi đã cuộn màn hình đến chỗ những bức ảnh.
    Đừng nhìn, tôi nói với mình kiên quyết. Không được nhìn.
    Nhưng ngón tay tôi không tuân lệnh. Sự thôi thúc quá áp đảo. Tôi phải ngó một cái đã, chỉ để giúp tôi tiếp tục… Mấy ngón tay tôi cào cào trong khi tôi tìm bức ảnh tôi thích nhất. Josh và tôi. Đứng bên nhau trên sườn núi, quàng tay qua nhau; cả hai đều mặc bộ đồ trượt tuyết. Mái tóc vàng của Josh cuộn lại bên trên chiếc kính trượt tuyết chụp lên đầu anh. Anh đang mỉm cười với tôi làm lộ lúm đồng tiền hoàn hảo trên má; cái lúm đồng tiền đó tôi vẫn thường ấn ngón tay vào, như đứa bé con chơi mẫu đất nặng vậy.
    Chúng tôi gặp nhau lần đầu tại bữa tiệc ngày hội đốt lửa, xúm quanh một đống lửa trong một khu vườn ở Clapham thuộc sở hữu của một cô gái tôi quen hồi đại học. Josh phát pháo hoa cho mọi người. Anh đốt cho tôi cây rồi hỏi tên tôi và tôi viết “Lara” vào bong tối bằng cây pháo, rồi tôi cười to và hỏi tên anh. Chúng tôi viết tên mình lên bóng tối cho tới khi hai cây pháo hoa tắt rụi, rồi nhích đến gần đống lửa nhấm nháp rượu vang đã được hâm nóng và pha chế để cùng ôn lại những bữa tiệc pháo hoa hồi còn bé. Mọi điều chúng tôi nói đều rất ăn ý. Chúng tôi cùng cười trước những chuyện giống nhau. Tôi chưa bao giờ gặp người nào dễ gần đến thế. Hay có nụ cười dễ thương đến thế. Tôi không thể tưởng tượng anh đang ở bên một người nào khác. Đơn giản là tôi không thể…
    “Ổn không, Lara?” Bố đang liếc tôi.
    “Có ạ!” Tôi đáp tươi tỉnh và nhấn phụp vào cái điện thoại để ông không thấy màn hình. Khi thứ nhạc rẻ tiền chơi bằng đàn điện tử nổi lên tôi lại tụt sau vào ghế, đau khổ tột độ. Lẽ ra hôm nay tôi không bao giờ nên tới đây. Lẽ ra tôi nên kiếm cớ trốn. Tôi ghét gia đình mình và những đám tang, mà ở đây lại còn chẳng có chút cả phê tử tế và…
    “Chuỗi hạt của tôi đâu?” Giọng nói xa xôi của một cô gái cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.
    Tôi liếc quanh để xem là ai, nhưng chẳng có ai quanh tôi cả. Ai thế nhỉ?
    Chuỗi hạt của tôi đâu?” cái giọng yếu ớt kia lại cất lên. Nó lảnh lót, gay gắt và có vẻ trịch thượng. Có phải từ điện thoại không? Phải chăng tôi đã không tắt hẳn? Tôi lôi điện thoại ra khỏi túi – nhưng màn hình đã tắt ngúm rồi mà.
    Quái lạ.
    Chuỗi hạt của tôi đâu?” Cái giọng đó giờ lại vang lên như ở ngay trong tai tôi. Tôi nao núng, nhìn quanh hoang mang.
    Quái dị hơn là hình như không ai khác nghe thấy.
    “Mẹ.” Tôi nghiêng sang. “Vừa rồi mẹ có nghe thấy gì không? Như là… có ai nói ấy?”
    “Ai nói ư?” Mẹ nhìn tôi khó hiểu. “Không, con yêu. Giọng nói kiểu gì?”
    “Giọng một cô gái, mới đây mà…” tôi ngừng bặt khi thấy cái vẻ lo lắng quen thuộc xuất hiện trên mặt mẹ. Tôi hầu như nhìn thấy được những ý nghĩ của mẹ, trong một cái bong bóng: Lạy Chúa, con gái tôi đang nghe thấy những giọng nói trong đầu nó.
    “Chắc con nghe nhầm,” tôi vội vã nói và đút tọt chiếc điện thoại vào túi, vừa lúc đó thì linh mục xuất hiện.
    “Mời quý vị đứng lên,” bà ngân dài giọng. “Và tất cả hãy cùng cuối đầu. Chúa kính yêu, chúng con xin phó thác cho Người linh hồn của người chị Sadie…”

    Không phải tôi thành kiến gì, nhưng vị linh mục này có cái giọng đơn điệu nhất trần đời. Chúng tôi đã cử hành tang lễ được năm phút và tôi thôi không còn cố gắng chú ý nữa. Nó giống như buổi tập hợp ở trường học vậy; đầu óc ta cứ mụ mị đi. Tôi ngả ra sau và nhìn chằm chằm lên trần nhà không nghe nữa. Mi mắt tôi chuẩn bị khép lại thì giọng nói kia lại vang lên, ngay trong tai tôi.
    “Chuỗi hạt của tôi đâu?”
    Nó làm tôi giật thót cả tim. Tôi quay đầu sang trái sang phải nhưng vẫn chẳng thấy gì. Có chuyện gì xảy ra với tôi vậy?”

    “Lara!” Mẹ thì thầm lo sợ. “Ổn chứ con?”
    “Con bị đau đầu chút xíu thôi,” tôi rít khẽ lại với mẹ. “Có lẽ con nên ra ngồi bên cạnh cửa sổ. Cho thoáng khí.”
    Phác cử chỉ cáo lỗi, tôi đứng dậy đi về phía chiếc ghế gần cuối phòng. Vị linh mục hầu như không chú ý: bà ta đang mải mê với bài diễn thuyết của mình.
    “Sự kết thúc của cuộc sống này là sự khởi đầu của cuộc sống khác… sinh ra từ cát bụi rồi trở về với cát bụi…”
    Chuỗi hạt của tôi đâu? Tôi cần nó.”
    Đầu tôi quay ngoắt sang trái sang phải, hy vọng lần này sẽ nhìn thấy người nói. Rồi đột nhiên tôi thấy. Một bàn tay.
    Một bàn tay được tỉa tót, mảnh dẻ, đặt lên lưng ghế ngay trước mặt tôi.
    Ánh mắt tôi lướt từ dưới lên, ngờ hoặc. Bàn tay của một cánh tay dài, trắng, thanh mảnh. Cánh tay của một cô gái trạc tuổi tôi. Người đang uể oải ngồi trong chiếc ghế trước mặt tôi, ngón tay gõ gõ vẻ sốt ruột. Cô có mái tóc đen, bồng bềnh, mặc chiếc đầm lụa màu mạ non không tay, và tôi thoáng thấy cái cằm trắng nhô ra phía trước.
    Tôi kinh ngạc đến mức chẳng biết làm gì khác ngoài há hốc miệng.
    Cái đồ quái quỉ gì vậy?
    Khi tôi nhìn, cô xoay người rời khỏi ghế như thể không ngồi im được nữa và bắt đầu đi đi lại lại. Bộ váy của cô buông thẳng xuống gối, xếp li nhỏ ở gấu, và cứ kêu sột soạt khi cô bước đi.
    “Tôi cần nó,” cô làu bàu vẻ khó chịu. “Nó đâu rồi? Nó đâu rồi?”
    Giọng cô có trọng âm nhanh mạnh, rành rọt, giống như trong những phim đen trắng thời xưa. Tôi liếc liên hồi về phía những người còn lại trong gia đình – nhưng không ai khác thấy cô. Thậm chí không có ai nghe tiếng cô cả. Tất cả mọi người đều đang ngồi im lặng.
    Đột nhiên, như thể cảm thấy tối đang nhìn đăm đăm vào cô, cô bèn xoay lại và nhìn thẳng vào mắt tôi. Cặp mắt thật sẫm và lấp lánh, tôi không biết được chúng màu gì, nhưng chúng mở to trân trối khi tôi nhìn lại.
    OK. Tôi bắt đầu hoảng sợ rồi. Tôi đang bị ảo giác. Một ảo giác đang đi lại và nói chuyện. Và nó đang tiến về phía tôi.
    “Cô có thể thấy tôi.” Cô trỏ một ngón tay trắng về phía tôi và tôi co rúm lại trong ghế. “Cô có thể thấy tôi!”
    Tôi lắc đầu quầy quậy. “Tôi không thấy.”
    “Và cô có thể nghe thấy tôi nói!”
    “Không, tôi có nghe thấy đâu.”
    Tôi thấy mẹ ở đầu phòng đang quay lại nhíu mày với tôi. Tôi bèn ho lên, rồi trỏ vào ngực. Khi tôi quay lại, người con gái đã không còn đó. Biến mất.
    Cảm ơn Chúa. Tôi cứ tưởng mình đang bị điên. Ý tôi là tôi biết dạo này mình bị trầm cảm, nhưng mà thấy một ảo ảnh thật sự như vậy thì…
    “Cô là ai?” Tim tôi thót lên tận cổ khi giọng cô gái đó lại cắt ngang ý nghĩ của tôi. Lần này thì thình lình cô lại đang sải bước giữa hai hàng ghế tiến về phía tôi.
    “Cô là ai?” Cô gặng hỏi. “Đây là đâu? Mấy người kia là ai?”
    Chớ có trả lời ảo giác, tôi tự nhủ kiên quyết. Làm vậy sẽ chỉ khuyến khích nó thêm thôi. Tôi quay đầu đi và cố gắng tập trung vào linh mục.
    “Cô là ai?” Cô gái đột nhiên xuất hiện ngay trước mặt tôi. “Cô có thật không?” Cô giơ một bàn tay lên như thể định chọc vào vai tôi và tôi co rúm lại, nhưng bàn tay cô lại lao thẳng qua tôi từ bên này sang bên kia.
    Tôi choáng váng há hốc cả miệng. Cô gái hoang mang nhìn chằm chằm vào bàn tay mình, rồi nhìn tôi.
    “Cô là cái gì vậy?” cô hỏi. “Cô là một giấc mơ ư?”
    Tôi á?” tôi không thể không vặc lai bằng một giọng khe khẽ đầy phẫn nộ. “Đương nhiên tôi chẳng phải mơ mộng gì hết. Cô mới là giấc mơ!”
    “Tôi không phải là giấc mơ!” Cô nói nghe cũng phẫn nộ y như thế.
    “Thế cô là ai?” Tôi không nén được vặc lại.
    Ngay lập tức tôi hối hận vì đã làm vậy, vì bố và mẹ cùng liếc nhìn tôi. Nếu tôi kể với họ rằng tôi đang nói chuyện với một ảo giác thì họ sẽ phát điên lên. Tôi sẽ bị tống vào bệnh viện tâm thần The Priory ngay ngày mai.
    Cô gái kia hếch cằm lên. “Tôi là Sadie. Sadie Lancaster.”
    Sadie…?
    Không. Không thể nào.
    Tôi hoàn toàn không cử động nổi. Mắt tôi đảo điên cuồng từ người con gái đang đứng trước mặt sang bà già có mái tóc như kẹo bông, da nhăn như táo Tàu trong bức ảnh chụp lấy ngay kia, rồi quay trở lại với cô gái. Tôi đang thấy ảo giác về bà dì 105 tuổi đã mất ư?
    Cô gái ảo giác kia trông cũng khá hoảng sợ. Cô quay lại và bắt đầu nhìn quanh căn phòng như thể lần đầu nhận thấy nó vậy. Sau vài giây choáng ngợp cô thoắt ẩn thoắt hiện khắp căn phòng, ngó nghiêng từng ngóc ngách, từng cái cửa sổ, y như một con bọ cứ vo ve quanh cái bể thủy tinh vậy.
    Tôi chưa bao giờ có một người bạn tưởng tượng. Tôi chưa từng xài ma túy. Vậy thì chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Tôi tự nhủ mình hãy phớt lờ cô đi; gạt cô ra khỏi đầu, chú mục vào cái bà linh mục kia kìa. Nhưng vô ích, tôi không thể không dõi theo nhất cử nhất động của cô.
    “Nơi này là gì thế hả?” Giờ thì cô lại lởn vởn quanh tôi, nheo mắt ngờ vực. Cô tập trung vào cái quan tài ở phía trước căn phòng. “Cái gì kia?”
    Ôi Chúa ơi.
    “Chẳng là gì cả,” tôi vội vã nói. “Chẳng là gì hết! Chỉ là… ý tôi là… nếu tôi là cô thì tôi sẽ không nhìn quá gần…”
    Quá muộn rồi. Cô đã hiện ra bên cỗ quan tài, nhìn chằm chằm vào nó. Tôi còn nhìn thấy cô đang đọc cái tên “Sadie Lancaster” trên bảng nhựa. Tôi có thể thấy mặt cô giật nẩy lên vì sốc. Một lát sau cô quay ra ngó bà linh mục vẫn đang lải nhải bằng cái giọng đều đều. “Cụ bà Sadie có một cuộc hôn nhân mãn ý, điều đó có thể là sự khích lệ đối với tất cả chúng ta…”
    Cô gái gí sát mặt vào bà linh mục và nhìn bà ta vẻ khinh miệt. “Đồ ngớ ngẩn,” cô nói gay gắt.
    “Bà là người phụ nữ đã sống đến tuổi cổ lai hy,” bà linh mục vẫn nói tiếp, chẳng hay biết gì. “Tôi nhìn vào bức ảnh này…” Bà ta chỉ vào tấm ảnh mỉm cười đầy hiểu hiết. “… và tôi thấy một phụ nữ, dù có thể chất yếu đuối, vẫn sống một cuộc đời tươi đẹp. Người tìm được niềm khuây khỏa trong những điều nhỏ bé. Đan len chẳng hạn.”
    Đan len ư?” cô gái nhắc lại không tin nổi.
    “Vì vậy.” Rõ rang là vị linh mục đã kết thúc bài diễn văn của bà ta. “Tất cả chúng ta hãy cúi đầu trong khoảnh khắc im lặng cuối cùng trước khi nói lời vĩnh biệt.” Bà bước xuống bục và một đoạn nhạc muzak lại vang lên.
    “Giờ thì lại chuyện gì nữa thế?” cô gái nhìn quanh, đột ngột trở nên cảnh giác. Nhoằng cái cô đã hiện ra bên cạnh tôi. “Chuyện gì đang diễn ra vậy? Nói cho tôi đi nào! Nói đi!”
    “À, cái quan tài sẽ đi qua tấm rèm kia,” tôi thì thào khe khẽ. “Rồi… ờ…” tôi chuội, bị cơn xấu hổ xâm chiếm. Làm sao để diễn giải chuyện đó cho khéo đây? “Cô thấy đấy, chúng ta đang ở đài hóa thân. Thế có nghĩa là…” tôi phẩy phẩy hai bàn tay.
    Mặt cô gái trắng bệch ra vì sốc, và tôi chỉ biết lúng túng giương mắt nhìn khi cô hòa dần vào một trạng thái trong suốt, nhợt nhạt, kỳ lạ. Gần như là cô đang nhạt dần đi vậy – thậm chí còn hơn thế. Trong khoảnh khắc tôi cơ hồ có thể nhìn xuyên qua cô. Rồi, như thể đã nghĩ ra được biện pháp nào đó, cô đã trở lại.
    “Không.” Cô lắc đầu. “Không thể để chuyện đó xảy ra được. Tôi cần chuỗi hạt. Tôi cần nó.”
    “Xin lỗi,” tôi đáp, bất lực. “Tôi chẳng thể làm gì được.”
    “Cô phải ngăn đám tang lại ngay.” Cô đột ngột nhìn lên, cặp mắt thẫm và lấp lánh.
    “Sao cơ?” tôi nhìn cô chằm chằm. “Tôi không thể làm thế!”
    “Cô có thể! Hãy bảo họ dừng lại ngay!” Khi tôi quay sang bên kia để phớt lờ cô, cô lại xuất hiện ở phía đó. “Đứng lên! Nói gì đi!”
    Giọng cô lảnh lót và nài nỉ như giọng của đứa bé mới chập chững. Tôi điên cuồng quay đầu tứ phía, cố tránh cô.
    “Ngăn đám tang lại! Ngăn nó lại! Tôi phải có chuỗi hạt!” Cô ghé sát mặt tôi; nắm tay cô nện lên ngực tôi. Tôi không cảm thấy gì, nhưng tôi rụt người lại. Tuyệt vọng tôi đành đứng dậy và ngồi ra sau một hàng, làm đổ đánh rầm một cái ghế.
    “Lara, con ổn chứ?” Mẹ nhìn sang lo lắng.
    “Con ổn,” tôi nói, cố gắng phớt lờ tiếng la hét trong tai mình.
    “Anh sẽ gọi xe,” chú Bill bảo cô Trudy. “Việc này phải xong xuôi trong vòng năm phút.”
    “Dừng lại! Dừng lại – dừng lại – dừng lại!” Giọng cô gái vót lên thành tiếng rít the thé lộng óc, giống như tiếng vọng trong tôi. Tôi sắp bị tâm thần phân liệt mất. Giờ thì tôi đã hiểu vì sao người ta lại đi ám sát tổng thống. Tôi không làm cách nào mà lờ cô đi được. Cô giống như một nữ thần báo thù vậy. Tôi không thể chịu đựng được chuyện này thêm chút nào nữa. Tôi ôm chặt đầu mình, cố ngăn cô lại, nhưng vô ích. “Dừng lại! Dừng lại! Cô phải ngăn…!”
    “Được rồi! Được rồi! Cứ im đi đã!” Hết cách, tôi đành đứng dậy. “Khoan đã!” tôi hét lên. “Mọi người dừng lại đã! Mọi người phải dừng đám tang lại! DỪNG ĐÁM TANG LẠI!”
    Tôi thở phào, cô thôi không rít lên nữa.
    Ở phía dưới, cả gia đình tôi đều há hốc miệng nhìn tôi như thể tôi bị điên vậy. Vị linh mục nhấn một cái nút trên bảng gỗ gắn vào tường, và tiếng nhạc muzak đàn điện tử ngừng lại tắp lự.
    “Dừng đám tang lại ư?” cuối cùng mẹ lên tiếng.
    Tôi lặng lẽ gật đầu. Nói thật là tôi cảm thấy không còn kiểm soát được mình nữa.
    “Nhưng tại sao?”
    “Con… ừm…” tôi hắng giọng. “Con nghĩ đây vẫn chưa phải là lúc thích hợp. Để tiễn bà đi.”
    “Lara.” Bố thở dài. “Bố biết là hiện giờ con đang căng thẳng, nhưng thực sự là…” Ông quay sang phía vị linh mục. “Tôi thực sự xin lỗi. Con gái tôi dạo này không được bình thường cho lắm. Trục trặc với bạn trai ấy mà,” ông nói rành rọt.
    “Chuyện này chẳng liên can gì đến vấn đề đó cả!” Tôi phản ứng phẫn nộ, nhưng chẳng ai thèm để ý đến tôi.
    “À, tôi hiểu.” Vị linh mục gật đầu thông cảm. “Lara, chúng ta sẽ kết thúc đám tang ngay thôi,” bà ta nói như thể tôi là đứa trẻ lên ba vậy. “Rồi có lẽ cô và tôi sẽ cùng nhau uống trà và trò chuyện một chút, được không?”
    Bà ta lại nhấn cái nút và tiếng nhạc muzak điện tử lại vang lên. Một lát sau, chiếc quan tài bắt đầu chuyển động kẽo kẹt trên bệ, khuất dần sau tấm rèm. Tôi nghe thấy đằng sau đột ngột có tiếng hổn hển, rồi…
    “Khôôôôông!” một tiếng rú đau đớn cất lên. “Khôôông! Dừng lại! Cô phải dừng ngay lại!”
    Tôi kinh hoàng khi thấy người con gái kia phi thẳng tót lên chiếc bệ và bắt đầu đẩy cỗ quan tài ngược trở lại. Nhưng đôi tay cô bất lực; chúng cứ lún sâu vào trong.
    “Làm ơn đi!” cô ngước lên nói với tôi một cách tuyệt vọng. “Đừng để họ làm vậy!”
    Tôi bắt đầu cảm thấy thực sự hoảng sợ. Tôi không biết tại sao mình lại hoang tưởng ra chuyện này, hoặc nó có ý nghĩa gì. Nhưng tôi cảm giác nó có thật. Nỗi đau khổ của cô trông rất thật. Chỉ là tôi không thể cứ giương mắt ngồi nhìn chuyện này.
    “Không!” tôi hét lên. “Dừng lại!”
    “Lara…” mẹ cất tiếng.
    “Con nói thật đấy! Đúng là có lý do và trở ngại khiến cỗ quan tài này không thể bị… hỏa thiêu. Cả nhà phải dừng lại ngay!” Tôi hớt hải chạy xuống lối đi. “Nhấn cái nút đó ngay không là tôi tự làm đấy!”
    Vẻ lúng túng, vị linh mục lại nhấn nút, và quan tài dừng lại.
    “Con yêu, có lẽ con nên chờ ở bên ngoài thì hơn.”
    “Nó lại tỏ vẻ ấy mà, như mọi bận!” chị Tonya cáu kỉnh nói. “ ‘Đúng là có lý do và trở ngại’. Con muốn nói là làm quái gì có chuyện đó chứ? Cứ tiếp tục đi!” Chị nói với vị mục sư giọng hách dịch, bà này hơi xù lông lên.
    “Lara.” Bà ta lờ Tonya đi và quay sang phía tôi. “Cô có lý do gì muốn ngăn đám tang của bà dì cô lại sao?”
    “Đúng!”
    “Đó là…” bà ta ngừng lại dò hỏi.
    Ôi Chúa ơi. Tôi phải nói gì đây? Vì một ảo giác đã bảo tôi phải làm vậy à?
    “Là bởi vì… ờ…”
    “Cứ bảo tôi đã bị giết!” Tôi choáng váng nhìn lên, thấy cô gái đó ngay trước mặt mình. “Nói thế đi! Rồi họ sẽ phải dừng đám tang lại. Nói đi!” Cô ở bên cạnh tôi, hét vào tai tôi. “Nói thế đi! Nói-thế đi-nói-thế đi-nói-thế đi…”
    “Tôi nghĩ là bà dì của tôi đã bị giết!” tôi tuyệt vọng thốt ra.
    Tôi đã từng thấy mọi người trong nhà nhìn mình, sững sờ, nhiều lần trong đời rồi. Nhưng chưa có lần nào lại gây ra phản ứng giống như lần này. Tất cả đều xoay người lại trên ghế, quai hàm trễ xuống vì chẳng hiểu mô tê gì cả, trông hệt như một kiểu tranh tĩnh vật nào đó. Tôi suýt nữa thì bật cười.
    Bị giết?” cuối cùng vị linh mục lên tiếng.
    “Vâng,” tôi nói cả quyết. “Tôi có lý do để tin rằng đã có một chuyện xấu xa xảy ra. Thế nên chúng ta cần phải giữ thi thể lại để làm bằng chứng.”
    Vị linh mục chầm chậm bước về phía tôi, nheo mắt lại, như thể đang cố đánh giá chính xác xem tôi là kẻ làm mất thì giờ đến mức nào. Nhưng bà ta không biết một chuyện là trước kia tôi thường hay chơi trò thi xem ai nhìn vào mắt người kia lâu hơn với Tonya và tôi luôn thắng. Tôi nhìn lại bà ta, địch lại một cách hoàn hảo với ánh mắt nghiêm nghị của bà ta, cái vẻ đây-không-phải-chuyện-đùa.
    “Bị giết… như thế nào?” bà ta hỏi.
    “Tốt hơn tôi nên nói chuyện với những người có thẩm quyền,” tôi đáp trả như thể đang trong một tập phim Điều tra hiện trường tội phạm: Nhà tang lễ.
    “Cô muốn tôi gọi cảnh sát?” Giờ thì bà ta trông cực sốc.
    Ôi Chúa ơi. Đương nhiên là tôi không muốn bà ta gọi đám cảnh sát chết giẫm ấy rồi. Nhưng giờ tôi không thể rút lui được nữa. Tôi phải diễn sao cho thuyết phục.
    “Đúng thế,” tôi ngừng một lát rồi nói. “Đúng thế, tôi nghĩ đó là cách tốt nhất.”
    “Bà không thể tin con bé nghiêm túc được!” Tonya bùng nổ. “Rõ rang là nó đang cố gắng làm mọi người kinh ngạc đấy!”
    Tôi có thể thấy là vị linh mục hơi bực mình với Tonya rồi, điều đó có lợi cho tôi.
    “Cô gái thân mến,” bà ta nói xẵng, “quyết định đó không tùy thuộc vào cô. Bất cứ lời buộc tội nào giống như thế này đều được kiểm tra. Và em gái cô nói đúng. Thi thể sẽ phải được bảo quản để khám nghiệm pháp y.”
    Tôi nghĩ là bà linh mục đã bắt đầu quan tâm tới chuyện này rồi. Có lẽ tối Chủ nhật nào bà ta cũng xem những vụ giết người bí ẩn trên ti vi. Quả vậy, bà ta thậm chí còn bước gần hơn về phía tôi và hạ thấp giọng, “Cô nghĩ ai đã giết bà dì cô?”
    “Tốt hơn là tôi không nên bình luận gì vào lúc này,” tôi nói vẻ ám muội. “Chuyện phức tạp lắm.” Tôi liếc nhanh sang Tonya một cách đầy ý nghĩa. “Nếu bà hiểu tôi muốn nói gì.”
    “Gì cơ?” Mặt Tonya hồng lên vì phẫn nộ. “Em không định buộc tội chị chứ.”
    “Em chẳng nói gì cả.” Tôi lấy giọng bí hiểm. “Ngoại trừ với cảnh sát.”
    “Chuyện nhảm nhí. Chúng ta có kết thúc chuyện này hay không đây?” Chú Bill cất chiếc Blackberry đi. “Dù thế nào thì xe của tôi cũng đến rồi và chúng ta dành thời gian cho bà cụ thế là đủ.”
    “Quá đủ!” Cô Trudy phụ họa. “Nào, Diamanté, đây là một tấn trò!” Cáu kỉnh làm dấu thánh giá, cô bắt đầu thu gom mấy cuốn tạp chí về người nổi tiếng của mình.
    “Lara, chú không biết cháu định bày trò quái quỷ gì vậy.” Chú Bill sừng sộ nhìn bố khi đi ngang qua. “Con bé cần giúp đỡ, con gái anh ấy. Một đứa điên khùng chết giẫm.”
    “Lara, con yêu.” Mẹ đứng dậy ra khỏi ghế và bước tới, nhăn trán vì lo âu. “Thậm chí con còn không biết cụ Sadie cơ mà.”
    “Có thể con không biết, có thể con biết.” Tôi khoanh tay. “Có nhiều chuyện con không nói với mẹ.”
    Tôi sắp bắt đầu tin vào vụ giết người này rồi.
    Lúc này trông linh mục thật lúng túng, như thể tất cả chuyện này đang vượt quá khả năng của bà. “Tôi nghĩ tốt hơn hết là tôi nên gọi cảnh sát. Lara, nếu cô đợi ở đây… tôi nghĩ là những người khác có lẽ nên ra về.”
    “Lara.” Bố đi tới và nắm lấy cánh tay tôi. “Con yêu.”
    “Bố… cứ đi đi,” tôi cố tạo ra phong thái cao thượng, bị hiểu lầm. “Con làm việc phải làm thôi. Con sẽ không sao đâu.”
    Liếc nhìn tôi với nhiều loại ánh mắt từ cảnh giác, giận dữ cho tới thương hại, cả gia đình tôi từ từ rút khỏi căn phòng, đi theo vị linh mục.
    Tôi bị bọ lại một mình trong căn phòng im lặng. Và cứ như lời nguyền đột nhiên bị phá vỡ.Tôi đã làm cái việc trời đánh thánh vật gì thế nhỉ? Tôi bị điên rồi sao?
    Thực ra thì, nó sẽ lý giải nhiều chuyện. Có lẽ tôi nên được nhận vào một viện tâm thần bình yên, tử tế nào đó nơi ta chỉ vẽ lên những bộ quần liền áo và không cần phải nghĩ về công việc làm ăn thất bát hoặc bạn trai cũ hay vé phạt đỗ xe.
    Tôi ngồi thụp xuống một cái ghế tựa và thở phì ra. Ở phần trước của căn phòng, cô gái ảo giác hiện ra ngay trước bảng thông báo, nhìn chằm chằm vào bức ảnh bà lão còng nhỏ bé.
    “Vậy, có phải là cô đã bị giết?” Tôi không thể nén được bèn lên tiếng.
    “Ồ, tôi không nên nghĩ thế.” Cô hầu như chẳng thèm công nhận tôi, nói gì đến chuyện cảm ơn. Hãy tin là tôi đang gặp một ảo ảnh chẳng biết cư xử gì cả.
    “Ờ, không cần cảm ơn đâu,” tôi nói cục cằn. “Cô biết không. Bất cứ lúc nào cô nhờ tôi cũng sẵn lòng.”
    Cô gái hình như chẳng thèm nghe. Cô ngó nghiêng khắp căn phòng như thể không hiểu một chuyện gì đó.
    “Hoa đâu cả rồi? Nếu đây là đám tang của tôi thì hoa đâu?”
    “À!” Tôi cảm thấy tội lỗi ghê gớm. “Hoa đã bị… đưa nhầm sang một nơi khác. Có nhiều lắm, thật đấy. Đẹp cực.”
    Cô không có thật, tôi tự nhủ một cách nhiệt thành. Đó chỉ là lương tâm tội lỗi của chính tôi đang nói.
    “Thế còn mọi người?” Cô nói nghe có vẻ không hiểu. “Tất cả mọi người đâu hết rồi?”
    “Một số người không đến được.” Tôi đan tay vào nhau ở sau lưng, hy vọng mình nói nghe thuyết phục. “Dù vậy, rất nhiều người muốn đến…”
    Tôi ngừng lại, khi cô biến thành làn khí mỏng, ngay lúc tôi đang nói với cô.
    Chuỗi hạt của tôi đâu?” tôi giật thót tim vì sợ khi giọng cô lại vang lên hối thúc trong tai tôi.
    “Tôi không biết cái chuỗi hạt quỷ tha ma bắt của cô ở đâu cả!” tôi kêu toáng lên. “Đừng có chọc tức tôi nữa! Cô cũng thấy là tôi sẽ không bao giờ quên được cái chuyện vừa rồi chứ hả? Mà thậm chí cô còn chưa buồn nói cảm ơn nữa!”
    Im lặng, cô nghiêng mặt quay đi, như một đứa trẻ bị bắt quả tang.
    “Cảm ơn cô,” cuối cùng cô nói.
    “Không có chi.”
    Cô gái ảo giác đang xoay xoay cái vòng tay kim loại hình con rắn quấn lấy cổ tay cô, và tôi thấy mình đang quan sát cô kỹ hơn. Tóc cô sẫm, bóng và ngọn tóc ôm lấy khuôn mặt khi cô chúi đầu về phía trước. Cổ cô cao và trắng và giờ thì tôi có thể thấy cặp mắt vĩ đại, long lanh của cô màu xanh lục. Đôi giày da màu kem của cô nhỏ xíu, có lẽ cỡ 4, với những cái nút nhỏ và gót kiểu Cuba. Tôi đoán cô trạc tuổi tôi. Có lẽ còn trẻ hơn.
    “Chú Bill,” cuối cùng cô lên tiếng, xoay xoay cái vòng tay. “William. Một trong hai thằng con của Virginia.”
    “Đúng thế. Virginia là bà nội tôi. Bố tôi là Michael. Thế có nghĩa cô là bà dì của tôi…” tôi chợt ngừng lại và ôm đầu. “Chuyện này thật điên rồ. Làm sao mà tôi thậm chí còn biết trông cô như thề nào được? Làm sao tôi có thể hoang tưởng ra cô nhỉ?”
    “Cô không hoang tưởng ra tôi!” Cô hếch cái cằm lên, trông có vẻ bực. “Tôi có thật!”
    “Cô không thể có thật được,” tôi nói cáu tiết, “cô chết rồi! Thế thì cô là gì hả, một con ma à?”
    Một khắc im lặng kỳ cục. Rồi cô gái nhìn đi chỗ khác. “Tôi không tin có ma quỷ,” cô nói giọng khinh thường.
    “Tôi cũng chẳng tin.” Tôi cũng không chịu kém cạnh. “Chẳng bao giờ.”
    Cánh cửa mở ra và tôi thấy sốc.
    “Lara.” Vị linh mục bước vào, khuôn mặt bà ta hồng lên và bối rối. “Tôi vừa nói chuyện với cảnh sát xong. Họ muốn cô tới đồn cảnh sát.”
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này