Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.
loading...
  1. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chương 25 BÍM TÓC ĐÁNH LỪA

    Về đến nhà rồi, Gođard vừa thay quần áo khô xong và ngồi trong phòng sách dưới ánh đèn thân mật, là chàng đâm ra nghĩ ngợi và ngạc nhiên với nghi hoặc hoài, chỉ có tiếng gầm quái gở với tiếng kêu khóc tuyệt vọng của Swanhild mà chàng còn nhớ cho chàng tin rằng lúc nãy không phải là chuyện chiêm bao.

    Cả thái độ cư xử của chàng cũng thấy không thể hiểu được. Đáng lẽ chàng bảo ngay cho Oliver biết và bắt buộc hai người đàn bà đem việc giữ kín ra nói với chàng mới phải chứ? Đáng lẽ chàng có trăm ngàn điều làm mà chàng đã bỏ qua.

    Đến lúc chàng bình tĩnh dẹp được sự bối rối suy xét, nhận ra rằng thái độ của chàng như thế là phải. Swanhild và Luna không việc gì, hai người hứa với chàng sẽ không làm lại việc kia một mình nữa, vậy thì chàng phải yên lòng mà tin lời hai người.

    Chàng lại nghĩ: ở trần gian này liệu có giống nào đã rú lên được những tiếng mà chàng nghe thấy chăng? Những truyền ngôn cũ lại hiện đến trí chàng: nào ông tổ truyền kiếp, nào giống vật nửa người nửa thú cách ít lâu lại thác sinh trong dòng họ nhà Hammond và bị nhốt vào căn phòng kín, nào những người chết, sống lại, thành những giống trùng hút máu người… Chính miss Bartendale cũng nói đến một sự thực đáng ghê sợ không xa những chuyện phao đồn kia lắm. Còn về việc vong hồn hiển hiện thì chàng là người rất thiết thực, không hề tin.

    Một điều khiến chàng để tâm là Luna với con quái vật đều ra khỏi phòng trong cái thì giờ chàng phải qua cái ngạch nước thông dưới trường. Con quái vật biến đi hay sao? Cái tiếng “xuất ngoại tinh chất” lướt đến ý nghĩ chàng. Miss Bartendale liệu có phải dùng đến cách này để làm xuất hiện vật hư ảo chăng? Chàng không nghe tiếng Luna trong lúc có tiếng rú: hay lúc ấy nàng đã ra ngoài phòng rồi?

    Sau nữa, chàng lại không biết thế nào mà đoán về cái câu Swanhild reo lên: “Gía anh đến sớm được 10 phút nhỉ!” Mà Luna cũng đồng ý mong mỏi này.

    Bấy nhiêu điều có vẻ trái ngược nhau. Nhưng rút lại chỉ có điều sau này, chàng thấy quan hệ hơn cả: hai người đàn bà liệu có được vô sự trong lâu đài Dannow không? Một sự nhầm lẫn của miss Bartendale hay bất cứ một sự rủi ro nào cũng vẫn có thể xảy ra được.

    Gođard gọi điện cho Oliver xin lỗi đã làm phiền chàng và hỏi chàng về những công việc ngày hôm sau. Trong lúc nói chuyện, Gođard cho len vào câu hỏi mà chàng vẫn băn khoăn nghĩ ngợi mãi, thì Oliver cho chàng biết rằng Swanhild với Luna mệt nhoài vì cả một ngày làm việc vất vả. Sau bữa cơm tối, trong chàng ngồi nói chuyện với bà Yorke, thì em gái chàng rủ Luna vào nhà kho, rồi lúc trở ra thì nàng mặt mày xanh như sắp ngất.

    Gođard không lấy làm lạ. Người thiếu nữ bị khuynh động dữ dội và sự hoảng loạn của nàng đủ để cho chàng hiểu cái lẽ quyên sinh của những người đã trông thấy con quái vật. Nhưng đã thế, thì sao nàng lại tiếc ra rằng Gođard không được gặp thấy nó? Dù sao, trong vài ba hôm nữa chàng sẽ biết rõ. Vài ba hôm nữa! Từ nay tới đó biết bao nhiêu chuyện có thể xảy ra được! Cả cái tiếng mà miss Bartendale nhắc đến cũng khiến chàng nghĩ ngợi hoài: có phải nàng tưởng đến cái tiếng thiếu mất ở đầu câu thứ ba trong bài hát chăng ?

    Gođard định tâm tìm trong tự điển tất cả các tiếng sáu chữ bắt đầu bằng chữ C, G, O, Q và chữ cuối cùng là L hay là Z. chàng chắc hẳn sẽ không buồn ngủ được và tức khắc khởi công tìm. Nhưng chàng là một gã trai trẻ, người khỏe mạnh, không phải lo lắng về phần Swanhild lắm nữa, mà một quyển tự điển thì không còn gì làm đờ đẫn người hơn. Dần dần, đầu chàng gục lên tập sách dầy. Chờ mãi đến sáng ngày, nghe thấy con chó cào mãi cửa phòng sách, chàng mới thức dậy.

    Trống ngực đập rõ, chàng tức khắc gọi điện thoại đến lâu đài Dannow. Tiếng nói bình tĩnh rõ ràng của Oliver cho chàng biết không có gì đáng ngại hết, duy có Swanhild là thấy bối rối một cách lạ lùng. Bốn người ở đằng ấy đang lại khởi công lục lọi các bản cảo cũ và chàng rủ Gođard đến giúp một taỵ Nhưng Gođard chối từ, chàng muốn soát lại một vài điều trước khi đem những điều chàng dò tìm được cho mọi người biết.

    Được những tin vững tâm kia, sau lúc tắm gội và ăn điểm tâm rồi, chàng thấy khoan khoái, phấn khởi: chàng không áy náy như trước nữa,. Miss Bartendale mà bình tĩnh được đến thế trong căn phòng kín cả trong lúc cầm cái bàn tay ướp kho, tất hẳn là vì nàng có thể trấn áp được những tà lực hung ác đó. Nhưng cứ phải ngồi mà chờ đợi những điều người ta sẽ nói cho chàng biết thì không thể giải thích lấy một mình.

    Qúa trưa, gặp một đoạn khó khăn khá lớn bắt chàng ngừng lại., Gođard đi dạo bên ngoài một lát và gặp Swanhikd cũng muốn hưởng một lúc trời quang. Nàng giật mình khi chàng tiến gần lại. Swanhild gượng gạo hỏi:

    - Hullo(#1) , Gođard!

    Giọng đổi khác của nàng nhận thấy cũng dễ dù ở trong tiếng chào vồn vã. Trông nàng như già đi, nhọc nhằn hết cả hơi sức.

    - Ồ, Swanhild! Rõ may mắn chưa! Anh chắc hai ta cùng muốn chuyện trò với nhau một lúc trước khi gặp mặt bọn kia.

    - Em… ấy, … À anh… anh tưởng…

    Nàng liếc mắt, không dám nhìn thẳng chàng:

    - Em nghĩ rằng ta tránh gặp nhau trong ít lâu thì hơn.

    - Được, cái đó anh xin tùy em. Có lẽ như thế tốt hơn thực.

    - Anh Gođard! (Nàng vừa nói vừa âu yếm cầm lấy tay chàng). Anh bao giờ cũng hiểu lòng em!

    Không có gì khác thường trong vẻ người của nàng, duy chỉ thấy đôi mắt quầng thâm, trong đó lộ ra một sự thất vọng ghê gớm. Song mới từ hôm trước đến hôm nay mà nàng già hẳn đi đến mười năm trời!

    Chàng xót thương bảo nàng:

    - Em ạ, anh hiểu em là vì anh yêu em. Nhưng anh chắc rằng cái điều miss Bartendale, giữ kín là một sự nguy hiểm.

    - Không bao giờ xảy ra việc gì được, nếu Oliver cứ giữ đúng lời hứa tránh xa khu rừng và căn phòng kín.

    - Nhưng cứ cấm đoán như thế suốt đời được sao!

    - Đàng thế. Dẫu sao Luna với em đợi vài ba hôm nữa đã, còn thì nhất định không nói một điều gì cho anh ấy biết vội. Về phần anh, anh cũng đừng nói gì hết nhé!

    - Được, anh nghe rồi. Nhưng em cũng nên biết anh áy náy đến chừng nào!

    Nàng ngượng ngùng nhìn bạn:

    - Gođard ơi, về việc nhân duyên của đôi ta em muốn nói cho anh biết trước điều này: nếu có ai bị buộc vào tội ám sát cô Kate, nếu Oliver với em phải nói rõ sự thực, thì…

    Nàng ngưng bặt, đuối nhược quá, đôi mắt chứa đầy vẻ kinh hoảng. Chàng tái hẳn người đi, đón hỏi:

    - Thì em trả lại lời giao ước cho anh sao? Thế ra cớ sự kia ghê gớm đến thế kia ư?

    - Vâng ghê tởm hết sức! Các báo sẽ gây thành một vụ vỡ lở nhục nhã vô cùng!

    - Thôi, em đừng nói nữa. Về phần em, anh không muốn em sẽ phải theo một cuộc sum vầy vội vã, nhưng nếu tình thế bắt buộc thì anh sẽ xin một phép giá thú đặc biệt. Anh muốn có quyền được công nhiên chia sẻ nỗi lo buồn với em: anh lại cho rằng Luna mà bỏ Oliver giữa đường thì thực là hèn lắm.

    Swanhild ngửng phắt đầu lên:

    - Gođard, em cấm anh không được nói thế đấy! Hai người ấy không thể còn mong gì với nhau được nữa.

    - Sao vậy? Đôi bên vẫn mến nhau kia mà…

    - Từ đêm vừa rồi thì tình thế đổi khác hẳn.

    Chàng khẽ nói:

    - Trừ có em với anh.

    Hai người đã bỏ đường rộng đi tới một chỗ có bóng cây tọ Swanhild gieo người ngồi lên một thân cây để úp mặt vào hai bàn taỵ Gođard đến ngồi bên cạnh nàng. Một lúc lâu, nhờ có sự âu yếm thầm lặng kia phấn khởi lòng, nàng mới nói:

    - Giá em mà có thể nói được hết mọi điều với anh thì cũng cam.

    - Thôi, không nhắc đến chuyện đó nữa. Anh đố em biết em đã tìm được gì rồi nào.

    Nàng khẽ reo lên:

    - Lập cảo của Culpeper!

    Chàng lắc đầu:

    - Phải, nhưng ta không nên mừng vội. Bản thuật lại việc cụ Pháp sư khai ngôi mộ cổ với các việc do đó mà xảy ra, nhưng bản ấy không cho thấy một tia sáng nào về con quái vật cả.

    - Thế thì Luna nói đúng đấy. Đi, ta về nói chuyện này cho chị ấy biết đi!

    - Thì anh đến cũng để nói việc ấy. Nhưng anh chỉ sợ rằng chúng ta lại bị những “bím tóc vàng ánh” kia đánh lừa thôi.

    Chú thích:

    (1-) Hullo: Tiếng chào hỏi thân mật lúc gặp nhau.
  2. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chương 26 ĐẦU MỐI CÁC MANH MỐI: 1520 _ 1651

    Vào tới gian Holbein, trong đó Oliver, bà Yorke với cô cháu gái của bà đang nói chuyện, việc thứ nhất của Gođard là đưa mắt nhìn bức chân dung của Warlock treo trên tường.

    Luna vẫn giữ thái độ thường ngày; dịu dàng và vô tư lự. Tuy thế, chàng cũng nhận thấy một vết nhăn sâu vừa xuất hiện ăn ngang trên vùng trán nàng.

    Oliver bảo chàng:

    - Buổi sáng nay chúng tôi không tìm được cái gì đáng để ý cả, Swan chắc cũng chẳng nói chuyện cho anh biết rồi.

    Gođard:

    - Tôi thì may mắn hơn đôi chút. Tôi đã dò được một bài thuật sự dài (chàng ngoảnh nói với Luna) mà có lẽ cô thấy có ẩn một nghĩa kín: đó là bài kể thuật lại việc cụ Magnus khai ngôi mộ.

    Ồ! Thế à?

    Bà Yorke với Oliver đồng thanh kêu lên, trong khi đôi mắt của miss Bartendale lóng lánh sáng. Nàng nói:

    - Hay lắm đó. Ông đem tập cảo tới đó phải không?

    - Tôi đã chắp, dán từng đoạn ở nguyên bản lên một tờ giấy bóng, nhưng khó đọc lắm. Vì thế tôi mới biên thành một bản tóm tắt để đọc cho cô nghe. Rồi sau cô dò xét ở nguyên bản cũng được.

    Oliver cố gắng hết sức, đem kéo ghế quây quần lấy chung quanh chàng. Gođard nói:

    - Culpeper thoạt tiên trình bày cái việc nó đã khiến ông ta để công tra xét. Hình như nhà quý phái ở Dannow, là Sir Gilbert Hammond, một đêm kia đã cùng người con trai nhỏ tuổi nhất, đi từ Dannow hạ thôn trở về nhà. Nhưng chỉ có một trong hai con ngựa trở về lâu đài cổ và bị cào xéo rất kinh khủng, mà trên lưng không có người cưỡi. Tức thì người ta chia các ngả đi tìm và thấy trong khu rừng cậu Hammond, một cậu con trai mười ba tuổi nằm chết và bị ăn mất nhiều chỗ ở mình. Thi thể Sir Gilbert Hammond với xác con ngựa thì nằm ở đường cái, ngay chỗ núi Beacon thoải xuống. Theo các điều nhận thấy thì biết rằng người ngựa đều bị hại vì chống nhau với con quái vật, vì cạnh sườn con ngựa bị cào nát. Ông Culpeper mới đến Dannow xem vì có lời mời của bạn ông là Reginald, con trưởng cụ Gilbert; Reginald hồi ấy có tư tưởng bảo hoàng nên phải ẩn một nơi, không dám ra mặt. Đây, tôi đọc cho mấy người nghe những đoạn rút ở một “bức thư của Nicholas Culpeper, viết ở nhà hàng Sư Tử đỏ, Spitafield Lenden, gửi cho ông Reginald Hammond, không rõ địa chỉ, ngày tháng mười hai năm 1651. dòng đầu thư bị cụt mất, đây tôi đọc những hàng tiếp theo:

    “… câu chuyện người ta kể lại rằng họ Hammond là một dòng giống trùng hút máu. Và nếu một người trong chi họ chết non thì thuở sinh thời y đã đúng tuần cữ, hút được máu người sống nhiều chừng nào là y có thể sống mãi trong mộ được lâu chừng nấy. Đó là những lời mọi người kể lại ngụ ý chỉ đại huynh của ngài là ông Oliver,(#1) bỏ mình trong trận Wecester và an táng ở đấy hai tháng về trước.

    “Tôi khởi cuộc điều tra vào hồi trăng tròn, xét rằng như thế hợp ích cho công việc. Tôi chủ tâm ghi lấy đúng những ngày nào giờ nào con quái vật xuất hiện từ xưa đến ngày nay, để có thể nhờ phương pháp thần bí của khoa chiêm tinh mà tìm ra được một phép linh nghiệm ngõ hầu đời gìn giữ được ngài, hỡi Reginald quý hữu, rồi những ngài chủ nhân sau này của đất Dannow khỏi gặp những tà ma, vong linh, hiện hồn, yêu tinh quỷ quái và các linh hồn khác”

    Gođard phải ngừng lại để thở. Chàng giảng giải:

    - Đến chỗ này có một khoảng lớn bị rách mất. Mà cái đoạn mở đầu vừa rồi tôi cũng không được rõ nghĩa lắm.

    Luna…

    - Rõ đấy chứ. Culpeper là một nhà chiêm tinh học có tiếng, ông trông ở khoa học ấy để định rõ được căn nguyên con quái vật, cũng như tôi vẫn nhờ đến khoa khảo cổ học và thôi miên học ấy mà. Ông đọc tiếp đi.

    - Từ đoạn này, tôi chép thành lối văn mới cho tiện.

    “Tôi đã điều tra các trường hợp khi cụ tổ ba đời nhà ông gặp thầy con quái vật. Theo những cảo cũ nhà ông thì cụ gặp nó ngày mười tháng Mười Một năm 1556. Ông cụ thân sinh ra cụ đã gặp nó từ ngày tám tháng hai năm 1526, còn giờ nào thì không thấy nói đến, ở lần trước cũng như lần sau. Sau khi được nghe một câu của thân mẫu ông nói cho biết mọi điều, tôi đi hỏi các người lân cận nhà ông ở Dannow, ở Danny và ở Newtimber và sau cùng tôi biết rằng ở Steying vẫn còn sống một người tên là Jos Blount, lão khoe rằng ngày còn trẻ đã quen thân với John Slinfold là con đồng của Magnus Pháp sự Người tên là Blount này, làm nghề thầy lang, vẫn nhất định không bao giờ chịu nói gì về những điều Slinfold đã kể lại với lão. Nhưng tôi cũng cứ đến Steying tìm lão và được Mr. Willian Blount, một người đàn ông trạc tuổi tôi, đón tiếp nhã nhặn, Willian Blount cũng làm nghề thầy lang.

    Willian dẫn tôi đến nhà cụ tổ ba đời của ông ta, một cụ già sọm, bé choắt, nhưng đôi mắt còn giữ được vẻ tinh anh trẻ trung lạ thường. Người cháu nói tên tôi với cái mục đích tôi đến thăm cho ông cụ biết, rồi ra.

    - Chính phải đó, ông Culpeper ạ (đó là lời ông cụ Jos Blount bảo tôi) chính tôi đã học tập ở nhà ông John Slinfold trước đây chín mươi năm rồi đó. Đến lễ Dâng (mồng hai tháng Hai) sang năm tôi sẽ đúng một trăm linh chín tuổi, con trai tôi thì lại chết già từ ngày lễ Saint Martin rồi.

    Tôi nói:

    - Cụ Blount ạ, tôi chỉ sợ làm phiền vô ích. Vì cái việc tôi muốn biết đây đã lâu quá mất rồi.

    - Không, ông đừng tưởng thế. Đời người như một vở kích khéo đóng mà người ta chỉ nhớ có đoạn mở đầu với lúc hạ màn thôi. Đến nay lão vẫn nhớ được cái mùi kẹo ngậm với bánh bột hạnh nhân hồi còn bé vậy mà lão ăn những gì hôm qua lão đã quên mất rồi! Lão có thể kể lại cho ông nghe đúng từng lời mà ông Slinfold đã nói với lão năm 1559. Hồi ấy Slinfold bắt được lão đang đọc trộm một cuốn sách Ảo thuật, ông ấy nổi giận và cấm lão không được đọc nữa. Ông ấy bảo lão thế này… “Từ bảo thạch tràng sinh người ta bị lôi kéo dần đến tà thuật, tôi có thể lấy ngay cái gương mẫu của ông cố chủ tôi là Sir Magnus Hammond kể cho anh coi. Sir Magnus là một vị quý tộc can đảm và đức hạnh đã làm danh dự cho nước Anh và xứ Sussex; vậy mà tên của người chỉ vì những sự dại dột của người mà thành nguyên do bao nhiêu khủng khiếp cho con cháu về sau”. Lão năn nỉ ông Slinfold kể chuyện cho lão nghe. Ông ta kể:

    “Sir Magnus không chè rượu, không bao giờ nhìn một người đàn bà nào khác ngoài vợ mình, ngài coi rẻ vinh hoa, phú quí. Làm tướng có ra trận, ngài chiến đấu oanh liệt ở Beswerth. Vua Harry Richmond ý rất muốn với ngài thủ chứa trong triều nhưng Sir Magnus ưa sống ở Dannow hơn và chuyên tâm đọc sách khảo cứu.

    “Hồi ấy tôi mồ côi, nên Sir Magnus đem tôi về nuôi nấng, rồi trong bao năm trời tôi làm con đồng đọc những trang triệu hung cát trong thiên lý kinh cho ngài. Ban đầu, công việc của ngài thực vô hại: ngài chỉ tìm đá luyện trường sinh cho vua Harry thôi, riêng phần ngài, ngài mong tìm được trường sinh dược tửu. Suốt năm suốt tháng ngài sống giữa những dược cao, bình cất, những gà nuôi bằng rắn độc và cho uống dấm, với bao nhiêu cái dị kỳ. Khi tôi không ở với ngài nữa thì hình như ngài đang chuyên học hắc thuật và cúng tế ma quỷ cũng như giáo chủ Retz bên Pháp, nhưng ta không có gì làm bằng. Tôi biết là biết những việc ngài làm trong mộ các đạo sĩ Chủ tế ngày xưa kia!

    “Theo lời đồn từ xưa, trong mồ này có một kho củalớn, kẻ thì bảo là có Bò Vàng của Aaron, kẻ thì bảo là những bình tế lễ của các Đao sĩ. Khi Sir Magnus gọi tôi, đến bàn việc ngài muốn khai mồ thì tôi có nhắc ngài nhớ rằng con quỷ giữ ở trong mồ xưa nay vẫn không để ai phạm được tới. Nhưng Sir Magnus liền cười mà bảo tôi rằng: “- Này Jack, ta tìm được bao nhiêu vàng ở trong đó đều cho mi hết để đền công mị Phần ta, ta chỉ tìm cái bảo bối với câu bùa để khiến những tâm linh hiện lên hay biến đi theo ý muốn của ta thôi”. Rồi hai mắt lóng lánh lên, ngài lại nói: “Thế nào ta cũng thành công Jack ạ, mà ta sẽ dùng những quỷ thần ấy một cách khôn ngoan hơn thầy Faust nữa(#2) kia! Ta sẽ sai khiến họ lấy dâng ta luyện thạch bảo bối và thuốc trường sinh. Đến lúc ấy thì không một vị đế vương nào là không sẵn lòng đem hết của cải để đổi lấy phép bất tử. Mà ta thì sẽ làm hoàng đế cả thế giới. Rồi biết đâu đấy, độ vài ba thế kỷ nữa, đến năm 1800 chẳng hạn hay sang năm 1900, những sứ thần các nước chư hầu có lẽ sẽ đến bái chúc ta trong những căn phòng hèn hạ Ở lâu đài Dannow này. Thế rồi họ ban tước lộc không biết bao nhiêu mà

    Gođard ngừng lại lần nữa và bao nhiêu con mắt đều bất giác nhìn về bức chân dung của Magnus. Oliver tấm tắc nói:

    - Sống muôn đời… Làm chúa tể Trái Đất! Có quyền kiểm sát thế gian và quỷ thần! Ồ! Chỉ vì lòng ham muốn đáng sợ kia xúi giục ông cụ khai tìm trong ngôi mộ!

    Luna gắt đáp:

    - Phải! Thế rồi ông cụ phải đến nước van xin hậu thế cầu nguyện cho linh hồn mình. Ông đọc nữa đi, ông Corvert.

    - “Nhưng dám bẩm cụ lớn (tôi dịu lời thưa với Sir Magnus thế) làm thế nào mà cụ lớn lại biết rằng câu thần chú ấy giấu ở trong Thunder s Barrow? Được, để ta giảng giải cho mi biết. Nhờ có cuộc đời hãm mình trong kham khổ, cụ Ẩn tu, cụ tổ nhà ta, đã luyện được phép giam giữ con quái vật trong mồ. Vì thế, từ ngày cụ mất, con quái vật không còn quấy nhiễu dòng họ nhà ta nữa. Một linh vật lâu đời như nó và cái quyền hư nó thì làm cách nào mà xích lại được nếu không nhờ có phép yểm thế của Salomon là đấng đã cai quản được các thần linh về bên chính cũng như bên tà? Vì thế ta mới muốn tìm trong mộ những dấu hiệu và cái câu thần chú giữ ở đó.

    - Nhưng lỡ đánh xổng con quái vật thì sao?

    - Không sợ, vì ta sẽ không thay đổi động chạm đến vật gì trong đó. Ta chỉ vẽ lấy một bức họa rất cẩn thận để đem về nhà bình tĩnh dò xét thôi.

    - Tôi chưa chịu ngay, hỏi thêm nữa.

    - Bẩm, trước kia người ta cũng đã tìm tòi trong mồ nhiều lần rồi. Con quỷ kia không để người ta thấy có gì trong ấy hết.

    - Sir Magnus cười:

    - Ta có những thứ bảo vệ giỏi hơn các tiền bối của ta: ta sẽ mang theo một bàn tay danh vọng.

    - Thế ra là tà thuật rồi sao?

    - Jack! Ta là chủ nhân, ta sẽ chịu trách nhiệm về mọi sự.

    “Đến đêm, Sir Magnus đến chỗ cột hành hình dựng ở trên núi người khổng lồ và cắt một bàn tay của Will Stredwick là người bị xử giảo ba hôm trước vì tội giết người…”

    Gođard nói:

    - Đoạn này ngừng lại chỗ này, còn đoạn sau bắt đầu ở giữa câu:

    “… và ở đầu những ngón tay thầy trò chúng tôi gắn những mồi nến làm bằng mỡ nấu ở cái xác của Will. Xong đâu đấy, thầy trò chúng tôi đến Thunder s Barrow đêm đầu tháng Hai, mang theo cái bàn tay, một cái xẻng và một cái cuốc. Ông chủ tôi nhận lấy việc xách đèn và vác một bao lớn đầy những đất đã làm phép lấy ở nghĩa trang. Mỗi người đeo một vòng kết bằng cỏ hái ngày lễ Saint Jean để ma quỷ sợ, với những nhánh tỏi giắt ở thắt lưng. Con chó săn lớn của Sir Magnus cũng đi theo. Tới mộ, thầy trò chúng tôi rải đất thành ra một bên rồi Sir Magnus lấy túi gươm vạch xuống đó một hình sao ngũ giác. Ngài bảo tôi rằng đứng trong những vạch ấy thì ta không lo tai nạn gì. Nhổ bật được mấy thân cây thì thấy đến một lần đá phấn, rồi đến một phiến đá lát. Ngài không thấy trên mặt đá có ấn hiệu của Salomon nên lại để vào nguyên chỗ rồi lại đào thêm. Giữa lúc đó, những mồi nến cháy gắn trên bàn tay danh vọng tất cả, làm thầy trò chúng tôi phải ngừng taỵ Hai người đến gần sáng mới trở về nhà để nghỉ ngơi và đúc những mồi nến khác.

    “Đêm thứ ba, gió thổi mạnh. Thời tiết đóng giá và trên trời lấp lánh đầy sao. Phải đào một lỗ hỏm ở trong vạch huyệt để cho ngọn lửa khỏi bị tắt. Vào khoảng nửa đêm hai thầy trò chúng tôi đào thấy một hình tượng lớn mà thoạt trông tưởng ngay là Bò Vàng…”.

    Oliver vỗ tay nói:

    - Ồ! Miss Bartendale! Cô thực đã đoán được hết tất cả!

    Bà Yorke bảo:

    - Ông Covert, ông đọc nốt đi. Cái nhà ông cụ người cổ kia, cũng lạ lùng lắm đó.

    Chú thích:

    (1-) Oliver: Trùng tên với Oliver, anh Swanhild bây giờ

    (2-) Thầy Faust: Một nhân vật kỳ dị, người Đức, bán linh hồn cho quỷ Mephisteles để đổi lấy phú quí và hạnh phúc, kể cho Jack Slinfold, vị thủ tướng bất tử của đức Magnus Hammond, hoàng đế bất tử của Trái đất, của Cuộc đời và Thời Gian vĩnh viễn.
  3. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chương 27 ĐẦU MỐI NHỮNG MANH MỐI: 1651 _ 19…

    “Rồi sau thầy trò chúng tôi đào thấy một mặt ván, Sir Magnus thấy không có dấu hiệu gì trên đó mới sai tôi bẩy ván lên. Tôi kinh sợ lắm nhưng Sir Magnus nói cho tôi vững tâm rằng không việc gì mà sợ, vì con chó không tỏ vẻ gì là lo sợ cả.

    “Ngài tìm một khe ván ghép, lách mũi cuốc vào đó rồi hết sức ấn xuống. Để có rộng chỗ, ngài bảo tôi lên khỏi huyệt. Mấy mồi lửa nến được kín gió nên cháy thẳng ngọn, trong khi ấy gió bao vây quấn lấy người tôi dồn lăn những tiếng cành gẫy và bụi cây xào xạc. Sau cùng Sir Magnus nậy lên được một tấm ván. Một hơi gió tù hãm hôi thối ở dưới hố xông ùa lên khiến tôi quay đầu đi và làm tắt những mồi nến.

    “Tôi mê mẩn tâm thần đi mất một lát. Bỗng nhiên tiếng hét lên của Sir Magnus làm tôi tỉnh lại:

    - Nó đến đấy! Nó đến đấy! Cút ngay, Satan nhân danh Cha và Con Thánh Thần! Phải coi cừng đấy, Jack! Đứng vào chỗ đất thánh kia, mau!

    “Tiếng thét lớn của ngài đưa từ dưới huyệt lên, the thé chẳng kém gì tiếng kêu của đàn bà. Con chó bắt đầu rền rít. Thốt nhiên thoát ra một thứ tiếng kêu không phải là cười, không phải là khóc, không phải tiếng người, không phải là thú, hay tiếng quỷ quái mà là có đủ thứ các thứ tiếng kia. Thoắt một bước, tôi nhảy vào giữa chỗ đất phép, nắm lấy quai đèn và đứng lặng ở đó, mấy nhánh tỏi lăm lẳm trong taỵ Tiếng gầm quái gở kia vẫn từ dưới huyệt đưa lên, lẫn với tiếng con chó cứ rít. Rồi tôi thấy Sir Magnus lên khỏi huyệt trước một tia sáng của ngọn đèn., ngài quay mình lại vung cái gậy lớn cứ nhè nhè phía sau mà phang. Ngài đứng được một lúc thì quỵ xuống, ngã gục trên đám đất thánh, ngay bên cạnh tôi, tôi lại vạch một hình ngũ giác nữa quanh hai thầy trò tôi; trong khi ấy thì ngài thở cho lại sức. Rồi hai thầy trò mỗi người ngồi cạnh một phía đèn, ánh sáng chiếu lên hai bộ mặt kỳ dị và kinh khiếp. Sir Magnus thì nước mắt tầm tã, quần áo rách mướp, máu me nhễ nhại, bàn tay với cánh tay đầy những vết thương. Ngài hầm hầm lẩm bẩm nói:

    - Nó chạy mất rồi! Ta không biết nó hình thù thế nào, cũng không biết nó đến như thế nào. Chỉ thấy như sự gì tiến lại gần ngay khi mồi nến vụt tắt, rồi trong vừng tối tăm hung đỏ, ta cứ như người nhắm mắt mà chống cự, cào cấu vung lên. Thế rồi ta trông thấy ánh sáng đèn.

    - Bẩm, thế còn con chó thì sao?

    - Thì nó cũng chống cự như ta.

    “Tôi nhìn ra thì thấy con chó tội nghiệp ấy nằm ở phíc trước mặt tôi; nó chết rồi, mình bị xé nát trông rất kinh sợ. Đầu con chó gần như bị rứt đứt. Thấy cảnh tượng ấy, Sir Magnus thở ngắn than dài mãi rằng con chó bị hại chỉ vì đã trung thành với chủ. Ngài kéo con vật lại chỗ hai người chúng tôi để thi thể của nó không bị phạm đến nữa. Rồi ngài lại vẽ lại cái hình ngũ giác mà nét vạch hơi bị xóa nhòa…”

    - Hay đấy! (Lời Oliver) cử chỉ kia đủ để chứng rằng Magnus chưa hẳn đã quá hư hỏng. Phải thế không, miss Bartendale?

    Luna nhìn chàng một vẻ lạnh lùng. Swanhild thì cau mày. Gođard lại đọc tiếp:

    - Bẩm, bây giờ thì ta làm gì ạ? (Tôi vừa hỏi vừa soi mói nhìn vừng đêm đen tối trong đó kẻ thù có lẽ đang ngồi rình)

    - Đợi cho trời sáng.

    Ngài trả lời rồi đưa ngọn đèn cẩn thận chiếu sáng chung quanh. Đèn vẫn sáng mãi đến lúc giải trời ban mai lờ mờ hiện sau vừng cây cối. Thầy trò tôi tưởng chừng như ngồi đó chờ đợi đã cả một đời người. Ngài bảo tôi:

    - Jack ạ, thầy trò ta đi vào huyệt xem xét xem có những gì đi. Cái vật xổng mất đêm vừa rồi không thể tác hại được khi có ánh sáng ban ngày nữa. Nội hôm nay ta phải xong việc mới được.

    “Thầy trò chúng tôi khai một ngôi mộ ra xem: dưới một tấm ván, một bộ xương nằm an giấc trong bộ áo giáp, đầu quay về hướng tây. Bộ giáp bằng da gò có đeo những khuy bằng sắt hay bằng sừng đập dẹt. Sir Magnus lúc đánh nhau với con quái vật đã dẫm gẫy một xương đùi và đã rải rác ra chung quanh những mảnh giáp chân và đôi giầy. Phía trên bộ giáp có một cái mũ trụ bằng đồng dát vàng, trong mũ thò ra hai bím tóc lớn màu hung nâu. Một cái khiên tròn mang dấu thập tự của tướng hiệu đậy lên bím tóc tay trái, một thanh gươm lớn và to bản, đã hoen rỉ hết, thì đặt chéo đè lên bím tóc tay phải. Ngang trên đùi, một cái búa chiến; giữa hai chân, một cái cán tay gươm mạ vàng và chạm trổ, với một miếng đồng lớn đúc theo hình một chiếc lá gẫy làm ba đoạn.

    Sir Magnus mơ màng khẽ nói:

    - Ta biết rằng ngày xưa đã có một thời các vị quí tộc vẫn mang bím tóc. Tiếc thay! Con quái vật từ nay đã xổng, mà sự tai hại đã gây nên mất rồi! Vậy ta có thể mang được thanh kiếm vàng rất đẹp này về, vì có những chữ khắc trên đó xem chừng ta đã biết quạ Phải đó là nhờ vong linh vị tổ tiên của ta ở đây mách bảo ta chăng? Mà ta biết chắc chắn rằng ta đang đứng trên sàn một chiếc hải thuyền, ta lai biết rằng cái hình tượng kia là một thứ hình ở đầu mũi. Jack ạ, tại sao ta lại biết được những điều ấy nhỉ?

    Oliver vội ngắt lời:

    - Tôi cũng đã biết như thế.

    Luna bảo chàng:

    - Những ký ức tổ truyền ở ông cũng là những ký ức ở cụ Pháp sư đó.

    Gođard nói:

    - Bản đại lược của tôi đến đây là hết. Đoạn tiếp theo, tôi chỉ dò xét qua loa thôi. Sir Magnus với Slinfold về sau lấy đất nghĩa trang phủ lên bộ xương khô rồi trả lên mặt ván sau khi đã đậy lại nguyên chỗ, rồi sau cùng lấp kín huyệt lại. Cụ Warlock nói cam quyết với người thợ giúp cụ rằng cụ không trông thấy con quái vật một lúc nào, mà nhờ có điều ấy, cụ mới khỏi chết. Ngay sau việc này, Slinfold mất hẳn cái khiếu xem thiên lý kinh và xin vào học nghề ở nhà một thầy lang. Hắn chắc rằng cụ Pháp sư lấy con trai cụ làm con đồng và trong một phiên phụ đồng con quái vật thình lình hiện đến. Lòng hối hận đã để nó xổng đẩy Sir Magnus đến sự quyên sinh. Bản cảo từ đây trở đi không thể nào đọc được nữa, thành thử ta không biết Cukpeper kết luận ra sao. Đáng bực mình thực (vừa nói chàng vừa xếp lại tập giấy)vì ông Culpeper này cũng chẳng cho ta biết được điều gì lạ lắm.

    Luna đáp:

    - Không, ông lầm. Những tài liệu không được việc cho ông Culpeper ba trăm năm về trước lại rất có ích cho tôi ngày nay đó. Thôi, bây giờ tối rồi, chắc những bọn tò mò đã không còn trên gò nữa. Vậy ai muốn đến Thunder s Barrow tìm cho tôi phiến đá trên có khắc những cổ tự nào?

    Gođard hỏi:

    - Thế nào? Lấy đem về…

    - Phải, lấy phiến đá mà lúc tìm thấy cụ Pháp sư đã bỏ quạ Ông không nhớ những lời cụ nói sao?

    - Ông cụ nói rằng cái dấu Salomon không có trên phiến đá…

    Nhưng vừa nói thế Gođard đã ngừng bặt: chàng chợt hiểu hết ý nghĩa của câu vừa rồi.

    - Ừ nhỉ, tại sao ông cụ không nói ngay là phiến đá nhẵn mặt, mà lại nói thế nhỉ?

    - Ấy đó! Là vì tuy không có cái dấu yểm phép nhưng mặt đá có khắc chữ. Phiến đá hẳn có trong khoảng ta tìm tòi. Ông với Swanhild có thể tìm thấy dễ lắm; còn ông Hammond sẽ giúp hai người mang về.

    Mọi người liền lên xe hơi đi cùng với hai cái xẻng và một giờ sau phiến đá đã đặt nằm trên mặt cỏ trên gò. Phiến đá bề dài cũng bằng một tấm bia mộ thường, nhưng dầy gấp đôi và bề ngang chỉ bằng một nửa. Luna đã đem theo hai cái chổi quét sơn và một bản sao chép những chữ cổ trên thanh gươm. Nàng quỳ xuống, chải sạch đất ở những chữ đục sâu trên mặt phiến đá. Rồi nàng bắt đầu ra hiệu cho Swanhild và đưa mắt cho nàng ra vẻ đắc thắng. Những chữ khắc kia thấy đúng in như những chữ trên đốc gươm.

    Oliver hỏi:

    - Có phải chính là cái cô vẫn ước ao tìm được đó không?

    - Tôi chưa thể nói gì chắc chắn bây giờ được, ông Hammond ạ. Phiến đá này ta không thể giao cho sở hỏa xa được. Vậy tôi lấy máy ảnh chụp rồi gửi một bản cho giáo sư Meikellin theo chuyến xe lửa thứ nhất vào sáng mai.

    Oliver trách:

    - Ô! Nhưng mà cô hứa ở lại đến chiều mai kia mà!

    Nàng cười.

    Thấy Gođard có vẻ hoài nghi, nàng hỏi:

    - Ông thấy tôi cho việc tìm ra được phiến đá này quan trọng sao? Không có một sự gắng công nào là vô ích hết, ông ạ. (Nàng nói thêm, vì thấy đôi mắt Swanhild lóng lánh vẻ mừng rỡ) nhưng ta cũng nên coi chừng, chớ nên hy vọng sớm quá. Ta còn có cả một ngàn năm bí mật nữa để khám phá cho ra.

    Đêm hôm đó, Gođard lại tìm trong tự điển đủ các tiếng bắt đầu có những chữ C, G, O, Q, và S, thầm mong rằng lần trước đã bỏ sót mất cái tiếng ở câu vè. Nhưng công toi. Mà câu chuyện do Slinfold thuật lại thì càng làm cho chàng không biết đường nào mà suy nghĩ nữa.
  4. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chương 28 VẪN CÁI CHUYỆN TÌM CHỮ: ? ? ? HAMMOND

    Sáng hôm sau Luna và bà Yorke ra ga từ sớm. Gođard đưa họ đến Hassock rồi ở lại nói chuyện với Oliver và Swanhild đến hết ngày. Cái tin đồn về việc khai thác ngôi mộ ại quyến thêm một làn sóng: những phóng viên nhà báo và những người hiếu sự lại ùa đến ám Dannow.

    Oliver đưa ra cho bạn một bức ảnh chụp những câu vè khắc trong căn phòng kín. Gođard vừa xem đến đã thấy mình được đền công lại sự cố gắng ban đêm: chàng tưởng nhớ lại lúc Luna xem xét những câu khắc trên đá. Nàng đọc tới giữa chừng câu: “Under satrs sans…” thì ngừng ngay lại. Cái tiếng “sans” Pháp Lan này chàng vẫn thường thấy dùng trong Anh ngữ hồi trung cổ, cũng như bao nhiêu tiếng mượn ở Pháp ngữ khác. Vậy cái tiếng mất ở đầu câu vè kia có phải cũng là một tiếng Pháp chăng?

    Chàng về nhà tra tìm trong quyển tự điển dùng hồi đi học, nhưng không ăn thua gì, chàng mới rắp tâm hôm sau sẽ đi London mua một quyển khác đầy đủ hơn, lại có cả những tiếng cổ ngữ.

    Ngày thứ năm, bọn phóng viên lại đổ đến nhiều thêm. Trưa hôm ấy, một bức điện tín của Luna đánh về: chữ trên phiến đá đêm vừa rồi đã dò được, nàng muốn mời cả nhà chiều nay đến nhà nàng ở London để dự một buổi thôi miên nữa.

    Gođard để ý ngay đến sự đổi khác ở Luna trong hai hôm nay: một đường nhăn lớn ăn sâu ngang trán nàng, và hai tay nàng luôn luôn run rẩy. Xem chừng nàng khó tự chủ được tâm thần, cả đến bà Yorke – bà ra chiều không muốn có những buổi thôi miên – hình như cũng không được bình tĩnh.

    Miss Bartendale không chịu cho xem bản dịch những chữ cổ tự. Nàng chỉ giở ra hai tờ giấy đánh máy và bảo Oliver:

    - Lúc nào ông bị giấc thôi miên, ông Covert sẽ đọc cho ông nghe một tờ và ghi lấy những tiếng nào hoặc câu nào mà ông nhận ra. Lúc tỉnh dậy, ta sẽ cùng thử làm theo cách ấy với tờ giấy thứ hai rồi ta sẽ đem hai lần trả lời của ông ra so sánh.

    - Thế sao cô không đọc lấy?

    - Vì lỡ vô tình dằn giọng ở một tiếng có thể là một dấu chỉ dẫn cho ông biết trước mất. Chúng tôi lại đi ra cả, để một mình ông lại với ông Covert để tránh sự truyền giao tư tưởng bất cứ của người nào trong lúc vô tâm, vì bà cô tôi và cô Swanhild đều biết chuyện như tôi cả.

    Bây giờ thì Luna chỉ đưa tay qua một cái cũng khiến Oliver bị thôi miên được. Ở lại một mình với chàng, Gođrad lấy thế làm khó chịu hết sức. Vừa xong việc, chàng gọi ngay bọn đàn bà vào.

    Tay run, mắt lấp lánh, Luna xem xét những câu hỏi. Nàng đưa một liếc mắt đầy ngụ ý cho Swanhild lúc đó đứng đọc sau vai mình. Nàng khẽ nói:

    - Cũng khá đó chứ!

    Rồi đánh thức Oliver dậy. Nàng bảo chàng:

    - Ông Hammond, ông đọc mảnh giấy này đi trong lúc chúng tôi xếp đặt chỗ ngồi.

    Mọi người ngồi quây quần lai trước lò sưởi, thì Oliver đọc những câu hỏi trên:

    - Những cái sau này ông có biết là gì không: Salvator, Rosa, Rattoska, Hvareno, Vishnu Siranguan… (chàng lẩm bẩm nói tiếp) lạ chưa! Những tên hỗn độn kì dị quá!

    Luna:

    - Là vì tôi để những tên chính lẫn vào những tên vu vơ đó.

    - Tôi hiểu ra rồi: cô muốn xem tôi có phân biệt được những tên nào là tên đúng không, chứ gì? Thế thì đây: Salvator Rosa là một nghệ sĩ Vishnu là một vị thần Ấn Độ. Những tên khác thì tôi không biết. À mà có, có một tên tôi quen biết đã lâu, biên ở dưới những cái tên ấy, là :Odin.

    - Odin nhắc ông nhớ đến chuyện gì?

    - Tôi tưởng tượng thấy tôi ngồi bên chân giường Swanhild hồi chúng tôi mới lên sởi vừa khỏi và đang đọc những truyện cổ tích Bắc Âu cho em tôi nghe.

    Chàng lại nhận thêm được mấy tên cổ điển nữa và giải thích một vài tên:

    - Thor là một vị thần khác của xứ Bắc Âu, Baldur cũng vậy. Teste David cum Sybilla là một bài hát mà tôi không thuộc lời, nhưng điệu thì thế này:

    Chàng đâp tay lên đùi đánh nhịp điệu Dies Iroe(#1).

    Ngẫm nghĩ một lát, chàng lại nói:

    - Assir Lok cũng giống như Loki: tôi chắc đó là thằng gian tặc trong truyện cổ tích tôi đọc hồi lên sởi. Sigmund là tên trong bản tuồng Wagner, Miolner thì tôi nhớ lờ mờ thôi…

    Chàng đã xem hết tờ giấy. Luna bảo cho chàng biết:

    - Ông vừa tìm ra được năm tiếng đáng chú ý đó. Lúc nãy, trong giấc thôi miên, ông đã nhận được năm tiếng khác: Rattotskar, Ygdrasil, Jormunđgander, Einheirar và Fimbulveter.

    - Nhưng tôi không biết gì về những tên ấy.

    - Những tên ấy là do ký ức tổ truyền của ông nhắc cho ông nói ra đó. Những tên ấy đều là tên trong điển chế tôn giáo cổ miền Bắc Âu đó. Dòng dõi nhà ông mới theo đạo Cơ Đốc được nghìn năm trở lại đây, nhưng trước kia, hàng bao nhiêu thế kỷ, tổ tiên nhà ông còn thờ những thần thánh khác. Nhưng hoài niệm phảng phất về các điều tin tưởng của các cụ vẫn còn sót lại trong trí não ông và vẫn có thể nổi lên khi ông bị thôi miên đó.

    Nàng xem lại những chỗ Gođard ghi trên giấy.

    - Ông chỉ nhớ lờ mờ rằng Sigmund là một vị anh hùng oai vệ, nhưng ông mô tả Odin như vị chúa cả muôn vật; Thor ông coi là vị chủ nhân cái búa thần Miolner. Baldur là thần Mùa xuân, Lok là yêu quái, Ygdrasil là cây thiêng. Einheirars là những anh hùng hiển thánh, Yormundgander nhắc tưởng đến một vật dài và tròn, còn Fimbulveter là cuộc tranh đấu cùng tận.

    Oliver ngẩn người ra vì ngạc nhiên. Chàng nói:

    - Ồ! Thế ư? Nhưng tôi đã bảo rằng tôi không hề biết những chuyện đó kia mà!

    Luna giảng giải vắn tắt cho chàng hiểu rằng Jormunđgander là con rắn lớn giữ nước bể lại chung quanh trái đất. Dưới bóng cây ô-liu thần, hồn bọn Einheirars ăn mừng để đợi cuộc tranh đấu vô cùng tận. Họ đi qua cầu Vồng hay Băng kiều để giúp sức Odin và các thần khác thắng được lũ quỷ Helmein. Nàng nói tiếp:

    - Ta đi lên xa quá những việc đang tra xét hiện nay nhỉ, có phải không? Nhưng rồi ông sẽ thấy cái đoạn đường trường từ con quái vật truyền kiếp nhà ông đến cái ngày Phán đoán sau cùng của dân Đan Mạch cổ, không phải là xa cách đến thế đâu.

    Khi trở về nhà, Gođard lại cắm cúi vào việc tra quyển tự điển chữ Pháp. Gần nửa đêm chàng mới thấy được cái tiếng chàng có ý tìm và đến gần sáng chàng vẫn mải mê xem xét các ý nghĩa của tiếng ấy. Một vài nghĩa giải thích chàng không hiểu tới được, nhưng cái nghĩa ghê gớm phũ phàng thì rõ rệt. Luna nói phải: chỉ sáu chữ cái là đủ cắt nghĩa được hết mọi điều, là đủ cho biết vì sao cụ Reginald Hammond và cụ Pháp sư quyên sinh, vì sao mà những người khác phải chết vì buồn phiền và vì sao mà Swanhild không thể nói với chàng một điều nào được.

    Hàng mấy ngàn năm đã cách biệt Oliver và Swanhild với tay hải khấu torng mồ mà hai ngày trước đây họ đã quấy rối giấc an nghỉ vĩnh viễn. Cái mảnh đồng kia lại hình như chứng minh rằng thời dĩ vãng ấy đã bắt đầu từ thời đại kim khí. Không biết bao nhiêu thế hệ của dòng họ Hammond đã kế tiếp nhau và vẫn đời đời bị con quái vật truyền kiếp theo dõi.

    Theo dõi truyền kiếp! Nhờ trời, chỉ có Oliver phải chịu tai ương đó thôi. Nhưng nếu cuộc điều tra các nhà chuyên trách lập ở cái quán trong làng kia mà buộc tội lầm hai anh em tên đánh bẫy nọ thì cái nhục nhã kỳ quái của nghìn đời kia tất sẽ phơi bày trên khắp các mặt báo. Trước mặt cả toàn cầu.

    Chú thích:

    (1-) Nhịp điệu Dies Iroe: điệu hát lễ cầu cho linh hồn kẻ vừa chết.
  5. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Chương 29 HỒN THỜI ĐẠI GHI MỘT ĐIỂM

    Hôm ấy thứ sáu: Gođard dậy sớm. Sau hai ngày sụt sùi mưa, buổi sáng đó trời tạnh ráo và gió thổi mạnh. Giá băng đóng lại trên các miền cao, có ánh mặt trời chiếu nhẹ.

    Càng bước gần tới lâu đài chàng thấy cái sự thực kinh khiếp như càng thêm hà khắc. Một ý muốn chợt đến dun dủi bước chàng vào xem bức hình nổi trong nhà thờ. Thiếu chút nữa chàng vấp phải Oliver: cử chỉ đầu tiên của chàng là trốn chạy, chàng lùi ngay lại trước hiện thân linh hoạt của cái tiếng ghê gớm mà từ nãy chàng đã biết rồi.

    - Ồ này! Gođ! (lời Oliver). Sao giật thót mình lên như thế! Không khí nhà thờ làm anh dễ hoảng lắm nhỉ.

    Gođard lảng chuyện:

    - Tôi định vào xem bức hình…

    Chàng không tìm được câu nào khác. Chàng sợ không giữ kín được vì cái cử chỉ không tự chủ được vừa rồi, hoặc sợ không thể chịu nổi đôi mắt nhìn thẳng thắn của bạn. Trong một thoáng chàng tưởng lại cái anh chàng nhã nhặn mà mình vẫn quen biết xưa nay, cái anh chàng bao giờ cũng đáng mến. Sao chiến tranh để chàng còn sống lại làm gì!

    Oliver hỏi:

    - Anh có tìm ra điều gì mới nữa không?

    - Không.

    Miss Bartendale đã nhận được thư trả lời những điều cô ấy hỏi: cô ấy không ngờ sớm được đến thế và đã mời Swanhild đến Chelsea từ sáng sớm. Hai người tối nay sẽ cùng về đây với bà Yorke để thiết lập một buổi phụ đồng trong phòng bí mật. Cô ấy muốn rằng anh cũng dự vào buổi đó. Vậy anh ăn cơm tối với chúng tôi nhé.

    - Xin vui lòng.

    - Tôi phải đến Steying có việc đây, độ bốn giờ tôi trở về qua nhà sẽ rủ anh cùng đi nhé.

    - Càng hay.

    Lúc đó một chiếc xe chở khách chạy qua phủ lên hai người trong một vừng mây bụi trắng và khói dầu xăng. Những tiến chỉ dẫn oi ói đưa đến tai hai người. Người lái xe lắng nhắng hét:

    - Kia kìa, chính trong khu rừng các ngài trông thấy kia đó! Hắn ta không ăn thịt con bé tội nghiệp đâu. Các ngài không đọc báo Daily Post với lời khai của mấy ông bác sĩ sao? Thực đáng thương quá! Tôi thì tôi cứ nghĩ bụng: hai người làm gì trong ấy, giữa lúc đêmkhuya…

    Những câu sau nghe không rõ. Oliver hầm hầm mắng:

    - Đồ ngu!

    Chiều hôm ấy, trời rét thêm lên. Từng khối mây lớn phủ trên từng không, dồn lai bởi những hơi gió buốt da thịt. Mới sáu giờ mà trời đã gần tối sẫm. Miền thung lũng lẫn biến trong sương mù, còn khu rừng, úa đỏ và um đen, trông có vẻ nộ nạt hơn bao giờ hết. Lúc chui vào xe hơi của Oliver đến rủ, Gođard lo ngay ngáy sẽ gặp một đêm thuận tiện cho con quái vật hiện về.

    Ngồi xe trên đường Dannow, hai người im tiếng. Tới chỗ quặt thẳng đến trước lâu đài, Oliver bỗng nói:

    - Ta về muộn quá, mấy người đàn bà hẳn về trước tạ (Không thấy tiếng trả lời, chàng hỏi) kìa, Gođ! Ngủ đấy à?

    Đang trầm ngâm trong suy nghĩ, Gođard giật mình: chàng vừa nghĩ bụng rằng sự thực lại còn kinh khủng hơn hết cả bao nhiêu chuyện hoang đường đặt ra về con quái vật.

    - Ê! Này! Ai đi kìa! (Oliver lớn tiếng hỏi).

    Người chàng vừa trông thấy là Will Cadorole, lúc ấy đang trở về nhà, lưng cúi gò xuống ghi đông xe đạp. Mặt tái xanh vẻ khiếp sợ, hắn ta đạp hối hả một tay giữ lấy mũ trên đầu. Oliver hãm xe lại. Hắn he hé lên mách Oliver:

    - Ông Hammond ơi! Họ giết chết bà ta mất, thực thế nếu không có ai can thiệp ngaỵ Ở trong rừng ấy ông ạ. Chính tôi nghe thấy bà ta kêu…

    Oliver:

    - Thế nào? Anh nói cái gì?

    - Người đàn bà đi vào rừng với cái ông vẫn chụp ảnh đăng nhật báo ấy! Bọn họ nhiều người cùng ngồi một chiếc xe hơi lớn. Tôi đã theo hút họ mãi, nhưng bà ta kêu lên dữ quá, tôi đành phải quay ngay về.

    Hắn bị ngắt hơi, ngừng lại. Oliver hỏi:

    - Anh đừng cuống lên thế. Anh vừa bảo rằng một người đàn bà sắp bị hại, phải không?

    - Thưa ông vâng. Đứng đây cũng trông thấy được ánh đèn xe hơi của họ.

    Ở chỗ ấy một hàng dậu cây ăn khuất khu rừng, Oliver với Gođard trên xe nhảy xuống rồi chạy đến một chỗ trống. Bên kia miền thung lũng, ở cuối đường ngang, họ thấy một ánh lửa đỏ ở ven rừng. Oliver cáu kỉnh vừa bước lên xe vừa nói:

    - Giờ này không ai còn việc gì được vào trong rừng hết.

    Gođard giữ tay chàng lại:

    - Anh đừng vào! Anh phải nhớ lời anh đã hứa mới được.

    Oliver sẵng tiếng đáp:

    - Một người đàn bà bị nạn phải có người cứu giúp mới được. Miss Bartendale cũng sẽ đồng ý với tôi.

    Gođard cũng trèo lên xe:

    - Thế thì anh cứ ở đây. Để tôi đi cho.

    - Không anh ạ. Việc ấy chỉ liên quan đến tôi thôi.

    - Oliver! Anh không hiểu! Chỉ có anh là có thể gặp tai nạn được… Chỉ có…

    Chàng ngưng bặt, thấy Will đứng bên đường đang tò mò nghe chuyện. Xe mở máy, Gođard vội kêu lên:

    - Đừng đi! Trời ơi, anh đừng đi!

    Chàng ôm chặt lấy người Oliver, nhưng bạn chàng đẩy được dễ dàng như gỡ một đứa trẻ, Gođard bị hất xuống bên kia mép đường, ngã lăn xuống chân bờ dậu. Chàng khó nhọc gỡ được những gai góc chằng chịt thì thấy ánh đèn sau xe biến xa vào bên ngoài phía xóm làng. Không nói nửa lời, chàng chộp lấy cái xe đạp của Will, nhảy lên rồi cắm cổ đạp. Nhưng ánh đèn chàng đuổi theo mỗi lúc một thêm nhỏ, rồi biến hẳn lúc chiếc xe rẽ vào đường dãy phố chính, đến chỗ rẽ ngang cứ tự nhiên rẽ về một nẻo, rồi xông bừa vào đám sương thung lũng mịt mù. Trước mắt chàng nhảy chập chờn những chữ mà chàng đã tìm ra được.

    Gođard trên xe đạp nhảy xuống phía sau chiếc xe hơi nhỏ của Oluver lúc đó đỗ cạnh một chiếc xe lớn năm chỗ ngồi, rồi đưa mắt nhìn thoáng chung quanh. Chàng trông thấy lấp ló một ngọn lửa trong khoảng âm u của cây lá và nghe thấy gió đưa vang lại một thứ giọng đàn bà. Vâng theo một ý tưởng mơ hồ chàng lấy khoác lên vai tấm chăn của Oliver để lại trên xe, rồi bước về phía ánh lửa chiếu ra hình như từ khoảng rừng quang rộng. Trong khi tiến lên, chàng nhận thấy có những câu nói chen lẫn với những tiếng than vãn và tiếng kêu giật giọng. Hốt nhiên chàng đứng dừng lại để tránh một vật gì đang bò phía trước chàng. Chàng nhận ra bạn chàng lúc đó ẩn sau một bụi cây.

    - Oliver! May quá!

    - À Gođard đấy ư?

    - Thôi, đi về với tôi đi! Anh cũng biết rằng anh không nên ở đây mới phải.

    Oliver càu nhàu:

    - Chính bọn kia mới không được ở trong này. Chính cái thằng quấy rầy nói giọng Oxford đầu bù lối nghệ sĩ kia, cái thằng quỷ quái mà miss Bartendale đã…

    Chàng uất lên vì cơn giận cố nén. Gođard năn nỉ:

    - Anh đã hứa với cô ấy rằng sẽ không vào rừng ban đêm rồi. Thôi anh về đi, để mình tôi đối phó với họ.

    - Không, anh ạ, đây là đất của tôi.

    Một thứ cung điệu chầu hát đưa đến tai chàng. Gođard kiễng chân lên nhìn: một cái đèn xe hơi đặt trên một thân cây để soi vào người Curtiss, phóng viên tờ báo Post đang đứng dựa lưng vào một gốc cây, tay cầm sổ và bút chì, mắt nhìn cây thông sét đánh. Cái hôm cây đã bị những người tích kỷ vật đục khoét vơ vét hết nhẵn. Một người đàn bà đứng ngay giữa hõm, chung quanh có ba người đàn bà nữa cầm tay nhau quây thành vòng. Cả bọn đàn bà cùng cất tiếng cầu: “Hỡi ánh sáng tốt lành hãy dẫn đường chúng ta!” Oliver bảo bạn:

    - Thì ra chỉ là một buổi phụ đồng. Cứ nghe mà xem.

    Người đàn bà trong hốc cây liền nói lên một giọng trầm trầm nghe ghê rợn:

    - Hỡi vong hồn Katherine Stringer, hồn có đây chăng?

    Im một lát rồi một người đàn bà trong bọn the thé kêu: đó là cô hồn lên tiếng, cô hồn lấy giọng mũi bắt chước giọng nói của người bị nạn và rền rĩ:

    - Katherine Stringer đang ở chốn này.

    Oliver lớn tiếng nói:

    - Anh buông tôi ra, tôi không muốn nghe thêm nữa. Thằng nói láo ấy lại dám đến tận chỗ cô Kate bị giết mà lôi thôi à! Đàn bà hay chẳng đàn bà, cũng không cần nhã nhặn với họ nữa.

    Chàng từ chỗ ẩn nhảy xổ ra. Gođard ra theo không nghĩ ngợi. Chàng khổ tâm hết sức, cảm thấy tai họa sắp đến, nhưng lại sợ một sự can ngăn vụng chỉ khiến cho nó đến mau thêm. Chưa hiểu thấu đầy đủ được các điều, chàng chẳng biết xử sự ra sao. Chàng đành phải đợi xem và thầm mong một thế lực bất ngờ nào đến làm cho con quái vật phải gờm sợ.

    Oliver tiến vào khoảng ánh sáng đèn và đứng lại trước mặt Curtiss. Chàng sừng sộ hỏi:

    - Ông làm gì ở đây?

    Người phóng viên ngạc nhiên quá, chưa tìm được lời phân giải, chỉ đáp:

    - Làm phóng sự.

    Vừa nói Curtiss vừa lùi lại cái bóng hiển hiện bất thình lình kia. Oliver lại nói:

    - Đây là đất nhà tôi, ông biết không?

    Rồi túm lấy da cổ anh chàng trong nắm tay dữ tợn, Oliver lắc rất mạnh người phóng viên. Cô hồn lúc đó há miệng ngừng bặt nửa chừng câu, còn những người đàn bà khác thì đờ người ra vì kinh dị. Họ cùng kêu lên:

    - Con quái vật đấy!

    Thì Oliver ôn tồn bảo ngay:

    - Không phải đâu, các bà ạ, tôi không phải là con quái vật, mà chỉ là chủ nhân của khu rừng này thôi. Xin các bà làm ơn ra khỏi rừng này cho.

    Chàng buông Curtiss ra để cúi nhặt cái khăn quàng của một người đàn bà đánh rơi và nhã nhặn đưa cho người ấy. Chàng mỉm cười bảo người đàn bà:

    - Con đường rặng thông kia là lối ngắn nhất để các bà trở về chỗ đỗ xe đó.

    Curtiss chững chạc nói:

    - Tôi rất lấy làm ân hận vì đã phiền ông, ông Hammond ạ, nhưng tôi không thể hiểu được tại sao ông đối xử với tôi một cách thô bạo thế! Chúng tôi đến đây chỉ cốt khám phá ra sự bí mật của những việc xảy ra ở đây thôi, mà bà Robinson đây, ông hẳn cũng đã biết tiếng bà…

    Oliver ghìm giọng bục tức, ngắt lời:

    - Ông bước ngay đi! Đừng để tôi phải nổi giận. Cũng chỉ vì có các bà kia ở đây nên tôi mới tha cho ông một trận đấy!

    Gođard cũng nói vào:

    - Phải đấy, ông ạ, tôi van ông, ông đi đi! Ông không biết được ông đang nhúng tay vào việc nguy hiểm đến bực nào đâu, mà rồi có xảy ra chuyện gì đều là tại ông cả đấy.

    Curtiss vẫn nói cứng:

    - Xin lỗi ông. Tự tôi, tôi không nghĩ ra việc xét nghiệm này làm gì, đây là tôi chỉ theo lệnh của nhà báo phải làm thôi.

    Oliver càu nhàu:

    - Này, ông đừng có cãi cọ lôi thôi, chỉ thêm trái lè ra thôi!

    Chàng đặt cái đèn chiếu vào tận tay người phóng viên: thế là anh chàng liền hết bướng. Người cô hồn cũng vừa kéo tay Curtiss rồi cùng mọi người lảng xạ Gođard luôn tay khoác cánh tay bạn, định dìu chàng theo bọn kia, nhưng Oliver nói:

    - Khoan đã. Để họ đi khỏi hãy hay.

    Mặc dầu trời rét, Gođard cũng toát mồ hôi lo sợ, lòng bị dầy vò khổ sở bởi sự hiểu biết bỡ ngỡ của mình.

    - Chả nhẽ ta cứ đứng mãi đây cho đến lúc bọn ngốc kia ra khỏi rừng sao?

    Oliver mỉm cười trong ánh sáng cuối cùng của ngọn đèn xe và đáp:

    - Tôi không muốn lại phải mắng vào mặt họ một trận nữa. Kìa sao anh lại run lên thế này?

    Ánh sáng đã khuất hẳn, hai người chìm trong vừng bóng tối dày đặc. Gođard nghe ngóng một lát rồi lại kêu:

    - Trời ơi, tôi van anh! Đừng ở đây nữa! Tôi, tôi thấy kinh sợ quá.

    - Thì nào có việc gì đâu mà sợ! Mà sao anh lại khoác tấm chăn kia thế?

    - Tôi… À, cứ khoác bừa, thế thôi. Anh ạ, tôi nói thực đấy, tôi sợ lắm.

    - Rõ khéo cái thằng cha Gođard này! Lại Swanhild giao cho anh phải coi giữ tôi, chứ gì? Nhưng tôi đã bảo rằng không việc gì hết kia mà. Chỉ có tôi là gặp nạn được thôi, mà tôi cũng biết nhiều điều kia!

    Gođard kinh dị hỏi:

    - Anh biết con qúai vật là ai rồi ư?

    - Không, nhưng tôi biết phải nói lời gì để xua đuổi được con quái vật, cái ký ức tổ truyền của tôi đã mách tôi điều ấy. Vậy nếu nó đến thì phải hét lên Heysaa!… Heysaa!… Tại sao mà… Gì thế này… (chàng quát lên), Gođard nó đến đấy!!!

    Lời nói chàng rú lên ở tiếng sau rốt.

    Chạy đi! Trốn ngay đi, chạy, chạy mau lên, Gođard. Đã bảo nó đến đấy mà!…, Heysaa… a… a!!!

    Tiếng thét thoạt cất bằng giọng người, sau phá lên chuyển thành tiếng trống quái gở dị kỳ mà Gođard đã nghe thấy đưa ra từ trong phòng bí mật.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này