Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Thảo luận trong 'Truyện trinh thám' bắt đầu bởi s2.GàCon.s2, 16 Tháng ba 2013.

loading...
  1. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 20

    Hồi 20 : VỤ ÁN CÁI CHỔI

    Xưa, tại quận Hà Nam Huyện Hà Chiêu bên tàu, có hai anh em họ Huỳnh, Huỳnh sĩ Lương là anh, em là Huỳnh Sĩ Mỹ.

    Năm Sĩ Lương mười sáu xuân xanh và Sĩ Mỹ mới mười bố thì Huỳnh bà rồi đến Huỳnh ông lần lượt cưỡi hạc quy tiên, cách nhau chưa đầy một năm.

    Bữa cất đám Huỳnh ông trời sầu đất thảm, mưa lai rai từ sớm tới chiều không dứt hột khiến ông già bà cả trong làng càng thêm xót thương cho hai mái đầu xanh.

    Dân làng chẳng ai bảo ai, tìm mọi cách giúp đỡ anh em họ Huỳnh. Nhưng với ai Sĩ Lương cũng lễ phép khước từ và nói:

    - Nhờ trời, ba má cháu quy tiên có để lại cho anh em cháu ít tài sản. Cháu sẽ cố gắng gây dựng lại cơ đồ, và nuôi em cháu. Chừng nào thất bại, cháu xin cô bác giúp đỡ sau.

    Mọi người chẳng biết nói sao đành yên lặng ra về, lòng không khỏi khâm phục chàng trai trẻ có chí khí hiên ngang, có đầu óc tự cường.

    Sau khi lo cho cha mồ yên mả đẹp, Sĩ Lương ngày ngày dắt trâu ra đồng tiếp tục công việc đồng áng trên mảnh ruộng do cha để lại. Còn Sĩ Mỹ ở lại nhà, lo cơm nước, nấu cám, băm bèo nuôi đôi lợn, thế cho Sĩ Lương. (công việc này do Sĩ Lương cáng đáng từ lúc Huỳnh bà qua đời).

    Nhờ Huỳnh ông, lúc sanh tiền, khéo lo xa, chỉ dạy cho việc cấy cày nên nay Sĩ Lương cũng không bỡ ngỡ lắm.

    Năm ấy, nhờ trời, vụ lúa được mùa, lại thêm dân làng sẵn có cảm tình với Sĩ Lương bảo nahu giúp đỡ bằng cách mua lại thóc với giá cao, nên Sĩ Lương có được một số vốn khá để tiếp tục làm ăn.

    Thấm thoát đã tới kỳ giỗ đầu Huỳnh ông. Bữa đó, trên đường đi thăm một cha về, Sĩ Lương bảo em:

    - Em cố gắng chăm nom việc nhà. Hôm nọ em mải chơi để heo đói, anh có rầy la em và em có ý giận hờn anh, như thế là không phải.

    Sĩ Mỹ vẫn lặng lẽ đi bên anh.

    - Em nên biết rằng lúc cha còn sống, anh cũng đã nhiều lần oán cha trách mẹ bắt anh phải bớt rong chơi mà tập làm việc cho quen. Từ lúc mẹ cha đều khuất núi, anh mới nhận thấy là anh đã lầm. Càng nghĩ lại, anh thấy thương cha nhớ mẹ. Giả tỉ các người không răn dạy anh thì chúng ta đâu có ngày nay. Phải trách mắng em, lòng anh đâu có vui sướng gì…

    Sĩ Mỹ ôm lấy anh khóc nức nở, như muốn tạ lỗi mà chẳng nói lên lời, Sĩ Lương biết ý, vỗ về em mà rằng:

    - Nay em đã hiểu ra, anh rất mừng. Thôi em nín đi.

    Từ bữa đó, hai anh em càng thương yêu nhau hơn và Sĩ Mỹ không bao giờ dám trái lời anh.

    Ba năm sau, mãn tang cha, Sĩ Lương nay đã mười chín tuổi được bà con cô bác mến thương làm mai hết đám này tới đám khác.

    Nhưng Sĩ Lương cương quyết chối từ mà rằng:

    - Cô bác có lòng thương muốn gây dựng cho cháu, cháu rất đội ơn, hiềm một nỗi em cháu còn nhỏ dại. Nay cháu lập gia đình tất nó lủi thủi một mình một bóng, nghĩ mà tội nghiệp…

    Ông chú Sĩ Lương xua tay nói:

    - Chú có khuyên anh lấy vợ mà ruồng bỏ em đâu. Anh có vợ thì vợ anh nó đỡ đần, nhà thêm người, thêm chân thêm tay, em anh có rảnh tay làm việc đồng áng chung với anh có hơn không?

    Sĩ Lương chẳng chịu:

    - Ôi thôi, khổ thân nó chú ơi…

    Bà cô Sĩ Lương đáp:

    - Thằng này lạ thiệt. Không biết lo thân, ở già mãi sao?

    Sĩ Lương cười xoà:

    - Cô bác thư thả cho cháu “ở giá” vài năm nữa, chờ em cháu lớn khôn, cháu lo cho nó xong rồi sẽ tính đến chuyệ cháu cũng chẳng muộn nào.

    Giữ đúng lời hứa, đến năm Sĩ Mỹ hai mươi tuổi, Sĩ Lương nhờ người mai mối hỏi nàng Trương Nguyệt Anh làm vợ cho Sĩ Mỹ. Về nhà chồng ít lâu, nàng Nguyệt Anh tỏ ra rất đảm đang, hiền hậu, đoan trang và rất mực thương chồng kính anh, khiến ahi anh em họ Huỳnh rất đẹp lòng.

    Hai Năm sau, Sĩ Lương cũng kết duyên tần tấn với nàng Lý Thị. Trước cảnh anh em họ Huỳnh thương nhau như thể chân tay, hai chị em dâu cũng chóng trở nên thân thiết với nhau.

    Xem ra thì Lý thị nhan sắc có phần thua kém Nguyệt Anh và lại vụng về, không chăm bằng em dâu. Thành thử bao nhiêu công việc do Nguyệt Anh lãnh đủ. Có lần Nguyệt Anh than phiền với Sĩ Mỹ thì bị chồng mắng cho một trận nên thân. Từ đó nàng khôn giám suy bì, ganh tỵ với chị dâu nữa.

    Sĩ Lương thấy vợ ỷ mình phận trên có ý làm biếng nên một bữa nhân lúc cùng Sĩ Mỹ đi làm đồng mới bàn với em rằng:

    - Anh em ta bây giờ còn ở chung với nhau nhưng mai sau có con cái, nhà cửa chật hẹp tất phải ở riêng mỗi người một nơi. Anh không muốn vợ anh lười biếng quen thân nên anh định từ nay công việc trong nhà đều bắt Lý thị và Nguyệt Anh phân công đảm nhiệm. Chẳng hay ý em thế nào?

    - Em chịu ơn anh đã nhiều nay vợ em có phải cực nhọc cũng chẳng có chi mà phàn màn. Xin anh đừng nghĩ vậy, mà đau lòng em.

    - Em hiểu lầm anh rồi. Anh đâu có định thử lòng em. Nếu em muốn giúp lại anh thì em nên chiều theo ý anh.

    - Anh dạy sao em xin tuân lời.

    Thế là ngay chiều đó, lúc đi làm về, Sĩ Lương gọi vợ và em dâu lên bảo hai người từ nay phải san sẻ đồng đều mọi công việc trong nhà. Chàng nói tiếp:

    - Ngay cả đến việc dễ nhất là việc quét nhà, hai người cũng phải chia nhau, mỗi người quét một ngày.

    Cả hai vâng dạ tuân theo. Anh em họ Huỳnh lấy làm mừng lắm. Nhưng họ có ngờ đâu, chính vì sự phân công ấy mà tai hoạ đổ xuống gia đình họ.

    Số là Lý thị đã vụng lại lười, bất kỳ việc gì tới phiên thị làm cũng không được chu đáo, hoàn bị bằng Nguyệt Anh.

    Sĩ Lương biết vậy và chàng thực lòng muốn dạy vợ nên thỉnh thoảng có hay khuyên bảo Lý thị. Ả này vốn vẫn ghen tài, ố sắc Nguyệt Anh,

    Lòng ghen nung nấu tâm can, Lý thị để ý rình mò nhưng không thấy chi cả. Như người khác thì cũng thôi nhưng gặp phải Lý thị tánh tình nông nổi lại thêm bị sự vụng về của chồng làm nàng cứ hiểu lầm mãi, nên y thị càng ngày càng tin rằng Sĩ Lương và Nguyệt Anh có tình ý với nhau. Thị lẩm bẩm:

    - Đúng là anh chị mê nhau rồi. Một là họ chưa đi sâu vào vòng tội lỗi. Hai làhọ khéo che đậy, giấu giếm. Để thủng thẳng mình bắt được bằng chứng sẽ làm cho ra nhẽ.

    Trong khi Lý thị để tâm theo dõi mọi cử chỉ, lời ăn tiếng nói của chồng và em dâu thì hai người này vô tình, không hay biết gì. Vì thực ra cả hai đều đàng hoàng, đối xử với nhau trong vòng lễ giáo, chẳng bợn chút tà tâm.

    Cách đó mấy tháng sau, một sáng tinh mơ, bên nhà Lý thị cho người sang kêu nàng về gấp để đi thăm bà dì đau nặng.

    Cả nhà còn đang ngủ, trừ có Nguyệt Anh đã dậy và đang sửa soạn quét nhà vì bữa nay tới phiên của nàng.

    Nghe tin chẳng lành, Nguyệt Anh vội chạy vô nhà gõ cửa buồng vợ chồng Sĩ Lương cấp báo cho chị dâu hay.

    Vì trời trở lạnh dữ dội từ mấy bữa nay nên Lý thị có ý chần chừ, phần vì nàng tính chờ có mặt trời ấm áp sẽ đi, phần vì nàng cũng hơi mệt mỏi bởi cái bào thai được hơn 2 tháng.

    Sĩ Lương vốn trọng điều nhân nghĩa, thấy vậy liền khuyên vợ:

    - Chắc là cấp kíp lắm, bên nhà mới cho gọi như vậy. thôi nàng cũng nên lên đường ngay đi, lỡ chậm về đến nơi dì có mệnh hệ nào thì mình ân hận suốt đời và họ hàng biết được tất sẽ cười chê.

    Lý thị nghe có lý vội thu xếp đi liền. Lúc chia tay nhau ở cổng nhà, Sĩ Lương bảo vợ:

    - Nàng cho ta gởi lời thăm dì và ba má nghe. Nếu có điều chi nàng hãy cho người về cấp báo, ta sang ngay.

    Đoạn Sĩ Lươn âu yếm nhìn vợ nói tiếp:

    - Nàng cứ thủng thẳng mà đi không nên hấp tấp cho thêm mệt mỏi. Từ đây về nhà mất lối hai tiếng, nàng cứ ở lại chơi bên nhà, mai về cho thong thả.

    Lý thị thấy Nguyệt Anh đang nhanh nhẹn quét sân. Thị nở một nụ cười khó hiểu và chậm rãi trả lời chồng:

    - Để thiếp coi xem sao đã. Có lẽ thiếp xin chàngở chơi bên nhà dăm bữa nữa cũng nên.

    Sĩ Lương vô tình, cười đáp:

    - Tùy nàng. Từ ngày xuất giá nàng về nhà lần đầu, muốn nán lại vài ngày cho ba má và các em mừng, cũng được. Nhưng chớ đi quá lâu, ta sốt ruột nghe.

    Lý thị gật đầu theo người anh họ ra đi.

    Nói về Nguyệt Anh thu dọn xong sân trước nàng quay xuống bếp nấu cơm, và lo cho đàn lợn và bầy gà ăn sáng. Được cái dạo này lúa tháng mười sắp trổ bông nên công việc đồng áng thư thái đôi chút, chồng nàng và anh chồng không phải ra::145ơ7::62ng từ sớm.

    Khi mặt trời lên được một lát Nguyệt anh mới kêu anh em họ Huỳnh dậy ăn lưng chén cơm lót lòng.

    Nàng hỏi nhỏ chồng:

    - Trưa và tối nay chàng muốn ăn cơm có những món gì?

    - Bữa qua nghe nói anh chị Lương muốn ăn cá mà không mua được đó. Nàng liệu ra chợ coi có thì mua về.

    - Chị Lương có ăn cơm chiều ở nhà không chàng?

    - Không nghe nói. Sao nàng không hỏi thẳng chị ấy lúc nãy?

    - Tiếp không kịp hỏi vì chị mắc nói chuyện với anh.

    - Ta chắc chị ấy không ở bên ấy lâu đâu. Nàng cứ coi như chị có về ăn cơm chiều.

    Vừa ngồi vào mâm cơm, Sĩ Lương bảo em:

    - Bữa nay em đi thăm ruộng một mình nghe. Anh chạy loanh quanh một lát rồi còn phải về nhà, nhỡ bên nhạc gia có qua kêu về chuyện bà dì đau nặng không.

    - Được, anh yên trí ở nhà, mình em cũng đủ rồi.

    Cơm nước xong, Sĩ Mỹ đội nón ra đồng. Lát sau Nguyệt Anh lên xin phép anh chồng chạy ra chợ mua thức ăn về làm cơm trưa và chìeu.

    Chặp sau, Nguyệt Anh trở về, tay xách con cá lóc lớn. Sĩ Lương dặn em dâu chàng lên xóm trên giúp ông tư hoạn heo, nếu bên nhà Lý thị sang kiếm thì lên đó mà kêu.

    Sĩ Lương đi khỏi. Nguyệt Anh bắt đầu dọn trong nhà. Sau khi dọn buồng vợ chồng nàng Nguyệt anh qua bên phòng anh chồng rồi ra quét nhà khách.

    Nàng hốt rác bỏ vào cái giỏ rác nhỏ đem ra đổ nơi gốc cây mãng cầu sau vườn. Nàng đập chổi và giỏ rác sạch sẽ và toan đem đựng góc bếp như thường lệ. Bỗng có tiếng trẻ sơ sanh ở nhà bên khóc vang lên. Nguyệt anh đứng sững lại vuốt bụng thở dài, miệng lẩm bẩm:

    - Kiếp mình muộn mằn mãi chẳng có con. Nghĩ cũng tội nghiệp cho chị Sĩ Lương đang thai nghén lại được tin chẳng lành phải vất vả đi về. Chiều nay chị về tới, sáng mai lại đến phiên chị quét nhà. Hay là mình mang chổi và giỏ rác dựng nơi buồng chị ấy để mai chị khỏi mất công xuống bếp kiếm.

    Nói đoạn, Nguyệt Anh đem chổi và giỏ rác đựng trong phòng vợ chồng Sĩ lương.

    Nàng vừa quay thì chẳng biết bay từ đâulại, đến đâu ngay trên nóc nha2va2 buông mấy tiếng “quạ, quạ” lạnh lẽo và buồn thảm.

    Nguyệt Anh bắt rùng mình. Nàng chạy vội ra sân, vớ hòn đất ném lên mái nhà miệng chửu rủa con quạ ầm ĩ: “Cút ngay! Cút ngay! Phỉ thui! Phỉ thui!”.

    Con quạ bay vọt lên cao, lượn một vòng trên sân nhà, cố buông thêm một tiếng “quạ” dài lê thê rồi mới chịu bay đi mất dạng.

    Nguyệt Anh mặt tái mét lẩm bẩm:

    - Điều chẳng lành. Không biết có chuyện chi đây.

    Trưa đó hai anh em họ Huỳnh về nhà ăn cơm. Họ vừa dùng bữa xong anh bẩy con người bác ruột của Sĩ Lương và Sĩ Mỹ tới.

    Sĩ Lương chạy ra đón chào:

    - Kìa, anh bẩy, anh sang kiếm bọn em có chuyện chi vậy?

    - À, sáng mai bên tôi cất nóc nhà mới, bác biểu một anh sang giúp dùm. Không biết hai anh có bận chi không?

    Sĩ Lương sốt sắng đáp:

    - Dạo này cũng rảnh rang đôi chút. Vả lại bác đã kêu thì dù có bận mấy cũng phải đi gấp chớ, Mỹ à, em ở nhà để anh qua bên đó nghe. Anh bẩy, liệu mấy bữa rồi đặng tôi tính coi phải đem quần áo chi đó theo không?

    - Chừng ba bữa mới rồi anh à.

    Sĩ Mỹ chợt nhớ ra vụ dì Lý thị đau liền bảo Sĩ Lương:

    - Anh đi sao tiện. Lỡ bên nhạc gia kêu về chuyện bà dì thì khó lòng quá. Thôi để em đi cho.

    - Ờ nhỉ, chút xíu anh quên mất. Vậy em sửa soạn sang ngay kẻo bác ấy trông.

    Sĩ Mỹ đi khỏi, Sĩ Lương cũng lấy nón sang nhà bác Tư ở xóm trên xem con lợn hoạn sáng nay có biến chứng gì không.

    Tới xế chiều Lương trở về nhà, nhắc theo người bạn về nhậu chơi. Chờ anh chồng rửa chân tay xong, Nguyệt Anh mới hỏi:

    - Thưa anh, chị có ăn cơm nhà không?

    - Bây giờ sắp tối rồi mà chị chưa về, chắc là còn ở lại chơi bên đó.

    - Thưa anh đã dùng cơm chưa để dọn?

    - Ờ thì dọn lên ăn phức cho rồi.

    Nguyệt Anh bưng cơm lên chờ anh chồng và khách ăn xong mới dọn xuống bếp ngồi ăn một mình. Nàng thu dọn xong xuôi thì trời nhá nhem tối. Trên nhà có tiếng Sĩ Lương kêu nàng đem chai dầu phộng lên châm đèn.

    Nguyệt Anh chạy vội lên. Sĩ Lương đang đứng chờ bên án thư, ông khách đã về rồi.

    Vì cạn dầu nên ngọn đèn thoi thóp như muốn tắt.

    Nguyệt Anh đặt chai dầu lên án thư gần chỗ anh chồng thì bên ngoài có tiếng chó sủa. Nguyệt Anh chạy ra thì vừa lúc ấy Lý thị ở ngoài bước vô nhà.

    Nguyệt Anh reo lên:

    - Kìa chị đã về.

    Rồi nàng chạy toan đỡ dùm bọc đồ cho chị dâu thì Lý thị đã lạnh lùng gạt tay nàng ra.

    Sĩ Lương đang mải châm dầu vào dĩa cất tiếng hỏi mà không ngẩng đầu lên:

    - Tưởng mai nàng mới về chớ. Dì có sao không?

    Có lẽ vì tính đa nghi lại hay ghen nên Lý thị đáp giọng bực tức:

    - Dì không sao. Bộ mong tôi không về sao?

    Sĩ Lương ngạc nhiên về câu trả lời của vợ nhưng chàng cho là vợ bị mệt mỏi nên không chấp. Chàng vui vẻ hỏi vợ:

    - Thế đã cơm chưa?

    Lý thị đáp một tiếng “chưa”cộc lốc rồi đi thẳng vào phòng.

    Nguyệt Anh nghe vậy liềnpho1ng xuống bếp dọn cơm bưng lên.

    Sĩ Lương cũng đốt thêm hai dãi đèn dâu. Căn nhàn sáng choang. Lý thị vô đến phòng thấy cây chổi và giỏ rác để ở góc nhà. Thị nhìn xuống chổi chán rồi lại nhìn lên giường ngủ của hai vợ chồng.

    Lý thị vất mạnh chiếc nón xuống đất, nhíu đôi lông mày, lẩm bẩm:

    - Hôm nay đến lượt nó quét nhà…lạ thiệt tạo sao nó không dựng chổi và giỏ rác dưới bếp như mọi lần, khi quét xong? Chắc là nó đang quét nhà thì chồng mình gọi vô phòng này để giamn dâm. Chừng sau đó ả quên đem đồ này về chớ gì.

    Tay vân vê cácn chổi, lòng bừng bừng lửa ghen, Lý thị rít giọng nói một mình:

    - Hừ quân này gớm thiệt. Rồi sẽ biết tay ta.

    Thị vừa nói tới đây thì có tiếng guốc đàn bà đi tới cửa phòng rồi tiếng Nguyệt Anh vang lên.

    - Mời chị ra dùng cơm. Em đã dọn lên rồi đó.

    Lý thị gắt:

    - Cứ để đấy. Làm gì mà hối dữ vậy.

    Nguyệt Anh tiu nghỉu lủi xuống bếp tiếp tục nốt công việc.

    Lát sau vợ Sĩ Lương lầm lì ra ngồi vào mâm xới cơm ăn. Sĩ Lương toan gợi chuyện nhưng thấy nét mặt vợ khó đăm đăm nên lại thôi. Một chú mối trách tặc lưỡi một hồi như than phiền bầu không khí nặng nề khó thở. Sĩ Lương ngáp dài một cái rồi cất giọng nói bâng quơ:

    - Chà bữa nay mệt quá ta.

    Lý thị hằn học nhìn chồng, cố gằn cơn ghen…. Bỗng thị với lấy chai rượu đế rót đầy chén rồi nốc thẳng một hơi.

    Sĩ Lương lẳng lặng nhìn vợ mà không nói chi cả. Thỉnh thoảng Lý thị cũng có uống rượu, nhưng chút đỉnh thôi. Hôm nay chàng không hiểu sao vợ uống hơi nhiều. Vì mệt, có lẽ. Chàng nghĩ vậy.

    Lý thị uể oải đụng đũa vào đĩa cá ồi lại thôi. Thị chan canh cá dấm vào bát, nuốt vội lưng chén cơm rồi hầm hầm đứng dậy đi thẳng vô buồng.

    Vừa đặt lưng xuống giường thị đã ngồi nhổm dậy như bị lửa đốt. Thị bực mình nhìn chiếc chiếu hoa trải giường….

    Bên ngoài có tiếng bát đĩa lạch cạch. Nguyệt Anh đang thu dọn mâm cơm. Rồi thì yên lặng. Bỗng từ xa vẳng lại tiếng sáo nhà ai. Người nghệ sĩ vô danh nào đó đang đi bài lưu thuỷ, Sĩ Lương cất tiếng khàn khàn ca theo. Lý thị nhẩy phắt xuống đất, xỏ chân vào guốc, rồi đẩy cửa phòng ra khoang ngoài.

    Thị đến bên chồng và nói:

    - Đắc ý lắm nhỉ. Đi vô cho tôi hỏi một chút.

    Sĩ Lương ngạc nhiên nhìn vợ. Chưa bao giờ chàng nghe vợ ăn nói như vậy. Hai người nhìn nhau trừng trừng. Lý thị quay phắt đi về phòng. Sĩ Lương nhìn dáng điệu nặng nề của người vợ đang mang thai rồi chàng nén giận, chậm chạp đứng dậy theo chân vợ.

    Vừa bước vô tới phòng, Sĩ Lương đã bị vợ xẵng giọng hạch hỏi:

    - Hôm nay ở nhà làm gì, phải khai cho thiệt.

    Sĩ Lương tức mình đáp cụt ngủn:

    - Chẳng làm gì hết!

    - Hừ, hôm nay lấy em dâu rồi sao còn chối?

    - Này đừng có nói bậy. Uống cho lắm rượu vào để rồi nói như mẹ điên ấy.

    Lý thị mặt đỏ gay sấn sổ n1oi:

    - Đứa nào điên? Có mi lấy em dâu mới là điên.

    Sĩ Lương giận tím mặt, mắng rằng:

    - Lục súc! Chứng cớ đâu mà ghen bậy đổ tội cho ta câm mồm ngay không ta đập cho mất mạng bây giờ.

    Lý thị chồm lên la lớn:

    - Đồ vô liêm sỉ! Đã loạn luân còn lớn miệng nói phách. Nếu không gì với nhau sao khi không dựng chổi và giỏ rác ở đây.

    Nó đang quét nhà thì dắt nó vô làm chuyện đồi ại rồi quên luôn ở đây. Chứng cớ đấy chứ còn đâu.

    Sĩ Lương quát:

    - Người ta đem vô hồi nào, ta đâu có biết.

    Vả lại ta đi vắng suốt ngày, mi nói bậy không sợ người ta chê cười à.

    Nguyệt Anh ở nhà dưới nghe vậy chạy lên toan phân trần… Nàng chưa lên tới nhà trên thì đã nghe tiếng vợ chồng Sĩ Lương đánh nhau kịch liệt.

    Nguyệt Anh lật đật chạy tới cửa phòng anh chồng. Vừa lúc ấy Sĩ Lương hét to một tiếng đẩy mạnh cô vợ té lăn cù ra đất rồi vớ ngay cái chổi đánh Lý thị một trận tơi bời.

    Nguyệt Anh thất kinh ù té chạy về phòng đóng sầm cửa lại.

    Sĩ Lương đánh vợ chán tayrồi mới quăng cây chổi xuống đất và bỏ ra ngồi phía sân trước.

    Lý thị bị đòn, la khóc, chửi bới ầm ĩ. Chửi rủa chồng đã nư rồi, thị réo Nguyệt Anh lên mà nguyền rủa, sỉ nhục.

    Đôi ba lần, vợ Sĩ Mỹ toan mở cửa đi ra kiếm cách phân trần nhưng nàng lại ngại chị dâu đang cơn ghen nói quàng xiên thì càng xấu hổ thêm.

    Nàng đành bưng mặt khóc ròng.

    Bên ngoài, Lý thị vẫn cứ xa xả gọi tên nàng lên mà thoá mạ.

    Quá uất ức Nguyệt Anh liền lấy dây lưng bằng vải treo cổ lên xà nhà mà tự vẫn chết.

    Qua sáng hôm sau, Lý thị hả hơi men, trở lại lo công việc như thường lệ. Có lẽ thị cũng nhận thấy tối qua thị qu1a lăng loàn, cho nên thị cũng hơi ngượng ngùng.

    Thị có ý trông Nguyệt Anh mà không thấy. Lúc nấu cơm xong. Lý thị mới lên nhà kiếm em dâu. Vừa đẩy cửa vô phòng Nguyệt Anh, thị đã la thất thanh gọi chồng.

    Sĩ Lương lật đật chạy vào biểu vợ giúp một tay hạ xác em dâu xuống.

    Lý thị hấp tấp hỏi chồng:

    - Còn sống không?

    Sĩ Lương lắc đầu.

    Nguyệt Anh mắt mở trừng trừng mặt sưng tím lưỡi lè ra ngoài, Lý thị sợ run người.

    Chừng lúc chồng bồng Nguyệt Anh đặt lên giường, Lý thị ại thấy cơn ghen sôi sục. Hị ghen cả với người đã chết. Sự tự vẫn của em dâu càng khiến Lý thị nghi ngờ:

    - Nếu chẳng gian dâm với chồng ta, cớ sao nó lại tự tử? Chắc là đúng rồi, nên nó quá xấu hổ mà liều thân.

    Lý thị lẩm bẩm đi theo chồng ra ngoài. Sĩ Lương thẫn thờ ngồi xuống ghế rít một hơi thuốc lào.

    Rồi chàng thay áo đội nón đi kiếm bác tư ở xóm trên, nhờ qua kêu Sĩ Mỹ về gấp tiện đường chàng ghé mấy nhà lân bang mời sang giúp việc ma chay, nhân thể coi xem họ có hay biết gì về chuyện Lý thị ghen nhau với Nguyệt Anh không.

    Ai cũng ngạc nhiên hỏi:

    - Vợ Sĩ Mỹ bịnh hồi nào mà qua đời mau vậy? Bữa qua còn thấy đi chợ mà!

    Sĩ Lương mắt đỏ hoe, giọng buồn rầu đáp:

    Vợ Sĩ Mỹ thắt cổ tự tử hồi đêm, sáng nay vợ chồng tôi mới biết thì quá muộn rồi.

    - Trời, tội nghiệp. Vì sao nàng lại làm vậy. Bên nhà yên ấm có chuyện gì đâu.

    Sĩ Lương ngập ngừng nói:

    - Tôi… tôi cũng không biết nữa. Nói rồi chàng tất tả về nhà. Vừa thấy mặt chồng, Lý thị lo lắng hỏi:

    Có ai biết chuyện cãi lộn nhà mình đâm qua không?

    - Dường như không.

    - Thiệt không?

    - Có thể lắm. Vì nhà ở gần sông, lại cách xa nhà khác.

    - Vậy thì may rồi.

    - Chưa chắc. Thế nào Sĩ Mỹ cũng hỏi về lý do tại sao Nguyệt Anh tự tử. Biết trảû lời ra sao.

    - Nếu không ai hay chuyện cãi lộn hồi hôm thì cứ trả lời không rõ lý do vợ y tự vẫn chớ còn gì nữa.

    Lý thị vừa nói đến đây thì nghe lối xóm rủ nhau kéo đến hỏi thăm đầy nhà.

    Người ta tỏ vẻ tiếc thương người quá cố, rồi mỗi người đưa ra một giả thuyết về cái chết của Nguyệt Anh nhưng tuyệt nhiên không ai hay biết gì về chuyện Lý thị ghen tuông cả.

    Rút cuộc ai cũng trông Sĩ Mỹ về.

    Tới gần trưa, Sĩ Mỹ về tới.

    Chàng chạy bổ về phòng lật mảnh giấy che mặt vợ ra rồi đứng lặng hồi lâu, sự đau khổ hiện lên nét mặt.

    Một dòng máu ứ từ miệng Nguyệt Anh ra, từ từ chảy xuống cổ. Sĩ Mỹ cố vuốt mắt cho vợ nhưng cặp mắt thất thần vẫn hé mở…

    Ông chú Sĩ Mỹ (mà mọi người thường kêu là cụ Bá) khẽ kéo tay chàng rồi nói:

    - Thôi anh ạ, chị ấy đã chết rồi không làm sống lại được. Anh nên ra ngoài nầy kẻo tử khí nặng nề.

    Sĩ Mỹ theo chú đi ra. Chàng thẫn thờ ngồi xuống ghế đối diện với anh. Lý thị vi chạy lại đứng sau lưng chồng. Sĩ Mỹ buồn rầu hỏi anh:

    - Vì đâu mà nhà em ra nông nỗi này?

    - Anh không biết vì sao thím ấy lại liều thân như vậy. Sáng nay dậy mới hay là thím tự tử từ đêm.

    - Ở nhà có chuyện chi không anh?

    - Chẳng có chuyện chi.

    Một người bà con đứng bên hỏi Sĩ Mỹ:

    - Anh có làm điều chi cho chị ấy uất ức không?

    - Không. Tới trưa hôm qua, lúc tôi theo anh bảy qua bên giúp bác cất nhà, tôi thấy nhà tôi vẫn vui vẻ lắm. Nếu có điều chi… chắc là ở nhà.

    Lý thị vội cãi:

    - Aáy chú chớ nói vậu mà để tiếng cho vợ chồng tôi. Tôi đi vắng từ sáng đến tối mới về, còn nhà tôi thì đối xử với chú thím như bát nước đầy, ai cũng biết đấy.

    Nói rồi Lý thị bưng mặt khóc hu hu, miệng kể lễ:

    - Ơùi thím Mỹ ơi, thím chết đã đành an phận thím nhưng để khổ cho vợ chồng tôi. Bây giờ tới lượt chú ấy dổ vạ cho chúng tôi. Thí ra người ta trả ơn chồng tôi là thế đấy…ới thím Mỹ ơi!…

    Mấy bà mấy cô ngồi quanh cũng cất tiếng khóc theo. Cụ Bá đứng phắt dậy trỏ Lý thị mà la rằng:

    - Chị này hay nhỉ. Đã phát tan đâu mà khóc lóc lôi thôi. Và các bà này nữa, im cả.

    Mọi người nín bặt, chỉ con vài tiếng sụt sịt nhỏ rồi tắt hẳn.

    Cụ Bá dõng dạc nói:

    - thôi anh Lương đứng lên đi lo công việc đi, còn anh Mỹ liệu làm đơn trình quan mà xin phép chôn cất chứ để đấy à.

    Sĩ Mỹ cũng như anh trước có theo học trường làng nên cũng biết đôi chút chữ nghĩa liền làm đơn kể rõ Nguyệt Anh tự tử chết nhưng không biết vì lý do gì.

    Huyện quan tiếp đơn xem xong liền cho đòi vợ chồng sĩ Lương đến hầu.

    Ông hỏi Sĩ Lương:

    - Bữa qua Sĩ Mỹ đi vắng, chỉ có hai vợ chồng ngươi ở nhà vậy chớ ngươi có biết vì sao Nguyệt Anh tự tử không?

    - Dạ… thưa không rõ.

    - Hừ, vô lý. Thói thường người ta tự tử là vì có điều chi uất ức không minh oan, giãi bày ra được, hai là vì quá xấu hổ, ba là vì bịnh hoạn thất vọng chán đơi và…

    Nghe huyện quan nói vậy Sĩ Lương chột dạ lo lắng, đưa mắt nhìn Lý thị. Huyện quan tinh mắt nhận thấy liền quát to:

    - Sĩ Lương, có thế nào phải khai cho thiệt, chớ giấu quanh mà mang lụy. Vì cớ gì Nguyệt Anh tự vẫn?

    Sĩ Lương lúng túng đáp liều:

    - Dạ, thưa…Nguyệt Anh mắc đau bụng không thuốc chữa, đau quá thì tự tử.

    Huyện quan chưa kịp nói chi thì Sĩ Mỹ đã nói:

    - Thưa quan, tôi không tin. Không thuốc thì kêu người đi kiếm, việc chi phải tự tử.

    Lý thị chen vô:

    - Chú vắng nhà, thím mắc cỡ không kêu ai. Chừng đến lúc vợ chồng tôi hay thì thím giận hờn cho chúng tôi không thương thím nên tự vẫn. Tánh thím nóng như lửa ấy.

    Sĩ Mỹ không chịu cãi:

    - Điều chị nói khó tin quá. Trước hết là vợ tôi tánh tình thuần huận, không nóng nẩy như chị nói không biết vợ tôi tự tử vì lý do gì.

    Hướng về phía huyện quan, Sĩ Mỹ nói:

    - Thưa quan, trong vụ này có uẩn khúc chi đây. Xin quan minh xét để vợ tôi được ngậm cười nơi chín suối.

    Huyện quan gật đầu phán:

    - Ta nghĩ cũng như vậy. Lính đâu, lôi hai vợ chồng tê này ra tra tấn cho ta.

    Bọn lính “dạ” ran xúm lại lấy roi đánh hai vợ chồng Sĩ Lương túi bụi.

    Lý thị chịu đòn không thấu vừa khóc vừa la lên:

    - Xin ngừng tay, tôi xin khai thiệt.

    Huyện quan truyền lính rãn ra. Lý thị mếu máo thuật lại câu chuyện ghen trong đêm qua rồi kết luận:

    - Vì thấy nhà quét sạch sẽ và chổi cùng giỏ rác trống dựng trong buồng nên tôi nghi hai người có bậy bạ với nhau, trong lúc tôi và Sĩ Mỹ vắng nhà. Dọ đó tôi có gây lộn với chồng tôi rồi chồng tôi đánh đập tôi. Tôi tức giận có réo Nguyệt Anh lên mà thoá mạ còn sự y tự tử thì quả tình tôi không hiểu vì sao cả! Chắc là hai người có thông dâm nên thị xấu hổ mà liều thân.

    Huyện quan vỗ án la:

    - Sĩ Lương, mi có nghe rõ lới khai của vợ mi đó không?

    - Dạ…thưa có.

    - Mi có nhận đã thông dâm với em dâu không?

    - Dạ…. Thưa không…

    - Thế ai để chổi vàgiỏ rác trong phòng vợ chồng mi?

    - Có lẽ, là Nguyệt Anh, vì bữa đó tới phiên thị quét nhà.

    - Tại sao thị không cất dưới bếp như mọi lần lại đem để trong phòng mi.

    - Dạ… thưa cái đó thì tôi không hiểu nổi.

    - Thôi mi đừng chối nữa vô ích, chỉ có mi và Nguyệt Anh ở nhà. Chắc là nó đang quét nhà thì mi gọi vô làm chuyện đồi bại. Nó tiện tay mang luôn cả chổi và giỏ rác vô,chừng sau bỏ quên lại và Lý thị bắt được bằng chứng này mới nổi cơn ghen. Phải không?

    - Dạ… thưa oan cho tôi. Bữa đó tôi vắng nhà gần hết ngày. Vả lại nếu Nguyệt Anh bị tôi kêu lúc đang quét nhà, tất nhiên nhà và giỏ rác đâu có sạch được như thế .Hơn nữa khi vợ và em tôi đi khỏi, thì Nguyệt Anh đi chợ luôn. Kịp tới khi em dâu về tôi lại đi lên nhà bác tư xóm trên ngay để hoạn heo…

    Huyện quan bựa mình ngắt lời Sĩ Lương.

    - Tên này gớm thiệt. Dám cãi lý với ta. Dù em dâu mi chưa quét nhà xong hay đang quét nhà hoặc quét nhà đã xong thì mi kêu vô phòng, điều đó không quan hệ. Điểm đáng nói là cớ sao có chôi và giỏ rác để trong phòng mi.

    Ngưng một lát. Huyện quan nói tiếp:

    - Đích thị là y có thông dâm với Nguyệt Anh nên y thị sợ bị bại lộ mới tự tử. Mi sẽ bị chém đầu về tội lấu em dâu. Lính đâu, đem tên này hạ ngục cho ta, chờ ngày đền tội hạ ngục cho ta, chờ ngày đền tội còn Sĩ Mỹ và Lý thị được thong thả ra lo về việc ma chay cho Nguyệt Anh.

    Hai người vái tạ huyện quan rồi lui khỏi công đường.

    Sau đó huyện quan đệ đơn lên Thượng Ty xin cho trảm quyết Sĩ Lương để làm gương cho kẻ khác.

    Ngày tháng lặng lẽ qua. Sĩ Lương bị giam chờ lệnh Thượng Ty, đã được hơn một năm, xảy bữa đó Bao Công đi tuần án các nơi, ghé tới huyện hà Chiêu.

    Theo thường lệ, sau khi hỏi huyện quan về dân tình sở tại Bao Công truyền đem hồ sơ các vụ án còn lòng vòng ra coi lại.

    Tới vụ Nguyệt Anh, bao Công đọc xong biên bản, liền cho mời quan huyện vô phòng nói chuyện.

    Bao Công chậm rãi hỏi:

    - Theo quan thì tại sao Nguyệt Anh tự tử.

    - Thưa thượng quan, y thị thông dâm với anh chồng nay bại lộ, quá xấu hổ nên tự tử?

    - Căn cứ vào đâu mà quan quả quyết như vậy?

    - Dạ, bằng chứng hiển nhiên là chổi và giỏ rác để trong phòng Sĩ Lương.

    - Có bao giờ quan nghĩ rằng Nguyệt Anh có thể vì bị hiểu lầm nên uất ức mà tự tử không?

    - Dạ, thưa không.Thượng quan cho là y thị tình ngay lý gian?

    Ta mới đặt một giả thiết, chớ chưa quả quyết là như vậy. À biên bản có ghi quan cho rằng việc Sĩ Lương kêu Nguyệt Anh vô buồng trước, đang hay sau khi quét nhà không quan hệ, phải không?

    - Dạ phải, thưa tượng quan có chi sai lầm?

    - Chính đấy là điểm quan trọng. Mặt khác, quan có cho điều tra về Sĩ Lương khai lên xóm trên hoạn heo nhà ông Tư không?

    - Thưa không!

    - Chà, sao sơ suất quá vậy. Bây giờ ông cho đòi tên tư đến hỏi cho rõ. À luông tiện ông cũng hỏi Sĩ Mỹ và Lý thị về giờ giấc đi về của họ bữa đó ra sao rồi trình gấp cho tôi nghe.

    Huyện quan tuân lệnh lui ra. Hồi lâu sau ông đem nạp Bao Công tờ trình đầy đủ về các điểm trên đây.

    Bao Công coi qua rồi bảo:

    - Bây giờ đã xế chiều rồi, mai sáng quan cho đòi nội bọn lên ta xét hỏi lại một lượt.

    Qua sáng sau, Bao Công đăng đường cho kêu lần lượt: Bác Tư, Sĩ Mỹ, Lý thị vô hỏi về giờ giấc đi về và công việc làm cua họ trong ngày đó. Đoạn ông dạy họ ra chờ ngoài sân rồi cho áp giải Sĩ Lương lên.

    Ông nhìn Sĩ Lương hồi lâu mới cất tiếng hỏi rằng:

    - Ngươi sẽ bị chém đầu về tội thông gian với em dâu. Vậy ngươi nghĩ sao?

    - Thưa thượng quan, chét thì ai cũng có ngày phải chết, bằng cách này hay cách khác. Nhưng tôi không khỏi đau lòng vì bị chết một cách oan uổng, chết mà bị ô danh, chết nhục nhã.

    Ngạc nhiên vì câu trả lời của anh nông dân nên Bao Công tò mò hỏi:

    - Trước kia ngươi có học hành gì không?

    - Dạ thưa hồi nhỏ tôi có được cha mẹ cho đi học ít lâu.

    Bao Công liền hỏi thăm gia cảnh Sĩ Lương và giờ giấc đi về của chàng cùng các sự việc xảy ra trước và sau khi Nguyệt Anh tự tử.

    Sĩ Lương thiệt tình khai hết.

    Nghe xong, Bao Công trỏ đống hồ sơ nói:

    - Về vụ Nguyệt Anh này, Lý thị khai rõ tội loạn luân của ngươi, còn kêu oan cho đặng?

    Sĩ Lương bình tĩnh đáp:

    - Thưa, quả tình là oan. Tôi vô phước lấy phải người vợ hay ghen bậy. Vì nó mà tôi nhơ danh, Nguyệt Anh nhơ tiết và em ruột tôi ngờ vực tôi. Ba điều oan tầy trời như vậy, sao thượng quan bảo tôi không oan cho đành.

    - Để ta coi lại xem sao.

    Nói đoạn Bao Công truyền lính gọi Lý thị vô và hỏi:

    - Thị khai chồng thị gian dâm với em dâu và trưng bằng cớ là cây chổi và giỏ rác đựng trong phòng phải không?

    - Dạ phải.

    - Lúc ngươi về nhà đã được quét dọn sạch sẽ chưa?

    - Dạ thưa trong ngoài đều sạch sẽ.

    - Thế giỏ rác và cây chổi ra sao?

    - Dạ dựng trong phòng vợ chồng tôi.

    - Biết rồi, ý ta muốn hỏi chổi có sạch và giỏ có còn rác không?

    - Thưa chổi và giỏ đều sạch. Rác đã đổ hết rồi.

    - Chắc đúng như vậy không?

    - Dạ đúng vì tôi rất chú ý đến hai vật đó lúc vô phòng. Hơn nữa chính chồng tôi trong lúc xô xác với tôi, đã đá trúng giỏ rác và cầm chổi đánh tôi túi bụi.

    - Ý thị muốn nói là hai vật đó đã được Nguyệt anh đập sạch sẽ trước khi dựng vô phòng nếu không thì lúc chồng thị đá giỏ, tất rác đã vung cùng nhàvà lúc chồng chị quơ chổi đánh thị thì thị đã bị dơ bẩn nếu chổi không sạch. Phải vậy không?

    - Dạ phải.

    - Bao Công quát lớn:

    - Nếu như vậy thì mi đáng tội chết rồi.

    Lý thị xanh mặt, run rẩy thưa:

    - hưa thượng quan, tôi nào có tội chi. Nguyệt Anh tự tử là tại ý thị chớ đâu phải tại tôi.

    - Mi hãy vểnh tai mà nghe cho rõ đây. Giỏ rác đã đổ, nhà đã quét sạch sẽ thế thì rõ ràng Nguyệt Anh đem chổi và giỏ rác qua dựng bên phòng mi để mi khỏi mất công đi kiếm. Nó thương mi mà làm vậy chớ đâu phải tại nó gian dâm với chồng mi rồi bỏ quên ở đó.

    Bao Công ngưng một chút rồi cao giọng phán tiếp rằng:

    - Nếu chồn mi kéo Nguyệt Anh vô phòng khi nó lên thu dọn thì nhà chưa thể quét sạch được. Trái lại nếu nó quét sạch rồi chồng mi mới kéo vô phòng thì giỏ rác tất chưa kịp đổ. Còn nếu nó quét sạch rồi và cũng đổ rác rến xon xuôi thì chồng mi mới kêu nó lên và kéo nó vô phòng thì chẳng lẽ nó đem theo cả chổi lẫn giỏ rác ngờ ngờ làm chi? Nay giỏ chổi để vô buồng một chỗ, sau khiquét tước xong, thiệt đã quá rõ ràng là Nguyệt Anh có ý để sẵn cho mi khỏi phải tìm kiếm, đâu phải vì gian dâm.

    Vả lại, xét theo giờ giấc đi về của mọi người, ta thấy từ sau lúc mi ra đi, tới lúc mi quay về nhà, Sĩ Lương cũng không có ở nhà, thì làm sao thông dâm với em dâu cho đặng.

    Còn về việc Nguyệt Anh tự tử, ta chắc là y uất ức vì tình ngay mà lý gian, cãi chẳng lại nên liều mình để trỏ tiết trinh. Chắc chắn không phải là thông dâm với anh chồng rồi sợ bại lo mà tự vẫn.

    Rồi Bao Công trỏ mặt Lý thị mà mắng rằng:

    - Cũng tại mi ghen bậy lại vu vạ cho Nguyệt Anh đến nỗi người ta uất ức mà ự tử. Rồi cũng vì mi mà Sĩ Mỹ nghi nờ vợ, em nghi anh, chồn mi lâm vào còng lao lý chút xíu bay đầu về một tội do mi tưởng tượng. Ta xét mi đáng tội tử hình.

    Lý thị nghe vậy thất kinh sụp xuống lạy Bao Công rồi vừa khóc vừa thưa rằng:

    - Xin thượng quan tha cho tội chết. Tôi đàn bà ngu dại, nông nổi nên ghen bậy thành ra mang tội.

    Sĩ Lương cũng cất tiếng xin dùm vợ:

    - Thưa thượng quan, tôi tự xét cũng có lỗi phần nào trong vụ này vì thực ra tôi không biết răn dạy vợ và kém sự giải thích phân minh. Xin đại quan ngó lại, vì đứa con thơ của tôi mà tha tội chết cho mẹ nó.

    Sĩ Lương vừa dứt lời thì Sĩ Mỹ cũng chắp tay xá dài Bao Công và thưa rằng:

    - Thưa thượng quan, nhờ ơn trời xoi xét, vợ tôi đã được giải oan. Tài xử án của đại quan đã phục hồi danh dự cho vợ tôi, cho anh tôi và cả tôi nữa. Lý thị đáng tội thật nhưng xét vì y thị nông nổi và vì hoàn cảnh gia đình nên cúi xin đại quan dung tha cho y thị.

    Bao Công suy nghĩ một lát rồi phán rằng:

    - Lẽ raLý thị phải bị chém đầu về tội vu cáo đến nỗi người ta phải chết. Nay xét vì y thị còn trẻ lại nông nổi quá ghen vả lại đã có lời nài xin của chồng và em chồng nên ta cũng khoan dung phạt tù y thị mà thôi.

    Phán rồi Bao Công truyền hạ ngục Lý thị và trả tự do cho Sĩ Lương.

    LỜI BÀN

    Huyện quan khi thẩm vấn nôi vụ đã nói ngay rằng:

    - Thói thường người ta tự tử một là có điều chi uất ức không minh oan phơi bày ra được, hay là vì quá xấu hổ, ba là bị binh hoạn thất vọng chán đời.

    Trong ba nguyên nhân đưa đến việc tự tử của người ta, thì nguyên nhân thứ ba phải loại bỏ trong nội vụ bởi lẽ Nguyệt nh chẳng phải là kẻ chán đời bệnh hoạn và thất vọng, trái lại là một thiếu phụ lạc quan yêu đời, còn lại hai nguyên nhân, hyện quan không do dự để phỏng đoán rằng Nguyệt Anh đã tự tử vì nguyên nhân thứ hai: quá xấu hổ vì thông gian với anh chồng. Tội loạn luân ngay trong pháp chế kim thời khi luật pháp và luân lý chỉ là một. Vì thế huyện quan khi hướng cuộc điều tra về tội thông gian, ra lệnh hạ ngục Sĩ Lương và báo trước cho nghi phạm biết: “mi sẽ bị chém đầu về tội lấy em dâu” cũng không có chi đáng ngạc nhiên.

    Nhưng ông thẩm phán thượng thẩm Bao Công không suy luận như ông thẩm phán sơ thẩm huyện quan. Bao Công cho rằng Nguyệt Anh tự tử do nguyên nhân thứ nhất: có điều chi uất ức không minh oan giải bày ra được. Thế nên cuộc điều tra thượng thẩm lại hướng vào việc tìm lý do của sự uất ức khiến nạn nhân phải kết lieui cuộc đời, hay nói khác đi hướng về tội búc tử, để tìm thủ phạm này, Bao Công đã có định ý ông phán:

    Còn về Nguyệt Anh tự tử ta chắc Y thị uất ức vì tình ngay mà lý gian cãi không lại nên liều mình để tỏ triết trinh chớ không phải vì thông dâm với anh chồng rồi sợ bại lộ mà tự vẫn”

    Nghĩ như thế rồi, Bao Công phải thử lại bài toán bằng một chứng minh cụ thể để loại trừ một cách chắc chắn giả thuyết thông dâm. Và tới đây Bao Công mới dựa vào những chi tiết về cái chổi và giỏ rác để suy luận một cách thần tình. Cách suy luận của Bao Công khiến ta liên tưởng tới cách suy luận độc đáo của Sherlock Holmès một nhân sự nổi tiếng trong các tiểu thuyết trinh thám Anh Cát Lợi (cho nên hậu sinh chưa hẳn đã là hơn được cổ nhân) Do sự suy luận, giả thuyết thông dâm bị gat bỏ vĩnh viễn. Vậy thì, Bao Công chỉ việc trỏ mặt Lý thị mà mắng rằng:

    “Cũng tại vì mi ghen bậy, lại vu vạ cho Nguyệt Anh đến đỗi người ta uất ức mà tự tử” Thế mà cái ghen bậy này, cái sự vu vạ này cộng thêm với sự tự vẫn của nạn nhân hội đầy đủ điều kiện của tội bức tử (nếu Nguyệt Anh chỉ vì xấu hổ, hối hận mà tự tử thì Lý thị chẳng có tội này. Và kẻ ra khám (Sĩ Lương) người vào khám (Lý thị) cũng là nhờ biệt tài suy luận của ông thẩm phán. Sự thẩm án của Bao Công còn đáng khen ở chỗ khỏi dùng đến cực hình tra tấn như huyện quan mà sự thật vẫn được phơi bày, một lần nữa lại thấy: Bạo tàn chưa phải là thượng sách.
  2. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 21

    Hồi 21 : GIANG NGẠN HẮC LONG

    Đất Tây Hộ bên Tàu, có người Trìng Vĩnh ỷ cha mẹ có chút của cải, nên tuy hắn còn trẻ mà đã ham cờ bạc rượu chè, ưa rong chơi hơn là làm việc.

    Cha mẹ răn dạy nhiều lần mà chẳng được, hắn vẫn chứng nào tật ấy. Tới khi song thân lần lượt cưỡi hạc quy tiên, hắn hết chỗ nương tựa, mới cuống cuồng lo lập thân.

    Tính tới tính lui, hắn không biết làm gì để sống bây giờ. Muốn làm thầy thì chữ không đủ. Tính xoay làm thợ thì chẳng cò chuyên môn. Cũng muốn đi buôn nhưng buôn nhỏ thì hắn chê là vất vả ít lời, mà buôn lớn thì không đủ vốn. Thật là nan giải. Hắn bèn đến vấn kế mấy tên sâu rượu và đệ tử của thần đổ bác. Trong bọn có một tên râu rậm cười ngất rồi bảo Trình Vĩnh:

    - Cái chuyện đó dễ ợt mà anh phải băn khoăn lo lắng, trông tức cười quá. Mất chầu rượu cho cả bọn thì ta mách nước cho. Chịu không?

    Mấy tên khác khoái trí hoan nghênh ầm ĩ.

    Trình Vĩng cũng sốt sắng đáp:

    - Chịu chớ! Nói đi, nói đi!

    Tên râu rậm chậm rãi hỏi Vĩnh:

    - Hiện giờ anh có số vốn là bao nhiêu?

    - Tôi thì chẳng có đồng nào. Còn về của cải cha mẹ để lại, thì tiền mặt không có, nhưng có ba đám ruộng và một căn nhà.

    - Vậy cũng tạm đủ với cái nghề ta sẽ chỉ cho anh. Gần đây có một bến đò, khách qua lại đông lắm, thường không có chỗ trọ. Vậy anh hãy bán ruộng và nhà đi tới đó mà mở tiệm ngủ ắt phải sống được. Ta xem ra chỉ có nghề đó hợp với khả năng anh thôi.

    Mọi người đều khen là phải. Thế là ít lâu sau, Trình Vĩnh bán hết ruộng nhà đem tiền lên mở nhà ngủ nơi bờ sông.

    Vốn lười lại quen chạy dông nên hắn bực bội lắm vì cứ phải cầm chân ở nhà lo hết khách nọ đến khách kia. Cuối cùng, hắn mướn một người tài phú tên là Trương Vạn trông nom thế cho hắn, để được rảnh rang. Hắn bắt tài phú lập sổ sách phân minh ghi tên họ khách trọ cùng các khoản tiền thâu xuất của nhà ngủ, mà muốn khuếch trương tất nhiên cần có thêm vốn.

    Để giải quyết vấn đề này, hắn ngấp nghé mấy cô gái nhà giàu tính lấy làm vợ, nhưng chẳng ai chịu cả. Đối với hắn lẽ sống chỉ thu gọn vào có một chữ: “tiền”, phải, tiền thật nhiều, bất cứ bằng cách nào cũng được.

    Một khi đã có định kiến như vậy, dĩ nhiên là hắn rình cơ hội để thực hiện ý muốn.

    Và cơ hội ấy đã đến cho hắn.

    Chiều hôm đó Vĩnh trở về tiệm ngủ sau khi rượu đã xoàng xoàng. Lúc đi ngang qua dãy phòng trọ, hắn bỗng đứng phắt lại, miệng lẩm bẩm:

    - Hình như mìng vừa nghe thấy tiếng khua bạc lanh canh ở đâu đây.

    Hắn lắng tai nghe một lát rồi nhẹ nhàng tiến đến căn phòng cuối, ghé mắt vào khe mắt dòm vô.

    Trên chiếc giường gỗ kê ở góc nphòng, một ông thầy chùa, quần áo nâu sồng, đang kiểm lại một túi bạc đầy.

    Trình Vĩng lẩm bẩm: “chà lắm bạc quá. Phen này ta giàu to rồi”. Đoạn hắn lùi lại rồi bước mạnh tới, đẩy cửa vô phòng nhà sư và lớn tiếng nói:

    - Nhà chùa đem bạc đi đâu mà lắm thế. Thầy tên chi, ở đâu tới vậy?

    - A di đà Phật, tôi là Tiểu Giang Long vâng lệnh sư thầy của tôi đem một trăm lượng bạc của thập phương cúng giàng về xây chùa mới.

    - Sao thầy không đi thẳng lại ghé đây làm chi?

    - Gần tết nên đò không chịu đi xa thành ra phải đi từng chặng ngắn, biết sao bây giờ. Mai tôi lại ra đón đò khác đi tiếp.

    - Thầy đi như vầy… một mình hay là còn ai nữa?

    - Không, tôi đi có một mình thôi. Sư thầy tôi đã về trước rồi.

    Trình Vĩnh mắt long lanh nhìn túi bạc, miệng giả bộ nói với nhà chùa:

    - Thầy nên coi chừng. May tôi là chủ trọ biết thầy lắm bạc thì không sao, chớ kẻ khác dòm thấy có thể động lòng tham tìm cách hại thầy để cướp đó. Vậy thầy nên đề phòng rủi ro, chớ để ai biết thầy có bạc nhé. Cửa phòng này không có chốt cài bên trong nhưng thầy cứ yên tâm vì khi đã biết thầy có bạc thì tôi có bổn phận trông nom cho thầy.

    Sãi Giang Long nghe vậy vội vã thu hết bạc vào túi vải rồi giấu xuống gầm giường miệng không ngớt cám ơn Trình vĩnh.

    Tên chủ trọ khoác tay đáp:

    “Có chi mà ơn với huệ” rồi hắn mỉm cười lui ra.

    Rời phòng Sài Giang Long, Trình Vĩnh đi ra phía trước tiệm ngủ kiếm tài phú Trương Vạn và hỏi rằng:

    - Tối nay được mấy khách trọ?

    - Chỉ có một mạng thôi là ông thầy chùa.

    - Uûa có ba người đến bữa qua đi rồi sao?

    - Đi từ sáng nay rồi.

    - Thiệt sao.

    Trương Vạn mở tủ lấy cuốn nhật ký lật trang ghi bữa nay và nói với chủ:

    - Ông coi tôi có vô sổ đàng hoàng, đâu dám làm điều bậy bạ.

    Trình Vĩnh mắt nhìn xuống sổ miệng đọc:

    - Ngày hai sáu tháng mười hai, ba khác đến một đàn ông là Nguyễn Tạo, hai đàn bà là Vương thị và Phan thị. Ngày hai bảy tháng chạp sáng ba khách nữa qua đi, chiều một khách đến là Sãi Giang Long. Thâu vô tiền trọ… Trình Vĩnh đọc đến đây gập sổ vào và nói:

    - Lời ghi rành mạch đầy đủ, sổ sách lại đóng tốt thế này, để cả mấy chục năm cũng chưa hư. Anh thiệt là cẩn thận và hơi kỹ quá đó. Thôi được lắm rồi.

    Trương Vạn thấy chủ khen cười đáp:

    - Đã không sổ sách thì thôi, chớ đã làm thì phải cho đàng hoàng chớ, chẳng những để ông coi mà còn khi quan quân hỏi đến biết đâu. Tôi chọn mua thứ sổ tốt để lưu giữ lâu được. Cứ mỗi năm lại làm một cuốn. Cuốn này là “đệ nhất niên”. Tết ra mở cuốn “đệ nhị niên” và cứ thế tiếp tục mãi.

    - Bộ anh tính lưu nên vạn đại sổ này sao? Chỗ đâu mà để.

    - Mỗi năm một cuốn nhật ký nhỏ này, cứ hết năm thì khoá sổ cất cô tủ, qua một năm mới lại mở cuốn khác, như thế thì ba chục năm cũng chỉ mới có ba mươi cuốn sổ nhỏ, một ngăn tủ dư sức chứa đựng.

    - Coi bộ anh có óc tổ chức lắm. Ta rất mừng có được người giúp việc chăm chỉ tài ba như anh. Nếu thêm vốn khuếch trương chắc chắn ta sẽ ngày càng phát đạt.

    - Tôi cũng mong như vậy.

    - Thôi bây giờ anh thu dọn giấy tờ rồi ra phố mua rượu về nhậu tất niên chơi.

    À mai anh cũng lo sang sửa trang hoàng lại nhà cửa để ăn tết. Cứ như thông lệ thì từ bữa hai ba tháng chạp trở đi cho tới ngoài khai hạ nhà trọ không có khách phải không?

    - Thưa phải. Trừ khi có việc cấp bách còn thì ngày tết ai chẳng ở nhà du xuân!

    Nói đoạn trương vạn tất tả đi ra phố. Lát sau y trở về thì thấy Trình Vĩnh đã châm đèn sáng choang, dọn sẵn bàn tiệc.

    Trước khi ngồi vào mâm, Trình Vĩnh làm như chợt nhớ ra điều chi liền bảo tài phú:

    - À này, anh vô hỏi Sãi Giang Long đã thụ trai chưa?

    Thày ấy có cho biết là đã thụ trai trước khi tới nhà trọ vì biết thường thì chỉ tới nhà trọ mà không có lo cơm.

    - Tuy thế anh ũng nên vô hỏi qua nhà chùa có cần chi khác không và luôn tiện đi đóng các cửa ngõ lại.

    Lát sau, anh tài phú trở lại nói:

    - Nhà chùa đáp không cần chi. Phần tôi đã đóng xong các cửa rồi.

    Hai người nhập tiệc và trình vĩnh cố ý ép Trương Vạn uống hết chén này tới chén khác, trong khi hắn chỉ uống cầm chừng mà thôi.

    Tới lúc mãn tiệc thì trương Vạn đã say khướt, đi không vững, Trình Vĩnh phải dìu vô giường. Vạn nằm ngủ mê man như người chết.

    Sau đó, Trình Vĩnh cứ để bàn rượu y nguyên và lui về phòng riêng đóng cửa lại rồi lôi từ phía sau tủ ra một cây đoản đao, lưỡi bén vô cùng. Hắn vung tay chém thử mấy nhát vào không khí rôi đặt đoản đao xuống bàn, tắt đèn, leo lên giường nằm chờ canh khuya sẽ ra tay.

    Canh một rồi canh hai lặng lẽ trôi qua, khi tiếng trống khô khan và cộc lốc từ xa vọng lại báo hiệu đã sang canh ba, Trình Vĩnh vùng dậy xách đoản đao, khẽ mở cửa buồng, lén đi về phía phòng Sãi Giang Long.

    Hắn ghé mắt dòm qua khe cửa. Trên án thư, ngọn đèn dầu lạc còn leo lét cháy. Trên giường, Sãi Giang Long nằm quay mặt vào vách ngủ say, tiếng thở đều đều nổi lên.

    Tên chủ trọ bất lương đẩy cửa nhẩy tới bên giường, miệng quát:

    - Giang Long, đưa bạc đây không thì ta giết.

    Sãi Giang Long giật mình choàng dậy, chưa kịp trở tay đã bị Trình Vĩnh vung đoản đao đâm chết liền.

    Thi hành xong thủ đoạn dã man, tên chủ trọ lấy mền quấn chặt vết thương của nạn nhân cho máu khỏi chảy lan ra ngoài. Đoạn hắn ôm xác nhà chùa bỏ xuống nền đất, rồi kéo chiếc giường ra. Hắn nắm túi bạc xách lên đem về phòng bỏ vô rương khoá lại.

    Sau đó hắn ra vườn lấy mai thuổng vào và ra công đào huyệt chôn ngay Sãi Giang Long ở dưới gầm giường. Đến lúc gà gáy lần đầu thì Trình Vĩnh cũng hoàn tất mọi việc. Hắn khêu đèn cho sáng thêm, kiểm soát lại một lượt. Hắn xoa tay tự bảo:

    - Yên trí lớn. Khó mà tìm thấy vết tích gì.

    Hắn ra ao sau nhà rửa sạch đoản đao cùng mặt mũi chân tay rồi lén trở về phòng nằm nghỉ. Hắn cố tình để cửa sau nhà hé mở.

    Qua sáng sau, anh tài phú Trương Vạn tỉnh rượu trở dậy thấy cửa sau mở liền nhào vô phòng Sãi Giang Long thấy bỏ không thì hốt hoảng chạy tới đập cửa phòng gọi Trình Vĩnh , Vĩnh làm ra vẻ ngủ mệt, ú ớ một lát mới dậy mở cửa. Hắn giả bộ gắt tài phú:

    - Anh thử coi kỹ trong phòng này xem có gì khác lạ không?

    Trương Vạn lật chiếu, mở tủ dòm gầm giường, nhìn khắp mọi nơi nhưng không thấy gì “khác lạ” cả.

    Vĩnh mừng lắm liền lôi Vạn ra vườn xem xét, cũng không có chi khác lạ cả. Lúc bấy giờ hắn mới bảo viên thuộc hạ:

    - Ta chắc là Sãi Giang Long không có tiền trả trọ nên lẻn đi từ sớm. Thôi lần đầu ta tha cho ngươi, tự hậu phải cẩn thận nghe.

    Trương Vạn cám ơn chủ rối rít.

    Trình Vĩnh chờ ít ngày không nghe ai nói đến sãi Giang Long cả, mới tính kế sử dụng số bạc cướp được.

    Vốn là đứa khôn ngoan, mưu mẹo, Vĩnh giả bộ đi làm ăn xa, trong một năm.

    Trước khi lên đường vào đầu tháng giêng, Vĩnh trao cho tài phú lối năm lượng bạc nói là vay được.

    Tới khi trở về chốn cũ, để che mắt thiên hạ, hắn kheo trúng nhiều mánh lớn trong lúc buôn ba nơi khác. Rồi hắn mới xuất chỗ bạc lấy của Sãi Giang Long mua thêm đất, khuếch trương tiệm ngủ, tậu ruộng cho cấy rẽ và buôn bán thêm. Chẳng bao lâu hắn trở nên một tay cự phú trong vùng.

    Tài phú trương làm không xuể việc, phải mướn thêm người phụ giúp.

    Ai cũng khen Trình Vĩnh và không mảy may nghi ngờ gì về hành động bất lương của hắn năm xưa. Những người thiệt thà còn lấy Trình Vĩnh ra làm gương răn dạy con cái. Nhiều nhà khá giả gọi gả con cho hắn.

    Thế là chưa đầy hai năm sau ngày Sãi Giang Long bị giết, Trình Vĩngh nghiễm nhiên trở thành phú ông và cưới con gái Hứa nhị là Hứa thị về làm vợ. Năm sau, Hứa thị sẽ lâm bồn vào hạ tuền tháng chạp tứ là từ ngày hai mươi trở đi. Vĩnh nghe nói mừng lắm bảo vợ:

    - Nếu vậy thì hay lắm. Thường lệ nhà trọ đã bớt khách từ sau ngày hai ba tháng chạp, khi ông táo lên chầu trời. Ta sẽ có thì giờ rảnh rang đôi chút, lo cho mẹ con nàng.

    Thấm thoát đã gần tới ngày Hứa thị khai hoa mãn nguyệt, Trình Vĩnh sai người thu dọn một phòng riêng cho vợ, tại trái Đông, mới cất sau nhà trọ, cách một cái sân rộng.

    Ngày hai mươi tháng chạp mọi sự được chuẩn bị xong xuôi, chờ đón đứa con đầu lòng của phú gia Trình Vĩnh. Một ngày rồi hai, ba ngày kế tiếp trôi qua, tới sáng hai bảy tết cũng không thấy Hứa thị có triệu chứng sắp lâm bồn.

    Cô mụ cho là tính lộn ngày, có lẽ phải chờ ra giêng. Thế là tới trưa hai bảy tết, lệnh “báo động” được bãi bỏ. Cô mụ ra về. Tối lại, Trình Vĩnh và tài phú Trương Vạn bỏ đi dự tiệc tất niên với bạn bè, hẹn khuya mới về, vì khách trọ chẳng có người nào. Ở nhà chỉ còn một mình Hứa thị với lũ gia nhân. Cơm tối xong, vợ trình Vĩnh kêu người làm đem đèn theo thị lên nhà ngủ cũ soát lại cửa ngõ. Mới xem xong một phòng, bỗn dưng Hứa thị thấy đau bụng dữ dội. Thị hô nữ tỳ dìu về phòng ở trái Đông.

    Đi được lối mười bước, Hứa thị đau tưởng chết được liền, vô nằm đỡ một phòng trọ

    Lúc đó đã gần hết canh một và bên ngoài gió ấc rít từng cơn. Năm nay trời rét hơn mọi năm nhiều. Cô mụ lật đật chạy tới, sai đốt dăm bảy lò than sưởi cho ấm cho hứa thị và cụ bị mọi thứ cho vợ Trình Vĩnh anh ngay trong phòng trọ.

    Trình Vĩnh được cấp báo cũng bỏ tiệc chạy về. Hắn muốn đưa vợ xuống phòng riêng nhưng mụ cản vì sợ đi qua sân hứa thị nhiễm lạnh.

    Nhà Trình Vĩnh vui như tết. Đèn thắp sáng choang, gia nhân chạy tới chạy lui, cười cười nói nói thiệt là vui vẻ. Trình Vĩn và tài phú Trương vạn ngồi đánh cờ cho đỡ sốt ruột…

    Tiếng trống cầm canh thong thả buông ba tiếng ngắn ngủi vào đêm dài vô tận. Lát sau, có tiếng trẻ sơ sanh khóc ré lên. Trình Vĩnh đứng phắt dậy lật đật chạy tới trước phòng hỏi vọng vô: “Trai hay gái”. Cô mụ mau mắn đáp “Con trai, ông à!”.

    Tài phú Trương Vạn vừa tới sau lưng chủ, nghe vậy reo lên:

    - Tốt quá, tốt quá. Cái phòng này từ nay hết xui rồi.

    Trình Vĩnh ngạc nhiên hỏi:

    - Anh nói chi kỳ vậy? Cái phòng này làm sao mà hết xui?

    - Uûa ông chủ quên rồi sao? Cũng ngày hai bảy tết này, cách đây ba năm, có Sãi Giang Long đến trọ tại phòng này rồi sớm hôm sau chuồn mất, không trả tiền trọ.Và cũng từ ngày đó, khách trọ nào ở phòng này sáng ra cũng xin đổi phòng. Người thì bảo có ma, kẻ thì bảo nó u uất thế nào ấy.

    Trình Vĩnh giật mình nhớ lại chuyện năm xưa. Thôi đúng rồi, con trai đầu lòng của hắn vừa cất tiếng chào đời ngay trên giường mà trước đây hắn đã hạ sát một người để cướp của, mà kỳ dị hơn nữa là cũng vào cùng một ngày và gần như cùng một giờ!

    Hắn tái mặt, cố làm ra vẻ bình tĩnh dò thử xem người làm có nghi ngờ gì không:

    - Chuyện tầm bậy. Riêng anh, anh thấy sao?

    - Tôi cứng bóng vía, ma nào mà nhát nổi tôi. Có lẽ cái phòng hơi tối và ẩm thấp, tôi nghĩ ông nên cho trổ thêm cửa sổ thì hết chuyện ngay.

    - Cái đó thì được. Tết xong anh cho làm ngay đi.

    - Tôi sẽ cho gọi thợ làm sau khi khai hạ. Bây giờ mời ông qua khoang ngoài uống rượu mừng quý tử.

    Sau khi cạn chén, Trình Vĩnh về phòng nghỉ. Đêm đó hắn trằn trọc mãi không ngủ được. Những chuyện “đầu thai báo oán” mà hắn thường nghe kể lại hồi còn nhỏ, nay cứ quay cuồng trong đầu óc hắn. Tới gần sáng, mệt quá, hắn chợp mắt được một lúc. Trong lúc thiếp đi hắn mơ toàn là những cảnh hãi hùng.

    Sáng dậy hắn thấy người mệt mỏi, tâm trí hoang mang. Nhưng sau hắn định thần lại và tự nhủ:

    - Tất cả chỉ là một sự ngẫu nhiên, can chi mà phải lo âu, sợ hãi.

    Từ bữa đó hắn cố không nghĩ đến chuyện cũ và rồi công việc hằng ngày quá bề bộn cũng giúp hắn quên dần vụ sãi Giang Long.

    Đứa con trai của Trình Vĩnh thiệt là bụ bẫm và kháu khỉnh, ai trông thấy cũng phải khen. Khi nó đầy tháng, Trình Vĩnh mở tiệc ăn mừng và đặt tên con là Trình Tích.

    Tích hay ăn chóng lớn và ngày càng khôi ngô, dĩnh ngộ. Vợ chồng Vĩnh chiều con vô cùng, nhất là về sau Hứa thị không sanh thêm đứa nào nữa. Thôi thì Tích muốn gì được nấy, muốn sao được vậy. Năm nó lên bảy ,Vĩnh bắt nó đi học, nó chẳng chịu, la khóc ầm ĩ, làm mình làm mẩy. Vợ chồng Vĩnh đành chịu. Lớn hơn một chút, suốt ngày nó đánh bạn với lũ trẻ mất nết quanh vùng, tới bữa cơm gia nhân phải đi mời năm lần, bẩy lượt nó mới chịu về. Một hôm, nó đùng đùng chạy về nhà, kiếm Hứa thị và hỏi giật giọng:

    - Ba đâu má?

    Ít khi thấy Tích hỏi đến cha nó, nên Hứa thị ngạc nhiên đáp:

    - Ba đi vắng. Có chi đó con?

    - Ba là thằng ăn cướp!

    Hứa thị ngỡ con nói đùa, vội ôm lấy nó mà nựng rằng:

    - Con giai của má chớ nói nhảm. Ba biết, ba la à.

    Tích quắt mắt bảo mẹ:

    - La gì? Ba đúng là thằng ăn cướp mà.

    Nói rồi nó lại bỏ chạy đi chơi.

    Lúc Trình Vĩnh về thấy vợ ngồi khóc mới hỏi duyên cớ. Hứa thị thuật lại câu chuyện vừa xẩy ra. Vĩnh lặng thinh không nói chi cả. Hắn chờ lúc chỉ có hai cha con mới na6t nó:

    - Lần sau không được nói bậy nữa nghe Tích.

    - Cái chi mà bậy? Ba là thằng ăn cướp không phải sao?

    Vĩnh vừa giận vừa sợ, bèn ngọt ngào dỗ Tích để biết ai sui nó nói bậy. Nó đáp, nghe tụi bạn nói.

    Sau bữa đó, Vĩnh bắt con ở nhà học. Học được vài chữ, nó cự lại cả ông đồ rồi lại bỏ đi chơi. Vĩnh ahy tin la Hứa-thị ở nhà mà không biết dạy con. Hứa thị bưng mặt khóc ròng.Vợ chồng người bạn thân là Nghiêm Chánh đến chơi hay đặng câu chuyện mới nhận khuyên bảo Trình Tích giúp.

    Hai người ra công khuyên nhủ con bạn nhưng vô ích, nó vẫn chứng nào tật ấy.

    Trình Vĩnh cả giận la mắng con om sòm. Tích ngồi nhà được một lúc lại trốn đi chơi. Cứ như thế, đến năm mười sáu tuổi thì Trình Tích trở thành một tên du đãng có hạng. Qua năm sau nó lại biết uống rượu và đánh bạc như người lớn vậy. Nguy hại hơn nữa, nó còn đua đòi mấy tay ngỗ ngược trong vùng, tập múa gậy, đánh dao và thường bỏ đi đôi ba ngày mới về.

    Trình Vĩnh ham đi đánh bạc không mấy khi có nhà. Khi về có hỏi đến con thì Hứa thị lại tìm cách bưng bít che đậy cho Tích.

    Tuy vậy, một lần trình Vĩnh bắt gặp Tích la cà nơi tỉu điếm, Hắn nổi giận la mắng con một hồi rồi lôi nó về nhà nhốt trong phòng. Tích đập phá ầm ầm và réo tên cha lên và hăm giết. Vĩnh tím mặt toan lấy gậy đập con. Hứa thị nhẩy vào can, một mặt van xin Vĩnh, một mặt năn nỉ con. Từ bữa đó, Tích được thể, hễ mỗi lần bị rầy la hay bị trái ý là lại giở giọng sát phụ ra, ai khuyên thế nào cũng không được. Và cũng từ bữa đó, Tích ngang nhiên muốn đi lúc nào thì đi, về lúc nào thì về, không sợ ai chi nữa.

    Tài phú Trương Vạn thấy Tích càng ngày càng ngỗ nghịch cũng cám cảnh, thốt tiếng than rằng:

    - Cho hay, bé không vin cả gẫy ngành.

    Rồi một hôm, Tích về nhà nạt mẹ lấy bạc và ra chợ mướn thợ rèn một cây đoản đao thật bén. Nó giấu đao vào túi vải đeo trên lưng rồi lần sang nhà vợ chồng Nghiêm Chánh, ở làng bên.

    Thấy con trai bạn đến, Nghiêm chánh mừng rỡ, giữ lại ăn cơm. Mọi người và ngay cả vợ chồng Nghiêm Chánh đều lấy làm lạ về cách xử sự của trình Tích đối với vợ chồng nhà này. Nều Tích hỗn hào với cha bao nhiêu thì trái lại nó lễ phép với bạn cha nó bấy nhiêu.

    Nghiêm Chánh vui vẻ hỏi con bạn:

    - Cháu sang có việc chi không? Bên nhà ba má bình yên cả chứ, ba cháu có nhắn gì chú không?

    Tích đang cười bỗng sa sầm nét mặt gay gắt đáp:

    - Đừng nhắc đến cha tôi nữa. Nó là thằng ăn cướp, tôi muốn giết nó nên đã sắm đoản đao sắc bén đây rồi. Chú hay, ngày mai tôi sẽ ra tay đó.

    Nói đoạn, nó lầm lì rút phắt đoản đao trong túi vải ra, múa lên trước mặt Nghiêm chánh. Ông này bình tĩnh đứng dậy, giơ tay nói lớn:

    - Aáy chớ, cháu không nên làm thế. dẫu sao cũng còn tình cha con, cháu đừng để người đời chê cười.

    Tích thu đao về và đáp:

    - Thế nào cũng giết, nội ngày mai thôi. Chú nghe chưa?

    Vợ Nghiêm Chánh là Huỳnh thị cũng chạy lại khuyên can con bạn nhưng nó đã giắt đao trong lưng vứt lại túi vải rồi lũi lũi đi ra. Huỳnh thị lắc đầu bảo chồng:

    - Có bao giờ nó làm quá như thế đâu?

    - Ừ, Những lần trước mình khuyên giải nó, tuy rằng nó không nghe lắm nhưng cũng còn giữ lễ độ đôi chút. Tôi xem ý nó tính giết bác Vĩnh thiệt, bà nghĩ sao?

    - Tôi cũng nghi vậy.

    - Bây giờ tính sao đây? Không lẽ để cha con họ Trình giết nhau. Hay là để tôi sang báo cho hai bác ấy biết mà đề phòng.

    Huỳnh thị xua tay can:

    - Ông qua nói thì cũng được ::146a7::, hiềm một mỗi hai bác ấy cũng không làm gì được. Muốn khỏi họa chỉ còn một cách… là đi báo quan.

    - Thằng Tích nó mới mười lăm thôi mà đã đi báo quan sao đặng?

    - Thế ông chờ nó đi giết cha nó rồi ông mới đi cáo quan à? Mà tới nước đó ông cáo cái gì? Ông có chứng kiến nó sát phụ đâu mà cáo, còn nếu ông khai có biết trước nó sẽ giết bác vĩnh thì ông lại bị quan hạch hỏi tại sao thấy nó nhất quyết giết cha mà không đi cáo ngay để quan ngăn chặn?

    Nghiêm Chánh gật đầu nói:

    - Bà nói có lý. Thôi để tôi làm đơn cáo ngay với Bao đại nhơn.

    Tiếp được đơn của Nghiêm chánh, Bao Công cho lính hoả bài cấp tốc đi đòi vợ chồng Trình Vĩnh đến và hỏi rằng:

    - Dạ phải.

    - Nghiêm Chánh là thế nào với vợ chồng ngươi?

    - Dạ, là bạn thân.

    - Nay Nghiêm Chánh đệ đơn cáo với ta rằng Trình Tích vừa đến nhà y hắn sẽ giết cha, nội trong ngày mai. Tên Tích cũng đã sắm sẵn đoãn cây đoản đao bén giắt trong lưng. Vậy vợ chồng ngươi nghĩ sao?

    Trình Vĩnh thưa:

    - Con tôi đã từng nhiều lần hăm giết tôi, nay nó tới nhà Nghiêm Chánh nói vậy thì cũng không có chi là lạ.

    Hứa thị tiếp lời chồng:

    - Thưa thượng quan, nó thường hăm giết cha nó trước mặt tôi. Tôi có rầy la nó nhiều lần mà không được.Nhưng nó chỉ hăm thế thôi chớ chưa có thấy mang khí giới bao giờ.

    Bao Công chậm rãi nói:

    - Theo lời khai của Nghiêm chánh thì đây là lần đầu tiên hắn nghe nói như vậy và xem ra có vẻ quả quyết lắm.

    Thế ra thằng Tích hăm doạ giết cha từ lâu rồi ta chắc lần này nó mần thiệt à. Nhưng tại sao nó lại ngỗ nghịch như vậy?

    Vợ chồng Trình Vĩnh đều thưa không rõ nguyên nhâ. Có lẽ là tại quá nuông chiều nó vì nó là con một. Bao Công suy nghĩ một lát rồi truyền vợ chồng Vĩnh ra chờ ở ngoài. Đoạn ông sai lính đi bắt trình Tích và mời mấy người lân bang tới cho ông xét hỏi.

    Lát sau, lính áp giải Trình Tích và bốn người lối xóm đến trước công đường.

    Bao Công quát hỏi:

    - Trình Tích, cớ sao mi lại có ý giết cha?

    Tích cúi đầu đứng yên, chẳng nói chẳng rằng. Bao Công vỗ án la vang nhà, nó cũng vẫn lặng thinh. Bao Công liền hỏi mấy người lân bang:

    - Các ngươi có thấy tên này hăm giết cha nó hồi nào không?

    Họ đồng thanh “có”. Rồi mỗi người trình bày đầy đủ chi tiết về trường hợp đã được nghe Tích hăm như vậy. Họ còn khai thêm có thấy Tích giấu con dao trong lưng hồi sáng nay.

    Bao Công hô lính khám người Tích. Không có vũ khí gì cả!

    Một ông hàng xóm đưa ra ý kiến:

    - Thưa thượng quan, chúng tôi không dám man khai. Nó hăm giết cha nó nội ngày mai. Chắc đao nó giấu ở trong phòna8

    Lính được lệnh đền xét, quả thấy cây đoản đao sắc bén Trình Tích giấu dưới chiếu, ở đầu giường, liền đem về trình Bao Công. Bao Công hỏi Tích:

    - Phải cây đao này mầy sắm để hạ sát ba mầy không?

    Tích vẫn lặng thinh, không trả lời.

    Bao Công tức giận sai tạm giam hai cha con họ Trình lại và ông gọi vợ chồng Nghiêm Chánh cùng bốn người lối xóm, riêng từng người một. Với ai Bao Công cũng đặt câu hỏi: “Có biết vì sao thằng Tích có ý định giết cha nó không”. Mọi người đều thưa:

    - Dạ không biết đích xác, chỉ nghe Tích khai cha nó là thằng ăn cướp!

    - Theo ngươi thì trình Vĩnh, cha đẻ của Tích là người thế nào?

    - Da, hắn tuy có hay rượu chè cờ bạc nhưng là người biết làm ăn.

    Hỏi xong, Bao Công truyền cho mọi người ra về. Ông tự bảo:

    - Tình cha con thắm thiết, nay tên Tích có ý sát phụ, tất nhiên phải có điều chi uẩn khúc. Một là nó điên khùng, hai là nó có biết điều gì về cha nó đây. Ừ, mà tại sao nó nói khắp nơi cha nó là thằng ăn cướp? Vậy thì phải tìm biết dĩ vãng của trình Vĩnh mới được.

    Nghĩ vậy, ông liền kêu hai thám tử vô dạy phải đi điều tra ngay về gia thế, nguồn gốc tài sản cùng tánh tình hạnh kiểm của cha con Vĩnh- Tích.

    Chiều hôm sau, các thám tử phúc trình kết quả đầy đủ cuộc điều tra. Suốt đêm đó, Bao Công ngồi nghiên cứu hồ sơ và suy nghĩ dữ lắm. Bỗng Bao Công gật đầu, vuốt râu, ra chiều đắc ý, miệng lẩm bẩm:

    - Trình Vĩnh lúa còn nhỏ cũng chơi bời lêu lỏng, kết bạn với phường du đãng, thích rượu chè cờ bạc. Tới lúc cha mẹ qua đời, hắn mới gom góp tiền bạc mở một tiệm ngủ nhỏ có bốn phòng gần bến đò làm phương tiện sinh nhai. Kể ra cũng tạm đủ sống là may vì vì hắn lười bếng không muốn vất vả lại ham chơi bời. Vậy mà đột nhiên ba năm sau hắn trở nên cự phú sau một thời gian vắng nhà lối một năm, nói là đi buôn bán nơi xa. Rất có thể y trúng mối nên mới chóng giàu. Nhưng tiền đâu ra mà buôn bán đã chứ? Thằng Tích năm nay mười bảy tuổi, lại ra đời sau khi cha nó đã trở thành đại phú. Theo cuộc điều tra thì từ ngày có thằng Tích, cha nó đều đều chớ không có bộc phát nữa. Vậy thời kỳ khả nghi nằm trong khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước, tức là sau khi song thân Trình Vĩnh qua đời và trước khi thằng tích.

    Nói đoạn bao Công lấy bút son phê lên hồ sơ một hàng chữ như sau: “Nếu hắn có ăn cướp thì là vào khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước. Cướp của ai? Ơû đâu? Lúc nào?”

    Phê xong Bao Công xếp hồ sơ, thổi tắt cây bạch lạp và đi nằm.

    Đang lúc mơ màng giấc điệp, Bao Công chiêm bao thấy mình đứng ngắm cảnh ở bờ sông. Đột nhiên ông thấy mặt nước sôi lên sùng sục. Rồi thì một con rồng đen từ từ nổi lên trên mặt nước. Nó phun nước ầm ầm một hồi, gương đôi mắt to tròn nhìn Bao Công trừng trừng.

    Bỗng nó bay lại phía ông. Bao Công sợ hãi toan bỏ chạy nhưng không kịp, rồng đen đã đến trước mặt rồi. Giữa lúc Bao Công luống cuống thì có tiếng nói từ trên lưng rồng vọng xuống:

    - Bao Đại nhơn đừng sợ. Con thần Long này tuy dữ tướng nhưng rất hiền lành, không làm hại Đại nhơn đâu. Bữa nay bổn thần muốn nói với Đại nhơn một điều.

    Bao Công ngẩng lên thấy trên lưng rồng có một vị thần, mình vận áo rồng bào, tay cầm hốt bạc, đầu râu tóc bạc phơ.

    - Xin Đại nhơn đừng trách thằng con bất hiếu ấy. Chẳng qua là hai mươi năm về trước mà ra như vậy. Nó là hậu thân của con hắc Long này.

    Nói rồi, cỡi rồng bay đi mất. Bao Công giật mình tỉnh giấc thì trời cũng vừa hừng sáng, bèn sửa soạn đăng đường.

    Ông cho kêu trình Vĩnh lên và hỏi rằng:

    - Tài sản hiện nay của nhà ngươi ước độ bao nhiêu lượng bạc?

    - Thưa thượng quan, lối hơn một trăm lượng.

    - Cha nhiều dữ à. thế gia nghiệp ấy do ông bà để lại hay là do ngươi tạo lập ra?

    - Thưa, cha mẹ chết đi để lại chút ít, chỉ để mua lại căn nhà nhỏ bé làm tiệm ngủ kiếm ăn.

    - Ờ, nhưng nghe nói ngươi có đi buôn xa mà?

    - Dạ có đi lối một năm, trúng lời nhiều mà thành giàu có.

    - Tiền đâu ra mà vừa nhà ngủ lại vừa đi buôn.

    - Dạ thưa dạ nhờ tiệm ngủ đông khách, nhiều lời nên có vốn đi buôn thêm.

    - Nhà có nuôi tài phú phải không?

    - Dạ phải, tên trương vạn là tài phú của tôi.

    - Tiệm ngủ có giữ sổ sách không?

    - Dạ có, vì có tài phú giỏi.

    - Cha mẹ ngươi chết cách đây hai mươi năm, ngươi trở nên giàu có cách đây lâu mau?

    - Dạ lối mười tám năm chi đó.

    Hỏi tới đây Bao Công truyền dẫn Trình Vĩnh trở lại nhà giam rồi sai lính hoả bài đòi trương Vạn đem sổ sách về ba năm đầu tiên thành lập tiệm ngủ.

    Lát sau Trương Vạn ôm ba cuốn sổ vô tới công đường. Bao Công mở cuốn có đề chữ “đệ nhất niên” và lật từng trang ra coi.

    Xem xong ông gập sổ lại và bảo trương Vạn:

    - Nhà ngươi giữ sổ sách phân minh lắm, ta có lời khen. Theo các điều ghi trong cuốn sổ này thì năm đầu cũng chẳng lời gì cho lắm, phải không?

    - Dạ phải.

    - Đã không lời mà chủ ngươi lại nuôi tài phú và hay rượu chè, cờ bạc, thì đủ ăn là hay phải không?

    - Dạ, tệ hơn thế vì hụt vào vốn.

    - Thế qua năm thứ nhì… thì có khá hơn không?

    - Thưa khá hơn vì đầu năm thứ nhì, ăn tết xong, chủ tôi cho biết sẽ đi buôn bán nơi xa. Mới đầu tôi tưởng chủ tôi dẹp tiệm ngủ lấy vống đi buôn nên có ý buồn rầu. Nhưng không phải vì ông có đưa thêm vốn cho tôi…

    - Bao nhiêu có nhớ không?

    - Dạ năm lượng bạc chẵn.

    - Đưa ngày mấy tháng giêng?

    - Ngày bảy tháng giêng, sau khi khai hạ.

    - Bữa trước có ai đến trọ không?

    - Không, người khách nọ đầu tiên đến ngày mười tức là hai bữa sau khi chủ trao năm lượng bạc.

    - Ngươi có trí nhớ tài nhỉ!

    - Cái đó có ghi vô đầu sổ “đệ nhị niên” này. Khi quan đòi mang sổ lên, tôi có lật ngay trang đầu và trang cuối mỗi sổ coi qua lại để biết đường trả lời.

    - Ngươi cũng thông minh đấy. Để ta coi có đúng không.

    Bao Công vừa nói vừa mở sổ đệ nhị niên ra xem rồi gật đầu nói:

    - Được rồi. Nhờ năm lượng bạc đó, ngươi ở nhà duy trì được nhà ngủ và cuối năm đó chủ ngươi trở về, hô là trung mối giàu to và qua năm thứ ba xuất thêm bạc ra khuếch trương nhà ngủ. Năm ấy chủ ngươi lấy vợ vá cuối năm sanh con trai đặt tên là Trình Tích. Phải vậy không?

    - Dạ phải, thượng quan biết rõ mà chưa cần coi sổ đệ tam niên thì ngài quả có tài xét đoán như thần, đúng là lời đồn đại trong dân gian.

    Bao Công không đáp chỉ lặng lẽ mở cuốn sổ thứ ba ra coi. Ông thấy ghi rõ số vốn Trình Vĩnh xuất thêm là tám mươi lượng bạc. Coi xong Bao Công hỏi trương Vạn:

    - Trở về câu chuyện đầu năm thứ nhì, ngươi nói sau tết Trình Vĩnh có xuất năm lượng bạc để lại cho ngươi trước khi đi xa buôn bán. Ngươi có biết số bạc ấy hắn lấy ở đâu ra?

    - Thưa, lâu ngày tôi quên rồi.

    Bao Công cố hỏi:

    - Ráng nhớ lại coi nào?

    - Thưa hình như chủ tôi nói là vay được.

    - Bây giờ ngươi tạm ra ngoài chờ ta sẽ hỏi yhe6m.

    Trương vạn lui ra rồi, Bao Công mới thong thả xem kỹ lại ba cuốn nhật ký của tiệm ngủ Trình Vĩnh . Ông cau mày suy nghĩ hồi lâu rồi lẩm bẩm:

    - Chỉ có hai giả thuyết. Một là Trình Vĩnh ăn cướp của ai ở ngay trong vùng vào khoảng cuối năm thứ nhất đầu năm thứ nhì. Hai là hắn làm điều chi phi pháp trong thời gian nói là đi buôn nơi xa, tức là năm thứ nhì. Thiệt là khó nghĩ quá. Làm sao tra ra manh mối bây giờ.

    Ông đứng dậy chắp tay sau lưng đi bách bộ trong công đường. Bỗng ông nảy ra một ý kiến liền kêu thơ lại vô giao cho cuốn sổ “đệ nhất niên” của tiệm ngủ Trình Vĩnh và bảo rằng:

    - Người chép riêng ra cho ta, tên họ cùng ngày đến và đi của các khách trọ nội trong tháng chạp. Khi làm xong kêu ngay Trương vạn vô cho ta hỏi nghe.

    Lát sau, viên thơ lại cùng tài phú Trương Vạn trở vô. Bao Công xem qua danh sách khách trọ rồi trao cho Trương Vạn và hỏi rằng:

    - Trong những người này, có ai than phiền bị mất bạc trong lúc trọ ở tiệm ngươi không?

    - Dạ không, nếu có thì đã ghi trong sổ.

    Bao Công soát lại sổ rồi đáp:

    - Ờ không có thiệt. Thế còn cái ông Sãi Giang Long này đến chiều hai bảy tết rồi thấy ngươi ghi bỏ ra đi hồi nào không hay, tiền trọ không trả. Câu chuyện thế nào ngươi có nhớ không?

    Thấy Trương Vạn có vẻ suy nghĩ, Bao Công nói tiếp:

    - Câu chuyện đã lâu ngày, hai mươi năm còn chi. Ngươi cố ráng nhớ lại coi.

    - Thưa, tôi nhớ ra rồi, Sãi Giang Long là khách cuối cùng của năm đó, vì là hai bảy tết rồi. Tối đó chủ tôi và tôi uống rượu quá say ra thấy cửa sau mở tôi mới kêu chủ cho hay.

    - Nhà chùa này từ đâu đến và có mang theo tiền bạc chi không?

    - Không nghe thấy từ đâu đến. Chỉ nghe sãi ấy cho hay theo lệnh thầy đi về chùa đang xây cất dở ở phía Đông Nam bến đò, lối chừng ba mươi dặm. Còn tiền bạc thì tôi không rõ. Nếu có ông ta đã trả tiền trọ, hà tất phải bỏ đi như vậy.

    - Ngoài việc trên đây, ngươi có biết chủ ngươi đi buôn bán qua những vùng nào không?

    - Dạ có nghe chủ nói đi làm ăn ở vùng Nam đất Tây Hộ này.

    - Thôi được, bây giờ ta cho ngươi về. Hễ có lệnh đòi thì phải lên ngay và cấm ngặt không được tiết lộ cho ai những điều ta hỏi. Còn ba cuo61nnha65t ký này, ta cần giữ lại coi, chừng nào xong sẽ trả.

    Trương Vạn vái chào ra về. Bao Công cho đòi gấp hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ vô và truyền rằng:

    - Hai ngươi nghe cho kỹ các điều ta dặn đây mà làm cho đúng. Trương Long khá đi ngay về phía Đông Nam bến đò, vô hỏi các chùa xem có vị sư sãi nào tw6n là Giang Long và xem người đó còn sống hay đã mất tích cách đây hai mươi năm và nếu mất tích thì hỏi có đem bạc chi không? Còn Triệu Hổ hãy xuống ngay vùng phía Nam đất Tây Hộ hỏi các quan sở tại xem lại sổ sách coi có vụ cướp bóc hay giết người cướp của xảy ra cách đây mười chín năm, mà tra không ra thủ phạm. Dù có hay không họ cũng phải lập tức phúc trình cho ta rõ.

    Hai thám tử vâng lệnh lên đường ngay sáng hôm đó. Trong khi chờ đợi kết quả cuộc điều tra ở các nơi, Bao Công cũng ra lệnh cho thơ lại bổn đường lục hồ sơ các vụ trộm cướp sát nhân mười chín năm trước.

    Thời gian lặng lẽ trôi qua. Cha con họ Trình bị tạm giam thấm thoát đã gần nửa tháng rồi. Cũng trong khoảng ấy Bao Công nhận được phúc trình của các nơi cho biết năm đó vì trúng mùa lại làm ăn dễ dàng nên các vụ trộm cướp hầu như không có xảy ra. Bao Công tự bảo:

    - Nếu vậy thì Trình Vĩnh nói là trúng mối là trúng mối lớn nên giàu to cũng không phải là vô lý. Nếu Trương Long lại tìm ra sãi Giang Long thì đúng mình nghi oan cho Trình Vĩnh và thằng con nó phải bị chém đầu.

    Nhưng hai bữa sau, mới sáng chưa tỏ mặt người, đã có lính vô bẩm với Bao Công có trương Long trở về xin vào trình gấp công việc.

    Bao Công lật đật trở dậy ra công đường cho đòi Trương Long vào hầu.

    Thám tử trình rằng:

    - Tuân lệnh thượng quan, tôi đến dọ hỏi mấy chục chùa lớn nhỏ cách bến đò ba mươi dặm về phía Đông Nam, vì các chùa ở rải rác và có nhiều ngôi lập trên sườn núi nên thiểm chức phải mất nhiều ngày giờ…

    Bao Công suốt ruột ngắt lời:

    - Ta cũng dư biết như vậy rồi. Kết quả ra sao nói ngay đi đừng dài dòng nữa.

    - Thưa thượng quan tôi đã tìm ra tung tích sãi Giang Long và có ghi đầy đủ vào phúc trình này.

    Vừa nói thám tử vừa đệ lên án thư một tờ giấy viết đầy chữ.

    Bao Công cầm lấy coi rồi gật đầu nói:

    - Tốt lắm. Vậy là ngày hai bảy tết cách đây hai mươi năm, Hoà thượng củ trì chùa này có biểu sãi Giang Long đem về chùa một trăm lượng bạc do thiện nam tín nữ công quả nhà chùa để xây chùa mới, tô tượng, đúc chuông. Nhưng chờ mãi không thấy sãi ấy trở về. Có lẽ đúng là người đã đến trọ tại tiệm Trình Vĩnh đây.

    Ủa mà sao ngươi không hỏi Hoà Thượng có trình báo cho quan quân biết không?

    - Dạ có mà quên ghi vào tờ trình vì thiểm chức tưởng không quan hệ.

    - Cũng được, thế Hoà Thượng trình ở đâu và kết quả ra sao?

    - Dạ, trình với quan huyện sở tại, nhưng không rõ kết quả.

    - Cái ông huyện này làm việc tắc trách quá. Ông ta đi đâu rồi.

    - Dạ quan ấy hồi hưu rồi qua đời đã mười năm nay.

    - Thôi cho ngươi về nghỉ. À khoan đi vội, chờ ta một chút. Nói đoạn Bao Công mở kéo lấy bạc ra thưởng cho thám tử.

    Thám tử vái tạ lui ra. Bao Công đứng dậy toan vô thay áo đại thần để đăng đường bỗng chợt ông vỗ trán kêu:

    - Trời! Hèn chi đêm nọ ta chiêm bao thấy con rồng đen ở sông nổi lên. Giang là sông Long là rồng. Giang ngạn Hắc long, rồng đen bên bờ sông. Thôi đúng là tên Vĩnh đã sát hại sãi giang Long để đoạt một trăm lượng bạc rồi.

    Nói đoạn, Bao Công kêu lính sửa soạn bữa nay ông đăng đường xét hỏi Trìng Vĩnh sớm.

    Lát sau, Bao Công vận áo đại thần ngồi uy nghi lẫm liệt trên ghế bành phủ da báo, hai bên có lính cầm gươm đứng hầu.

    Ông truyền lính áp giải Trình Vĩnh vô và hỏi hắn rằng:

    - Con ngươi có ý định giết bố, nó sẽ bị chém đầu, nhưng nhà ngươi cũng có tội… Vậy chuyện thật thế nào mau khai ra.

    - Con tôi hung hăng, ngỗ nghịch tôi không thể dạy nó được nữa, nay thượng quan xử tử nó tôi cũng bằng lòng.

    Bao Công cười nhạt, hỏi tiếp:

    - Ngươi chưa hiểu ý ta. Ta muốn hỏi ngươi về một chuyện cũ kia.

    - Thưa thượng quan có chuyện gì đâu?

    Bao Công nhìn Trình Vĩnh không chớp mắt rồi chậm rải hỏi lớn:

    - Chuyện sãi Giang Long cách đây hai mươi năm, nhớ không?

    Tên chủ tiệm ngủ sợ quá tái mặt, chân tay run rẩy.

    Bao Công thấy vậy liền vỗ án quát vang như sấm:

    Giết sãi Giang Long đêm hai bảy tết để đoạt một trăm lượng bạc, đúng là mi. Mau nhận tội đi. Trương vạn cũng đã khai rồi. Có nhận tội không?

    Trình Vĩnh luống cuống đáp:

    - Dạ thưa có…

    Rồi hắn ngưng bặt, trán đổ mồ hôi. Bao Công hô lính đem lò than hồng và kìm kẹp ra. Trình Vĩnh hết hồn đành khai ra hết.

    Bao Công liền cho đào dưới gầm giường trong nhà ngủ thì quả nhiên bắt gặp xác sãi Giang Long còn nguyên không rã, chỉ khô quắt lại thôi. Gia nhân của Vĩnh đứng đó thấy vậy bảo nhau:

    - Chắc là đầu thai báo oán đây. Năm xưa Hứa thị hạ sanh Trình Tích cũng tại phòng này.

    Dân chúng hay tin kéo đến xem đông như kiến cỏ.

    Bao Công nghe nói, cũng xuống tận nơi xem xét.

    Trở về Nha, ông ra lệnh hạ ngục Trình Vĩnh rồi cho đòi Trình Tích lên hầu. Ông không đả động đến chuyện Trình Vĩnh giết sãi Giang long và hỏi liền:

    - Bây giờ ngươi còn muốc giết cha nữa không?

    Nó không trả lời.

    Bao Công lại hỏi:

    - Ta cho ngươi đi xứ khác làm ăn, không gặp mặt cha nữa chịu không?

    Lúc đó Tích mới đáp cộc lốc:

    - Tôi không có tiền.

    - Ta cho một trăm quan làm vốn thì ngươi làm nghề gì?

    - Cho một trăm quan thì tôi đem công quả vào chùa rồi thí phát quy y cửa phật.

    Bao Công sai tịch thu tài sản của Trình Vĩnh xung vào công quỹ rồi trích xuất một trăm quan giao cho Trình Tích.

    Tích cám ơn rồi lặng lẽ ra đi.

    Bao Công ngồi suy nghĩ hồi lâu rồi cầm bút làm án tuyên xử đày Trình Vĩnh đi nơi biên địa.
  3. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 22

    Hồi 22 : CON THIÊN MIÊU

    (Lời tác giả – Đây là án lạ lùng nhất trong cuốn bao Công kỳ án của Trung Hoa, chúng tôi xin ghi lại đây để bạn đọc nhàn đàm trong dịp đầu xuân)

    Xưa tại huyện trung Hà bên Tàu, tại một xóm làng cách núi Thiên Trước lối bốn dặm, có chàng Thi Tuấn, khôi ngô tuấn tú, tuổi mới hai mươi đã đâu tú tài. Vợ Thi Tuấn “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”.

    Hai vợ chồng rất tâm đầu ý hợp. Nhờ nhà khá giả, nên Thi Tuấn chỉ chăm lo dùi mài kinh sử chờ ngày vô kinh đô dự thi.

    Tuy đã thuộc hết tứ thư, ngũ kinh nhưng chàng vẫn chưa dự thi, cố trao dồi kiến thức , cho ngày thêm tinh thông. Đến năm ba mươi tuổi, Thi Tuấn mới quyết định tranh tài với thiên hạ.

    Nghe chồng nói, Hà Liễn lặng thinh không đáp. Thi Tuấn ngạc nhiên hỏi vợ:

    - Uûa, anh ra đi lập công danh sao nàng lại có ý không vui?

    - Sự lập công danh là nam nhi chi trí, thiếp lẽ nào không biết, và lẽ nào không vui. Tuy nhiên thiếp buồn vì phải xa chàng.

    Thi Tuấn nhún vai cười đáp:

    - Cho hay nhi nữ thường tình.

    Nàng lại bị ám ảnh bởi các câu chuyện hoang đường ma quỷ chớ gì?

    Hà Liễn lè lưỡi nói:

    - Aáy chàng chớ bạo mồm như vậy. Tục truyền trong dãy Thiên trước mà chàng sẽ đi qua, thường có tàng tụ nhiều loài yêu quái.

    - Mình là người, sợ chi loài ấy?

    - Ngặt một điều là trên núi có năm con chuột từ bên xứ Thiên trước qua tu luyện đã lâu năm thành tinh, nên có tài biến hoá vô cùng. Chúng hay biến thành người để hãm hại kẻ lữ hành qua dãy núi rừng này. Bầy yêu tinh ấy ghê gớm lắm…

    Hà Liễn vừa nói tới đây thì có gia nhân thân tín là Tiểu Nhị bưng nước lên, thoáng nghe nói mới hỏi Hà Liễn rằng:

    - Mợ nói chi đến yêu tinh vậy?

    Thi Tuấn cướp lời đáp:

    - Mợ mày đang doạ tao về chuột yêu tinh ở núi Thiên Trước. Ta đâu có ngán. Để coi ta nạt lại tụi nó chơi.

    Tiểu Nhị xua tay, trợn mắt nói:

    - Mợ nói đúng đó. Chúng nó tài biến háo thần thông lắm, khi hiện thành ông gì đón khách qua đường giựt tài vật, lúc hoá ra gái đẹp mê hoặc những chàng trai có máu Tề Tuyên. Cũng có khi chúng biến thành đàn ông đẹp trai dụ dỗ đàn bà.

    Thi Tuấn nghe nói cười rộ:

    - Chà, ta cũng mong nó biến thành mỹ nhơn đó đường cho vui.

    - Chớ giỡn mà cậu.

    - Nói thiệt chớ nói giỡn đâu. Chuột chi mà hoá thành người đặng. Ta chắc đấy là một tổ chức bất lương gồm có đàn ông và đàn bà chuyên nghề cướp cạn trên quãng đường hẻo lánh mà quan quân chưa thanh trừng được thôi. Chuyến này ta đem mầy đi Tiểu Nhị à, để mày được mục kích sự thật. Mày dám đi không hay là ngán rồi.

    - Thưa cậu, ngán thì có ngán thiệt nhưng theo bổn phận thì thầy đi đâu trò đó, dù có nguy hiểm tôi đâu dám từ nan.

    Hà Liễn lắc đầu:

    - Cũng không hẳn là như vậy. Thực ra thì thiếp lo ngại thế nào ấy… Có sự không hay sẽ xẩy ra cho đôi ta.

    Thi Tuấn cười xòa:

    - Nàng khéo vẽ vời, bày chuyện mê tín dị đoan. Chắc là nàng bị ảnh hưởng các câu chuyện yêu tinh hiện hình. Thôi nàng sửa soạn dần cho ta là vừa.

    Ít tháng sau, Thi Tuấn từ biệt vợ lên đường vô kinh dự thi có gia tướng Tiểu Nhị mang hành lý và lều chõng đi theo.

    Đường đến kinh đô xa tới ngàn dặm, ngày đi đêm nghỉ, khi cỡi ngựa lúc đáp thuyền, trèo non vượt suối, ít lắm cũng phải đôi ba tháng trời mới tới nơi.

    Vất vả nhất là dãy núi dài sáu trăm dặm rừng cao, suối sâu, ít người qua lại. Được cái may là dãy núi này thuộc phần đầu cuộc hành trình của thầy trò Thi Tuấn.

    Sau bốn ngày đường, hai người tới chân núi Thiến trước. Nhìn con đường lát đá tảng lớn bằng cái bàn, quanh co, âm u, vắng vẻ, Tiểu Nhị lo lắng nhìn chủ. Nhưng Thi Tuấn vẫn thản nhiên bước tới.

    Lúc đó trời đã xế chiều. Tiểu Nhị nhớn nhác nhìn quanh rồi hỏi chủ:

    - Đêm nay chắc ngủ trên cây quá cậu à!

    Thi Tú tài giở giấy ra coi rồi nói:

    - Theo người ta bảo thì qua khỏi dốc này có quán trọ hoặc nếu không thì cũng có nhà chòi để tạm trú.

    Hai người lặng lẽ tiếp tục cuộc hành trình. Hồi lâu sau họ tới đỉnh dốc. Thi Tú tài reo lên:

    - Kia rồi có quán trọ ở chân dốc, cạnh gốc cây to kia.

    Cả hai hăng hái đi tới. Đây là một căn nhà làm bằng cây, rất chắc chắn, xung quanh có rào. Thi Tú tài vừa tới cửa đã thấy một thanh niên ăn vận sạch sẽ, mặt mũi sáng sủa chạy ra niềm nở rước vô nhà.

    Thấy Thi Tú tài ăn vận sang trọng, chủ quán lân la hỏi chuyện.

    - Chẳng hay tiên sinh quê quán ở đâu, có việc chi đi qua đây?

    - Tôi từ huyện Thanh Hà, vô kinh dự kỳ thi Hội.

    - Hay quá, hay quá, đã từ lâu tôi không có dịp bàn chuyện văn chương nay gặp tiên sinh thật là vạn hạnh.

    - Vậy chớ tiên sinh cũng theo đòi chữ nghĩa thánh hiền sao? Hèn chi trong nhà nhiều câu đối quá. Đường xa gặp chủ tiệm có học như tiên sinh đây thiệt là hên quá.

    - Tôi cũng có đua đòi đôi ba chữ. Cách đây bốn năm tôi có dự thi mà chẳng đậu nên bỏ văn nghiệp mở tiệm cho qua tháng ngày.

    Nói rồi chủ quán dọn tiệc rượu khoản đãi. Hai người vừa ăn uống vừa đàm đạo chữ nghĩa, tích xưa. Thấy chủ quán ứng đáp trôi chảy, thi Tú tài không ngớt lời khen ngợi. Sau đó chủ quán thăm hỏi gia cảnh Thi Tú tài được chàng thư sinh thiệt thà lại hơi say rượu kể ra bằng hết. Nghe thi Tú tài tả dung nhan Hà Liễn, chủ quán trầm trồ khen ngợi:

    - Thiệt là một trang quốc sắc thiên hương.

    Thi Tú tài khoái trí kể lể mãi không thôi.

    Chủ quán ngồi nghe mắt long lanh như thèm khát đến cực độ.

    Đến khuya, Thi Tú tài đã say. Qua ánh đuốc nhựa bập bùng, chàng thấy hình như chủ quán có điều gì khác lạ. Chàng cố định thần nhưng thấy chới với như sắp xỉu đi. Mồn chủ quán dài ra như mõm chuột, hai tai to vểnh lên in hệt tai loài gặm nhấm vậy. Một làn khói đen bay từ miệng chủ quán ào vào lỗ mũi Thi Tú tài. Chàng thư sinh lảo đảo ngã gục xuống bên mâm rượu. Thì ra chủ quán là một trong năm chuột thành tinh biến ra người. Chưa biết nó định giở ngón gì đây.

    Nói về Tiểu Nhị ăn cơm ở nhà dưới xong liền lên trên nhà vô sửa oạn phòng ngủ dành cho hai thầy trò. Xong xuôi Tiểu Nhị lên giường nằm chơi định bụng chờ chủ. Chẳng ngờ vì quá mệt mỏi nên ngủ quên lúc nào không hay. Tới lúc chuột yêu (chủ quán) kêu hắn mới choàng dậy ra mời chủ vô phòng nghỉ.

    Tới nửa đêm, Thi Tú tài tỉnh dần lại và nổi cơn đau bụng dữ dội. Tiểu Nhị ra kiếm chủ quán lấy thuốc. Chuột yêu lắc đầu nói:

    - Ở đâu không có thuốc, thôi ráng chịu, mai sáng sẽ hay.

    Tiểu Nhị về phòng đấm bụng cho chủ. Lối một tiếng sau, Thi Tú tài bớt đau và nằm yên, mê mam như chết. Tiểu Nhị về giường một lát cũng ngủ say, ngáy như sấm.

    Chuột yêu đẩy cửa phòng dòm vô thấy vậy mỉm nụ cười bí mật rồi lui ra miệng lẩm bẩm:

    - Mình phải hạ độc kế để chiếm đoạt vợ thằng Thi Tuấn mới được. Cứ nghe nó tả lại thì Hà Liễn đẹp như tiên lại dịu hiền lắm.

    Nói rồi chuột yêu đi về phòng riêng đóng chặt cửa lại. Lát sau một thanh niên giống như Thi Tú tài ở trong phòng chuột yêu đi ra.

    Sáng hôm sau Tiểu Nhị tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên bải cỏ cùng chủ, dưới gốc cây cổ thụ, bên bờ suối. Tiểu nhị hốt hoảng vùng dậy lay gọi chủ ầm ĩ. Thi Tú tài ú ớ một lát mới mở mắt lờ đờ nhìn gia nhân. Tiểu Nhị ghé tai chủ hỏi lớn:

    - Cậu nghe trong mình ra sao?

    Thi Tú tài mệt nhọc đáp:

    - Còn yếu lắm…

    - Liệu cậu có gắng dậy đi được không?

    - Không đâu. Mà sao ta lại nằm ở đây?

    - Cái đó tôi cũng không hiểu tại sao. Rõ ràng tối qua mình vào nhà trọ ngủ hẳn hoi mà sáng hoá ra nằm giữa rừng.

    - Mày thử ngó xem gần đây có nhà cửa chi không? Gần suối thế nào cũng có người ta ở.

    - Cậu cứ nằm yên đây nhé, tôi đi thử coi.

    Thi Tú tài gật đầu. Tiểu Nhị theo con đường mòn đi một lát ra tới đường lớn lát toàn bằng đá tảng như hồi hôm. Nó xem hướng mặt trời mọc và nhận ra phía trước mặt là hướng Bắc là đường đi tới xứ Thiên Trước. Nó đi tới đi lui một hồi mà không tìm ra quán trọ đêm qua.

    Tiểu Nhị trở về nói với chủ:

    - Đường ở quãng này vướng cây nhìn không rõ phía trước nhưng cứ theo địa thế thì chỗ đất này bằng, có suối chảy tất làng mạc không bao xa.

    Để tôi cõng cậu đi tới một hồi xem sao.

    Rồi thì Tiểu Nhị lưng cõng chủ, tay ôm bọc đồ lần ra đường lớn mà đi.

    Đi mãi, đi mãi cũng chưa thấy bản nào mà Tiểu Nhị thì đã thấm mệt rồi. Hắn đặt chủ ngồi xuống phiến đá bên đường rồi đứng thở dốc một hồi. Bỗng hắn chú ý nghe ngóng. Văng vẳng xa đưa tiếng nước đổ ùm rồi nghe thịch một cái, như ai nện mạnh xuống đất, cứ thế đều đều mãi. Đúng rồi, tiếng chày nước giã gạo.

    Hắn mừng quá reo lên:

    - Cậu ơi! Có bản ở gần đây rồi.

    Nói đoạn hắn cõng chủ lên tiếp tục cuộc hành trình gian khổ. Được hơn trăm bước tới khúc quanh hắn thấy hiện ra một dãy nhà sàn…. Hắn vô xin dân làng chạy chữa dùm cho chủ.

    Người ta bảo hắn đi sâu vô phía trong, tới gần bờ suối thỉnh vị đạo sĩ ra.

    Vị đạo sĩ chống gậy trúc tới nhà trọ của Thi Tú tài chuẩn bệnh. Sau khi xem xét hồi lâu, vị đạo sĩ lặng lẽ dốc hồ lô lấy linh đơn mài ra cho Thi Tú tài uống.

    Tiểu Nhị lén hỏi đạo sĩ:

    - Chủ tôi mắc bệnh chi hở đạo sĩ?

    - Người này bị yêu khí, e khó sống.

    - Xin đạo sĩ hết lòng cứu chữa cho.

    Vị đạo sĩ vuốt chòm râu bạc ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

    - Đã gặp thì phải chữa. Nhưng bệnh này khó trị mà tài ta lại chưa tới độ cao siêu.

    - Xin đạo sĩ cố ráng dùm.

    - Không phải là ta làm khó dễ vì ta chữa đâu có đòi hỏi gì. Ta nói thiệt đó.

    Bây giờ ngươi phải đi lên cái am trên kia thỉnh Đổng Chơn Nhơn xuống cứu mạng thì mới xong.

    Vị đạo sĩ nhìn theo lẩm bẩm:

    - Con bệnh này có phước lắm mới được người đầy tớ trung thành như vậy. Xin trời phật độ trì cho thầy trò hắn.

    Tiểu Nhị leo lên tới cửa am đã thấy Đổng Chơn Nhơn từ trong ra đi. Không chờ Tiểu Nhị hỏi, Đổng Chơn Nhơn đã đưa cho gói thuốc và nói liền:

    - Ta biết ngươi lên xin thuốc cho chủ bị yêu khí. Đây ngươi cầm gói linh đơn này về mài ra cho chủ ngươi uống mỗi ngày hai viên.

    Tiểu Nhị trố mắt nhìn Đổng Chơn Nhơn lòng kinh ngạc vô cùng. Đổng Chơn Nhơn cười bảo Tiểu Nhị:

    - Nhà ngươi lấy làm lạ vì sao ta biết rõ chới gì. Đấy chẳng qua là một thuật nhỏ thường gọi là kỳ môn độn giáp. Thôi ngươi khá cầm thuốc về cho chủ uống đi kẻo muộn rồi.

    Tiểu Nhị hỏi thêm:

    - Thưa Chơn Nhơn, chủ tôi liệu có qua khỏi được không?

    Mửa hết yêu khí, tĩnh dưỡng ít lâu thì lành bệnh. Nhưng đường công danh cản trở, gia đạo xào xáo nên đưa chủ về càng sớm càng tốt.

    Tiểu Nhị vái tạ rồi lui xuống núi, về chạy chữa cho chủ. Nhờ linh dược, Thi Tú tài lần lần bình phục nhưng còn phải nằm nghỉ ít lâu.

    Lại nói về con chuột yêu biến hình giống Thi Tú tài như tạc ngay đêm đó hoá phép làm tiêu quán trọ rồi đưa thầy trò Thi Tú tài đến chỗ xa bỏ giữa rừng như đã nói trên đây. Xong xuôi no đi về huyện Thanh Hà, Tới sáng bữa thứ năm thì đến nơi. Nhờ các chi tiết mà nó khéo léo dọ hỏi được nên chuột yêu tìm thấy nhà Thi Tú tài một cách dễ dàng.

    Hà Liễn lúc ấy đã dậy, đang ngồi chải đầu, thấy chồng về thì lật đật ra đón và hỏi:

    - Sao chàng đi mới hai mươi ngày đã về?

    Chuột yêu đáp:

    - Giữa đường hay tin năm nay bãi kỳ thi hội , sĩ tử về hết rồi. Còn qua làm chi nữa.

    - Thế Tiểu Nhị đâu?

    - À nó mắc mang đồ nhiều nên đi chậm, về sau.

    Hai “vợ chồng” ngồi trò chuyện gia đạo hồi lâu. Chuột yêu nói chuyện rành rẻ, chẳng sai chút nào. Rồi chuột yêu và Hà Liễn vô phòng ân ái… Cuộc đời vợ tiệt, chồng giả ấy kéo dài được chừng nửa tháng thì Thi Tú tài nhờ được thuốc Đổng Chơn Nhơn nên thoát chết lại nghe tin bãi thi mới trở về nhà.

    Hai thầy trò về tới đầu xóm thì Tiểu Nhị nói với chủ:

    - Cậu thong thả đi sau, tôi chạy về báo tin cho mợ mùng, nghe cậu.

    Thi Tú tài chưa kịp nói chi thì Tiểu Nhị đã phóng như bay lên trước. Hắn đẩy cửa rồi xăm xăm bước vô bắt gặt Hà Liễn va chuột yêu đang âu yếm nhau.

    Tiểu Nhị xấu hổ quay trở ra. Hà thị chạy theo hỏi:

    - Sao mày về trễ vậy Nhị?

    Tiểu Nhị khủng khỉnh đáp:

    - Tưởng cậu không còn sống về nữa chớ.

    - Uûa, mày nói sao. Cậu nào nữa?

    - Thì cậu… chủ tôi là Thi Tú tài chớ ai nữa.

    Hà thị quắc mắt nói:

    - Cho mày đi theo hầu cậu, dọc đường mày làm biếng không chịu về ngay. Cậu mày về đây đã gần một tháng rồi còn chi.

    Tiểu Nhị thất kinh:

    - Cô nói chi lạ vậy. Tôi đi với cậu, ăn một nơi nằm một chỗ không rời nhau một bước, cớ sao cô nói ai về trước?

    - Cậu mày là Thi Tú tài về trước và đang ở trong nhà kia chớ ai.

    Tiểu Nhị lắc đầu, chỉ tay về phía đầu ngõ:

    - Cậu tôi bây giờ mới về tới kia, sao cô nói về trước cho đặng?

    Hà thị nhìn ra quả thấy Thi Tú tài đi vô thiệt. Thị đứng lặng người dây lát rồi như chợt tỉnh, bước vội xuống thềm ôm lấy chồng khóc ròng mà nói:

    - Nó giống chàng quá, thiếp lầm xin chàng tha thứ cho.

    Thi Tú tài chưa rõ đầu đuôi câu chuyện, ngạc nhiên hỏi vợ:

    - Nàng nói chi lạ vậy?

    Hà thị chưa biết nói sao thì chuột yêu nghe ồn ào đã chạy ra hét lớn:

    - Đứa nào dám ôm vợ ta vậy?

    Thi Tú tài thấy một thanh niên giống mình như tạc chạy từ trong phòng ngủ ra mới vỡ nhẽ, nổi giận đùng đùng:

    - Quân này láo thiệt, dám thừa dịp ta vắng nhà mà đánh lừa vợ ta.

    Nói đoạn Thi Tú tài buông vợ ra, nhẩy vọt lên thềm hươi quyền đánh chuột yêu.

    Chuột yêu cũng hét lên một tiếng lớn rồi xuống tấn tiếp chiến. Hai người đánh lộn nhau một hồi, Thi Tú tài vừa đau khổ lại mệt mỏi vì cuộc hành trình nên bị chuột yêu lấn đất dần.

    Chồn Hà thị bị đòn tới tấp, đỡ không lại, cứ lùi dần, lùi dần ra cửa, bỗng chàng hụt chân té lăn cù từ thềm cao xuống đất. Chàng vừa lóp ngóp bò dậy đã bị chuột yêu phóng từ trên xuống, nhằm hạ bộ chàng mà đạp tới. Thi Tú tài nhào mình tránh được ngọn độc thủ rồi co giò chạy mất. Chuột yêu toan rược theo thì Tiểu Nhị đã nhảy ra cản đường. Hà thị chẳng biết làm sao, đành ôm mặt khóc ròng.

    Nói về Thi Tú tài chạy thoát liền tìm đến nhà cha vợ, khóc mà trình bày tự sự.

    Nhạc gia liền sai người đi coi hư thực. Lát sau gia nhân về báo:

    - Quả thiệt ở bên nhà có một thanh niên giống y hệt Thi Tú tài đang khuyên giải Hà thị.

    Nhạc gia không biết làm thế nào đành nói:

    - Thôi bây giờ anh đi cáo với Vương Thừa tướng là hơn cả.

    Thi Tú tài vâng lời, đệ đơn trình Thừa tướng.

    Vương Thừa tướng coi xong đơn liền sai lính đến bắt chuột yêu, Thi Tú tài và Hà thị đến cho ông xét hỏi. Thừa tướng cho đòi riêng Hà thị vô trước và hỏi cặn kẽ mọi sự.

    Vợ Thi Tuấn cứ tình thiệt khai ra. Thừa tướng hỏi:

    - Chớ chồng chị có vết tích gì trong người, khả gĩ giúp ta tìm ra gỉ, thiệt chăng?

    - Dạ, chồng tôi có nốt ruồi bên vai tả.

    Thừa tướng kêu một lượt cả Tú tài lẫn chuột yêu vô và sai lính trật vai bên tả ra coi. Thi Tú tài có nốt ruồi còn chuột yêu thì không! Thừa tướng chỉ chuột yêu:

    - Thằng này lộn sòng làm bậy, lính đâu bắt nó quỳ bên tả cho ta. Còn thi Tú tài khá qua bên hữu.

    Hai người yên vị xong, Vương Thừa tướng truyền lính coi lại hễ ai không có nút ruồi ở vai tả thì cứ việc nọc cổ ra đánh năm mươi roi. Lính xúm lại coi rồi đứng yên. Thừa tướng quát:

    - Tụi bây còn chờ gì ?

    Viên cai lệ rụt rè:

    - Bẩm Thừa tướng cả hai tên cùng có nút ruồi, biết đánh ai?

    Thừa tướng xem lại cũng giật mình. Chuột yêu cũng có nút ruồi nơi vai tả. Ông nói:

    - Lạ thiệt. Vừa rồi nó không có. Lính đâu, đem tống giam cả hai đứa lại chờ mai lại nghiệm xen sao.

    Đêm đó, chuột yêu Ngũ (vì nó là con yêu thứ năm) hà khí bay về động cầu cứu. Bốn chuột anh đang ngồi đàm đạo thấy có gió lạ biết chuột Ngũ bị lâm nạn, chuột Nhứt kêu chuột Tứ lại gần dặn nhỏ một hồi.

    Chuột Tứ vâng lệnh lên đường đến phủ Thừa tướng. Tới nơi thì trời đã sáng tỏ mặt người, nó đi vô hậu dinh núp một chỗ ngắm Thừa tướng rồi thừa lúc Thừa tướng đi ra công đường chuột Tứ lắc mình biến y hệt Thừa tướng rồi vô phòng kéo ghế ngồi đàng hoàng.

    Nói về Vương Thừa tướng ra tới công đường ngắm Thi Tú tài và chuột Ngũ một hồi lâu rồi truyền:

    - Đem tên này ra đánh một trăm côn cho ta.Nó là thứ giả.

    Vừa nói Thừa tướng vừa lấy tay trỏ Thi Tú tài.

    Lính hầu dạ rân vật chồng Hạ Liễn ra đất rồi thẳng tay đánh đập tơi bời. Thi Tú tài kêu oan và than khóc vang trời. Thừa tướng lại tống giam cả hai vô ngục rồi ông trở về hậu dinh. Vừa bước về phòng, Thừa tướng đứng sững lại. Ông dụi mắt tưởng mình nằm mơ. Không mà! Rõ ràng có một người mặt mũi quần áo giống hệt mình đang ngồi chình ình trên ghế ở giữa phòng.

    Vương Thừa tướng thét lính hầu:

    - Bây đâu, vô bắt tên kia cho ta.

    Thừa tướng giả (là chuột yêu thứ tư hoá ra) cũng hô lính hầu trói vương Thừa tướng lại. Lính hầu nghe quan la chạy rần rần vô phòng. Chuột yêu thấy nguy vội nhẩy xuống đất chạy đến ôm lấy Vương Thừa tướng quay tít mầy vòng. Đến lúac chuột yêu buông Thừa tướng ra thì lính chịu không biết ai thiệt, giả nữa.

    Người nọ hô lính bắt người kia.

    Lính gương mắt ếch nhìn hai Thừa tướng, một thiệt một giả, đang giằng co nhau cãi lẫy om sòm.

    Viên thơ lại lắc đầu bảo đám lính:

    - Tụi bây đứng canh chừng đây, để ta làm biểu dâng lên Hoàng Thượng quyết định.

    Vua Nhơn Tôn tiếp được biểu lấy làm lạ cho đòi cả hai Thừa tướng tới trước bệ rồng để phán xét:

    Con chuột yêu liền hà khí khiến không thể phân biệt đâu là giả, đâu là thiệt. Vua đành truyền tống giam cả vào Thông Thiên lao chờ đến canh ba coi cho rõ.

    (Vua Nhơn Tôn vốn là xích Khước Đại tiên trên Thượng giới, được Ngọc Hoàng Thượng Đế sai xuống trần gian trị vì thiên hạ, cho nên cứ đến nửa đêm vào giờ tý là hào quang chói loà giúp nhà vua coi biết ai thiệt ai giả).

    Chuột Tư biết vậy cả sợ, liền thổi khí bay về núi cầu cứu. Chuột Cả liền sai ngay chuột Ba xuống giải nguy. Chuột Ba bay ngay xuống Hoàng thành thì trời vừa hừng sáng. Nó hoá phép biến thành vua Nhơn Tôn rồi điềm nhiên bước ra ung điện, ngự trên ngai vàng. Văn võ bá quan vội tung hô vạn tuế. Vua Nhơn Tôn còn đang mặc áo ở hậu cung nghe tiếng hô vạn tuế lấy làm lạ vô cùng toan gọi quan hầu vô hỏi xẩy có quan Thái giám vô tâu rằng:

    - Ngoài điện có một người giống hệt Hoàng Thượng từ dung mạo đến lễ phục đại trào, hiện ngự trên ngai. Xin Hoàng Thượng chỉ dạy.

    Vua Nhơn Tông lật đật chạy ra, tiến đến trước ngai vàng. Chuột Tư vẫn nghiễm nhiên ngồi. Vua Nhơn Tôn điềm tĩnh ngồi xuống bên cạn chuột yr6u. Được cái ngai cũng rộng nên hai người ngồi vừa.

    Các quan hoảng hồi vội kèo nhau vô trình Quốc mẫu. Mẹ vua cả kính theo các quan ra Càn Chánh Điện tra xét, thì thấy quả nhiên hai người giống nhau như tạc.

    Quốc mẫu bảo các quan văn võ:

    - Các khanh khá bình tĩnh, chớ có lo sợ thái quá. Ta đã có cách.

    Nói đoạn mẹ vua tiến đến trước mặt hai “vua” và nói lớn:

    - Hai ngươi hãy xoè tay ra cho ta coi. Ai có chữ Sơn Hà Xã Tắc trong lòng bàn tay, người ấy chính là vua Nhơn Tôn.

    Các quan xúm lại, tay trái vua Nhơn Tôn có chữ Sơn Hà còn tay mặt có hai chữ Xã Tắc thiệt. Chuột yêu không có! Quốc mẫu ra lệnh hạ ngục chuột yêu ngay tức khắc và cấm ngặt không cho ai ra khỏi ngục .

    Chuột Ba bị giam liền thổi khí về núi báo nguy. Chuột Nhì hạ sơn xuống cứu em. Nó biến hệt thành quốc mẫu ngồi ngay vào ngai và ra lệnh cho quan Thái giám phải thả chuột Ba ra.

    Quan thái giám lắc đầu bảo lính:

    - Mới có mấy ngày mà loạn quá xá. Bữa nọ hai Thừa Tướng, bữa qua hai vua, bữa nay lại hai Quốc Mẫu nữa. Ngặt một điều là không biết bà nào là giả, bà nào thiệt chớ. Mộ bà cứ hô giam vua giả lại, một bà lại nằng nặc đòi thả. Cái này lại phải nhờ Hoàng thượng coi giùm mới xong.

    Vua cũng chịu thua luôn, đứng ngồi không yên, ăn mất ngon, ngủ mất yên. Hôm sau, Vua cho triệu Bao Công về trào gấp. Nhận được lệnh, Bao Công đi suốt ba đêm ngày mới về tới kinh đô.

    Sau khi vào bệ kiến vua Nhơn Tôn, nhận chỉ thị xong, Bao Công lưu về tư dinh nghĩ phương cách tra ra sự thật.

    Bữa sau ông chọn hai bốn người lính khoẻ mạnh sai bầy mười sau móm tra tấn dưới thềm rôi cho áp giải hai Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và hai vua giả.

    Bao Công xét hỏi một lúc cũng không tra ra manh mối gì, ông liền ra lệnh tống giam tất cả bảy người, hẹn sáng mai sẽ dùng cực hình tra tấn, tất sẽ rõ gian ngay. Bốn chuột yêu thất kinh vội thổi khí viện yêu cả xuống cứu.

    Con Yêu Cả được tin cấp báo liền bay về phủ Bao Công đi lễ tại miễu Thần Hoàng nên vắng nhà.

    Chuột Cả liền hoá phép biến thành Bao Công rồi vô ngồi chễm chệ trên ghế bành phủ da cọp. Bao Công đi về thấy vậy cười lớn, rồi điểm mặt Bao Công giả mà quát rằng:

    - Đứa nào mà loạn phép vậy, dám cả gan giả dạng ra ta để làm điều ám muội. Lính đâu bắt nó cho ta.

    Bọn lính dạ ran ào vô toan bắt chuột yêu. Chuột cả liền chạy đến ôm Bao Công quay tít một hồi. Đến lúc hia người buông nhau ra thì không còn biết ai thiệt ai giả nữa. Lính chịu chết không dám bắt ai cả.

    Bao Công thiệt cả giận hô lính đóng tất cả cửa dinh lại, cấm không cho ai vô nữa. Bọn lính bảo nhau:

    - Thứ thiệt hay giả vậy mầy?

    - Giả thiệt giả chi mình không rõ nhưng lệnh chả ra cũng không có mắc mỏ thiệt hại chi.

    Viên cai già gật đầu nói:

    - Các chú nói phải. Nay chưa biết ai là thiệt ai là giả thì cứ vít kín cửa ngõ lại cho chắc ăn cái đã.

    Bọn lính trẻ nhao nhao hỏi:

    - Thế bây giờ nghe lệnh ai hở thầy?

    - Không nghe lệnh ai là tốt hơn cả.

    Rồi viên cai già lắc đầu nói:

    - Chán quá, đón được Bao đại nhơn về tưởng tra ra vụ giả thì lại lòi thêm vụ hai ông mặt sắt. Nước này chỉ còn biết hỏi ông Tời mà thôi.

    Không riêng gì viện cai già nghĩ vãy, mà Bao Công cũng nghĩ vậy, mà Bao Công cũng thấy chỉ còn cách đó mà thôi.

    Nghĩ vậy nên ông thủng thẳng rời công đường đi vô hậu dinh. Oâng gọi gia nhân đóng hết mọi cửa phía trong nhà, và cấm vợ con không được giao dịch với ai cho đến khi có lệnh mới.

    Đoạn ông gọi vợ là Lý phu nhơn lại mà bảo rằng:

    - Ta gặp một vụ khó khăn quá sức, chắc phu nhơn cũng nghe nói chuớ?

    Lý phu Nhơn gật đầu. Bao Công nói tiếp:

    - Ta phải lên thiên đình tâu với Ngọc Hoàng Thượng đế, để xin ngài phân xử cho. Ta đi lối hai ngày sẽ tỉnh lại vậy phu nhơn ở nhà nhớ canh xác ta cẩn thận đừng cho ai đụng tới e khó hồi dương.

    Nói đoạn Bao Công lấy máu khô con công nhai cho tan rồi nuốt hết. Sau đó ông leo lên giường nằm như người chết rồi.

    Y theo lời dặn, Lý phu nhơn bỏ mùng cài chặt rồi giắt gia nhân canh gác cẩn mật, trong khi ở phía ngoài công đường Bao Công giả hò hét chán nhưng chẳng ai tuân lệnh cả.

    Nói về hồn Bao Công lìa dương gian liền đi thẳng tới cửa trời. Vốn là Văn Khúc Tinh quân nên hồn bao Công được thiên sứ dẫn vô tâu trước Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng kêu quan Tư Tào:

    - Khanh khá tra xét coi yêu quái ở đâu làm loạn vậy?

    Quan Tư Tào giở sổ ra coi một lát rồi trình:

    - Muôn tâu Ngọc Hoàng, đó là bầy chuột khi xưa ở chùa Lôi Aâm bên Thiên trúc, nay trốn xuống thế gian nhiễu hại.

    - Vậy phải sai thiên binh đi bắt chúng nó về chớ.

    - Thưa, cả vạn thiên binh cũng không bắt nổi…

    - Khanh tính sao?

    - Dạ, phải bàn với Phật Thế Tôn cho mượn Ngọc Diện Miêu (mèo mặt ngọc) đem xuống mới trừ được. Một mình nó bằng cả vạn thiên binh.

    - Vậy bảo thiên sứ qua bên Lôi Aâm Tự cầu mượn.

    Thiên sứ vâng lệnh qua chùa Lôi Aâm trình với Phật Thế Tôn. Đức Phật liền cho mời Phật Quảng Pháp Đại Sư ra hội ý.

    Quảng Pháp bàn:

    - Chùa ta nhiều kinh sách lắm. Nay cho mượn Ngọc Diện Miêu sợ e chuột cắn hết kinh. Nếu là việc không mấy quan hệ, tôi tưởng cho mượn con Kim Tinh Sư Tử cũng đủ rồi.

    Phật Thế Tôn hỏi thiên sứ:

    - Ngươi có biết Ngọc Hoàng mượn thần miêu làm gì không?

    - Dạ, dường như để gởi xuống hạ giới.

    - Như vậy ngươi đem con Kim Tinh Sư Tử về coi xài đỡ được không, nhược bằng phải có con thần miêu tì ngươi khá tâu với Ngọc Hoàng gởi người nào được phép sử dụng thần miêu qua đây.

    Thiên sứ đem Kim Tinh Sư Tử về trình. Quan Tư Tào vội tâu lên Ngọc Hoàng:

    - Thưa, con Kim Tinh Sư Tử này không trị nổi bầy chuột đã thành tinh. Phải có Ngọc Diện Miêu mới xong.

    Thiên sứ cũng nhắc lại của Phật Thế Tôn. Ngọc Hoàng liền phán:

    - Thôi bây giờ thei6n sứ khá đưa Văn Khúc Tinh qua bên Lôi Aâm Tự trình bày cho rõ. Ta chắc Phật Thế Tôn sẵn sàng giúp cho.

    Thiên Sứ và Văn khúc tinh (đầu thai vào Bao Công) ến chùa Lôi Aâm xin vào ra mắt Phật Thế Tôn, khẩn cầu mượn thiên miêu.

    Phật Thế Tôn Nghe xong ưng thuận cho mượn . Ngài liền vỗ tay gọi thần miêu to lớn như con cọp tới bên rồi lẩm nhẩm đọc kệ một lát. Đoạn đức Phật cầm phất trần phẩy nhẹ vào đầu con mèo mặt Ngọc. Linh miêu bị thu hình lại bé bằng con chuột lắt.

    Phật Thế Tôn trỏ tay áo của Bao Công, bảo thiên miêu:

    - Con khá theo Văn Khúc Tinh quân xuống trần dẹp bầy chuột yêu tinh đặng cứu khổ cho loài người.

    Thiên miêu cúi đầu tỏ ý tuân lệnh rồi quất đuôi nhẩy tọt vào trong tay áo bao Công – Đức Phật dặn Bao Công cách gọi thiên miêu.

    Bao Công vái tạ đức Phật rồi cùng thiên sứ lui ra.

    Tới ngoài, thiên sứ lấy nước dương liễu cho Bao Công uống rồi nói:

    - Tuân lệnh Ngọc Hoàng, tôi đưa bác xuống trần gian.

    Nói đoạn, thiên sứ vỗ vai Bao Công. Bao Công giật mình tỉnh dậy kêu Lý phu nhơn hỏi chuyện mới biết đi đã năm ngày rồi.

    Oâng vừa uống trà vừa thuật chuyện lên thiên đìn cho Lý phu nhơn nghe. Lát ông viết sớ trình vua nhơn Tôn xin cho lập đài cao mười trượng tại phía Nam kinh thành và ghi rõ các điều cần thiết. Xong xuôi ông cho người thân tín đem về trình nhà vua.

    Vua Nhơn Tôn liền cho ti hành đúng như chương trình của Bao Công.

    Ba bữa sau, mọi sự đã hoàn tất. Sáng ngày thứ tư Bao Công sai hai bốn người lính mạnh bạo trèo lên chấn giữ đài quan sát. Dân chúng hay tin kéo đến coi đông như kiến cỏ. Gần tới ngọ, Bao Công cũng thượng đài. Vua Nhơn Tôn dẫn văn võ bá quan đứng dưới chân đài. Theo sau là lính áp giải hai Thi Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và một vua giả.

    Bao Công giả đứng dưới chân đài trỏ lên phía Bao Công thiệt mà la lối om sòm. Bao Công thiệt lặng thinh không thèm đáp.

    Đúng ngọ, Bao Công đứng thẳng trên đài, giơ tay áo ra niệm câu kệ đức Phật Thế Tôn.

    Ngọc diện miêu từ trong tay áo Bao Công nhẩy ra, cong lưng rồi gào lên một tiếng lớn, hiện ra nguyên hình to như con bê. Con thiên miêu đứng ngó xuống một lát rồi quất đuôi nhẩy từ trên đài xuống. Một luồng hào quang xẹt từ miệng nó ra.

    Vừa xuống tới đất, thầmn miêu nhẩy tới cắn ngay giữa cổ vua Nhơn Tôn giả tức là con chuột thứ Ba. Chuột yêu thứ Hai khi trước biến thành Quốc Mẫu thấy vậy hãi quá, hiện nguyên hình và cong đuôi toan chạy trốn nhưng chưa kịp thì đã bị Thiên Miêu nhào tới cắn ngay giữa bụng chết liền. Con chuột yêu thứ Tư tức là Thừa tướng giả và con chuột yêu thứ Năm tức Thi Tú tài giả cũng bị Thiên Miêu vồ cắn chết. Riêng chuột yêu đầu đàn giả làm Bao Công lúc trước, thấy cơ nguy liền phóng lêmn mây chạy trốn. Thiên Miêu gào lên một tiếng lớn rồi quất đuôi nhẩy vọt lên mây rược bắt.

    Lát sau, Thiên Miêu từ trên trời nhẩy xuống, há miệng nhả con chuột yêu đầu đàn bị cắn chết queo xuống chân đài.

    Đoạn Thiên Miêu phóng lên đài gương mắt nhìn Bao Công. Bao Công niệm câu kệ của Phật Thế Tôn rồi cám ơn Thiên Miêu. Linh Miêu gật đầu nhẩy tót lên mây trở về dưới chân Đức Phật Thế Tôn.

    Bao Công xuống đài đến bên xác năm con yêu thấy con nào cũng mập mạp và dài hơn một trượng, có đủ chơn cẳng giống như người.

    Vua Nhơn Tôn thong thả tới ngó xem qua rồi hỏi Bao Công:

    - Chuột chi mà lớn như người vậy?

    - Tâu Hoàng Thượng, nó ăn thịt nhiều người nên mới lớn mập như vậy và mới thành tinh.

    - Bây giờ khanh định làm gì với năm xác chuột này?

    - Xin Hoàng Thượng cho quân lính xẻ thịt ăn thêm sức.

    Vua Nhơn Tôn chấp thuận rồi phản giá hồi trào, đặt tiệc linh đình thết đãi bao Công.

    Chiều đó Thi Tú tài dẫn vợ là Hà Liễn đến lạy tạ Bao Công. Bao Công nhìn hai người một lát rồi nói:

    - Thôi hai người khá trở về sum họp với nhau. Câu chuyện vừa rồi xảy ra ngoài ý muốn của Hà thị, cho nên không đáng trách.

    Vợ chồng Thi Tú tài vái tạ rồi lui về. Ít bữa sau, Thi Tú tài bắt gặp vợ ôm bụng nhăn nhó liền hỏi nguyên do. Hà thị bẽn lẽn đáp:

    - Từ ngày xẩy ra chuyện chuột yêu đến giờ thiếp cứ đau bụng hoài.

    Thi Tú tài lặng lẽ lấy linh đơn của Đổng Chơn Nhơn cho bữa trước, mài ra đưa vợ uống. Hà thị mửa ra hết chất độc và khỏi bệnh.

    Trong sách có kết thúc chuyện nầy bằng một câu: “Thiệt là một án lạ”.
  4. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 23

    Hồi 23 : MẸ GHẺ CON CHỒNG

    Ngày xưa tại phủ Khai Phong, có chàng Tôn Hựu họ Tần, dòng dõi trâm anh, nhà giàu có, hiền hậu và rất là dễ tính, thế nào cũng được, thế nào cũng xong.

    Chính về cái bản tính xề xoè, chín bỏ làm mười, không muốn sinh sự lôi thôi mà ngay từ hồi nhỏ, lúc còn đi học, Tôn Hựu thường hay bị bạn bè ăn hiếp.

    Tần ông lắm lúc phải bực mình vì con:

    - Thằng Hựu lành quá đổi, sau này gặp phải con vợ đáo để tất đến bị nó sỏ mũi dắt đi mà thôi.

    Tần bà cả cười xoa đầu con và bảo chồng:

    - Ông cứ chê con giai tôi hoài. Tôi thấy nó giống tính ông như hệt. Thế ông có bị tôi xỏ mũi chưa?

    Tần ông vểnh cầm, vuốt chòm râu muối tiêu, cười khà khà đáp:

    - Chuyện cái bà này. Bà thì lại khác. Dễ đâu kiếm được người như bà.

    Tần bà nhìn chồng nét mặt hân hoan.

    Thấm thoát Tần Tôn Hựu đã mười sáu tuổi Tôn bà để tâm kiếm vợ cho con. Bà dò la khắp vùng, cốt ý kén đứa con dâu thuỳ mị, nết na. Kẻ mối người mai cũng được lắm, nhưng bà chưa ưng đám nào. Tần ông sốt ruột bảo vợ:

    - Mình ngày càn trọng tuổi, cũng mong cho con nó yên bề gia thất và sớm có cháu bồng. Bà chớ quá rềnh rang mà sanh ra già kén kẹn hôm đó.

    - Ông nói phải nhưng mình cũng phải chọn người tương xứng…

    Tần ông khoái tay, ngắt lời vợ:

    - Phàm lấy vợ cho con phải chọn con nhà nề nếp, gia phong, phải chú trọng đến gia đạo của nó, coi bố mẹ anh em nó ăn ở ra sao, tình hình hạnh kiểm thế nào, nhiên hiệu mới biết được ít nhiều về người con gái. Đã hay rằng, sự đời, biệt lệ cũng có, song nguyên tắc chung là như vậy. Bà nên nhớ là con cái chịu ảnh hưởng rất nhiều về nền giáo dục trong gia đình. Bà nghe kịp tôi nói không?

    - Đã, tôi vẫn nằm lòng các điều ông vừa nhắc lại đó.

    Tần ông hài lòng vui vẻ nói:

    - Vậy thì tốt lắm.

    Thế rồi người con gái được họ Tần chọn làm dâu là Trịnh thị, con Trình Mỹ. Quả là Tần bà có mắt tinh đời. Trình thị rất mực đoan trang, một lòng thờ cha mẹ chồng, một dạ kính mên chồng.

    Qua năm sau Trình thị hạ sanh được một con trai được tần ông đặt tên là Tần Tôn Nhu. Vì nó là con đầu nên ngay từ bé trong nhà thường kêu là trưởng Nhu.

    Ít lâu sau, Tần ông và tần bà lần lượt cưỡi hạc quy tiên. Trình thị gánh vác giang sơn nhà chồng, tỏ ra rất mực đảm đang và trị gia thật là nghiêm trang. Trong cách sử sự với chồng, Trình thị noi gương của tần bà, không mảy may sai lệch. Ai Cũng khen họ Tần tốt số. Tôn Hựu sống trong hạnh phúc đến khi Tôn Nhu được mười tuổi thì Trình thị bỗng lâm bạo bệnh qua đời vào tết trung Thu.

    Tôn Hựu thương tiếc vô cùng, khóc than khôn xiết sự tình, và lo cho vợ được mộ yên mả đẹp.

    Rồi từ đó chàng vốn dĩ đã hiền lành ít nói nay bị vết thương lòng quá nặng nên lại càng ít nói hơn.

    Chàng lặng lẽ sống trong cảnh gà trống nuôi con thấm thoát đã được mấy năm. Cứ mỗi độ Thu về, nhìn bầy trẻ xóm giềng quây quần bên mẹ chúng nô đùa dưới ánh trăng rằm, bên mâm cỗ Trung Thu, Tôn Hựu trạnh nhớ đến vợ hiền mà héo ruột gan.

    Tiết Trung Thu năm ấy, Trưởng Nhu kém sức khoẻ ngồi ủ rũ trước bàn cỗ trông trăng khiến Tôn Hựu càng thêm xót xa, thương tiếc Trình thị vô cùng. Chàng đỡ con vào giường nằm rồi lén ra sau nhà tựa gốc cây khế, bưng mặt khóc nức nở hồi lâu.

    Đêm đã khuya sương xuống ướt cả hai vai mà Tôn Hựu vẫn ngồi thừ trên phiếm đá bên bờ ao, mắt lờ đờ nhìn đàn cá say mồi đớp bóng trăng Thu tan tành.

    Một quả khế chín rơi bộp xuống mặt ao làm chàng giật mình trở về thực tại. Tôn Hựu ể oải đứng dậy đi về phòng ngủ.

    Đêm ấy, chàng mơ thấy Trình thị về. Nàng quì xuống bên giường vùi đầu vào ngực chồng khóc lóc hồi lâu. Chàng nắm vai vợ, hai hàng lệ lã chả tuôn rơi.

    Lát sau, Trình thị ngửng dậy, lấy vạt áo chấm nước mắt rồi nghẹn ngào nói với chồng:

    - Thiếp nhớ chàng, thương con nên phải về đây, xin chàng khá bớt mối u sầu, kiếm người bạn trăm năm khác để hầu chàng, nuôi con, cho thiếp được an lòng nơi chín suối.

    Tần Hựu buồn rầu đáp:

    - Nàng lìa cõi thế, cha con ta khổ sở vô cùng. Nàng hãy trở về dương gian…

    - Aâm dương đôi ngả, số trời định vậy, xin chàng bớt nỗi nhớ thương tục huyền với người hiền đức cho con đỡ khổ thì hồn thiếp mới được tiêu diêu ơi cục lạc. Thôi vĩnh biệt chàng, thiếp phải trở về.

    - Nói đoạn, Trình thị đứng dậy quay lưng đi ra cửa. Tần Hựu giật mình tỉnh dậy thấy áo gối đẫm lệ và màn cửa còn nhẹ nhàng lay động.

    Từ sau bữa đó, Tần Hựu không đến nỗi thờ ơ mỗi khi bạn bè, họ hàng khuyên chàng tục huyền. Theo quan niệm chung của xã hội thời bấy giờ, Tần Hựu khó mà lấy được vợ trẻ và gia thế như Trình thị. Vốn tính hiền lành thật thà, lại quen được mẹ cha và lúc vợ sanh tiền giúp đỡ quyết định trong mọi công việc nên chi tần Hựu rất lúng túng trong sự lựa chọn vợ kế.

    Sau cùng chàng nhge theo bè bạn cưới Liễu thị xuất thân trong gia đình tầm thường, mặc dầu bà cô chàng hết sức can ngăn.

    Bà cô chàng sợ Liễu thị theo gương mẹ đẻ về nhà chồng sẽ giở thói kém giáo dục, ẩu hỗn với Tần Hựu. Bà nói:

    - Cháu chọn người gia tư kém cháu làm vợ. Điều đó cũng được. Tuy nhiên điều quan trọng khi kén vợ là chọn người hiền đức. Cứ xem tính cháu và nề nếp trong gia phong của Liễu thị, cô thấy nó sẽ lấn át cháu và để khổ cho hai bố con mật thôi.

    Tần hựu chỉ vâng dạ cho qua câu chuyện rồi chàng vẫn cưới Liễu thị làm vợ kế. Có người cho rằng Tần Hựu ưa thích lấy vợ đẹp.

    Quả đúng như lời bà côTần Hựu đã nói, về nhà chồng ít bữa, thấy chồng hiền lành chân thật. Liễu thị liền giở ngay thói độc dữ, ẩu hỗn, chẳng kính nể gì chồng cả. Tần Hựu bị đánh phủ đầu, nhưng vẫn chịu nhịn, thét rồi sanh ra sợ vợ.

    Đối với con chồng, Liễu thị mới đầu tuy có săn sóc đôi chút nhưng tỏ vẻ không ưa ra mặt. Động một chút là Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ la rầy, mắng chửi. Thoáng thấy cha con đến gần nhau là Liễu thị kiếm cớ đuổi Trưởng Nhu xuống nhà dưới và không quên ỉ eo chồng.

    Trưởng Nhu năm nay tuy đã mười lăm nhưng vì là người chí hiếu nên chỉ cúi đầu ứa lệ đi về thư phòng ngồi rỏ lệ khóc thầm.

    Đến khi Liễu thị cò thai càng tác yêu tác quái, coi Trưởng Nhu cái gai trong mắt. Những lúc Tần Hựu vắng nhà, Liễu thị thường điểm mặt Trưởng Nhu mà rủa rằng:

    - Thằng kia, sao mày không chết theo mẹ mày đi cho tao rảnh nợ.

    Một bữa Liễu thị vắng nhà, Trưởng Nhu mon men lên nhà trên tìm cha kể nỗi đau khổ cho cha nghe.

    Tần Hữu đau đớn hỏi con:

    - Sao con không cho cha biết sớm? Để cha lựa lời khuyên bảo ghẻ con.

    Khi Liễu thị về nhà, Tần Hựu đem chuyện Trưởng Nhu ra nói, và ngỏ ý khuyên vợ nên đối xử với con chồng cho phải đạo. Chẳng dè thị vật mình la khóc ầm ĩ và lớn tiếng trách cha con tần Hựu những là: đồ vô ơn bạc nghĩa và đồ vu oan giáo hoạ.

    Vốn người ăn nói nhỏ nhẹ, đa sầu đa cảm, lại nữa đây là lần đầu ti6n tron đời bị một vố kinh hoàng như vậy nên Tần Hựu sợ hãi nín khe, mặt xang như tàu lá.

    Liễu thị biết thóp lại càng làm dữ tợn đến nỗi Tần Hựu phần thì ngỡ mình quá nghe con nghi oan cho vợ, phần thì quá sợ ồn ào tai tiếng nên vội xuống nước năn nỉ Liễu thị bỏ qua cho.

    Sau trận đại thắng ấy, Liễu thị mặc sức làm mưa lám gió trong nhà họ Tần. Thấy “chủ soái” còn bị phuu nhân hạ sát ván bọn gia nhân đầy tớ sợ Liễu thị một phép. Trưởng Nhu hoàn toàn bị thế cô.

    Ít bữa sau, Liễu thị hạ sanh được một đứa con traii được Tần Hựu đặt tên là thứ Nhu. Bữa đầy tháng Thứ Nhu, Liễu thị mở tiệc ăn uống linh đình.

    Lời nói chẳng mất tiền mua, huống hồ nơi đây lại còn được đãi ăn uống nữa thì ai dại gì mà chẳng tiếc lời khen Thứ Nhu.

    Thiên hạ đua nhau nịnh Liễu thị. Những là:

    - Bác Hựu tốt phước quá, được bà kế có phần linh lợi hơn bà trước.

    - Chú này tốt tiếng quá. Phen này hai bác lấy thúng ra mà hốt bạc. Tướng như vầy cha mẹ làm ăn không phấn chấn sao đặng.

    Một vài người khác bắt con nữ tỳ bế Thứ Nhu lại gần làm bộ rành khoa tướng số rồi xuýt xoa nói với vợ chồng Tần Hựu:

    - Tướng này ăn đứt thằng anh nó là trưởng Nhu rồi. Thằng anh rồi đến xách dép cho thằng em mất thôi.

    Tần Hựu mỉm cướp gạo. Còn Liễu thị bụm miệng cười thầm. Thị dư biết đứa bé mới được một tháng còn là khối thịt đỏ hỏn, làm chi mà đã nói được tướng số.

    Tuy vậy thị vẫn mở cờ trong bụng. Nhất định là Thứ Nhu. Cái đó khỏi cần bàn đến, và cũng chẳng cần phải coi tướng số làm chi cho mệt.

    Cứ theo kế hoạch của thị tất nhiên Trưởng Nhu phải xách dép cho em đứt rồi còn chi. Mà có khi con của Trình thị cũng không còn sống tới ngày Thứ Nhu biết đi để mà xách dép. Cái gia tài to tát của họ tần phải về tay con thị. Bằng cách nào?

    Liễu thị lẩm bẩm: “rồi sẽ biết”.

    Từ bữa đó, Liễu thị thẳng tay hành hạ con chồng, Trưởng Nhu không được đi học nữa, phải ở nhà tập việc đồng áng với bọn tá điền.

    Đi làm đồng về, Trưởng Nhu lại bị mẹ ghẻ bắt dọn dẹp trong nhà và giặt tã lót cho em cùng quần áo cho mẹ ghẻ. Liễu thị lại theo dõi công việc làm của con chồng, động một chút là mắng chửi, đánh đập. Ôi thật là vất vả cay đắng trăm chiều. Tuy bị hành hạ quá đáng nhưng Nhu không dám mách cha vì biết chẳng ích gì, chỉ thêm khổ cho cha. Cho nên chàng chỉ âm thầm chịu đựng. Những đêm thanh vắng, Trưởng Nhu bưng mặt khóc thầm, khóc chán chàng gọi mẹ xin cho đi theo về chốn truyền đài, tránh cho cha con khỏi bị đau khổ.

    Liễu thị cũng chọn những lúc đêm khuya thanh vắng năn nỉ ỉ eo với chồng đòi truất quyền thừa hưởng gia tài của trưởng Nhu.

    Tuy sợ vợ, Tần Hữu cũng không đành tâm làm hại con đời vợ trước. Bị vợ thôi thúc quá, họ Tần chỉ ậm ừ cho qua, chớ không chịu làm giấy tờ chi cả. Liễu thị bực mình lắm nhưng không giám áp đảo chồng.

    Thị bèn nghĩ độc kế loại trừ trưởng Như và chờ cơ hội thuận tiện để thi hành.

    Cơ hội đã đến… Bữa đó Tần Hựu phải đi thăm người bà con gần đau nặng ở tỉnh xa.

    Tần Hựu đã đi ra tới bụi tre đầu làng bỗng nghe tiếng chân huỳnh huỵch chạy theo. Hựu giật mình quay lại cảm động nhìn trưởng Nhu hổn hển chạy đến bên mình.

    Cậu bé mười lăm tuổi mồ côi mẹ được năm năm và hiện nay đang sống trong cảnh đoạ đầy của người mẹ ghẻ, gương mắt nhìn cha không nói nên lời.

    Tần Hựu nhẹ nhàng xoa đầu con và nói:

    - Con ra tiễn cha à? Cha đi vài bữa thì về như mọi lần, có chi mà con phải lo âu như vậy?

    Trưởng Nhu ngập ngừng:

    - Cha… cha cho con đi với.

    Tần Hựu cười xoà:

    - Con đã lớn rồi đi theo cha làm chi?

    Mọi lần con đâu có đòi đi như vậy.

    - Lần này khác. Tự nhiên con thấy buồn quá.

    - Thôi để lần sau cha sẽ hỏi mẹ Thứ Như rồi cho con đi, con về đi.

    Trưởng Nhu lủi thủi qauy về trong khi Tần Hựu thở dài tiếp tục lên đường. Ai ngờ đây là lần cuối hai cha con giáp mặt nhau.

    Biết tần Hựu đi cuyến này phải cả tuần lễ mới về, Liễu thị liền sắp đặt kế hoạch sát hại con chồng. Chiều thị lại bày thêm việc cốt ý cho gia nhân đầy tớ bận tốùi mắt ở dưới nhà hết.

    Đoạn thị kêu Trưởng Nhu vô buồng kín sai dọn dẹp loanh quanh. Chờ lúc con chồng vừa cúi xuống. Liễu thị vung cây gậy đã thủ sẵn, nện thiệt mạnh vào gáy Trưởng Nhu. Trưởng Nhu đã gục xuống đất, chân giẫy tê tê. Liễu thị nhào tới cứ nhằn bụng con chồng mà đá liên hồi.

    Khi con ác phụ ngừng chân thì Trưởng Nhu chỉ còn là cái xác không hồn.

    Liễu thị lấy mền bọc xác Trưởng Nhu vác về buồng riêng của nó và đặt xuống chân giường. Đoạn thị lén trở về phòng…

    Lát sau làm bộ tự nhiên, lũng thững đi xuống coi gia nhân làm việc. Thị giả vờ hỏi mọi người :

    - Uûa, còn trưởng Nhu đâu?

    Một gia nhân đáp:

    - Dạ, chúng con mải làm, không để ý. Chắc cậu quanh quẩn đâu đây.

    Liễu thị nghiêm giọng nói:

    - Đi kiếm xem cậu ấy đâu bảo xuống làm việc chớ. Con trai lớn bằng ấy mà lười như hủi, sau đến đi ăn mày mất thôi.

    - Thưa bà… con lên tìm thấy cậu… nằm dưới đất… gọi không thưa. Mời bà lên coi.

    Liễu thị vờ ngạc nhiên:

    - Vậy hả. Mấy đứa bây theo ta lên coi xem thế nào.

    Nói đoạn thị làm bộ te tái chạy lên phòng Trưởng Nhu rồi hô gia nhân vác con chồng lên giường chạy chữa. Thị bảo gia nhân:

    - Chắc là trúng gió rồi. Tụi bây lấy rượu và gường xoa bóp cho cậu. Lẹ lên, bây.

    Gia nhân xúm lại kẻ góp rượu người lay gọi hồi lâu nhưng trưởng Nhu vẫn nằm ngay như khúc gỗ.

    Liễu thị hô:

    - Coi thử xem cậu còn thở không?

    Dĩ nhiên là không rồi còn chi nữa. Liễu thị giả bộ bưng mặt khóc hu hu rồi thuên người lo liệu việc chôn cất và sai người lập bàn thờ cúng kiếng tự nhiên.

    Trưởng Nhu bị chôn ngay tại thửa ruộng của cha, sát bên lề đường.

    Mấy bữa sau, Tần Hựu về nhà, Liễu thị vờ khóc lóc thảm thiết, rồi kể với chồng: Chàng đi, ở nhà con nó chẳng may trúng gió độc chết, thiếp hết lòng cứu chữa mà không cải được với số Trời. Thiệt là đắc tội vời chàng.

    Tần Hựu bàng hoàng đến bên bàn thờ con đốt nến thắp nhang khấn khứa hồi lâu. Người cha đau khổ quay ra, mắt đỏ ngầu, đẫm lệ, rồi hối gia nhân đưa ra đồng thăm mộ con.

    Gia nhân dạ ran kéo nhau tới hai ba đứa đi theo chủ ra đồng. Dọc đường chúng không ngớt lời than tiếc cho con chủ. Chẳng qua đó chỉ là khóc mướn thương vay chớ thực ra họ chỉ mượn dịp để kể công với chủ một cách khéo léo. Nào là họ đã hết lòng cứu chữa, nào là họ đã lo cho trưởng Nhu được mồ yên mả đẹp.

    Tần Hựu thấy lũ gia nhân cũng nói là trưởng Nhu chết vì gió độc nên không nghi ngờ chi cả.

    Thấy chồng không tỏ vẻ thắc mắc về cái chết đột ngột của Trưởng Nhu. Liễu thị cũng mở cờ trong bụng. Thôi thế là từ nay, cái gia tài to tát của cha. Thị tự khen thầm mình đã khéo bầy ra mưu thần chước quỷ để loại trừ con ghẻ một cách êm thấm như vậy.

    Hơn một tuần lễ sau ngày Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ đập chết, xảy có Bao Công đi tuần tra cácquận trong phủ Khai Phong. Sáng đo Bao Công cỡi ngựa ra đồng quan sát công việc cầy cấy của dân.

    Bao Công lỏng tay cương, cho ngựa đi bước một trên con đường đất băng qua cánh đồng bát ngát, đầy lúa mọc xanh rờn.

    Lúc đi ngang qua thửa ruộng của Tần Hựu, thấy mấm mồ của Trưởng Nhu nằm bên lề đường, Bao Công dừng ngựa lại hỏi chức việc sở tại đi theo hầu:

    - Mả ai mới chôn đây?

    Chức sở tại đưa mắt nhìn nhau. Viên thơ lại già của Bao Công muốn cứu vãn tình thế, bèn trả lời đại:

    - Dạ thưa không biết. Chắc là của người trong thành hay của người trong làng gần đây.

    Bao Công bật cười nhìn viên thuộc hạ và nói:

    - Thế ngươi muốn người chết rớt từ chín từng mây xuống ư?

    Tất cả cười ồ vui vẻ, Bao Công chậm rãi nói:

    - Mả chông lề đường theo nhẽ phải là kẻ tứ cố vô thân, chết đường chết chợ nên được chôn tại đây.

    Quan sát một lúc, Bao Công nói tiếp:

    - À mà không phải. Mả này lại chôn trong phạm vi thửa ruộng sát lề đường tức là thân nhân người chết thuộc hạng có tiền bạc. Mà cớ sao lại chọn chỗ úng thủy này mà táng nhỉ. Kiểu đất chỗ này không có chi lạ, lại là bại địa nữa. Lạ thiệt! Lạ thiệt!

    Viên thơ lại già bạo phổi góp ý kiến:

    - Thưa thượng quan hay là kẻ nằm dưới mồ không phải là thân tộc của chủ ruộng?

    - Lại càng vô lý nữa. Vì đây không phải là kiểu đất lạ khó có thể kết phát, ai hoài tiền mua miếng đất này mà táng thân nhân? Ta chắc kẻ chết là thân tộc của chủ đất, nếu phải vậy tất là có sống cũng chẳng được trọng vọng, quý mến gì. Thôi ta lên đường.

    Nói đoạn Bao Công giựt cương ngựa lên đường.

    Được một quãng, Bao Công nghe tiếng văng vẳng bên tai như có tiếng trẻ con nói: “xin cáo oan cùng đại quan” Bao Công giật mình quay lại. Vô lý! Mình ngồi trên ngựa, ai mà nghé bên tai nói được?

    Nghĩ vậy, ông tiếp tục cuộc hành trình thăm viếng các thôn xã quanh vùng cho tới gần trưa thì quay về phủ Khai Phong.

    Lúc đi ngang qua nấm mồ Trưởng Nhu ông lại chăm chú nhìn rồi tai lại nghe văng vẳng như có người nói: “Xin cáo oan cùng thượng quan”. Bao Công chưa biết tính sao, xẩy có một cụ già đầu tóc bạc phơ từ đám ruộng phía bên kia đường thong thả đi lên lộ.

    Bao Công vội sai lính chạy theo mời lại hỏi chuyện:

    - Lão trưởng có biết nấm mồ ai kia không?

    Vừa nói Bao Công vừa cầm roi ngựa trỏ vào mộ Trưởng Nhu.

    Ông già vòng tay thi lễ rồi đáp:

    - Thưa thượng quan, người nằm ở dưới mồ là tần Tôn Nhu tục gọi là Trưởng Nhu, mười lăm tuổi, con của Tần Tôn Hựu ở trong thành.

    - Sao lão trượng biết rõ vậy?

    Dạ, tôi ở gần đây, nhà nghèo nên được các chủ ruộng thuê ngày ngày đi canh chừng lúa má cho trâu bò khỏi phá.

    - Lão có biết tại sao tần Tôn Hựu lại chôn con ở đây không?

    - Dạ ruộng này là của tần Tôn Hựu nên ông ta chôn con ở đó.

    Biết là ông lão già không thể hiểu lập luận của mình, Bao Công liền hỏi lối khác:

    - Tần Hựu có vợ được mấy con?

    - Dạ, ông ta có hai đời vợ. Vợ cả là Trình thị đã chết năm năm nay, để lại cho ông ta đứa con chôn đây tức là Trưởng nhu. Cách đây hai năm ông ta cưới Liễu thị làm vợ kế, có thêm một con trai là thứ Nhu.

    - Cảnh mẹ ghẻ con chồng ra sao?

    - Theo lời tá điền của họ tần thì từ ngày Liễu thị sanh đặng con trai thì ngược đãi con chồng bắt bỏ học ở nhà làm việc đồng áng.

    Chính tôi có trông thấy trưởng Nhu ra làm đồng hàng ngày từ ít lâu nay.

    Bao Công gật gù hỏi tiếp:

    _ Thế Tần Hựu là người thế nào?

    - Dạ, ông ta hiền lành, chân thật, thương Trưởng Nhu ngưng không dám can thiệp vì gặp phải Liễu thị quá lăng loàn. Theo lời ta điền, ít khi cha con gặp nhau.

    Nghe tới đây, tự nhiên mắt bao Công như sáng hẳn lên. Ông hỏi:

    - Lão có biết Trưởng Nhu chết vì bệnh gì không?

    - Dạ nghe nói bị trúng gió độc.

    - Vậy là y chết đột ngột, lúc này lảo có nói thường gặp Trưởng Nhu ra đồng làm việc. Vậy chớ Trưởng Nhu chết sáng hay chiều?

    - Dạ chiều.

    - Thế sáng đó y có ra đồng không?

    - Dạ có.

    - Y có tỏ vẻ gì không? Buồn vui hay như thường?

    - Có vẻ buồn bã. Tôi có hỏi thì y nói là nhớ cha.

    - Uûa thế tần Hựu đi đâu?

    - Dạ sáng đó Tần Hựu có việc phải vắng nhà mấy ngày.

    - Dạ phải.

    Nghe đoạn Bao Công nhíu lông mày lẩm bẩm:

    - Có oan uổng chi đây. Để ta coi thử.

    Rồi ông nhẩy xuống ngựa vẫy đám chức việc sở tại đến gần và ra lệnh:

    - Các ngươi đi huy động cho ta lối hai chục trai làng khẻo mạnh đem theo cuốc, xẻng, mai thuổng ngay ra đây làm việc.

    Lối một giờ sau, hai chục thanh niên khoẻ mạnh thay phiên nhau kẻ cuốc người đào, khai quật mả Trưởng Nhu lên.

    Xác kẻ bạc mệnh được khiêng lên đặt trên lộ. Bao Công ra lệnh lột hết đồ khâm liệm và quần áo nạn nhân ra. Ông chăm chú xem xét các vết bầm tím nơi bụng và sau gáy, đoạn quay lại hỏi ông già lúc nãy:

    - Nếu lão có biết ai đánh chết người này, cứ khai thiệt ta không bắt tội đâu.

    Ông lão lắc đầu lia lịa:

    - Dạ, thưa thiệt tình tôi không biết.

    Bao Công hô thơ lại lập vi bằng vụ khai quật tử thi rồi cho chôn cất trưởng Nhu lại tử tế.

    Về tới Nha, Bao Công cho lính hoả bài đi đòi Tần Hựu, Liễu thị và ba gia nhân đến hầu gấp. Ông lại dặn thơ lại cho tần Hựu vô trước rồi tới ba gia nhân lần lượt từng người và sau chót là Liễu thị.

    Lát sau Tần Hựu mặt tái mét theo lính vô tới công đường. Bao Công nhìn tần Hựu một lát rồi mới chậm rãi hỏi:

    - Phải ngươi là Tần Tôn Hựu có vợ kế là Liễu thị và có con đời vợ trước là trưởng Nhu mới chết phải không?

    - Dạ phải.

    - Ngươi vừa đi đâu về?

    - Thưa, tôi vừa đi thăm người bà con ở vùng bên, mới về được vài bữa nay.

    - Bà con nào, tên chi, ở đâu? Ngươi ở mấy ngày?

    Tần Hựu cho địa chỉ người bà con và thời gian qua thăm.

    Bao Công liền cho lính hoả bài truyền lệnh cho lý trưởng sở tại hỏi lại xem đúng không.

    Đoạn ông lại tiếp tục hỏi Tần Hựu:

    - Ngươi có thương con không.

    Tần Hựu mắt rớm lệ nghẹn ngào đáp:

    - Vợ trước tôi là Trình thị chẳng may qua đời, tôi thương tiếc chẳng nguôi, lẽ nào lại ghét Trưởng Nhu cho đành.

    - ao đang tâm bắt con thôi học, trong khi nhà khá giả?

    - Vì vợ ỉ eo lấy cớ Trưởng Nhu học hành không linh lợi, cho làm ăn thực nghiệp là hơn.

    - Nó học kém lắm sao?

    - Dạ không, cũng khá.

    - Dường như nhà ngươi tránh không giáp mặt con?

    - Thưa không, tôi bị vợ ngăn cản.

    Bao Công hặc lưỡi nói:

    - Chà, vợ chi ẩu hỗn quá đa. Vậy mà ngươi chịu à?

    - Dạ, lỡ rồi, tôi muốn cho êm cửa êm nhà.

    - Vì sao con ngươi chết?

    - Vì trúng độc.

    - Sao biết?

    - Liễu thị nói.

    - Có hỏi lại gia nhân không?

    - Gia nhân cũng nói như vậy.

    - Có hỏi chi tiết trường hợp nó chết không?

    - Dạ không!

    - Người gì mà vô tình, quá tin người làm vậy.

    Ngưng một lát, Bao Công nhìn trừng trừng Tần Hựu, như để dò xét phản ứng rồi chậm rãi nói:

    - Trưởng Nhu không chết vì gió độc mà là bị đánh chết.

    Tần Hựu mếu máo:

    - Tội nghiệp cho con tôi. Xin thượng quan tra xét dùm cho nó được ngậm cười nơi chín suối.

    Thấy Tần Hựu có vẻ thành thật Bao Công bảo lính đưa ra chờ bên ngoài đoạn ông cho đám gia nhân ra xét hỏi từng người.

    Với ai ông cũng hỏi rõ về tình hình ha vợ chồng tần Hựu và trưởng Nhu, tình hình trong nhà và họ thấy vết tích gì khả nghi trên người kẻ bạc phước không.

    Ba gia nhân cứ sự thật khai ra. Bao Công nghe xong liền cho họ lui ra chờ ngoài sân.

    Đoạn ông kêu viên thơ lạigià đến và bảo rằng:

    - Ta chắc là kẻ giết trưởng Nhu là Liễu thị. Nếu không thì y thị cũng là kẻ chủ mưu. Chắc là giết để đoạt gia tài về phần con riêng y thị.

    Ngươi ra kêu con mụ ấy cho ta.

    Liễu thị theo chân lính hầu bước vô công đường. Thấy thị người mạnh khoẻ có nhan sắc nhưng đôi mắt có vẻ lanh ác lạ thường. Bao Công hỏi:

    - Ai đánh chết Trưởng Nhu mau khai cho thiệt.

    Liễu thị lúng túng:

    - Thưa thượng quan… nó trúng gió… chết.

    Bao Công vỗ án la:

    - Chớ nói gạt ta. Nó trúng gió sao bụng và cổ lại có vết bầm. Chắc là ngươi có lòng độc hiểm muốn giết con ghẻ để đoạt gia tài, phải không?

    Liễu thị biết chối cãi không đặng đành phải thú nhận hết tội lỗi.

    Bao Công lập tức lên án chém đầu Liễu thị để làm gương cho người khác. Ông lại sai làm bia đá hài tội ác của Liễu thị và chôn lên mộ.

    Tần Hựu được tha về và lúc đó chàng mới hay con mình bị vợ kế đánh chết.

    Cho hay “mấy đời bánh đúc có xương…”.
  5. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 24

    Hồi 24(a) : Ỷ THẾ HIẾP NGƯỜI

    Ngày xưa, tại làng Thiết Khâu, xóm Hiếu Liêm, huyện Triều Thủy, thuộc phủ Triều Châu bên tàu, có thanh niên nọ tên là Viên Văn Chánh, dung mạo khôi ngô tuấn tú, trẻ tuổi tài cao, sớm đậu tú tài làm rạng sỡ tổ tông. Điểm đặc biệt của chàng là khí khái, tuy gia cảnh rất là thanh bạch.

    Nhiều nhà giàu có muốn kén làm rẻ nhưng chàng chẳng chịu. Bạn bè chế giễu, liệt chàng vào hạng đồ gàn. Chàng chỉ cười đáp:

    - Lấy người chớ ai lấy của. Các anh có ham thì mời nhào vô.

    Còn tôi thì xin kiếu.

    Một bạn đồng môn mới cưới vợ giàu, động lòng bĩu môi nói:

    - Làm phách. Nghèo kiết xác còn làm bộ. Chỉ sợ rồi đây đói rã họng lại không đến lạy mà làm rể nhà giàu.

    Một anh khác, thi mãi chẳng đậu tú tài, ghen ghét họ Viên, được dịp hùa theo.

    - Uùi chà, may mà đậu chớ tài cán gì. Mặt ấy chỉ có chờ chết đói chớ vô kinh thi gì nổi.

    Trước những lời phỉ báng của bạn bè, Viên Tú tài vẫn nở nụ cười tươi, không thèm cãi lại và cũng không nản chí, trái lại chàng ra công dùi mài kinh sử.

    Cha mẹ chàng dư biết tính con vả lại thấy con còn sức ăn học và ông bà còn lo được nên cũng không hối thúc chàng kết hôn với con nhà giàu. Sau vì họ hàng nói ra nói vào, cụ bà xuôi tai bên lựa lời dọ ý cụ ông.

    Cụ ông nhất định không nghe:

    - Nhà mình thanh bạch nên chọn người cùng gia cảnh thì con nó đỡ bị kinh rẻ. Vả lại tôi xem ra thằng Chánh nhà ta tánh tình khí khái tất sẽ khổ cho nó.

    Cụ ông chẳng chịu, cụ bà đành thôi. Từ đó bà mẹ để ý kiếm dâu hiền, trong các gia đình bằng vai phải vế. Bà chấm con gái họ Trương, là Trương thị, đẹp cả người lẫn nết, liền :báo cáo” cho cụ ông hay. Sau vài lần tới lui thăm hỏi họ Trương, Viên ông không tiếc lời khen ngợi Trương thị với Viên bà. Tú tài Viên Văn Chánh hay biết ý định của song thân cũng vui mừng khôn xiết: đã từ lâu chàng cũng yêu vụng nhớ thầm Trương thị.

    Họ Viên nhờ người mai mối. Họ Trương vui vẻ nhận lời. Tin lành bay ra, người ta bàn tán xôn xao,nhưng xem ra khen nhiều chê ít.

    Hôm lễ chạm ngõ Viên ông có mời cụ Tư, một ông bạn thâm giao cùng đi cho rậm đám. Sau gần một tiếng đồng hồ hàn huyên, nhà trai cáo từ ra về. Nửa đường, Viên ông hỏi cụ Tư:

    - Thế nào bác, đám này được chứ bác?

    - Được, được cả người lẫn nết, hiềm một nỗi…

    Viên ông chợt nhớ lời đồn đại cụ Tư là một tay tử vi kiêm kỳ môn độn giáp có hạng nhưng Viên ông không hề coi bao giờ. Bữa nay cao hứng. Viên ông tò mò hỏi:

    - Bác nói hiềm một mỗi là sao?

    Cụ Tư vuốt chòm râu bạc, trầm ngâm một lát rồi thong thả đáp:

    - Khó nói quá. Thôi bác cứ bảo cháu Viên Văn Chánh sau này đừng để vợ lọt vào mắt bọn hoàng thân quốc thích quyền cao chức trọng mà sanh đại hoạ…

    Viên ông ngắt lời:

    - Mà đại hoạ cho ai?

    - Đại hoạ cho một vài người ngoài ra còn kiến toàn quốc bàn tán và hàng triệu người phải rơi luỵ xót thương.

    - Chi mà dữ vậy.

    - Định mệnh mà. Vả lại chưa biết thế nào mà nói.

    Nói đoạn cụ Tư nói lảng sang chuyện khác mà Viên ông cũng chẳng vặn hỏi làm chi.

    Ít lâu sau, lễ thành hôn giữa Văn Chánh –Trương thị được cử hành. Trương thị ra công thu vén giang sơn nhà chồng khiến cho ai cũng phải ghen với số phận Văn Chánh cưới được vợ đã đẹp lại đảm đang, thùy mị, nết na.

    Mấy năm sau cha Trương thị rồi đến Viên ông và Viên bà lần lượt cưỡi hạt quy tiên.

    Đoạn tang Viên bà xong, Trương thị mang thai và sau sanh hạ được một đứa con trai rất kháu kỉnh. Khi nó lên ba tuổi thì Văn Chánh cũng vừa tròn ba mươi còn Trương thị thì mới có hai bốn cái xuân xanh.

    Một sáng, theo thường lệ, Văn Chánh cắp sách đến nhà một cụ nghè để trao dồi thêm kiến thức. Tới ửa, chàng thấy sĩ tử bàn tán lao xao về tin nhà vua sẽ mở kỳ thi tại Đông Kinh vào đầu thu năm ấy. Chàng lật đật lên huyện lỵ dọ hỏi lại cho chắc chắn rồi trở về nhà bàn tính với Trương thị:

    - Nàng ơi, sắp đến ngày ta phải xa mẹ con nàng rồi.

    Trương thị đang cho con ăn cơm, giật mình hỏi:

    - Chàng nói chi gở vậy?

    - Nàng khéo mê tín dị đoan. Ta sắp vô kinh dự thi, phải xa mẹ con nàng chẳng đúng hay sao?

    Trương thị dịu dàng nhìn chồng:

    - Thế là chàng tạm xa mẹ con thiếp chứ. Nhưng chàng ôi nhà nghèo, biết chạy đâu cho đủ tiền cho chàng vô Kinh dự thi?

    - Nàng xem có cầm cố, phát mại được chi thì ráng lên một phen. Công mười năm đèn sách, bỏ thi thì uổng quá. Hay là nàng ngại ta không chiếm được bảng vàng.

    - Thiếp đâu dám nghĩ vậy. Chàng là “vị vũ chi giao long, tại sơn chi hổ báo”. Với sức học uyên thâm, lo gì mà chẳng bảng hổ đề danh, ngựa chàng đi trước, võng thiếp theo sau? Nhưng thiếp e sợ một điều…

    Văn Chánh ngắt lời cô vợ quý:

    - Nàng còn lo sợ điều chi?

    - Nhà ta nghèo, nay bán sạch cửa nhà cho chàng đủ tiền ăn đường và nằm chờ thi, ở nhà mẹ con thiếp biết nương tựa vào đâu.

    Nghe vợ nói, Văn Chánh thở dài, buồn bã nói:

    - Để thủng thẳng mình tính cách.

    Thấy chồng nét mặt buồn hiu Trương thị ái ngại không dám nói chi hơn nhưng nàng cũng suy nghĩ, cố tìm một giải pháp.

    Lát sau Văn Chánh bảo vợ:

    - Nàng hãy xem gia sản có chi cầm bán được thì tính trước để ta đi dọ hỏi xem tổn phí hết bao nhiêu rồi sau sẽ định liệu. Nhất định phải đi thi phen này, bỏ thì uổng lắm phần thì ta tuổi ngày càng lớn phần vì không biết bao giờ mới lại mở khoa thi.

    Nói đoạn, văn Chánh đi yết kiến các chân khoa bảng trong vùng để hỏi thăm các điều cần biết. Trương thị cũng bồng con chạy đi kiếm bà con cô bác thân tình xin giúp đỡ bằng cách mua dùm căn nhà lá đơn sơ và hơn sào ruộng với giá cao. Tôi nghiệp họ hàng cũng đồng cảnh với vợ chồng Văn Chánh chỉ đủ bát ăn là may có dư giả gì đâu mà nói chuyện mua bán cầm cô. Họ chỉ có thể khuyên Trương thị nên tìm đến mấy tay phú hộ trình bày hoàn cảnh may ra có người hảo tâm giúp đỡ cho chăng.

    Trương thị bồng con đến gõ cửa mấy tay cự phú làng trên, xon dưới. Nàng nói đã khô cả cổ mà chẳng được kết quả gì: họ trả giá rẻ như bèo. Hơn nữa, qua những cái nhìn cú vọ của họ, cùng những lời nói ỡm ờ nàng hiểu rằng họ sẵn sàng … mua nàng với giá đắt gấp trăm lần ngôi nhà và sào đất.

    Trương thị buồn bèn quay về nhà. Càng thương chồng bao nhiêu, nàng lại căm giận bọn phú hào bấy nhiêu. Nàng về nhà được một lát thì chồng nàng cũng lủi thủi bước vào.

    Trương thị toan nói cho chồng biết kết quả sự thăm dò của nàng thì Văn Chánh đã uể oải bảo vợ:

    - Ta đã hỏi kỹ rồi. Thôi phen này đành bó tay. Ta tính có bán hết gia sản cũng chưa đủ tiền ăn đường. Còn sự vay mượn cũng vô hy vọng. Bạn bè lánh mặt hết.

    Hai vợ chồng nhìn nhau thương cảm. Thôi thế là hết hy vọng. Để phá tan bầu không khí nặng nề, Văn Chánh bồng đứa con trai đầu lòng rồi cù cho nó cười như nắc nẻ. Chàng cũng cất tiếng cười theo rồi hai cha con ngồi đùa với nhau thật là vui vẻ.

    Giữa lúc ấy có tiếng chó sủa ran, nơi sân nhà.

    Trương thị đã trở xuống bếp lo nấu cơm chiều liền chạy vội ra cổng.

    Văn Chánh lắng tai nghe. Tiếng vợ chàng nói gần như reo lên:

    - Trời, cụ tư, lạy cụ ạ, nhà cháu có nhà xin rước cụ vô. Xa xôi thế mà cụ còn đến thăm chún cháu luôn.

    Giọng cụ Tư ấm áp vang lên:

    - Chà, có điều chi mà cha con nó cười đùa vui vẻ làm vậy!

    Vừa nói, cụ vừa tiến vô nhà. Văn Chánh cũng lật đật trao con cho vợ, sửa lại áo rồi vòng tay thi lễ.

    Cụ Tư thong thả ngồi xuống giường rồi chậm rãi hỏi Văn Chánh:

    - Thế nào, anh nhất định vô kinh dự thi chứ?

    - Dạ thưa cụ cháu muốn đi lắm, ngặt một điều…

    Cụ Tư cười khà khà ngắt lời:

    - Thôi lão biết rồi. Anh thiếu tiền phải không. Đây lảo có đem bạc sang mua nhà và ruộng giúp anh đây.

    Miệng nói tay cụ Tư mở túi vải xếp ra mấy lạng bạc và hàng chuỗi tiền kẽm.

    Văn Chánh ngạc nhiên:

    - Cụ ở xa lại, sao cụ biết cháu tính bán gia sản để có tiền đi thi? Cụ giả thế này là quá đáng, cháu không dám nhận.

    Cụ Tư vuốt chòm râu bạc nhìn Văn Chánh và nói:

    - Làm sao lão biết, cái đó dễ hiểu. Cha anh với lão là chỗ thâm giao mà. Còn nhà và ruộng lão trả giá mắc vì không muốn gia sản của cha anh rơi vào tay kẻ khác. Từ ngày cha anh qua đời, lão vẫn năng tới lui đây trước là để nhìn cảnh cũ, nhớ đến người xưa sau nữa là để thăm gia đình anh mà lão coi như con.

    Văn Chánh cảm động nhìn cụ Tư. Chàng ngẹn ngào nói:

    - Cụ đối với cháu thế này thì thật là chu đáo quá, cháu biết lấy gì trả ơn.

    Cụ Tư khoát tay đáp:

    - Anh đừng nói chi tới ân với huệ. Đây là bổn phận của tôi. Ta tiếc là không được dư dả để giúp anh nhiều hơn. À mà chuyến này anh có đi thì cho chị ấy và cháu qua bên lão mà ở với lũ cháu gái của lão. Tiện lắm. Anh nghĩ sao?

    - Thưa cụ cháu tính cho hai mẹ con nó đi cùng.

    Cụ Tư giật mình:

    - Uûa, anh đem cả vợ con đi theo thì làm sao đủ tiền?

    - Chẳng nói giấu gì cụ, nhà cháu còn ít tư trang và cháu cũng có ít đồ gia bảo mang theo, lên tới kinh đô sẽ bán sau.

    - Chà, anh đừng tính quẩn, cứ để vợ con sang ăn ở bên tôi, có tốn kém là bao.

    - Thưa cụ, cháu không dám. Cụ giúp cho thế này là quá đủ rồi.

    - Anh khí khái giống hệt cha anh vậy. Thôi thế này thì anh hết thắc mắc nhé. Vợ con anh cứ sang nhà tôi nuôi cho. Chừng nào anh vinh quy bái tổ, được hưởng ân vua lộc nước rồi thì muốn trả tiền trọ cũng không muộn.

    Văn Chánh một mực không chịu. Cụ Tư không biết nói sao đành chịu, nhưng nếu ai chú ý sẽ thấy nét mặt cụ trở nên đăm chiêu hơn. Cụ ngồi yên lặng hồi lâu rồi lẩm bẩm một mình: “số trời đã định”.

    Tối đó cụ Tư ngủ lại nhà văn Chánh. Cụ vẫy đứa con văn Chánh lại gần, xoa đầu, hỏi chuyện nói hồi lâu rồi khẽ thở dài, nói qua hơi thở: “Tội nghiệp thằng bé đầu xanh tuổi trẻ”.

    Đêm ấy cụ thức rất khuya, chăm chú ngồi đọc mấy cuốn sách nhỏ chi chít những chữ.

    Lâu lâu, cụ lại ngửng đầu nhìn lên vách, nhíu lông mày, ra chiều suy nghĩ lung lắm.

    Sáng sau, cụ dậy sớm sửa soạn ra về. Trong lúc ngồi uống trà, cụ dặn văn Chánh:

    - Nếu như anh nhất định cho vợ con đi theo thì lão khuyên hai vợ chồng nên ăn mặc xoàng xĩnh thôi.

    Riêng về phần vợ anh lại càng phải thận trọng lắm mới được. Cho tới khi anh hiển vinh anh phải bắt nó mặc áo rộng, che bớt mặt đi và nếu cần làm cho nó xấu xí đi. Đường trường nhiều cảnh nguy nan và khi tới kinh đô lại cần phải đề phòng bọn quan quyền ỷ thế hiếp người.

    Văn Chánh lãnh ý rồi cả hai vợ chồng tiễn đưa cụ Tư đến tận đầu làng mới trở về. Lúc chia tay cụ tư còn dặn con bạn thêm lần chót:

    - Anh nhớ làm theo lời tôi dặn nhé… Có chuyện chi thì …vợ hay chồng… cho tôi biết nghe. Thôi lão chúc cho anh công thành danh toại.

    Văn Chánh chợt nhớ ra điều gì vội móc túi lấy cuộn giấy đưa cho cụ Tư:

    - Thưa cụ, đây là văn tự bán nhà và ruộng xin cụ cầm giùm cho.

    - Chà, anh khéo vẽ vời. Thôi được đưa tôi.

    - Thưa bao giờ cụ sang nhận nhà và ruộng?

    - Chừng nào anh đi?

    - Thưa cụ cũng ngày này tháng sau.

    - Được đúng ngày đó tôi sẽ cho người sang.

    Nói đoạn cụ chống gậy trúc, thong thả bước đi.

    Vợ chồng Văn Chánh đứng trông theo đến khi cụ Tư khuất dạng mới quay về. Dọc đường Trương thị hỏi chồng:

    - Cụ Tư dặn gì anh mà xem ra có vẻ nghiêm trọng quá vậy?

    Văn Chánh thuật lại đầu đủ cho vợ nghe rồi kết luận:

    - Ta thấy cụ nói có lý lắm. Đờn bà đẹp đi đường xa nên làm cho xấu xí đi để khỏi có kẻ động tà tâm…

    Trương thị gật đầu:

    - Thiếp cũng cho là phải. Tuy hiên có điều thiếp hơi thắc mắc. Lúc đi đường vắng vẻ sợ có đứa ẩu hỗn làm bậy. Cái đó đã đành.

    Nhưng một khi tới kinh đô, đông đảo người ta lại có quan quân trật tự nghiêm minh, cần chi phải ngụy trang làm xấu đi?

    - Nàng nói có lý một phần thôi. Cụ Tư ngại rằng với sắc đẹp tuyệt trần của nàng, tuy ở kinh đô không sợ phường hạ tiện làm hại nhưng lại phải đề phòng bọn phong kiến mũ cao áo dài.

    Thứ đó còn đáng sợ hơn.

    - Chàng làm như thiếp là Hằng Nga tái thế không bằng, ở ruộng thì khá chớ lên kinh đô nhà vua thì thiếp còn kém xa.

    Văn Chánh nhìn vợ rồi mỉm cười đáp:

    - Chưa chắc gái đế đo đã hơn nàng. Mà thôi cứ để lên tới chốn thị thành sẽ hay.

    Trương thị sung sướng, má đỏ hây, miệng chúm chím cười khiến Văn Chánh cũng phải ngây ngất.

    Tháng sau Văn Chánh cùng vợ con lên đường sau khi giao nhà và ruộng cho người nhà cụ Tư.

    Chồng đi trước đeo ống quyển, vai mang bọc hành lý và sách vở. Vợ đi theo sau, con cột trên lưng, tay xách bọc quần áo. Lúc đó mặt trời đã lên khỏi ngọn tre. Tới đầu làng vợ chồng Văn Chánh gặp mấy bà lối xóm đi chợ thôn bên về.

    Họ ngạc nhiên:

    - Làm sao mà ăn vận lôi thôi thế này? Trông như con lọ lem vậy.

    Trương thị cười xoà chưa kịp đáp thì một bà đã bô bô nói:

    - À bà chị khôn thiệt. Thế này thì đến quỷ sứ cũng lắc đầu khỏi phải lo gì nữa.

    Mọi người cười ồ vui vẻ rồi sau mấy câu chúc tụng thường lệ họ chia tayd9e63 vợ chồng Văn Chánh tiếp tục lên đường.

    Ngày đi đêm nghỉ, sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, Văn Chánh và vợ con lên tới Đông Kinhbình yên vô sự.

    Vợ chồng Văn Chánh vô tiệm Huỳnh bàhỏi thăm giá cả. Thấy tiệm ngủ cũng sạch sẽ có thổi cơm trọ giá phải chăng lại thêm Huỳnh bà tánh tình vui vẻ, đứng đắn, vợ chồng Văn Chánh thuê liềm một phòng nhỏ trông ra sân sau.

    Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ vì nhờ ăn tiêu dè sẻn lúc đi đường nên tiền lưng còn đủ cho vợ chồng và đứa con sinh sống tới lúc chàng thi xong.

    Sau khi sắp đặt xong nơi ăn chốn ở, vợ chồng văn chánh tắm rửa thay quần áo sạch sẽ rồi bồng con ra phố phường Đông Kinh, quên cả lời dặn của cụ Tư.

    Khi Trương thị đi qua trước mặt nữ chủ quán họ Huỳnh, bà này ngạc nhiên trỏ nàng hỏi Văn Chánh:

    - Kìa, lạ quá nhỉ, có phải cô lúc nãy vô cùng với thầy không?

    Văn Chánh cười đáp:

    - Dạ phải, chắc bác thấy nhà cháu thay hình đổi dạnh hoàn toàn phải không?

    - Phải, nếu không có thằng nhỏ đeo trên lưng thì tôi không tin lời thầy nói đâu. Thầy cẩn thận thế là đúng lắm. Thân gái dặm trường kỵ nhất là phô bày nhan sắc và đồ trang sức. Đã lâu lắm tôi mới lại gặp một người đẹp như vợ thầy đây. Thầy và cô tốt đôi thế này, chắc là phen này thầy phải đậu cao và ra làm quan rồi.

    - Bác quá khen, cháu thì tài hèn chí mọn, còn nhà cháu đây đẹp đâu bằng các cô gái đế đô.

    - Tôi đã nói là đẹp hơn mà. Rồi thầy nghiệm xem lời tôi nói không phải là nịnh bợ đâu nhé. Phen này tiệm ngủ tôi hên rồi đa.

    Vợ chồng Văn Chánh vui vẻ dắt nhau ra phố nhàn du. Cái gì đối với họ cũng là lạ mắt, là đẹp cả. Thấy thiên hạ cứ ngó hết chàng rồi đến vợ chàng, Văn Chánh mới đầu rất hãnh diện vì có cô vợ đẹp. Nhưng thét rồi chàng lại hơi… ghen, nhất là từ lúc lời bình phẩm tục tĩu của đôi ba chàng trai kém giáo dục bay đến tai chàng.

    Hai vợ chồng đi mãi, đi mãi hết phố này qua phố khác rồi cả hai tới trước một cây cầu xây bằng đá bắc qua con rạch nhỏ. Thành cầu có khắc hai chữ “Thạch Kiều”.

    Vui chân, hai vợ chồng rủ nhau vượt qua cầu sang bên kia thấy nhà cửa không nằm san sát như bát úp nữa, nhà nào cũng khang trang sạch sẽ với vường cây chạy xung quanh. Rõ ràng là khu của những tay quyền quý cao sang. Văn Chánh thấy một toà nhà nguy nga lộng lẫy, bốn bề có tường cao bao bọc, cửa ra vào đóng kín, trên cổng có chòi lính gác. Bên cổng có tấm biển ghi mấy hàng chữ nho. Vừa thoáng đọc xong Văn Chánh giật mình quay phắt lại, bảo vợ hãy về nhà ngay.

    Trương thị chẳng hiểu ất giáp gì cũng vội vã đi theo chồng trở lại cầu Thạch Kiều.

    Được vài bước nàng khẽ hỏi chồng:

    - Chi mà gấp vậy chàng?

    - Không nên qua đó kẻo sơ ý thì bị khoét mắt, chặt tay như không.

    Trương thị bắt rùng mình vội rảo cẳng đi mau. Khi hai vợ chồng sắp lên tới chân cầu, xảy có tiếng quân lính hô dẹp đường. Cũng như các bộ hành kh1c, vợ chồng Văn Chánh phải đứng nép bên lề đường. Phút sau, một toán chừng mười tên lính rầm rộ đổ từ trên cầu xuống mở đường cho một thanh niên mặt trái xoan, đôi mắt lẳng lơ, mặc áo đại thần cỡi ngựa bạch thong thả tiền tới. Phía sau lại có một toán lính khác đi tập hậu. Một ông già đứng bên văn Chánh lẩm bẩm: “Hoàng thân”. Gã thanh niên cưỡi con bạch mã nhìn Trương thị chằm chằm. Không biết hắn nghĩ gì chỉ thấy hắn vẫy tay gọi tên hầu cận bận thường phục lại gần và cúi xuống nói nhỏ một hồi.

    Tên hầu cận cúi rạp ra chiều tuân lệnh rồi chậm bước lại để cho toán quân hậu tập đi vượt lên, mắt liếc nhìn về phía Trương thị.

    Vợ chồng Văn Chánh vô tình không hay biết gì cả, cứ thản nhiên đi lên cầu. Văn Chánh hỏi nhỏ cụ già lúc nãy đứng bên cạnh:

    - Thưa lão trượng, chẳng hy người vừa rồi cụ gọi là “Hoàng thân” là ai vậy?

    - Chắc câu ở xa về đây chơi hẳn?

    - Dạ cháu từ phủ Triều Châu về đây dự thi.

    - À thế thì cậu không biết thì phải. Người vừa đi qua là Tào Nhị Quốc Cựu. Nguyên vợ vua Nhơn Tôn là Tào Hậu, con gái Thái phụ phu nhơn.bà này còn có hai con trai được phong là Đại quốc Cựu và Nhị Quốc Cựu, và liệt vào hàng Hoàng Thân.

    Ông già vừa nói tới đây thì hai người cũng vừa qua khỏi cầu Thạch Kiều. Ông già chào Văn Chánh rồi rẽ qua tay mặt còn vợ chồng văn Chánh thì cứ thẳng đường về nhà trọ.

    Cả hai đều không biết có tên hầu cận của Nhị Quốc Cựu đeo sát sau lưng. Đến nhà trọ của Huỳnh bà, nó dòm theo biết phòng của vợ chồng Văn Chánh liền đi loanh quanh một lát rồi lại tiệm ngủ thuê một phòng.

    Tới đó, hắn lân la bắt chuyện với Văn Chánh, sáng sau hắn dời nhà trọ từ sáng sớm với đầu đủ tin tức về vợ chồng nhà này.

    Tới tư dinh Nhị Quốc Cựu, hắn vô thẳng phòng chủ phúc trình kết quả cuộc điều tra. Nghe xong Nhị Quốc Cựu mở ô kéo lấy một đĩnh bạc ném cho tên hầu cận rồi nói:

    - Tốt lắm, ta đã có cách chiếm người ngọc ấy.

    Tên hầu cận được bạc, hót thêm:

    - Được cậu chiếu cố, mụ ấy thật là đại phước. Nhưng còn thằng chồng nó cậu tính sao!

    - Ta nói đã có cách mà. À bây trông kỹ nó có đẹp thiệt không? hay là ta hoa mắt trông lầm?

    - Dạ thưa cậu nó đẹp lắm, gái kinh đô này dễ thường chưa ai sánh kịp. Con mà lấy đặng nó cậu có chém bay đầu con cũng cam tâm.

    Nhị Quốc Cựu lim dim đôi mắt, mở một nụ cười khả ố ném cho tên hầu cận một đĩnh bạc nữa rồi truyền cho lui ra.

    Ngay sáng đó, Nhị Quốc Cựu đuổi hết cung tần mỹ nữ ước đến hai chục người, sang ở bên Tây cung để nghinh đón Trương thị. Nhi Quốc Cựu cũng chọn sáu tỳ nữ kín tiếng giữ lại để hầu hạ bên Đông cung.

    Đoạn Nhị Quốc Cựu truyền cho đầu bếp chuẩn bị mở tiệc rượu đêm nay.

    Chiều lại, Nhị Quốc Cựu chọn hai tên lính ăn nói hoạt bát, kêu vô phòng cùng với tên hầu cận mà bảo rằng:

    - Hai người khá theo tên này (trỏ hầu cận) đến tiệm ngủ Huỳnh bà vô nói với Tú tài Viên Văn Chánh rằng ta nghe người quen ở phủ Triều Châu ca tục sức học uyên thâm của Văn Chánh từ lâu nay được biết tú tài mới cùng vợ lên kinh đô để chờ ngày thi, ta có lời mời cả ba đến phủ ta, trước là để có dịp hiểu biết thêm về tài năng sau là để tiện tiến cử. Phải nói là ta xưa nay vẫn có tính trọng hiềm đãi sĩ, thường hay vì đức Vua mà chiêu mộ hiền tài, nghe chưa?

    Chú lính dạ ran:

    - Dạ chúng con nghe rõ rồi.

    Nhị Quốc Cựu gật đầu:

    - Tốt. Nhưng chưa hết đâu. Bảo họ đem tất cả hành lý lên đây ta có trú ngụ tại phủ này cho đến ngày hiển đạt. Nhớ đón vợ chồng và đứa con lên tất cả nghe.

    Nói đoạn, Nhị Quốc Cựu mở tủ lấy bạc trao cho hai người lính và dặn thêm:

    - Trả hết phí tổn ở tiệm ngủ Huỳnh bà cho họ và thuê cáng đưa họ về đây. Còn dư bao nhiêu cho tụi bây chia nhau mà xài. Còn tên này (trỏ hầu cận) ngươi chỉ đưa họ tới nơi, trỏ nhà cho biết rồi rút lẹ về đây, ẩn mặt đi vài bữa chớ để hai vợ chồng nó nhận diện được, hỏng việc của ta thì tù mọt gông đó. Thôi tụi bây đi ngay cho được việc.

    Ba người vái Nhị Quốc Cựu rồi lui ra sửa soạn lên đường ngay tức khắc.

    Ra khỏi phủ, một chú lính hỏi anh hầu cận:

    - Nè bác, chiêu phụ sát phu chớ chiêu hiền sĩ gì phải không? Con mụ này đẹp lắm sao bác?

    Anh hầu cận mỉm cười bí mật:

    - Chia bớt cho tớ ít bạc, tớ sẽ nói cho mà nghe.

    - Chẳng nói thì đừng, lát nữa tụi này cũng biết.

    - Được. nhưng coi chừng ta mét ngươi phỉ báng Hoàng Than cho mà coi.

    Chú lính nọ đấu dịu và thuận chia chút bạc cho anh hầu cận.

    Tên này cười nói tiếp:

    - Có thế chứ. Bây giờ vểnh tai mà nghe. Con mụ này đẹp lắm tên là Trương thị. Hoàng thân mê lắm rồi đấy.

    Chú lính nọ thở dài đáp:

    - Tôi sợ cái thói dập liễu vùi hoa của Hoàng thân, khéo mụ này lại theo số phận như hàng chục mỹ nhân từ trước đến nay.

    Tên hầu cận trợn mắt la:

    - Này, xin ông ngậm bớt cái miệng lại kẻo thấu tai Hoàng Thân thì lôi thôi đấy. Muốn làm ma không đầu sao?

    Chú lính nọ im bặt, lấm lét nhìn hai bạn đồng hành. Ba người lặng lẽ nhắm thẳng tiệm ngủ huỳnh bà mà tiến tới.

    Nói về Tú tài Văn Chánh sáng đó trở dậy có ý tìm tên hầu cận của tào Nhị Quốc Cựu mà chẳng thấy đâu. Chàng liền lên nhà hỏi thăm nơi Huỳnh bà:

    - Khách trọ ở phòng cận cháu đi ròi sao bác?

    - À anh tanói có việc ở quê phải đi ngay từ sớm rồi.

    - Tiếc quá, cháu tính nhờ anh ấy dẫn d8i vãng cảnh nơi đế đô.

    Nói đoạn, chàng trở về phòng ngồi bó gối uống trà một mình. Trương thị hỏi chồng:

    - Bữa nay chàng tính cho mẹ con thiếp đi đâu?

    Văn Chánh uể oải đáp:

    - Ta thấy mệt mỏi, để lát nữa sẽ hay.

    Trương thị nhìn chồng rồi giật mình hỏi:

    - Uûa, sao khí sắc chàng bỗng nhiên kém hẳn đi vậy?

    - Nàng nói thiệt sao? Thực ra từ lúc ta dậy đến giờ ta thấy tâm thần bất định, lòng bồn chồn như lửa đốt, tự nhiên ta có cảm tưởng ở nơi này không được an vui lắm.

    Trương thị dịu dàng đáp:

    - Có lẽ bây giờ chàng mới thấm mệt vì cuộc hành trình quá vất vả. Thiếp nghĩ chàng nên tĩnh dưỡng vài ngày cho lại sức còn ôn lại văn bài.

    Suốt ngày hôm đó, Văn Chánh đứng ngồi không yên, cho tới chiều giữa lúc chàng đang nằm khàn trong phòng xảy có tiếng Huỳnh bà gọi rối rít:

    - Thầy Tú ơi! Thầy Tú ơ! Có các cậu lính đằng hoàng thân lại mời vợ chồng cậu vô phủ chơi đây nè.

    Văn Chánh choàng dậy, chạy vội lên. Hai tên lính chắp tay xá dài chàng rồi lễ phép nói:

    - Quốc Cựu sai bọn tôi đến rước Tú tài và phu nhân cùng công tử lên phủ ở chơi cho đến ngày thi.

    Văn chánh chưa kịp trả lời thì một chú lính nhanh miệng nói luôn:

    - Xin Tú tài đừng khước từ. Quốc Cựu vốn trọng hiền đãi sĩ nay nghe danh Tú tài tuổi trẻ tài cao muốn mời tới tương kiến để đường tiến cử sau này. Hiện võng đã thuê chờ ở cửa xin Tú tài đi cho. Tiền trọ tôi đã trả đủ rồi.

    Huỳnh bà nghe nói chắp tay xuýt xoa:

    - Quốc Cựu thiệt là nhơn ái. Thôi thầy Tú hãy mau sửa soạn lên đường chớ để Ngài phải chờ lâu. Thiệt là hên cho tiệm tui quá.

    Văn Chánh trở về phòng nói qua cho vợ biết rồi cả hai thay quần áo đẹp nhứt đi lên nhà.

    Vừa trông thấy Trương thị hai chú lính nháy mắt nhìn nhau thì thầm: “Đẹp quá ta”.

    Rồi chúng xúm lại mang hộ hành lý của vợ chồng Văn Chánh ra cổng.

    Hồi lâu sau, vợ chồng Văn Chánh tới nơi. Tào Nhị Quốc Cựu sai lính mở cổng giữa và đích thân ra tận ngoài đón rước dẫn vô dinh.

    Sau khi phân ngôi chủ khách, Quốc Cựu quát lính hầu trà và cho kêu thị tỳ lên bồng con cho trương thị.

    Quốc Cựu giả bộ hỏi gia cảnh Văn Chánh. Rồi câu chuyện xoay qua vấn đề vấn đề văn chương thi phú. Quốc cựu làm bộ chăm chú nghe Văn Chánh phun châu nhả ngọc nhưng thực ra đầu óc đang quay cuồng trước sắc đẹp mê hồng của trương thị.

    Nắng đã xé chiều rồi tắt hẳn. Trong dinh Quốc Cựu đèn thắp sáng như ban ngày. Quốc Cựu mời Văn Chánh ra ngoài huê viên dự dạ yến cho mát. Lấy cớ mình chưa có vợ, Quốc Cựu xin lỗi rồi kêu nữ tỳ rước trương thị vô Đông cung dùng cơm, lại sai người đem con văn chánh qua Tây cung săn sóc.

    Vì đã có lệnh trước nên khi trương thị vừa bước vào hậu cung, bọn tỳ nữ đã đóng sập cửa lại rồi xúm nhau mời Trương thị:

    - Tâu lịnh bà, xin lệnh bà tắm mát rồi thay xiêm y mới trước khi dùng bữa.

    Thiếu phụ đồng ruộng chẳng hiểu ất giáp gì cứ răm rắp theo sự chỉ dẫn của bọn nữ tỳ nữ.

    Khi Trương thị trở ra với y phục lộng lẫy trông như Hằng Nga tái thế, bọn hầu gái không tiếc lời tâng bốc nàng:

    - Tâu lịnh bà,lịnh bà đẹp như tiên nga, chắc là Quốc Cựu phải hài lòng.

    Trương thị liếc nhìn vào gương. Nàng cũng giật mình, không ngờ nàng lại xinh đẹp đến thế. Rồi nàng ngồi vào dùng cơm một mình, lòng tràn ngập niềm hân hoan vô tận. Nàng yên trí Quốc Cựu thấy Văn Chánh có tài nên vì nể mà hậu đãi nàng.

    Giữa lúc ấy, ở ngoài huê viên, Quốc Cựu ra công phục rượu cho Văn Chánh. Chàng trí thức miền quê thực tình uống hết chén này qua chén khác. Gặp thứ rượu mạnh nên tới tuần thứ mười, Văn Chánh gục xuống bàn ngủ vùi. Quốc Cựu mỉm cười rũ áo đứng dậy vẫy bốn tên tâm phúc lại gần và bảo rằng:

    - Tụi bây khiêng tên này ra sau vườn thủ tiêu cho ta. Còn đứa con nhỏ của nó cũng … đi theo bố nó luôn thể, cho tiện việc. Nhớ làm cho lẹ rồi vô trình ta mà lãnh thưởng.

    Ra lệnh xong, Quốc Cựu trở về phòng riêng.

    Bốn tên quân tâm phúc chia nhau thi hành lệnh chủ. Hai đức khiêng Tú tài văn Chánh ra vườn sau còn hai đứa đi kiếm con văn Chánh. Vườn này mênh mông, rộng tới mấy chục mẫu, có chỗ cây mọc như rừng, âm u ghê rợn, đến ban ngày cũng không ai dám tới làm chi.

    Hai tên khiêng Văn Chánh đi được một quãng, bỗng tên đi đầu vấp phải rễ cây lảo đảo suýt rồi ngã. Hắn chửu thề một hồi rồi bảo bạn:

    - Nè anh, mọi lần trước tụi mình thường thủ tiêu các mỹ nhân vào lúc tờ mờ sáng, nay phải thủ tiêu cha này trong đêm tối nghĩ mà khó quá. Hay là…

    Tên đi sau hỏi mau:

    - Hay là … sao?

    - Hay ta cũng siết cổ như mọi bận rồi xô xác nó xuống giếng Quỳnh Hoa ở gần đây là hơn cả.

    Tên đi sau phản đối:

    - Không được giếng này ở gần nhà quá, sợ e bại lộ mất, phải đem nó ra chỗ mọi khi.

    Tên đi trước đứng dừng lại nói:

    - Nếu vậy thì anh chịu khó cõng thằng này đi một mình ra ngoài đó mà giết nó rồi chôn đi như mọi bận. Tôi chờ anh ở đây nghe. Tiền thưởng thì anh cứ việc lãnh cả.

    Nói đoạn hắn ngưng lại chờ phản ứng của tên đi sau. Sợ tên này tham bạc làm thiệc, hắn doạ liền:

    - Chẳng phải tôi làm biếng đâu mà vì đêm tối ra tận đó. Sợ oan hồn uổng tử hiện lên đòi thường mạng thì nguy. Anh có nhớ tổng số mỹ nhân bị thủ tiêu là bao nhiêu rồi không?… Đúng bốn mươi mạng rồi nghe. Anh chàng này là bốn mốt, đứa bé con là bốn hai và mụ trương thị sẽ là nạn nhơn thứ bốn ba trong ít bữa. Aáy là chưa kể tới những bào thai mà một số mang theo xuống cõi âm ty.

    Tên đi sau bắt rùng mình, sợ quá đến lạc cả giọng:

    - Anh nói có lý. Tôi bằng lòng xô nó xuống giếng Quỳnh Hoa. Bây giờ tụi mình tạm đặt thằng văn Chánh này xuống đây rồi chờ bọn kia đem con hắn đến mần luôn thể đặng về cùng, kẻo đức trước đứa sau Quốc cựu sinh nghi thì chết.

    Tên đi trước tán thành. Thế là cả hai bỏ Văn Chánh xuống đất, đứng chờ.

    Lát sau hai tên quân đi kiếm con Trương thị cũng mò tới.

    Chúng hỏi nhau:

    - Các cậu tài thiệt, làm thế nào mà thằng bé không khóc… Bịt miệng hả?

    - Đâu có. Tớ đập cho nó một gậy sau ót chết còng queo từ lâu rồi. Mình vừa rờ đến nó thì đã khóc thét lên cho nên phải xuống tay tay gấp kẻo bại lộ. Còn anh chàng Tú tài đâu?

    Hai tên đến trước cắt nghĩa cho hai tên đến sau nghe. Chúng đều đồng ý. Văn Chánh bị khiêng đến bờ giếng Quỳnh Hoa rồi bị siết cổ cho đến chết. Sau khi xô xác chồng Trương thị xuống giếng, chúng liệng luôn đứa con ba tuổi…

    Thi hành xong thủ đoạn sát nhân, bốn tên quay về trình Quốc Cựu để lãnh thưởng.

    Tên Hoàng Thân độc thân và dâm ô này vứt mấy nén bạc ra bàn rồi hất hàm hỏi:

    - Tụi bây chôn ở chỗ cũ chứ?

    - Dạ ở chỗ cũ.

    - Chôn kỹ không?

    - Dạ kỹ, có bó chiếu cột hai đầu và đầm đất cẩn thận lắm.

    - Tốt, mai nhớ ra làm lại cho kỹ nghe. Thôi cho bây lui.

    Bốn tên dạ ran, lượm bạc rồi quay trở ra.

    Lúc bấy giờ mới bắt đầu sang canh hai.

    Lại nói về Trương thị, cơm nước xong nàng được một tỳ nữ áo xanh rước vô phòng ngủ của Quốc Cựu. Phòng này trưng bày cực kỳ lộng lẫy, giữa phòng có kê giường bát bảo, gấm rủ màn che.

    Trương thị ngồi xuống chiếc cẩm đôn ở góc phòng rồi bảo tỳ nữ:

    - Nhị Quốc cựu thật là đấng hiền nhân.

    Còn tỳ nữ mỉm cười đáp:

    - Lệnh bà ở với Hoàng Thân thật là xứng đáng.

    Trương thị chột dạ:

    - Phòng này không phải của Hoàng thân dành cho vợ chồng chị ở đậu cho đến ngày thi sao?

    Biết mình lỡ lời, tiết lộ quá sớm kế hoạch của chủ, nữ tỳ nói chữa:

    - Tâu lệnh bà, ý em muốn nói lệnh bà ở phòng này của Hoàng Thân mới là xứng đáng với sắc đẹp kiều diễm của lệnh bà.

    - Sao em cứ gọi chị là lệnh bà hoài. Thôi kêu bằng chị cho tiện. Ta đâu phải là mệnh phụ phu nhơn?

    - Tâu lệnh bà, Đó là lệnh của Hoàng Thân. Vả lại rồi lệnh bà cũng tiến đến địa vị đó.

    Tới đây tỳ nữ sợ bị vặn hỏi lôi thôi liền xin phép lui ra. Lát sau, nó dẫn vào sáu cung tần mang theo đờn phách để ca hát giải trí cho Trương thị.

    Trương thị càng ngẫm nghĩ về lời con tỳ nữ, càng lo lắng vô cùng. Có lẽ nàng xa vào cạm bẫy của Hoàng Thân chăng? Chồng con hiện giờ ở đâu? Tự nhiên nàng thấy bồn chồn, lòng như lửa đốt.

    Giữa lúc ấy mấy ngọn bạch lạp bỗng nhiên lung lay cơ hồ như muốn tắt mặc dầu trời lặng gió yên. Và trong bóng lửa chợp chờn Trương thị thoáng thấy hiện lên nơi khung cửa sổ, chồng nàng mặt sưng, tay bồng đứa con yêu quí đầu quật ra đằng sau như gẫy cổ, miệng tràn máu tươi…

    Nàng sợ quá khẽ rú lên thì hình ảnh rùng rợn đó biến mất và ánh bạch lạp lại sáng tỏ như ban ngày. Bọn cung phi vẫn nghịp nhàng ca hát. Trương thị nhìn quanh có ý kiếm tỳ nữ áo xanh song chẳng thấy nó đâu cả. Nàng toan bảo bọn cung phi ngừng ca hát thì tỳ nữ áo xanh đã mở cửa vô phòng và tiến đến bên trương thị. Nó vừa ra gặp Nhị Quốc cựu để xin chỉ thị.

    Trương thị mừng rỡ nắm tay tỳ nữ và bảo:

    - Em đưa chị gắp chồng con.

    Vì được chủ dặn trước, tỳ nữ nói gạt Trương thị:

    - Tú tài uống rượu say quá, Hoàng Thân dìu về phòng ngủ ở Tây cung rồi.

    - Sao không đưa chàng vào đây?

    - Em không biết. Đó là lệnh Hoàng Thân.

    - Còn cháu bé của chị đâu?

    - Cháu cũng ở bên tây cung có người chăm sóc, lệnh bà khỏi lo.

    Trương thị năn nỉ:

    - Em làm phước co chị gặp chồng con, chị đội ơn em muôn vàn.

    - Em nói thiệt mà. Xin lệnh bà cứ yên tâm.

    - Lạ hơi con chị nó khóc hết nước mắt, tội nghiệp, em cho chị gặp con chị đi. Chị van em.

    Nữ tỳ lúng túng:

    - Cháu nó khóc nhớ lệnh bà… Chừng đem đặt bên Tú tài thì nó … nín khe và ngủ rồi. Lệnh bà hãy tin em và đi nghỉ cho đỡ mệt.

    Nói đoạn tỳ nữ ra lệnh cho đám cung phi lui ra ngoài.

    Mặc dù tỳ nữ thúc giục đôi ba lần, Trương thị cứ vẫn ngồi yên trên cẩm đôn và một mực đòi gặp chồng con.

    Cuối cùng thấy tỳ nữ có vẻ lúng túng, Trương thị đứng phắt dậy đi ra cửa toan mở ra ngoài. Tỳ nữ áo xanh vội níu nàng lại:

    - Xin lệnh bà chớ hấp tấp làm kinh động Hoàng Thân e sợ ngài giận. Lệnh bà vui lòng nán lại đây, em xin trình Hoàng Thân quyết định.

    Nói đoạn nó đẩy trương thị trở về giường rồi mở cửa đi kiếm Nhị Quốc Cựu trình bày tự sự.

    Nhị Quốc Cựu cau mày đáp:

    - Mi vô nói với mụ ấy là ta muốn mụ là vợ của ta. Xưa nay không ai dám trái lệnh ta bao giờ. Nếu nó không chịu thì nói thẳng cho nó biết là chồng con nó đã chết cả rồi. Trái lời ta, ta sẽ giết nốt.

    Tỳ nữ áo xanh trở vô phòng. Trương thị lo lắng hỏi:

    - Thế nào em? Hoàng Thân dạy sao?

    - Tâu lệnh bà.. Hoàng Thân muốn từ nay cùng chung sống với lệnh bà như vợ chồng.

    Trương thị tái mặt hỏi lại:

    - Sao? Em nói gì chị chưa hiểu. Chị là gái có chồng và lại có con rồi. Chắc em nghe lầm.

    - Tâu lệnh bà, em không lầm đâu. Hoàng Thân muốn lấy lệnh bà làm vợ.

    Trương thị quắt mắt:

    - Không khi nào. Hãy thả ta cùng với chồng con ta ra. Nếu không ta sẽ phá cửa cho mà coi.

    Tỳ nữ lắc đầu:

    - Vô ích lệnh bà ơi. Tú tài và con đã chết cả rồi, lệnh bà hết nơi nương tựa, nên ở lại kết nghĩa với hoàng Thân là hơn cả.

    Trương thị nghe vậy vật mình than khóc ầm ĩ rồi toan đập đầu vào cột nhà mà tự vẫn. Tỳ nữ áo xanh nhanh tay níu lại, miệng la cầu cứu chói lói.

    Nhị Quốc Cựu vội sai người tỳ nữ khác vô trợ lực tỳ nữ áo xanh dìu Trương thị đem giam trong phòng kín, và thay phiên nhau canh giữ, khuyên dỗ.

    Chúng dùng mọi thủ đoạn: hết ngọt đến xẵng, hết ve vãn đến doạ nạt, mà Trương thị chẳng nguôi tấc dạ, vẫn một hai toan tự tử chết theo chồng con.

    Thấy vậy Nhị Quốc Cựu bèn cho mời lương y đến bốc thuốc an thần va ra lệnh cho tỳ nữ ép buộc trương thị uống. Thuốc ngấm, làm nàng ngủ thiếp đến hơn mọt ngày mới lại tỉnh.

    Bọn tỳ nữ lại xúm lại khuyên giải. Nàng không vật mình than khóc nữa. Trái lại trở nên trầm lặng.

    Nàng nằm yên suy nghĩ. Nàng nhớ lại tích xưa ghi trong sách thánh hiền mà hồi sanh tiền Văn Chánh thường đọc và giảng giải cho nàng nghe. Nàng phải thủ tiết với chồng. Điều đó rất đúng. Nhưng nàng phải sống. Sống để trả thù cho chồng con và nhất là để tố cáo với Bao Công hầu loại trừ tên quỉ dâm ô, ỷ thế hiếp người, dẹp bỏ một hiểm hoạ cho phụ nữ có đôi chút nhan sắc.

    Nghĩ vậy nàng gượng sầu làm vui.

    Nhị Quốc Cựu hay tin cười ha hả lấy bạc vàng gấm vóc thưởng cho đám tỳ nữ và truyền cho rước trương thị trở lại Đông cung. Rồi thì Trương thị đành chịu thất thân với tên Hoàng Thân dâm đãng, độc ác, để chờ dịp báo cừu.

    Nàng lấy trộm bạc vàng mua chuộc tỳ nữ để tìm cách trốn ra ngoài phủ.

    Chừng một tuần sau ngày bố con Văn Chánh bị sát hại, và bị xô thây xuống giếng, một sáng từng đàn quạ ngửi mùi tử khí, kéo đến đầy khu vườn sau phủ, kêu “quạ, quạ”suốt ngày.

    Nhị Quốc Cựu sợ hãi gọi một tên quân tâm phúc vô phòng riêng và hỏi rằng:

    - Tụi bây chôn nó ra sao mà quạ đến đông như vậy?

    Một tên vội thưa:

    - Dạ, chôn chặt dưới ba thước đất.

    - Thiệt không hay là trong đêm tối làm ẩu? Có ra xem lại chưa?

    - Dạ có xem lại rồi. Nếu Hoàng thân không tin xin mời ra coi. Tay chúng con chôn có hơn bốn chục mạng qua mấy năm nay rồi, đâu có phải lần đầu.

    Thực ra thì sáng hôm có quạ kéo đến, bốn tên đã nháy nhau chạy ra giếng thấy xác bố con Văn Chánh nổi lên lờ mờ dưới đáy giếng nên đã lấy đá tảng thả xuống để nhận chìm đi. Bởi vậy cúng mới dám quả quyết như trên.

    Nghe nhắc đến số nạn nhân đã qua tay mình, Nhị Quốc Cựu chột dạ nhìn bốn tên thủ túc bằng cặp mắt khó hiểu. Phút sau Nhị Quốc Cựu ra lệnh:

    - Tụi bây trở ngay ra chõ đó hun khói cho đàn quạ bay đi. Mà phải kín miệng không thì chớ có trách ta.

    Bốn đứa dạ ran, chạy đi thi hành lệnh chủ. Từng đám khói đen bốc lên từ vườn cây, sau dinh Nhị Quốc cựu. Bầy quạ bay tứ tán nhưng lát sau dường như quen với khói chẳng những chúng tụ lại như trước mà còn kêu to hơn như để phản đối nữa.

    Trước tình thế ấy, Nhị Quốc Cựu suy nghĩ trọn một ngày đêm rồi qua sáng sau y ra lệnh dời toàn bộ cơ sở về vùng Trịnh Châu. Kể ra thì hắn cũng khôn ngoan. Nếu ở lại đây, người quanh vùng tất sinh nghi. Nay bỏ dinh thự hoang phế thì dù quạ có kéo đến đông gấp mười lần, cũng chẳng có gì phải ngại.

    Cho được chắc chắn hơn. Nhị Quốc Cựu ngầm ra lệnh thủ tiêu bốn tên quân tâm phúc, trên con đường từ Thạch Kiều về đất Trịnh Châu.

    Y yên trí từ nay không ai có thể tìm ra tội ác của y.

    Nhưng mà ông trời có mắt.

    Ba tháng sau ngày Nhị Quốc Cựu bỏ dinh mà đi, xẩy có Bao Công nhân khi tuần tra về, có việc trọng đại phải ghé qua Kinh Đô vào triều kiến vua Nhơn Tôn.

    Bao Công cỡi con bạch mã thong thả tiến qua vùng Thạch kiều để vào đất đế đô.

    Lúc bao Công đi gần tới Phủ cũ của Nhị Quốc Cựu, bỗng một cơn gió trốt thổi ào qua, làm ông suýt bay cả mũ. Cơn sốt soáy trên đầu ngựa của Bao Công rồi di chuyển dần dần đến trên miệng giếng nơi sau vườn Nhị Quốc Cựu thì dừng lại và xoáy mạnh hơn. Bầy quạ sợ hãi bốc cánh bay lên trời và cứ lượn quanh con trốt.

    Bao Công dừng ngựa nhìn địa thế hồi lâu rồi trỏ tay về phía con trốt bảo hai anh lính đứng bên:

    - Lạ nhỉ. Ta xem chỗ này không đất trống hay sông lớn mà sao con trốt cứ xoáy mãi vào chỗ kia. Chắc là nơi dó có giếng sâu lắm hoặc hang hốc chi đó. Lại thêm có quạ nhiều như vậy hẳn là có chi xu uế. Vây hai người đi ra phía đó coi sự thể thế nào rồi về trình cho ta rõ. Đi lẹ lên, ta chờ ở đây.

    Nói đoạn Bao Công xuống ngựa đến dưới bóng mát nghỉ chân.

    Hai chú lính công sai hướng theo phía con trốt mà đi. Hồi sau, họ tới phủ của Nhị Quốc Cựu. Thấy bốn bề tường cao vòi vọi, hai chú lính lần tới trước cửa phủ định bụng dòm vô. Bất ngờ thấy cửa đóng im ỉm lại có bảng lớn đề mấy hàng chữ.

    Hai lính công sai hoảng hồn, co giò chạy về phi báo với Bao Công:

    - Tuân lệnh thượng quan chúng tôi dò theo con trốt thì thấy có tụ ở phía trong dinh thự có tường cao bo bọc.

    Bao Công tai nghe, mắt nhìn theo con trốt thấy nó tan dần. Ông liền hỏi thuộc hạ:

    - Sao không dòm vô coi sự thể ra sao?

    - Dạ, chúng tôi không dám vì ở cổng có bảng đề “Nếu ai dòm ngó thì khoét mắt, còn ai chỉ trỏ thì chặt tay”.

    (Bạn đọc còn nhớ chính vì mấy hàng chữ này mà bữa trước Văn chánh sợ hãi kêu vợ quay về không dám đi tới nữa).

    Bao Công nghe nói, cau mày, nổi giận:

    - Không phải là cung điện Đức Vua mà sao dám đề như vậy?

    Viên thơ lại già đứng bên góp ý kiến:

    - Thưa thượng quan, chắc là Vương phủ của bậc nào đó.

    Bao Công gắt:

    - Ngoại trừ Hoàng Cung , không nơi nào được phép đề như vậy dù là Hoàng Thân quốc thích hay quan nhất phẩm trào đình. Bây đâu, dắt ngựa lại đây để ta đích thân đến coi xem ai mà lộng hành như vậy?

    Tới trước phủ Nhị Quốc Cựu, Bao Công thấy cửa đóng im ỉm. Ngoại trừ tấm bảng đe doạ trên đây, không thấy có bảng hiệu chi cho biết danh chức tước của chủ nhân dinh cơ này.

    Bao Công sai lính gõ cửa hồi lâu cũng không thấy bên trong động tĩnh gì . Ông bảo viên thơ lại cho quân đi kiếm quanh đó xem có ông già bà cả nào thì mời đến cho ông hỏi chuyện.

    Lát sau lính dẫn một ông già lối sáu mươi tuổi nhưng còn quắt thước, về trình.

    Bao Công liền cho tả hữu lui ra xa rồi ông xuống ngựa ôn tồn hỏi ông già:

    - Lão cho biết phủ này của ai không?

    - Dạ, của một Hoàng thân là Tào nhị Quốc Cựu.

    Bao Công cau mày:

    - Dẫu cho Hoàng thân đi nữa, cũng không cất nhà lớn như vậy được.

    Ông già thiệt thà nói thêm:

    - Hoàng thân xây dinh thự lớn như vầy ở ngay đất thần kinh, chắc hẳn có sự ưng thuận với đức Vua.

    - Triều đình có đặt ra phẩm trật, luật lệ hẳn hoi. Nếu biết tất Hoàng thượng không khi nào chịu để như vậy, dù người đó là Nhị Quốc Cựu.

    Ông già thở dài:

    - Thượng quan đi tuần tra các nơi ít về chốn kinh đô nên chưa biết rõ Nhị Quốc cựu đó thôi…

    - Lão nói sao?

    - Quyền thế của Nhị Quốc Cựu xem ra còn lớn hơn nhà vua.

    Nói đến đây ông nín bặt, nhìn Bao Công như dò xét. Bao Công cười bảo:

    - Lão cứ nói đi. Cứ trông dinh cơ rộng lớn huy hoàng thế này ta cũng đã đoán ra phần nào rồi. Lão hãy nói tất cả sự thật đặng giúp ta loại trừ bớt bọn phản thần, hại vua, hại dân.

    - Thưa thượng quan… Đây là Nhị Quốc Cựu…

    - Lão cứ nói, ta sẽ làm theo lẽ phải. Nếu vua không nghe ta thì ta sẽ phải chết. Nhưng ta chắc không đến nỗi nào. Ta biết tánh đức vua lắm. Lão hãy nói mau đi.

    - Đại nhân có hỏi tôi mới dám nói. Nhị Quốc Cựu này lộng hành quá lắm. Mỗi lần ông ta ra đường dân phải kép nép cung kính như đối với vua. Kẻ nào phạm tới ông ta là bị bắt giam, xiềng xích liền. Ông ta lại là người dâm đãng vô cùng. Tuy còn là độc thân mà trong dinh chia ra Đông Cung và Tây cung với hàng chục mỹ nữ. Vậy mà hễ gặp đàn bà con gái có nhan sắc là ông ta lại cho theo dò rồi dụ vào trong phủ thoả mãn thú tính. Người ta đồn nạn nhân không bao giờ thấy trở về nhà.

    - Theo lão thì họ đã bị Nhị Quốc cựu giết chết?

    - Thưa không rõ. Giết hay giữ lại nuôi trong phủ điều đó tôi không rành lắm.

    - Thế sao không thấy gia đình nạn nhân khiếu nại?

    - Thưa đại nhân, phần thì họ sợ vua đã không chạm được Nhị Quốc Cựu mà còn bị trả thù là khác phần thì có nhiều người hoặc bị bắt từ xa đưa về hoặc bị sa vào bẫy của Hoàng thân khi đi ngang qua kinh đô này, như thế mà người nhà biết đâu và biết ai mà cáo?

    - Chà, bọn này quỷ quyệt thật.

    - Dạ, mưu mẹo lắm. Riêng tôi, tôi có biết trường hợp vợ chồng nhà nọ có đứa con ba tuổi cách đây hơn ba tháng được mời vô phủ chơi, chừng tới bữa Nhị Quốc Cựu dọn đi, tôi không thấy cha con nhà ấy.

    - Còn người vợ đâu? Họ làm nghề gì?

    - Tôi không biết? Có lẽ vợ đi theo đám mỹ nữ của Nhị Quốc Cựu. Nghe nói người vợ đẹp lắm còn chồng là học trò.

    - Đi đâu?

    - Dạ không biết rõ, nghe nói về vịnh Trịnh Châu.

    - Lão có chắc chồng con người đó bị giết không?

    - Dạ không biết đích xác.

    - Thế là khó tra quá. Chỉ còn cách khám xét Phủ này mà thôi.

    - Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng nêu nhỡ không tìm thấy bằng chứng gì thì đại nhân sẽ bị nguy hiểm.

    Bao Công lắc đầu:

    - Lão chớ ngại cho ta, dù không tìm thấy chi khả nghi. Nội một cái Phủ xây cất như Hoàng cung lại bỏ phế thế này, ta cũng có quyền vào xem rồi.

    Ông già chưa hết thắc mắc:

    - Xin đại nhân giữ kín cho kẻ họ biết tôi tọc mạch thì tính mạng chẳng còn.

    Bao Công gật đầu:

    - Ta có cách khiến không ai nghi ngờ cho lão cả. Tuy nhiên để đề phòng, ta thưởng cho lão một số bạc đi vùng khác làm ăn.

    Nói đoạn Bao Công ngầm lấy bạc trao tặng cho ông lão rồi cho ông ta lui gấp. Ông già vừa quay lưng đi, Bao Công chợt nhớ ra điều gì liền gọi giật lại hỏi nhỏ:

    - Lão có thấy đàn quạ đang bu kín vòm cây phía sau dinh không?

    - Dạ có.

    - Mới có hay lâu nay vẫn thế?

    - Dạ mới co lối ba tháng ngoài.

    - Dưới chỗ đó có chi không?

    - Dạ nghe nói có giếng Quỳnh Hoa.

    Bao Công suy nghĩ một lát rồi lẩm bẩm:

    - Giếng Quỳnh Hoa, cách đây ba tháng, vào thời kỳ vợ chồng anh học trò bị sa bẫy. Lạ thiệt.

    Khi ông già đi khỏi, Bao Công vẫy đám quân hầu lại mà bảo rằng:

    - Lão già này chẳng cho được tin tức gì cả. Thôi tụi bây cứ bẻ khoá, phá cửa cho ta vô.

    Bọn sai xúm lại bẩy chiếc khoá đồng to bằng cườm tay nơi cửa ra vào.

    Lát sau,khoá bật tung, Bao Công điềm nhiên cỡi ngựa thong thả tiến vào, theo sau là toán quân hầu và đám thơ lại.

    Tới trước phòng có bảng đề “chánh điện” Bao Công lần lượt sục sạo khắp nhà, từ Đông cung sang Tây cung. Đồ đạc để lại khá nhiều, chỉ những thứ cần thiết được dọn đi mà thôi. Sau khi xem xét kỹ các phòng, Bao Công trở lại Chánh điện tức là phòng khách của Nhị Quốc Cựu.

    Ông ngồi vào án thư rồi gọi thơ lại sắp bút nghiên cho ông làm việc.

    Bao Công ngồi viết một lát rồi kêu hai thám tử Vương Hưng và Lý Triết vô mà dạy rằng:

    - Hai người mở rộng tất cả các cửa trong ngoài rồi ra trước cổng phủ thay phiên nhau rao thật to như sau cho ta:

    “Hỡi các vonng hồn uổng tử, hỡi những kẻ bị hàm oan hay bị ức hiếp, nay Bao Đại nhơn tuần tra tới phủ Tảo Nhị Quốc Cựu “có mượn tạm nơi đây làm chổ đăng đường. Vậy ai có điều chi cứ đôi đơn vào khiếu oan. Đặt biệt con ma trốt, Bao đại nhơn truyền cho vào trước nhất”.

    Hai người nhớ rõ chưa?

    Vương Hưng và Lý Kiết sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng ngập ngừng thưa:

    - Dạ… chúng tôi…nhớ rồi.

    Bao Công gật đầu:

    - Vậy tốt lắm. Hai người ra cửa phủ thi hành ngay lệnh của ta mau. Nhớ hướng về tứ phía mà rao cho to, đến chừng nào ta bảo thôi hay thấy nổi gió to thì hãy trở vào.

    Vương Hưng và Lý Kiết vừa lui ra khỏi Chánh điện thì Bao Công đã kêu viên thơ lại già vào và ra lệnh:

    - Ngươi cho bảo các thơ lại vô sửa soạn làm việc và kêu bốn lính hầu vác gươm đứng hai bên án thư của ta đây. Còn bao nhiêu công sai khác chia nhau dọn dẹp chỗ nghỉ và làm cơm tối, đêm nay ta ở lại đây.

    Viên thơ lại hỏi:

    - Thưa thượng quan, mai sớm lại đi luôn?

    - Cái đó chưa biết. Đến mai sẽ hay. Có khi đi ngay mà cũng có khi ở lại đôi ba ngày cũng nên. Thôi ngươi thi hành lậnh ta ngay kẻo chiều xuống rồi.

    Viên thơ lại vái chào lui ra và lối một khắc đồng hồ sau, ai đã vào việc nấy. “Chánh điện” của toà Nhị Quốc Cựu biến thành công đường của Bao Công.

    Bao Công ngồi nghiêm trang trước án thư, mắt nhìn thẳng ra cổng phủ, tai lắng nghe lời rao của vương Hưng Lý Kiết.

    Thơ lại và quân hầu hết nhìn Bao Công lại dòm ra cửa, lòng nghi hoặc chẳng hiểu ra sao.

    Vương Hưng và Lý Kiết rao được một lát vẫn thấy trời lặng gió yên. Mặt trời đã xuống tới ngọn tre. Nắng vàng thoi thóp trên hàng cau trước nơi “Chánh điện”. Chẳng thấy ma nào đến khiếu oan cả, kể cả con ma trốt. Mọi người thất vọng liếc nhìn Bao Công. Ông vẫn thản nhiên như không, tay vuốt vuốt chòm râu, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra cửa.

    Bỗng bức rèm nơi Chánh điện lay động. Một làn gió nhẹ từ ngoài thổi vào rồi liền theo đó một trận gió cuốn cờ ầm ầm chạy tới. Một con trốt cuốn cát bụi mịt mù chạy vào cửa phủ rồi tràn vào chánh điện.

    Giọng Bao Công vang lên như sấm giữa tiếng gió ào ào:

    - Anh kia bồng con đi đâu?

    Lính hầu và thơ lại không trông thấy bóng ai và cũng chẳng nghe thấy ai trả lời, ngoài tiếng gió ù ù.

    Phút sau tiếng Bao Công lại vang lên:

    - Vậy là anh và con anh bị sát hại cách đây ba tháng còn vợ anh thì bị đem đi nơi khác nên không làm đơn tố cáo được phải không? Thôi được ta chấp đơn của hồn và cho hồn lui để ta làm việc.

    Ngọn gió yếu dần, yếu dần rồi tắt hẳn. Lúc đó trời đã sẩm tối, Bao Công bãi phiên đăng đường.

    Đêm đó Bao Công thức khuya lắm. Ngồi vào án thư viết lách chán, ông lại đứng dậy đi bách bộ trong phòng hoặc ra sân ngắm tinh tú trên trời đến cả giờ đồng hồ. Xem chừng Bao Công suy nghĩ nhiều lắm. Đến khi ông vô giường nằm thì canh ba đã hầu tàn.

    Sáng sau, Bao Công trở dậy sớm, ra sau dinh, đứng nhìn về phía vườn một lát rồi quay trở vào Chánh điện. Ông lẩm bẩm:

    - Thiệt là khó quá. Khám nhà một Hoàng Thân đâu phải chuyện chơi. Lại phải khéo léo lắm mới xong. Tốt hơn hết là không đả động gì tới việc tìm xác chết vì lỡ ra không thấy chi thì sẽ không bị phiền luỵ không ít. Làm thế nào bây giờ?

    Bao Công cau mày suy nghĩ hồi lâu, bỗng ông xoa tay mỉm cười đi thẳng vào phòng ngồi trước án thư rồi cho thơ lại kêu tất cả lính công sai đến nghe lệnh.

    Lát sau, công sai tề tựu đông đủ trước công đường.

    Bao Công chậm rãi nói:

    - Chiều qua, có con ma trốt đưa đơn khiếu nại. Tới đêm oan hồn lại hiện về mách ta là tại nơi vườn Tào Phủ này có giếng Quỳnh Hoa. Dưới giếng có mấy lượng vàng ròng của oan hồn bỏ rớt, ai xuống lấy được mang lên thì cho một nửa. Chẳng hay trong bọc các ngươi có ai tình nguyện không?

    Bọn công sai đưa mắt nhìn nhau. Lát sau các thám tử Vương Hưng vàLý Kiết chịu đi. Hai người đem dây và thang tre ra giếng Quỳnh Hoa. Khi gần tới nơi, Vương Hưng đi trước bỗng la lên:

    - Cha,ø giếng này hôi thúi quá.

    Lý Kiết gật đầu:

    - Ừ hôi thiệt. Chắc là giếng bỏ lâu có con gì chết ở dưới chăng.

    Cả hai dòm xuống đáy giếng thấy lờ mờ bóng nước. Chuẩn bị xong. Vương Hưng bám theo dây tụt xuống trước, Lý Kiết theo liền sau.

    Giếng khá sâu xong mực nước chỉ tới đầu gối. Hai người mò một lát thì cùng đụng phải xác Văn Chánh và đứa con ba tuổi. Họ kinh hoảng leo vội trở lên và chạy về gấp báo với Bao Công.

    Bao Công khẽ thốt: “vậy là đúng rồi” nhưng vẫn giả bộ không tin, la hai công sai:

    - Các ngươi đừng để hồn nát thần tính. Giếng trong Tào phủ này làm gì có xác chết được. Tụi bây rủ thêm người ra coi lại, nếu phải thì hãy vớt lên cho ta coi, ta sẽ thưởng, nhược bằng không phải thì sẽ bị hình phạt đó nghe.

    Vương Hưng và Lý Kiết tuân lệnh, chạy ra hô thêm mấy công sai đi theo ra vớt xác cha con Văn Chánh đem lên đặt trên bờ giếng.

    Bao Công hay tin vội chạy ra xem xét hai tử thi và cho kêu Lý trưởng sở tại đến chứng kiến và lập biên bản. Sau đó ông sai lính mua áo quan liệm xác cha con Văn Chánh lại rồi cho khiêng về tạm quàn tại phía vườn sau phủ Khai Phong và là nơi ông trị nhẫm. Ông ra lệnh cấm không cho ai được đụng đến và phải canh chừng cẩn thận.

    Đoạn Bao Công kêu một thám tử thân tín vô dạy rằng:

    - Ngươi khá coi xem Thái Quận phu nhơn và Tào Đại Quốc cựu hiện giờ ở đâu. Ta nghe nói dọn về nhà mới từ ít tháng nay mà không biết rõ địa điểm. Luôn tiện ngươi coi lại xem có phải tào Nhị Quốc Cựu dời về trịnh Châu không?

    Thám tử tuân lệnh mở cuộc điều tra cấp tốc. Chiều lại, hắn trở về báo cáo:

    - Thưa thựng quan, Thái phụ phu nhơn và Tào Đại Quốc Cựu đã về ở nhà mới tại Sư Nhị Cảng còn tào Nhị Quốc Cựu thì dọn về Trịnh Châu thật rồi.

    Bao Công gật đầu đáp:

    - Ngươi ra ngoài chờ lát nữa dẫn đường cho ta. À nhớ kêu Trương Thiên và Mã Vạn vô ngay có việc gấp.

    Thám tử vái chào lui ra. Lát sau hai công lại lật đật vào hầu. Bao Công đẩy túi bạc nhỏ trên án thư và bảo họ:

    - Các ngươi đi mua ngay cho ta một con dê đực mập và khẻo, cùng hai chai rượu cúc. Đi lẹ lên mà về cho kịp ta lên đường. Lúc ra biểu đóng ngựa sẵn nghe.

    Trương thiên và Mã Vạn dạ ran, lãnh bạc, hối hả đi ngay.

    Chừng một tiếng sau, mọi sự đã chuẩn bị xong xuôi, Bao Công sai thám tử đi trước dẫn đường còn ông cỡi ngựa thủng thẳng đi sau với hai công sai đứa dắt chú dê xồm, đức ôm hai chai rượu cúc.

    Tới dinh của Thái Quận phu nhơn, Bao Công xuống ngựa vái chào mẹ vợ vua Nhơn Tôn. Lúc này Tào Quốc Đại Cựu còn ở trong trào chưa về. Bao Công kêu lính dắt dê và bưng rượu tới rồi ông thản nhiên nói với Thái Quận phu nhơn:

    - Thưa phu nhơn, gọi là có chút lễ mọn mừng Đại Quốc Cựu nay dọn về nhà mới.

    Liếc nhìn lễ vật, mẹ vợ vua Nhơn Tôn nổi giận đùng đùng trỏ mặt Bao Công mà quở rằng:

    - Sao ông dám kinh con ta, đem lễ vật không xứng đáng tới mừng như vậy? Thôi ông về đi.

    Bao Công làm thinh không đáp chỉ lạnh lùng ra hiệu cho hai lính công sai đem lễ vật về. Đoạn ông lững thững quay gót trở ra nhảy lên ngựa về nhà, được nửa đường thì gặp Tào đại Quốc Cựu tan chầu, cỡi ngực trắng đi tới.

    Hai bên cùng hạ mà thi lễ. Tào đại Quốc Cựu vui vẻ hỏi Bao Công:

    - Chẳng hay đại nhơn đi đâu mà tới đây?

    Bao Công mỉm cười đáp:

    - Bổn chức vừa được biết Thái Quận Phu nhơn và Đại Quốc Cựu dọn về nhà mới nên đem chút lễ vật này đến mừng chẳng may xuất hành gặp giờ đại hung nên bị phu nhơn mắng đuổi đem về.

    Miệng nói tay Bao Công trỏ vào chú dê xồm và hai chai rượu.

    Tào Đại Quốc Cựu vốn biết tánh hạnh em mình (tức Tào Nhị Quốc Cựu) nên giật mình hiểu thâm ý của Bao Công. Ông ta cố giữ vẻ bình tĩnh ân cần xin lỗi Bao Công:

    - Xin đại nhơn thứ lỗi cho. Mẫu thân tôi tuổi già hay khó tính. Chẳng mấy khi rồng đến nhà tôm xin mời đại nhơn quá bộ trở lại cho tôi được thù tiếp, thực là vạn hạnh.

    Bao Công lựa lời khước từ rồi hai bên chia tay nhau.

    Về tới nhà, Tào Đại Quốc Cựu vội vào bảo mẹ:

    - Dọc đường con gặp Bao Công. Ông ta nói đem lễ vật đến mừng con, sao mẹ làm nhục ông ta làm chi.

    Thái Quận phu nhơn chưa nguôi cơn giận, gay gắt nói:

    - Nó dâng lễ vật như thế là có ý miệt thị con và em con. Khi nào ta lại làm ngơ được.

    Tào Đại Quốc Cựu thở dài đáp:

    - Hẳn mẹ đã rõ em con thường hay làm điều ngang trái, gây chuyện oán cừu. Bao Công mà chưa biết thì mẹ con ta cũng còn phải lo gây cảm tình với ông. Huống chi nay ông ta đã ám chỉ đến em con mà mẹ lại còn làm mất lòng ông ta. Ông tức mình thẳng tay điều tra phanh phui sự thật thì tánh mạng em con ắt chẳng còn.

    Thái Quận phu nhơn cả cười bảo con:

    - Gái ta là Chánh cung Hoàng Hậu, ta há gì sợ gì thằng Bao Công?

    Tào Đại Quốc Cựu giơ tay lên than trời rằng:

    Thôi rồi, mẹ đã đánh giá Bao Công quá thấp đến vua lầm lẫn mà ông ta còn chẳng e ngại, cứ thẳng lời vạch rõ điều hơn lẽ thiệt thì Hoàng Hậu mà che chở cho em trai làm bậy, ông ta há cả sợ sao? Mẹ có biết là Bao Công vừa tìm được xác haicha con Van Chánh mà em con đã ra lệnh giết và ném xuống giếng Quỳnh Hoa trong phủ nó không?

    Thái Quận phụ nhơn giật mình hỏi:

    - Con nói cha con Văn Chánh nào? Mà em con đã bỏ nơi đó từ ba tháng ngoài rồi mà.

    - Mẹ còn nhớ bữa em con ghé qua đây trên đường dọn về Trịnh Châu, Trong đám mỹ nữ đi theo em con, có một thiếu phụ nhan sắc tuyệt trần mà mẹ hỏi chuyện mãi đó không?

    - À, phải người ấy tên là Trương thị không?

    - Chính nó ấy mẹ à. Chồn nó là Văn Chánh, có đứa con ba tuổi, từ phủ Triều châu lặn lội về đây dự thị.

    - Sao con không nói ngay lá anh Tú tài Triều Châu thì mẹ nhớ ngay mà lại hô Văn Chánh, Văn Chánh thì mẹ đâu có biết.

    - Thì Văn Chánh là tên chàng Tú tài triều Châu, chồng trương thị đó.

    Thái Quận phu nhơn bắt đầu lo sợ:

    - Mà có chắc đó là xác hai cha con Văn chánh không đã chớ?

    - Thì lính Bao Công nó vớt được ở dưới đáy giếng trong phủ của em con, ác một người đàn ông và đứa nhỏ thì chẳng phải là bố con Văn Chánh thì còn ai nữa.

    - Liệu Bao Công nó có biết xác chết là ai chưa?

    - Con chắc là chưa. Và hắn phải tìm cho ra. Do đó hắm mới dò đến đây. Con lo lắm mẹ ơi, hắn có tài tra án như thần, con ngại cho con em lắm.

    Thái Quận phu nhơn mất hết nhuệ khí, lo lắng hỏi con:

    - Con có cách nào cứu em con không?

    Tuy Bao Công tìm ra xác cha con Văn Chánh nhưng chắc ông ta chưa biết tông tích nạn nhân. Nay chỉ còn một cách là viết thư báo cho em con biết và bảo nó giết trương thị để khỏi lo hậu hoạ vì theo em con thì trương thị vẫn tìm cách trốn đi.

    - Mẹ thấy nguy hiểm quá. Lỡ ra Bao Công nó cho rình mò rồi chận xét lấy được thư thì chết.

    - Bởi thế mẹ cần viết ngay và cho đem đi gấp. Hiện giờ thì Bao Công chưa dám làm vậy đâu vì chưa rõ thực hư vụ này ra sao. Cho được cẩn thận mẹ cứ dặn em con thủ tiêu luôn cả những tên hầu cận nào biết qúa rõ chuyện làm của em con. Và khi đọc thư xong nó nên huỷ đi. Mẹ nhớ bảo em con chớ vì sắc đẹp của trương thị mà chùn tay. Trương thị bắt được tin trên, thế nào cũng tìm cách đi cáo với Bao Công. Lúc đo khó lường được tai hoạ cho gia đình ta.

    - Thái Quận phu nhơn xanh mặt, lật đật lấy giấy bút viết mật thư rồi sai kẻ tâm phúc phóng ngự đi ngay chiều đo đến Trịnh Châu, giao tận tay Nhị Quốc Cựu. Tên tâm phúc vô tới phòng Nhị Quốc cựu vừa lúc lên đèn.

    Đọc xong thư, Nhị Quốc Cựu ngồi lặng người trên ghế một lát, trán đổ mồ hôi hột. Hắn đọc lại bức thư rồi châm vào ngọn bạch lạp. Sau đó hắn viết ba chữ cho Thái Quận phu nhân rồi kêu tên tâm phúc vô thưởng bạc và sai đem hồi âm về.

    Đoạn hắn kêu nữ tỳ áo xanh vẫn thường lo hầu hạ Trương thị vô lấy bạc ra cho và bảo rằng:

    - Đây là ta thưởng công cho ngươi đã vì ta mà phải khó nhọc trông nom lệnh bà. Nay ta sắp chính thức lấy lệnh bà làm vợ vậy ngươi khá lấy rượu ép nàng uống cho thực say tối nay. Nếu nàng không say, nhà ngươi sẽ bị trừng phạt nặng nề đó.

    Tì nữ được bạc vái chào Nhị Quốc cựu rồi thưa:

    - Xin Hoàng Thân cứ tin nơi tiện thiếp.

    - Vậy ngươi hãy về mời lệnh bà sửa soạn lát nữa ra huê viên dự tiệc.

    Tỳ nữ quay vô, Nhị Quốc Cựu truyền đầu bếp dọn tiệc rượu nơi huê viên trước nhà.

    Lát sau, Trương thị và Nhị Quốc Cựu cùng ngồi vô bàn. Dưới ánh đèn lồng, Trương thị hiện ra rực rỡ trong bộ xiêm y. Nhị Quốc Cựu nhìn nàng say đắm. Hắn tự bảo thầm: “Nó đẹp quá, giết đi thì uổng mà để lại tất sanh hoạ với Bao Công. Thôi cũng đành vậy”.

    Nhị Quốc Cựu nâng ly rượu nhìn tỳ nữ rồi nói với Trương thị:

    - Mời nàng uống với ta đêm nay… cho trọn mối lương duyên… giữa nàng và ta.

    Vì có lời dặn trước của chủ nhân nên tỳ nữ ép Trương thị cạn hết chén này sang chén khác. Khi Trương thị đã chếnh choáng hơi men, Nhị Quốc Cựu ra hiệu cho tỳ nữ dìu nàng về phòng.

    Sau đo,ù hắn trở vô nhà, chờ đến gần canh ba, mọi người đã ngủ say mới xách đoản đao vô phòng trương thị.

    Nhị Quốc Cựu nhẹ nhàng tiến đến bên giường. Tay trái y khẽ vén mùng tay phải giơ cao thanh đoản đao. Nhìn dung nhan kiều diễm của trương thị hắn thở dài, buông mùng xuống, dắt đoản đao vào lưng rồi nhẹ nhàng quay gót trở ra. Hắn ra thẳng huê viên, đi tới đi lui, nét mặt đăm chiêu. Hơi men thấm vào huyết quản làm cho hắn mệt mỏi vô cùng. Hẳn lẩm bẩm:

    - Mình ngu quá, chưa gì đã cho thủ tiêu bốn tên tâm phúc bữa trước. Phải chi còn bọn nó thì nhẹ xác cho mình bao nhiêu. Bây giờ biết đứa nào chịu hạ thủ Trương thị cho ta? Mà biết kêu đứa nào đây?

    Hắn òn đang loay hoay suy tính xảy có một lính hầu là Trương Công xách đèn đi tuần, tiến tới. Anh này được là tiếng đứng đắn vá kín tiếng. Trương Công thấy có bóng người thấp thoáng giữa huê viên liền đánh tiếng hỏi:

    - Ai đó?

    Nhị Quốc Cựu giật mình quay lại nhận ra Trương Công liền nói như reolên:

    - À,ta đây.

    - Sao giờ này Hoàng Thân chưa đi nghỉ còn dạo mát ngoài vườn cây?

    Nhị Quốc Cựu tiến lại gần nói:

    - Ta có chút việc khó xử quá, chỉ có ngươi mới giúp được ta thôi.

    - Xin Hoàng thân cứ dạy, tôisẵn sàng tuân lệnh.

    Nhị Quốc Cựu liền đem việc thủ tiêu Trương thị nói cho trương Công nghe rồi rút đoản đao trao cho thuộc hạ.

    Trương Công nói:

    - Hoàng Thân đã tín nhiện ủy cho tôi thi hành công việc đặc biệt này. Nhưng tôi thiết nghĩ chém chết nó chẳng xong đâu vì nó lại sanh yêu quái quấy phá. Chi bằng nhân lúc nó say rượu, đem trói gô lại liệng xuống giếng là xong. Xin Hoàng Thân cất đoản đao đi.

    Nhị Quốc Cựu khen là diệu kế rồi kéo Trương Công vô nhà mở tủ lấy mười lượng bạc trao cho và bảo:

    - Đây ta thưởng công cho ngươi. Bây giờ ngươi theo ta vô phòng trương thị trói nó lại rồi vác đi ném xuống giếng hoang nào ở quanh vùng cho ta.

    Nói đoạn Nhị Quốc Cựu dẫn Trương Công đi về phía phòng trương thị. Được vài bước hắn chợt nghĩ ra điều chi liền bảo anh lính hầu đứng chờ nơi hành lang rồi hắn tất tả đi kêu tỳ nữ và ra lệnh cho họ lột hết xiêm y trên người trương thị và mặc thế vào đó quần áo thường dân của nàng lúc trước.

    Xong xuôi Nhị Quốc Cựu đuổi hết tỳ nữ ra ngoài rồi kêu trương Công vô trói gô Trương thị lại.

    Lúc Trương Công vác Trương thị ra tới vườn sau thì trống cầm canh đã điểm ba tiếng.

    Trương Công đi lần trong đêm tối tới cổng hậu sau vườn thì đặt trương thị xuống đất rồi cởi trói cho nàng .Đoạn anh ta ngồi xuống bên cạnh chờ người đẹp tỉnh lại.

    Năm nay trời trở rét sớm. Mặt đất lạnh băng. Gió bấc rít từng cơn.

    Lối mười lăm phút sau, Trương thị đã ú ớ rồi choàng dậy. Thấy mình ngồi trên bại đất giữa đêm khuya lạnh lẽo, bên một bóng đen, nàng hoảng hồn toan la lên thì trương Công đã ôn tồn nói:

    - Xin nàng hãy bình tâm. Tôi là trương Công, lính hầu của Nhị Quốc Cựu nay thấy chủ vô cớ muốn sát hại nàng nên tôi vờ nhận để có dịp cứu nàng. Vậy nàng hãy theo toi6 ra cửa hậu mà đi.

    Trương thị đặng oà lên khóc và thuật lại bước trầm luân khổ ái của mình cho Trương Công nghe.

    Trương Công thở dài:

    - Tôi được giới thiệu về làm với Quốc Cựu mới hai tháng nay thành ra không hay biết chi về dĩ vãng của Quốc cựu. Phải nàng nói bị sa vào bẫy Quốc Cựu cùng với chồng và đức con ba tuổi không?

    - Phải, nhưng chẳng biết chồng và con tôi sóng chết ra sao? Bác có nghe đặng tin gì không?

    Trương Công buồn rầu đáp:

    - Nàng hãy bình tĩnh và can đảm lên. Chiều nay toi6 có người bà con ở vùng Thạch Kiều ghé qua nhàcho biết là Bao đại nhơn mới tìm thấy dưới giếng Quỳnh Hoa sau vường Tào phủ xác một người đàn ông và một đứa nhỏ. Không biết có phải đó là chồng nàng không.

    Trương thị khóc nức nở:

    - Đích thị rồi, bác ơi.

    Trương Công an ủi:

    - Đêm khuya vắng vẻ nàng đừng khóc lóc kẻo có người nghe thấy thì nàng và tôi cùng mất mạng. Nếu thực tâm nàng muốn báo cừu thì kiếm cách gặp đặng Bao đại nhơn mà cáo. Đừng khóc than, chẳng có ích gì.

    Trương thị mếu máo:

    - Biết phủ Bao Công ở đâu mà tìm và tiền đâu mà đi tới đó cho đặng?

    - Nàng hãy cầm lấy mười lạc bạc của Quốc Cựu thưởng tôi làm tiền ăn đường. Còn Bao đại nhơn hiện đã về phủ Khai Phong ở gần Đông Kinh đó. Như nàng nói co trọ ở tiệm Huỳnh bà thì hay lắm. Vì từ tiệm ngủ đó tới phủ Khai phong cũng gần. Nàng phải cẩn thận chớ tiết lộ cho ai kẻo lọt vào tai tay chân Quốc Cựu thì khó toàn mạng đó.

    - Thế còn bác ở lại đây, bọn họ biết tôi còn sống thì cũng nguy hiểm.

    - Nàng đừng lo. Tôi cũng sẽ bỏ đi nơi khác. Cứ xem tánh tình Quốc Cựu thì dù tôi có giết nàng ông ta cũng sẽ tìm cách loại trừ tôi sau này. Đi trước là hơn.

    Nói đoạn, Trương Công móc túi lấy bạc trao cho Trương thị.

    Trương thị trả lại một nửa và nói:

    - Tôi xin bác năm lượng là quá đủ rồi.

    Trương Công gạt đi:

    - Nàng cứ cầm cả thì hơn. Tôi không cần dùng đến. Vả lại nàng cũng nên phòng trường hợp Bao đại nhơn vắng nhà phải ăn chực nằm chờ ở đó. Mà nhớ phải cáo với chính Bao đại nhơn đừng có lộn mà mang hoạ. Nàng đừng quên cải trang cho không ai để ý… kẻo rồi thoát được tay Nhị Quốc Cựu lại rơi vào tay bọn khác…

    Trương thị quỳ lạy tạ Trương Công:

    - Đa tạ những lời vàng ngọc của bác. Xin bác sẽ cho biết sẽ về đâu để sau này tôi được đền ân bác đã giúp tôi báo thù nhà.

    - Không có chi mà ân với huệ. Thôi bây giờ gần sáng rồi, nàng hãy đi cho được việc

    Vừa nói, Trương Công vừa đứng dậy mở cửa hậu cho Trương thị ra rồi lại đóng lại và trở về trình Quốc cựu là mình đã … hoàn thành sứ mạng giết trương thị.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này