Chào mừng bạn đến diễn đàn Đọc truyện online. Hãy đăng ký để tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Thảo luận trong 'Truyện trinh thám' bắt đầu bởi s2.GàCon.s2, 16 Tháng ba 2013.

loading...
  1. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 15

    Hồi 15 : CÂY DÙ CHIA ĐÔI

    Lữ Tấn Hiền vốn là người làm ăn lương thiện, một bữa đi chơi thăm bạn lúc trở về gặp trận mưa rào, sẵn có cây dù mang theo liền gương lên mà che.

    Phố phủ Khai Phong vắng tanh, mọi người đều chạy vô nhà đụt mưa, chỉ còn một mình Hiền cắm cúi rảo bước về nhà.

    Khi Hiền đi ngang qua một ngôi chùa xảy có tên du côn Kỳ Nhứt Sở đang đụt mưa ở cổng tam quan chạy ra níu lại năn nỉ:

    - Anh làm phước cho tôi đi nhờ với.

    Hiền đáp:

    - Không được đâu. Cây dù này nhỏ hai người đi chung thét rồi đều ướt cả. Dù của anh đâu sao không lấy mà xài?

    Sở lại van nài:

    - Tôi lỡ cho người bạn mượn, nay họ chưa trả. Thôi anh làm phước cho tôi đi nhờ, nhà có việc gấp quá.

    Hiền nghe sở nói năng lễ phép,bùi tai cho đi chung dù về. Được vài bước Sở bảo Hiền:

    - Anh để tôi cầm dù cho.

    - Thôi để mặc tôi.

    - Aáy chết, anh đã cho đi nhờ, anh cho phép tôi cầm đỡ choanh mới phải phép chớ.

    Nói đoạn. Sở giằng lấy cán dù cầm chặt lấy. Hiền nghĩ cũng chẳng mất mát gì vả lại đi tay không càng dễ chịu nên để mặc Sở che dù cho cả hai.

    Hai người lặng lẽ đi bên nhau một thôi đường dài. Đến ngã ba, Tấn Hiền bảo Kỳ Nhứt Sở:

    - Bây giờ tôi quẹo tay trái đây, còn anh.

    - Tôi đi thẳng.

    - Vậy anh trả cây dù cho tôi vè. Trời đã ngớt mưa anh chịu khó ẩn vào mái hiên bên hè phố lát nữa thì đi được.

    Sở nhe răng cười và giở giọng côn đồ:

    - Thôi cho tớ mượn mai trả nhé.

    Hiền rụng rời:

    - Ơ hay, tôi biết anh đâu mà đòi, anh biết ở đâu mà trả. Thôi đừng giỡn nữa, mau trả dù cho tôi về kẻo muộn.

    Sở không thèm đáp, cầm dù đi thẳng. Tấn Hiền chạy theo đòi, Sở la lớn:

    - Dù tao, mầy định giật sao?

    Tấn Hiền ngạc nhiên nói:

    - Ăn nói chi kỳ cục vậy? Tôi cho anh đi chung dù của tôi nay anh muốn nói ngược sao?

    Nói rồi Hiền xông lên giật lấy chiếc dù. Sở nắm dù tay mặt tiện tay trái đấm luôn vào ngực Tấn Hiền nghe “bịch” một cái. Tấn Hiền nổi giận cũng thoi lại Sở một thụi. Tên du côn liền gập dù lại kẹp vào nách rồi quay lại đánh Tấn Hiền, Hiền vội vàng nghênh chiến.

    Hai bên quần thảo với nhau một hồi bất phân thắng bại. Sở thấy đã cướp được cây dù nên cũng không ham đấu nên vừa trả đòn Tấn Hiền lại vừa bước tới.

    Ai trông thấy cũng phải tức cười cái cảnh hai người giằng co nhau, kẻ cứ xăm xăm bước đi, người cứ toan kéo lại chán rồi lại đâu mặt choảng nhau dữ dội đến xổ cả khăn, rách cả áo, ướt như chuột lột cả hai.

    Tự xét mình khó thắng Kỳ Nhứt Sở, Tấn Hiền ngó thấy phủ Bao Công gần đó liền ôm cứng lấy tên lưu manh xô nó đi về phía đó, miệng la bai bải:

    - Vô quan, vô quan xem mày cướp giật được không.

    Sở vung tay thoát được rồi hai người đập nhau một trận tơi bời, đấm nhau bình bịch, đá nhau bôm bốp ngay trước cửa phủ Bao Công làm văng cả bùn vào mũi chú lính gác.

    Lính trong phủ hô nhau đổ ra lượm cả hai dẫn vào trình Bao Công.

    Bao Công cả giận võ án la:

    - Bộ các người hết chỗ làm võ đài sao mà dám đem nhau đến trước cửa phủ ta mà loạn đả như vậy?

    Tấn thưa:

    - Dạ tôi đâu dám, ngặt vì tên này (trỏ Kỳ Nhứt Sở) đoạt cây dù của tôi, tôi phải đánh lại. Tôi muốn lôi hắn đến cửa quan, hắn chẳng chịu. Xin quan minh xét cho.

    Ký Nhứt Sở cũng gãi đầu bẩm:

    - Thưa Thượng quan, cây dù này của tôi, tôi thấy trời mưa thương hại tên này (trỏ Tấn Hiền) cho đi nhờ, chẳng ngở hắn dụng tâm muốn cướp dù của tôi. Hắn chẳng chịu vào quan, giằng co với tôi nên mới sanh chuyện. Xin đèn trời xoi xét cho.

    Bao Công nói:

    - Thế các người giành cây dù lại đây ta coi.

    Một người lính đến bên tên Sở lấy cây dù đem trình Bao Công. Ông chăm chú nhìn cán dù để ông xét trong ngoài. Lát sau ông hỏi Tấn Hiền:

    - Dù của ngươi có dấu tích chi?

    - Dạ thưa vật mọn nên tôi không có ghi dấu.

    Bao Công hỏi Kỳ Nhứt Sở:

    - Thế còn nhà ngươi? Dù có dấu vết chi?

    - Dạ dạ… cũng không làm dấu.

    Bao Công hỏi cả hai:

    - Chớ các ngươi có nại được ai làm chứng là dù này của mình không?

    Hiền trỏ Sở và đáp:

    - Nó ở chùa chạy ra năn nỉ tôi cho đi nhờ. Lúc đó mưa lớn, không ai trông thấy.

    Sở cãi liền:

    - Chính nó đi nhờ dù của tôi. Có hai người trông thấy nhưng tôi không biết tên họ.

    Bao Công nhìn hai người rồi lại nhìn cây dù đoạn ông nẩy ra một kế liền gọi lính hầu đến bên khẽ bảo ra dặn thám tử cứ làm như thế… như thế.

    Lính lui ra rồi. Bao Công mới hỏi Hiền Sở:

    - Cây dù này đáng giá bao nhiêu?

    Tấn Hiền mau miệng đáp:

    - Tôi mua năm phân bạc.

    Bao Công nổi giận quát:

    - Việc nhỏ mọn sao dám đem nhau đến gấu ó trước Nha môn? Các ngươi phải biết rằng Triều đình đặt ra quan chức đâu có phải để xử việc nhỏ nhxu73chu1t đỉnh như vầy.

    Nói đoạn Bao Công truyền lính bẻ cây dù làm hai, chia cho mỗi người một khúc rồi sai lính đuổi cả ra.

    Hiền đi trước mặt hầm hầm tức giận, tên côn đồ đi sau miệng toét ra cười. Họ vừa ra khỏi cổng Nha, một thám tử của Bao Công giả dạng làm thường dân vừa đi tới và theo bén gót hai người.

    Hiền và Sở vô tình không để ý đến.

    Quá khỏi Nha lối trăm bước, Tấn Hiền liếc thấy Sở đi kế bên bèn múa nửa khúc dù ra chiều khoái trá lắm. Tấn Hiền lên ruột cả chùm, buột miệng nói đổng rằng:

    - Quan gì bá láp, xử không công bình!

    Sở thấy Hiền nổi xung, cười ha hả giơ cao nửa cây dù bô bô nói:

    - Dù của nó mình giựt ngang qan xử ta cũng được nửa khúc chơi. Vui quá xá.

    Thám tử nghe vậy liền về cấp báo với Bao Công. Bao Công cả cười nói: “Trúng kế ta rồi” và ông lập tức sai lính phóng ngựa đuổi theo bắt cả hai trở lại.

    Lính dẫn Hiền và Sở vô công đường. Bao Công cho gọi thám tử vừa rồi vào và hỏi:

    - Trong hai người này, thằng nào mắng lén ta?

    Thám tử tỏ Tấn Hiền. Bao Công điểm mặt Hiền quát lớn:

    - Sao ngươi dám sỉ nhục ta. Lính đâu vật nó ra đánh mấy hèo về tội nhục mạ quan trên.

    Tấn Hiền bị đòn lakhóc thưa rằng:

    - Tôi đâu dám mắng nhiếc quan, chỉ trách quan xử không công bình.

    Tên côn đồ họ Kỳ tưởng hở tìm cách châm thêm dầu vào lửa:

    - Thưa Thượng quan, tôi có nghe nói quan là đồ bá láp bây giờ lại chối biến y như nó đã giật dù của tôi lại còn cãi …

    Tên Sở chưa dứt lời, Bao Công đã vỗ án chỉ mặt hắn mà hét rằng:

    - Chính mi mới là kẻ đoạt dù, tại ta xét xử không minh để oan cho Tấn Hiền nên nó ức lòng mới dám nói lén ta.

    Sở vẫn cố cãi:

    - Lòng nó tham quá độ, thấy quan xử chia hai cây dù, nó muốn lấy cả nên mới oán trách.

    Bao Công giận tím cả mặt:

    - Hay cho tên này đã gian giảo lại còn muốn vu tội cho người ngay. Nếu takhông lập kế bẻ đôi dù rồi cho người theo dõi thì làm sao biết rõ oan ưng?

    Nói rồi ông bảo thám tử nhắc lại lời nói của tên du côn lúc trước. Kỳ Nhứt Sở cứng họng hết đường chối cãi.

    Bao Công sai lính vật cổ Sở ra đánh đủ 40 côn thiệt đau rồi đuổi về.

    Còn Tấn Hiền được Bao Công cấp cho một chỉ bạc gọi là để bồi thường thiệt hại về cây dù bị bẻ đôi.
  2. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 16

    Hồi 16 : THÂN GÁI DẶM TRƯỜNG

    Quỳnh Hương con gái điền chủ họ Trần là người nết na, thuần hậu, lại thiệt thà như đếm.

    Làng Bửu Thạnh có phú ông họ Quỳnh, chẳng biết tên chi, thiên hạ thường kêu là Huỳnh Trưởng Gia.

    Huỳnh ông nhà giàu lắm, ruộng thẳng cánh cò bay, trâu cày hàng trăm cặp, thóc lúa chất đầy ắp mấy chục vựa, gia nhân, người làm cùng tá điền dễ thường dư một đại đội.

    Vợ chồng Huỳnh ông năm ny hơn 50 tuổi và chỉ có một con trai độc nhứt là Huỳnh Thiện, cũng đã tới tuổi trưởng thành. Tuy nhà giàu nhưng Huỳnh Thiện không tính chuyện ăn chơi rông dài, trái lại chàng ra sức làm việc. Sáng nào cũng vậy, mùa đông cũng như mùa hè, hễ gà vừa gáy sáng lần đầu là anh ta đã vùng dậy đánh thức mẹ cha rồi cả ba đốc thúc người nhà ra đồng làm việc.Trời tờ mờ sáng cha con đã ra ruộng trông coi việc cày cấy, gặt hái, còn Huỳnh bà ở lại lo việc trong nhà.

    Một bữa Huỳnh ông bảo con:

    - Ta và mẹ con ngày càng trọng tuổi, sức khoẻ ngày một hao mòn. Con cũng nên nghĩ đến việc lấy vợ lo nối dõi tông đường và gìn giữ sản nghiệp. Ta xem trong vùng chỉ có con gái điền chủ họ Trần tên là Quỳnh Nương, đông anh em, đã thiệt thà, nết na, thuần hậu lại biết chịu kho làm ăn. Nay con lấy nó chắc được lắm à.

    Huỳnh Thiện ưng thuận. Thế là đam cưới Huỳnh Thiện lấy Trần Quỳnh Nương được cử hành ngay năm ấy.

    Quả đúng như Huỳnh ông nói, Quỳnh Nương về nhà chồng hết lòng bồi đắp giang sang nhà chồng ngày thêm bề thế.

    Mặt trời chưa mọc, nàng đã dậy cùng chồng lo toan mọi việc. Tối lại, mọi người đi ngủ đã lâu, nàng còn thức kiểm điểm tiền bạc sổ sách với cha con họ Huỳnh. Huỳnh ông đắc ý lắm thường bảo vợ: Nhờ ông bà run rủi và mình cũng có mắt tinh đời mới kén chọn được đứa dâu có tài quán xuyến như vậy.

    Trái với các bà mẹ chồng khác, Huỳnh bà cũng quý mến Quỳnh Nương rất mực vì từ ngày thêm nàng, bà được rảnh rang, có thút thì giờ đi trẩy hội đền nọ chùa kia cùng với họ hàng, bè bạn.

    Từ ngày con về nhà chồng, họ Trần cũng có ghé qua thăm đôi lần chi đó, chẳng phải vì ông không thương con, mà là sức khoẻ ông có phần hơi kém. Thấy sui gia khen ngợi và quý mến Quỳnh Nương, ông rất đẹp lòng.

    Quỳnh Nương về làm dâu họ Huỳnh thấm thoát đã gần một năm, tính đến vụ mùa năm tháng 8 năm ấy.

    Lúa bắt đầu chín đỏ ối cả đồng. Quỳnh Nương lại càng bận việc hơn lúc nào hết.

    Một sáng nàng đang mải trông đám thợ gặt bỗng giật mình thấy một thanh niên cắm cổ chạy miết về phía nàng.

    Đấy là Trần Tấn An cháu họ của Quỳnh Nương nhưng nhà nghèo nên phải đi làm mướn cho cha nàng.

    Tấn An vừa thở vừa nói với Quỳnh Nương:

    - Ông đau nặng, biểu cháu qua mời cô về gấp.

    Quỳnh Nương lật đật đi kiếm chồng ở đám ruộng dưới. Lúc nàng tới, Huỳnh Thiện đang đếm lúa để lên xe đem về. Quỳnh Nương nói với chồng:

    Bên nhà vừa cho Tấn An qua kêu thiếp, cha đau nặng,chàng cho thiếp đi coi sao, chừng vài bữa lại về.

    Huỳnh Thiện không muốn cho vợ đi nên tìm cớ thoái thác:

    - Nay đang mùa lúa chín, công việc gặt hái đang bộn bề, nếu nàng về ngay bên ngoại thì lấy ai trông nom thợ gặt. Thôi nàng nán chờ ít bữa xong việc hãy đi.

    Quỳnh Nương đứng lặng người, nước mắt chảy quanh, nghẹn nghào chẳng biết nói sao. Thiệt nàng không nàng không ngờ chồng lại nhẫn tâm như thế. Phải chi nàng về nhà chồng đã lâu năm thì còn có thể lo ngại công việc đình trệ hay sơ sót vì không người thay thế. Nhưng nàng mới lấy chồng chưa được một năm, nay có về thăm cha thì bố mẹ chồng ráng vất vả đôi ba bữa như năm rồi đã sao?

    Về phần Tấn An, anh này nghe Huỳnh Thiện nói vậy cũng ngạc nhiên vô cùng. Y lẩm bẩm:

    - Rể đâu có rể lạ đời. Nghe bố vợ đau nặng đã chẳng được một lời thăm hỏi, lại nhẫn tâm giữ vợ lại. Ừ cho hắn bận công việc không về được cũng phải để vợ về gấp mới là kẻ biết ăn ở phải đạo làm người. Cho hay đời có người trọng nghĩa khinh tài mà coi rẻ điều nhân nghĩa.

    Nghĩ vậy anh ta cũng buồn rầu đi theo Quỳnh Nương về nhà họ Huỳnh.

    Quỳnh Nương biểu Tấn An xuống nhà dưới nghỉ chờ nàng tính lại xem sao rồi mai hãy trở về. Dặn rồi nàng đi kiếm mẹ chồng bày tỏ nỗi lòng và xin về gặp mặt cha.

    Huỳnh bà sốt sắng hỏi han về bệnh trạng của sui gia rồi bà thở dài nói:

    - Tội nghiệp cho ông bên nhà quá há, cứ nay đau mai yếu hoài. Lẽ ra mẹ phải đi với con cùng về thăm ổng, song con cũng biết là nhà ta đang bận vụ mùa. Con hiểu cho mẹ. Thôi để mẹ ráng nói với cha con nhà Thiện cho con về ngay nghe. Con cũng đừng buồn phiền chi về thằng Thiện nhé. Mẹ biết nó muốn giữ con lại để gặt hái xong thì nó cùng về thăm ổng bên nhà.

    Quỳnh Nương cảm động sụt sùi khóc mà rằng:

    - Thưa má, con đâu dám oán hờng chồng con. Con chỉ xin ba má và ảnh cho con về đặng gặp mặt cha con sớm ngày nào hay ngày ấy kẻo lỡ về muộn con làm sao gặp mặt lại được cha con một khi âm dương cách biệt.

    Huỳnh bà trạnh lòng cũng sa giọt lệ. Bà hồi tưởng lại suốt một đời làm vợ, bà cũng đã một lần lâm vào cảnh ngộ tương tự như dâu bà ngày nay. Lần đó mẹ bà đau nặng cho người qua kêu, Huỳnh ông cũng chần chừ để bà về chậm mất ba ngày. Khi bà vừa vào đến cổng thì anh bà đã từ trong nhà đi ra ngậm ngùi bảo:

    - Cô đã về đấy à. Mẹ mới đi lúc sớm hôm nay. Mẹ có ý chờ cô. Cả nhà cũng mong cô đỏ cả mắt…

    Nghĩ đến đây Huỳnh bà thở dài, gượng cười bảo con dâu:

    - Thôi con khá an tâm, để mẹ ráng giúp cho.

    Đến xế chiều, Huỳnh bà kiếm Quỳnh Nương và cho nàng hay lời xin của nàng không được chấp thuận mặc dầu Huỳnh ba hết sức cầu xin .

    Quỳnh Nương buồn rầu vô hạn, đứng ngồi chẳng yên.

    Nhìn qua cửa sổ, thấy nắng chiều thoi thóp trên ngọn tre xanh, nàng bất giác thở dài, ứa lệ nghĩ đến cha già, yếu đuối có lẽ giờ này đang hấp hối trên giường bịnh.

    Nàng nhất quyết sớm mai trốn chồng về thăm cha. Rồi nàng đứng dậy âm thầm sửa soạn quần áo và tư trang.

    Sáng hôm sau, mới cuối canh tư (khoảng bốn giờ sáng) Quỳnh Nương đã trở dậy, Huỳnh Thiện chồng nàng ngỡ rằng vợ dậy lo việc đồng áng nên chẳng hỏi han chi cả.

    Qua canh năm Huỳnh Thiện dẫn gia nhân ra đồng trông thợ gặt nốt lúc. Một lát sau. Quỳnh Nương cũng thay xong quần áo đẹp, lại đeo bông, tay mang xuyến, cổ quấn mấy lần chuỗi hạt. Đồ nữ trang của nàng thuần là vàng y đỏ ối. Có lẽ trong lúc này đầu óc nàng chỉ nghĩ đến người cha yêu dấu nên nàng quên hẳn lời dặn của người xưa phải thận trọng chớ phô bày sự giàu sang khi phải rong ruổi trên đường trường.

    Sửa soạn xong xuôi Quỳnh Nương xuống nhà dưới kêu Trần Tấn An. Người cháu họ choàng dậy sửa soạn quần áo rồi cả hai lén mở cửa sau ra khỏi trang trại họ Huỳnh để về quê cũ.

    Đi được một thôi đường, Tấn An hốt hoảng bảo Quỳnh Nương:

    - Cô ơi, cháu để quên cái áo lót trong có tiền ở đằng nhà. Làm sao bây giờ cô?

    Quỳnh Nương đứng sững lại cau mày nói:

    - Mầy lơ đãng đến thế thì thôi. Tiền nhiều không? Thôi bỏ đi cho được việc đã.

    Tấn An năn nỉ:

    - Oái cô ơi, không được đâu, mất hết vốn liếng của cháu còn chi. Hay cháu bàn với cô thế này nhé. Nay trời cũng gần sáng rồi, cô cứ đi thủng thẳng một mình, cháu chạy lộn lại lấy tiền và áo xong, cháu lại chạy gấp bắt kịp cô. Từ đây về nhà Huỳnh ông cũng không bao xa. Cũng tại cô hô cháu đi gấp, cháu còn ngái ngủ nên lật đật mới sanh ra cớ sự này. Thôi cô ừ đi.

    Quỳnh Nương nóng lòng về thăm cha, nên đáp:

    - Ừ, thôi mầy ráng chạy cho lẹ nghe, tao đi chầm chậm chờ mầy đó.

    Không đợi Quỳnh Nương dứt lời, Tấn An đã phóng chân chạy trở lại miệng la lớn “Cô cứ yên trí, cháu quay lại ngay” .

    Quỳnh Nương một mình cắm cúi đi trên đường về quê cha. Lúc trời mờ mờ sáng thì nàng tới bìa một cánh rừng, quãng đường nơi đây thiệt là âm u, lạnh lẽo.

    Quỳnh Nương vẫn xăm xăm bước tới. Lòng thương cha làm nàng quên hết mọi nguy hiểm của cảnh thân gái dặm trường.

    Nàng băng qua rừng được non trăm bước bỗng nghe có tiếng đôi ba người đàn ông từ phía sau vọng lên.

    Quỳnh Nương ngoái cổ lại nhìn. Từ cửa rừng lờ mờ sáng nàng thấy ba bóng đàn ông cao lớn đang tiến lên phía nàng. Quỳnh Nương nửa mừng nửa lo. Mừng vì có thể xin họ cho đi cùng thì khỏi còn lo sợ chi nữa. Lo vì không biết bụng dạ bọn người đi tới ra sao. Được người đứng đắn thì đỡ lo, lỡ gặp bọn lưu manh thì khốn. Nên đánh tiếng nhờ họ giúp hay trốn vào gốc cây bên lộ chờ họ đi qua?

    Nàng phân vân chưa biết tính sao thì ba gã đàn ông đã đi gần tới. Bỗng một tên cất tiếng la:

    - Châm đuốc mau anh em, đàng trước như thấp thoáng bóng có bóng người.

    Phút sau, đuốc cháy sáng bừng một góc rừng. Cả ba trố mắt nhìn Quỳnh Nương đang bước thấp bước cao đi trên đường đất.

    Tên cầm đuốc đi giữa bảo nhỏ tên đi bên mặt:

    - Trông kìa bác trương, đờn bà ăn vận sang trọng thế kia lại dám một mình đi trong bóng đêm. Người hay ma đó bác?

    Tên đi bên mặt gật đầu đáp:

    - Ừ, lớn gan thiệt. Hay là hồ ly tinh hiện lên rỡn anh em mình như trong chuyện Liêu Trai đó? Ta nên rảo bước bắt kịp nó coi mặt mũi ra sao.

    Tên đi bên trái phụ hoạ:

    - Phải đấy.

    Thế là cả ba đứa huỳnh huỵch chạy lên.

    Quỳnh Nương dòm lại thấy ba đứa mặt mũi hung tợn vai vác đòn cân, tay khoác từng cuộn dây thừng, hông giắt dao to bản mũi nhọn, thứ dao đặc biệt của bọn cạo heo thuê, nàng thất kinh toan tháo bông tai, xuyến vàng cùng chuỗi hột giấu đi thời ba gã đàn ông đã đến bao quanh nàng.

    Sáu con mắt dữ tợn nhìn chằm chằm Quỳnh Nương từ đầu đến chân.

    Gã đàn ông được tên cầm đuốc kêu là “bác Trương” lúc này, bỗng ra hiệu cho hai tên kia vượt qua Quỳnh Nương rồi gã rảo bước lên theo.

    Quỳnh Nương sợ quá tay chân cứng đờ, đứng ngây như tượng đá giữa đường, mắt nhìn chằm chằm ba đứa đang đứng thì thào bàn tán, cách nàng lối dăm sáu bước.

    Tên Trương kẽ bảo hai tên kia:

    - Ba anh em ta đi cạo heo vất vả mà chẳng được bao nhiêu. Nay cứ mượn đỡ số vàng nó đeo trên người cũng đủ tiêu xài một thời gian. Hai chú có đồng ý không?

    Hai tên kia gật đầu tán thành. Tên Trương liền phân công ngay:

    - Bây giờ đã sắp sáng tỏ mặt người rồi, ta phải hành động mau lẹ vả lại cứ cái kiểu nó dòm lui về phía sau hoài chắc nó có người nhà theo sau sắp tới cũng nên. Vậy một chú giơ đuốc soi cho Trương mỗ này giựt đồ còn một chú cầm đỡ đòn càn và dây thừng này cho ta. Nào xáp vô đi các bồ.

    Thế là ba tên cạo heo quay lại bao vây Quỳnh Nương. Tên cạo heo họ Trương chẳng nói chẳng rằng giơ bàn tay hộ pháp giựt đôi bông tai và chuỗi hạt vàng của Quỳnh Nương. Quỳnh Nương chống cự mãnh liệt, tay đấm chân đạp tên bất lương, miệng nàng la inh ỏi.

    Hai tên kia vội dập tắt đuốc, vứt cả đồ nghề xông vào bịt miệng Quỳnh Nương và đè nàng ra đất mà lột hết tư trang.

    Tới đôi xuyến vàng, tên Trương mới giật được chiếc bên mặt còn chiếc bên trái nó loay hoay mãi chẳng lấy xong, phần vì trời còn tối nó không nhìn ra chỗ tháo phần vì Quỳnh Nương vẫn vùng vẫy, kháng cự kịch liệt. Chừng sợ e kéo dài có người đi tới, tên Trương mới rút dao cạo heo chém nhát tay trái nạn nhân.

    Quỳnh Nương thét lên một tiếng rồi bất tỉnh. Tên Trương tháo được nốt chiếc vòng nơi tay trái bèn hô hai tên kia lượm đò nghề rồi chuồn êm.

    Lát sau trời sáng tỏ thì cháu họ của Quỳnh Nương là Tấn An cũng vừa đi tới.Thấy cô nằm sóng soài dưới đất máu me đầy người Tấn An chạy về cấp báo cho nhà chồng Quỳnh Nương.

    Huỳnh Thiện vội hô gia nhân mang võng đi khiêng vợ về chạy chữa thuốc men.

    Nhờ sẵn có lương y và có lẽ nàng cũng chưa đến ngày tận số, nên sau khi được chở về nhà một lát. Quỳnh Nương dần dần hồi tỉnh.

    Huỳnh Thiện liền viết đơn đệ lên Bao Công xin tra xét.

    Bao Công đọc xong đơn của Huỳnh Thiện, liền truyền lính kêu Tấn An tới để ông xét hỏi.

    Bao Công hỏi Tấn An:

    - Ngươi là cháu nạn nhân phải không?

    - Dạ phải.

    - Biết ba người lạ mặt đó không?

    - Dạ không biết song lúc tôi chạy trở về nhà Huỳnh ông có thấy ba người đàn ông đi từ đường nhỏ lên lộ. Lúc trời còn tối trông không rõ mặt, xem hình dạng giống như người lái heo.

    Bao Công suy nghĩ một lát rồi hỏi tiếp:

    - Quỳnh Nương đã tỉnh chưa?

    - Dạ mới tỉnh.

    - Có nói gì không?

    - Cô tôi còn mệt, chắc chưa nói chuyện được. Vả lại cô tôi vừa hồi tỉnh thì Thượng quan cho đòi lên hầu nên tôi không được rõ.

    Bao Công gật đầu nói:

    - Thôi được, ngươi hãy ra ngoài chờ lệnh ta.

    Tấn An ra khỏi, Bao Công kêu mọt thám tử vô và dặn rằng:

    - Ngươi hãy dẫn Tấn An đi theo biểu y chỉ rõ nơi y đã gặp ba tên lái heo. Sau đó ngươi đi theo Tấn An về nhà họ Huỳnh vô gặp Quỳnh Nương lấy lời khai của nạn nhân, nhớ phải hỏi cho rõ về hình dạng bọn cướp. Không cần đưa Tấn An trở lại Nha nữa. Xong việc, ngươi phải dò la coi thử làng Bưu Thạnh có ai làm nghề cạo heo, láo heo không.

    Việc thứ ba : trên đường về, ngươi hãy lần theo đường ruộng mà Tấn An gặp ba gã đàn ông để coi thử xem đường ấy đưa tới xóm làng nào, rồi về trình gấp.

    Thám tử vâng lệnh cùng Tấn An lên đường ngay tức thì.

    Bao Công cho chồng Quỳnh Nương là Huỳnh Thiện lúc này còn chờ ở ngoài vô và dạy rằng:

    - Ngươi hãy về nhà lén lấy một cái áo ngắn đàn ông rồi chấm máu trước ngực và gói kín lại, mang ngay lên cho ta.

    Lát sau Huỳnh Thiện trở lại đem trình Bao Công chiếc áo ngắn vấy máu.

    Bao Công cất kín một nơi rồi cho Huỳnh Thiện về nhà.

    Gần trưa, viên thám tử trở về Nha phúc trình kết quả cuộc điều tra. Anh ta nói:

    - Tôi đến nhà họ Huỳnh có gặp Quỳnh Nương. Nạn nhân đã hồi tỉnh, nhưng còn mệt lắm. Nàng có cho biết bị ba tên cạo heo chẹn đường lột sạch nữ trang.

    Bao Công ngắt lời thám tử:

    - Liệu nạn nhân có nhận diện được bọn nó không?

    Dạ tôi có hỏi thì được biết nạn nhân có nom rõ mặt ba tên vì chúng đốt đuốc. Một tên cao lớn có râu, mắt xếch, tên thứ hai gầy ốm, tên thứ ba mập lùn.

    - Xóm của họ Huỳnh có ai làm nghề đó không?

    - Xóm họ Huỳnh là xóm Đông không có ai làm nghề lái heo cả.

    - Nhà ngươi có tìm ra xóm làng ở gần chỗ Tấn An gặp bọn họ không?

    - Dạ thưa có. Từ chỗ lộ đi qua đường ruộng lối hai dặm đường có một làng kêu là xóm Đoài dân cư đông đúc.

    Bao Công gật gù đáp:

    - Ta chắc bọn cướp ở đó mà ra chớ không phải đâu xa. Thôi được, cho ngươi lui ra.

    Thám tử quay gót sắp đi ra thì Bao Công đã gọi giật lại:

    - Aáy khoan, chút xíu ta quên mất. Ngươi đi kiếm một người phu mạnh khẻo dẫn về đây. Cứ nói là ta thuê công một buổi, còn việc làm sẽ cho biết sau. Thôi đi cho lẹ lên nhưng nhớ phải làm cho kín đáo đó nghe.

    Thơ lại và lính hầu đều thì thầm bàn tán với nhau không hiểu Bao Công lập mẹo gì để tra ra thủ phạm.

    Một thơ lại hỏi viên cai lệ già:

    - Bác theo hầu quan đã lâu có thấy vụ nào tương tự như vụ Quỳnh Nương không? Chớ theo tôi vụ án này khó lắm. Không biết quan làm thế nào để tìm ra thủ phạm.

    - Kể ra các vụ cướp của chém người cũng chẳng hiếm gì nhưng tình tiết mỗi vụ khác nhau. Làm sao mà biết quan sẽ dùng cách nào. À thám tử đã trở về kia. Thôi tụi mình ráng chờ chút coi.

    Thám tử để dân phu đứng ngoài rồi vô trình Bao Công. Bao Công vẫy thám tử lại gần trao gói áo vấy máu mà chồng Quỳnh Nương vừa nạp và dặn nhỏ thám tử hồi lâu. Xong xuôi Bao Công hỏi:

    - Ngươi đã hiểu rõ chưa?

    - Dạ hiểu rõ.

    - Vậy thì tốt lắm. Cứ y kế mà thi hành. Thôi ngươi đi gấp kẻo chậm rồi.

    Thám tử lui ra lấy một người lính tên là Huỳnh Thắng đi cùng và ngoắc người dân phu đi theo.

    Tới chỗ vắng, thám tử biểu hai người đến ngồi bên gốc cây và nói:

    - Sớm mai này dâu họ Huỳnh là Quỳnh Nương bị ba tên cướp đoạt nữ trang và chém gần lìa tay trái ở rừng Chi Lâm. Theo lời khai của nạn nhân và cháu là Tấn An thì đó là ba tên cạo heo. Bao đại nhơn cho rằng thủ phạm ở trong bọn cạo heo ở xóm Đoài, bởi vậy, ngài mới biểu mướn anh này (trỏ dân phu) đóng vai người cạo heo để tra ra trước giờ Ngo nhữn tay cạo heo nào ỡ xóm Đoài đã ra đi sớm nay. Hai anh đã hiểu sơ qua mẹo của quan rồi chứ?

    Bác dân phu khoát tay nói:

    - Thôi để bác kiếm người khác. Công việc khó khăn lắm tôi không kham nổi đâu.

    Thám tử đáp:

    - Có gì mà không kham nổi. Anh cứ làm đúng như lời tôi dặn đây này. Anh lính Huỳnh Thắng đây sẽ dắt anh đến xóm Đoài và rao rằng; “Hồi sáng nay, người lái heo này đi qua rừng Chi Lâm trông thấy ba người lái heo bị một bọn cướp đón đường đánh: một bị chết còn hai lanh chân chạy thoát được. Quan truyền ai có thân nhân đi sáng nay thì lên Nha mà nhận diện đặng đem về chô cất” .

    Theo quan dự đoán thế nào cũng có người ra nhận.Anh thấy chưa, có chi khó?

    Bác dân phu chưa hết thắc mắc:

    - Làm sao họ tin tôi là lái heo được và khi họ hỏi hình dáng người chết, tôi biết trả lời sao đây?

    Thám tử đưa gói áo ra và cười hề hề đáp:

    - Điều đó bác khỏi lo. Đây nè trong gói này có cái áo ngắn vấy máu, anh mặc vô tất họ hết nghi ngờ. Còn về hình dáng người chết cũng chẳng khó gì.

    Để trả lời của hỏi của họ, hai anh chỉ cần nhớ kỹ hình dáng 3 tên cạo heo đã cướp Quỳnh Nương. Tên thứ nhất cao lớn, mũi to, còn tên thứ ba gầy ốm cao như sếu vườn. Hai anh đừng để cho người ta kịp biểu mình tả hình dáng người chết, trái lại phải gợi để cho người ta hỏi rồi chụp lấy cơ hội nói thêm ra thì phải trúng ngay một trong ba tên đó. Muốn vậy hai anh lắng tai nghe cho kỹ lời quan dặn đây.

    Đoạn thám tử hạ giọng dặn hai người các câu hỏi và trả lời rồi bắt cả hai lặp đi lặp lại cho đến thuộc lòng mới thôi.

    Ngưng một lát, thám tử nói tiếp:

    - Thôi tốt lắm rồi. Bây giờ anh này (trỏ dân phu) hãy mặc áo này vô để ta lên đường cho kịp.

    Lính Huỳnh Thắng hỏi thám tử:

    - Sau khi có người hỏi rồi tụi tôi làm chi nữa bác?

    - Anh hỏi thân nhân ấy tên họ chi rồi làm bộ giục anh dân phu này theo anh về trình quan. Đoạn hai anh đi trở ra đến quán nước đầu làng ghé vô giải lao. Hễ thấy đứa nào gánh heo về thì anh cứ xô ra mà bắt, tôi sẽ phụ cho. À hai anh phải làm như không quen biết gì tôi cả nghe, thôi ta đi thì vừa.

    Ba người đứng dậy đi ngược lại đoạn đường Quỳnh Nương đã qua hồi sớm nay. Tới chỗ Tấn An đã chỉ, ba người rẽ xuống đường ruộng để tới xóm Đoài.

    Thám tử nói:

    - Để tôi đi trước, hai anh sau. Nhớ làm như không quen biết tôi. Trong trường hợp không có ai ra nhận thì cứ theo tôi qua xóm khác. Nào lẹ lên sắp tới giờ ngọ rồi còn chi.

    Nói rồi thám tử xăm xăm bước tới.

    Lính Huỳnh Thắng hỏi với:

    - Nè bác, sao quan lại biểu phải làm xong trước giờ ngọ?

    Thám tử đáp vọng lại:

    - Cái đó ngoài quan ra hoạ may chỉ có… thiên lôi biết. Thôi anh đừng bép xép nữa, sắp tới nơi rồi đó.

    Tới xóm Đoài, thám tử vô quán đầu làng kêu nước uống, để không ai chú ý đến.

    Lát sau lính Huỳnh Thắng dẫn anh cạo heo giả hiệu đi ngang qua quán nước, miệng rao lớn như lời thám tử đã dặn.

    Mọi người đổ xô ra nghe, rồi đám người hiếu kỳ kéo nhau đi theo thì thào bàn tán nhưng chưa thấy ai hỏi han chi cả. Hai người tiếp tục đi.

    Thám tử vội trả tiền nước rồi nhập ngay vào đám đông.

    Khi lính Huỳnh Thắng và người dân phu đi rao tới giữa làng xẩy có một người đàn bà hớt hải chạy từ trong nhà ra đón đường mà hỏi:

    - Chồng tôi sớm mai này có đi mua heo. Hay là chồng tôi bị nạn?

    Nói đoạn bà ta rưng rưng nước mắt. Một thiếu phụ chừng là người giáp vách vội nắm tay bà ta mà nói:

    - Ô hay, bác trương sao bác lại nói thế cho nó vận vào người.

    Người được gọi là bác Trương đáp:

    - Tôi sốt ruột quá bác à. Mọi lần vào giờ này thì chồng tôi về nhà rồi sao lần này chưa thấy về.

    Người đàn bà kia lại nói:

    - Thì để hỏi người ta xem hình dạng kẻ bị nạn ra sao đã. Chắc không phải là bác giai nhà ta đâu.

    Lính Huỳnh Thắng toan giở câu mẹo ra hỏi, theo đúng chiến thuật phản công trước để khỏi dồn vào ngõ bí. Nhưng người đàn bà kia đã mau miệng hỏi trước:

    - Bác Lệ ơi, bác trương giai to lớn, lực lưỡng còn người bị cướp hình dáng thế nào?

    Lính Huỳnh Thắng mừng rỡ đáp:

    - Người bị giết gầy ốm và cao còn hai người chạy thoát thì một người to lớn lực lưỡng, một người mập lùn.

    Rồi anh ta day qua bác dân phu hất hàm làm bộ hỏi:

    - Phải không anh này?

    Bác dân phu gật đầu đáp:

    - Dạ phải, người lực lưỡng, mắt xếch,có râu chạy thoát cùng với người mập lùn. Vì họ chạy về phía tôi nên tôi nhìn rõ.

    Thiếu phụ reo lên:

    Bác Trương gái đã nghe rõ chưa. Tôi đoán không sai mà.

    Trương thị vẫn chưa hết thắc mắc:

    - Thế sao giờ này chồng tôi chưa về?

    Một cụ già đứng gần đó chậm rãi lên tiếng:

    - Thì cứ biết nó thoát nạn là được rồi. Nó thất đởm chạy có cờ, chắc cũng sắp về tới chứ gì.

    Lính Huỳnh Thắng hỏi vợ họ Trương:

    - Vợ chồng mụ tên chi?

    - Chồng tôi là Trương mỗ, tôi là A Chân.

    Lính Huỳnh Thắng quay lại biểu bác dân phu:

    - Thôi ta đi về trình quan.

    Nói rồi hai người đi ngược trở lại và làm bộ ghé vô quán nghỉ giải lao. Thám tử cũng đã vô ngồi chờ từ trước rồi.

    Đến trưa, một gã to lớn, mặt mày hớn hở, mắt xếch, cằm để râu, lon ton gánh heo tiến vô làng. Đúng là Trương Mỗ rồi.

    Lính Huỳnh Thắng liền nhảy ra thộp cổ y về quan.

    Vừa thấy mặt Trương Mỗ, Bao Công đã quát mắng:

    - Phải mi sớm nay hiệp cùng hai tên nữa lột nữ trang của dân họ Huỳnh rồi lại chém người ta gần lìa tay trái, phải không?

    Trương Mỗ chối dài:

    - Thưa Thượng quan, tôi là người làm ăn lương thiện, xin quan minh xét.

    Bao Công không đáp chỉ hất hàm bảo lính hầu:

    - Bay đâu, hãy khám tên này cho ta.

    Lính dạ ran xúm lại xét người Trương Mỗ thì lòi ra đôi vòng vàng và bông tai.

    Trương Mỗ hết dg chối cãi phải thú nhận hết tội lỗi.

    Bao Công hỏi:

    - Còn hai tên nữa là ai? Ơû đâu? Mau khai cho thiệt.

    Trương Mỗ đành khai hai tòng phạm ở làng bên ra. Bao Công liền sai lính hỏa bài tức tốc đến bắt cả đôi. Xét trong người ch1người thấy có một phần nữ trang của dâu họ Huỳnh. Hai đứa nhận tội.

    Huỳnh Thiện – chồng Quỳnh Nương – được gọi đến, nhìn nhận đúng là nữ trang của vợ mình nên được lãnh đem về.

    Bao Công lên án tử hình cả ba tên lái heo.

    Sách có chép rằng Trần Quỳnh Nương nhờ được lương y hết lòng chạy chữa nên qua tháng sau vết thương đã lành, tay trái chỉ hơi bị tật. Thiệt là có phước lắm vậy.
  3. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 17

    Hồi 17 : NGHE LỜI KHAI MÀ LUẬN

    Xưa kia, tại tỉnh Quảng Đông bên Tàu, có hai phú thương tên là Triệu Tín và Châu Nghĩa rất thân với nhau. Một bữa, Nghĩa đến nhà Tín rủ bạn hiệp vốn cùng đi bắc Kinh buôn vải đem về bán lại ở tỉnh nhà.

    Triệu Tín bảo bạn:

    - Từ đây lên đó đường xá xa xôi lại thường có bọn thổ phỉ đón đường cướp bóc. Chuyến này bọn ta mang theo nhiều tiền bạc, tôi tưởng nên thuê đò mà đi đã an ninh lại mau chóng hơn, chẳng hay bác nghĩ sao?

    Châu Nghĩa tán thành:

    - Bác nói chí phải. Thủy lộ tiện hơn, thôi chúng ta nên ra ngay bến đò thu xếp để ngày mai lên đường cho kịp vụ hàng.

    Rồi đôi bạn đưa nhau ra vàm sông gần đó kêu bọn lái đò mà trả giá.

    Sau một hồi cò kè bớt một thêm hai, Tín và Nghĩa chịu thuê đò của Trương Triều nên đặt cọc và dặn lái đò neo nguyên tại chỗ để canh tư sớm mai, sẽ khởi hành.

    Chờ cho Trương Triều lui xuống ghe rồi, Triệu Tín mới dặn Châu Nghĩa:

    - Thôi bây giờ chúng ta về nhà nấy, sắm sửa, gom góm tiền bạc cho kịp. Sáng ngày mai, cứ xuống thẳng đò khỏi cần rủ nhau.

    Châu Nghĩa gật đầu nói:

    - Như vậy tiện lắm.

    Đêm đó, Tín đi nghỉ sớm nên sau khi gà gáy vừa sáng, Tín đã trở dậy kêu vợ sửa soạn hành lý cho mình lên đường. Lát sau, Tín xuống đò trước nằm đợi bạn rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

    Tên lái đò Trương Triều nghe nói khách đi lên Bắc Kinh buôn vải nay lại thấy ăn mặc sang trọng và ôm theo bọc hành lý to và nặng đoán chắc là Tín có nhiều bạc, nên y nổi lòng tham muốn giết đi để đoạt của.

    Nghĩ vậy hắn nhẹ nhàng bò ra đứng trước mũi thuyền nghe ngóng tình hình. Tứ bề yên lặng. Xung quanh đógần 10 chiếc đò khác cũng cắm sào nằm yên như chìm trong giấc ngủ triền miên. Trên bờ vắng hoe, không một bóng người.

    Trương Triều lén rút con sào và khẽ bơi thuyền ra xa bờ.

    Tới giữa dòng sông, hắn chui vô trong khoang bịt miệng Triệu Tín lại rồi trói gô quăng xuống sông cùng với bọc quần áo, sau khi đã rút hết tiền bạc ra.

    Xong xuôi hắn quay đò lại chỗ cũ, giấu kín của cướp được rồi giả bột nằm ngủ, trong lòng khấp khởi mừng thầm vì mần ăn suông sẻ, không ai hay biết gì cả. Nhưng hắn không ngờ có hai bạn thân của y cũng là chủ đò neo kế bên đã được mục đích hành động bất lương của y, từ đầu tới cuối.

    Mà dù họ có thấy, Trương Triều cũng không cần vì hắn dư biết họ cũng làm ngơ không dám cáo quan.

    Trương Triều nằm trong khoang thuyền đã khá lâu mới thấy trên bờ có tiếng chân người đi tới. Hắn chờ cho Châu Nghĩa gọi tới đôi ba lần mới trở dậy bò ra ngoài mũi thuyền, vươn vai, dụi mắt, lân tiếng hỏi Châu Nghĩa:

    - Sao ông hẹn canh tư mà gần sáng tỏ mặt người mới ra vậy? Còn ông nữa đâu?

    Nghĩa đáp:

    - Tôi tưởng bác Tín đã xuống đò rồi chớ. Đêm qua tôi thức khuya quá nên sáng nay dậy muộn. Vì chúng tôi hẹn nhau ra thẳng đây nên tôi không có ghé qua đằng bác Tín.

    Tên lái đò cặp thuyền vô bờ rồi ném tấm ván nhỏ làm cầu cho khách xuống rồi hắn lên bờ ôm giúp hành lý đem xuống trong khoang.

    Chặp sau, tên chủ đò giả bộ hỏi Châu Nghĩa:

    - Ông kia không đi à?

    - Chắc cũng sắp ra tới bây giờ. Thôi để tôi nằm chơi trong này chờ cũng không sao.

    Trời sáng tỏ mặt người mà vẫn không thấy Tín ra, Châu Nghĩa sốt ruột mới kêu chủ đò, rồi chỉ nhà Triệu Tín đến kiếm.

    Tới nhà Triệu Tín, Trương Triều đứng ngoài cửa, cất tiếng gọi lớn:

    - Chị ơi, chị hỡi, mở cửa cho tôi.

    Vợ Tín là Tôn thị lúc này còn ngủ (vì canh tư phải dậy sửa soạn cho chồng đi) nghe gọi mới dật mình choàng dậy ra mở cửa.

    Trương Triều hỏi Tôn thị:

    - Bữa qua chồng chị hẹn với Châu Nghĩa ra đi sớm mai này mà sao tới giờ chưa thấy mặt?

    Tôn thị sửng sốt:

    - Sao lạ vậy kia. Chồng tôi đi lâu rồi mà.

    Trương Triều trở ra đò nói lại với Nghĩa. Nghĩa tức tốc chạy về hỏi vợ bạn:

    - Anh đi lâu rồi, thiệt sao chị?

    - Nhà tôi đi từ canh tư mà, sao chưa xuống đò thì lạ thiệt. Đây ra đấy có bao xa.

    - Thì tôi cũng lấy làm lạ nên mới lại hỏi chị. Thôi bây giờ chị và tôi, ta chia nhau đi kiếm anh chớ lóng ngóng như thế này cũng không có ích gì.

    Tôn thị khen phải rồi cả hai chia nhau đi khắp vùng kiếm Triệu Tín. Dĩ nhiên là không thấy rồi.

    Đến trưa Châu Nghĩa về nhà nghỉ, trong lòng lo buồn lắm.

    Vợ Nghĩa thấy vậy an ủi chồng:

    - Chắc là bác ấy gặp bạn rủ đi chơi. Không khéo lát nữa bò về cũng nên.

    Châu Nghĩa lắc đầu nói:

    - Nàng chưa biết tính bác Tín bằng ta. Bác ấy là người trung tín đã nhận và giữ lời, không sai hện. Vả lại chuyến này đi có đem nhiều vàng bạc, không nhẽ bác ấy dám la cà rong chơi. Tôi nghĩ bác ta có lẽ bị bọn cướp sát hại rồi. Thế nào ta cũng bị rắc rối, lôi thôi.

    - Chàng đâu có trách nhiệm gì?

    - Nàng nghĩ thế còn nông nổi quá.Mình rủ bác Tín đi buôn nay bác ấy mất tích, nếu mình lờ đi, sợ e họ quy tội mình. Bởi vậy ta phải đi cáo quan trước thì hơn.

    Vợ Nghĩa thở dài:

    - Thôi chàng tính sao cho khỏi hoạ thì làm.

    - Cái đó đã hẳn rồi. Có ai muốn khi không mang lụy vào thân?

    Nói đoạn Châu Nghĩa lấy giấy bút làm tờ trình lên huyện quan sở tại.

    Huyện quan tiếp đặng đơn biểu Châu Nghĩa ra ngoài chờ rồi ông cho lính đi đòi chủ đò Trương Triệu và vợ Triệu Tín là Tôn thị đến xét hỏi.

    Huyện quan cho dẫn cả ba người vô một lượt trước công đường.

    Ông hỏi Tôn thị trước tiên:

    - Chồng chị đâu?

    - Dạ thưa chồng tôi được Châu Nghĩa rủ hiệp vốn lên Bắc Kinh buôn vải về bán kiếm lời. Bữa qua chồng tôi sửa soạn hành lý và gom góp bạc vàng đến sớm nay, hồi canh tư, chồng tôi đã rời nhà xuống đò rồi.

    - Thị sai chồng đi từ hồi canh tư mà sa tới nay không thấy xuống đò? Vậy chồng thị đi đâu mất tích?

    - Dạ thưa cái đó thì tôi không hiểu.

    Huyện quan hỏi tiếp:

    - Chồng thị có nói cho ai biết sắp đi xa buông bán không?

    - Dạ, hai người bàng cận là Triệu Quãng và triệu Hiệp có biết.

    Huyện quan liền cho đòi hai người này đến, họ khai có nghe Triệu Tín nói sắp đi buôn nơi xa.

    Huyện quan hỏi vặn:

    - Triệu Tín ra đi hồi nào, các ngươi ở gần lại là bà con hẳn phải biết chứ?

    - Dạ, thưa thiệt tình chúng tôi không biết.

    Huyện quan day qua hỏi chủ đò trương Triều:

    - Còn nhà ngươi có thấy Triệu Tín xuống đò hồi nào không?

    - Thưa không.

    - Đầu đuôi câu chuyện thế nào, phải khai cho rõ ra chứ trả lời như vậy đâu có được.

    Trương Triều khai:

    - Thưa quan, bữa qua triệu Tín và Châu Nghĩa hai người kêu tôi mướn đò hẹn sớm mai này lúc canh tư, lên đường đi Bắc Kinh mua bán. Tôi chờ mãi đến gần sáng tỏ mặt người, chỉ thấy Châu Nghĩa xuống đò còn Triệu Tín thì không thấy . Các thuyền đậu xung quanh đều biết rõ. Nếu quan không tin xin cứ đòi họ lên hỏi. Châu Nghĩa xuống đò chờ hoài không thấy bạn ra mới chỉ nhà Triệu Tín và biểu tôi đi kêu. Tôi tới nhà thấy cửa đóng im lìm mới cất tiếng gọi tôn thị: “Chị ơi! Chị hỡi! Mở cửa cho tôi” . Lát sau Tôn thị mới chạy ra mở cửa. Tôi hỏi chồng thị đâu sao đã hẹn mà không xuống đò. Thị trả lời chồng đi từ canh tư rồi.

    Huyện quan ngắt lời tên chủ đò để hỏi vợ Triệu Tín:

    - Phải vậy không?

    - Dạ phải, vì phải dậy sớm sửa soạn cho chồng nên khi chồng đi rồi tôi vô giường ngủ lại. đang mơ màng thì nghe tiếng đờn ông kêu tôi mở cửa. Khi ra coi thì gặp bác này (trỏ chủ đò) hỏi thăm như trên.

    Huyện quan hất hàm hỏi trương Triều:

    - Rồi sao nữa?

    - Dạ thưa sau đó tôi trở về đò nói lại cho Châu Nghĩa hay. Nghĩa bỏ đò về liền.

    Huyện quan hỏi Châu Nghĩa:

    - Có đúng không?

    - Dạ đúng. Sau khi nghe chủ đò nói vậy tôi ngạc nhiên vô cùng có chạy lên kiếm Tôn thị hỏi lại rồi hai chúng tôi chia nhau đi kiếm Triệu Tín khắp vùng mà chẳng thấy.

    Huyện quan nhìn chằm chằm vào Châu Nghĩa rồi quát:

    - Chắc mi giết bạn để đoạt tiền bạc rồi đi cáo quan trước cho khỏi hoạ. Mau khai cho thiệt, chớ có giấu quanh.

    - Thưa quan tôi có một mình sao giết bạn tôi đặng. Quan nghĩ nếu giết rồi tôi làm sao giấu thây. Tôi giàu có hơn bạn tôi, điều đó ai cũng biết. Hơn nữa Triệu Tín đối với tôi là bạn chí thân không khi nào tôi nhẫn tâm hại bác ấy. Xin quan minh xét. Tôi vì bạn mà đi minh oan, chớ đâu phải vì hại bạn r6òi sợ hậu hoạ mà đi cáo trước.

    Tôn thị thực tình xen vô đỡ cho bạn chồng:

    - Thưa quan, Châu Nghĩa và chồng tôi là đôi bạn thâm giao. Chính bác đã từng giúp đỡ chồng tôi không lý gì lại giết bạn.Tôi nghĩ Trương Triều là kẻ đã mưu hại chồng tôi. Xin quan ming xét.

    Huyện quan chưa kịp nói chi thì tên chủ đò đã nhanh miệng cãi luôn:

    - Xin quan chớ nghe lời tôn thị. Tôi giết sao đặng Triệu Tín một khi xung quanh đò tôi có đếm mười chiếc cùng đậu. Lúc Châu Nghĩa ra tới bến kêu toi thì trời còn chưa sáng mà tôi thì đang ngủ vùi. Điều đó ai cũng biết. Tới khi Châu Nghĩa biểu tôi lên nhà Triệu Tín kiếm bạn, tôi kêu cửa tôn thị còn ngủ. Y thị nói chồng đi từ khuya mà sao xóm giềng không ai hay biết?

    Huyện quan quát hỏi Tôn thị:

    - Aùc phụ giết chồng rồi thây giấu ở đâu mau khai ra đừng để ta phải dùng cực hình tra tấn.

    - Dạ thưa oan cho tôi.

    Huyện quan đập bàn la:

    - Aùc phụ to gan thiệt. Lính đâu tra tấn nó cho ta.

    Bọn mình xúm lại đánh đập Tôn thị tơi bời.

    Vợ Triệu Tín khóc ròng, một mực kêu oan, huyện quan hô lính đập nữa. Tôn thị chết đi sống lại mấy lần.

    Sau cùng huyện quan ra ngưng tra tấn và hỏi Tôn thị lần chót:

    - Mi giấu thây chồng ở đâu, khai ra.

    Tôn thị mệt nhọc đáp:

    - Mưu giết chồng là tôi. Muốn tìm thây chồng tôi thì lấy thây tôi mà thế, còn hỏi làm chi?

    Huyện quan cả giận sai lính vả vào mặt Tôn thị một hồi đến đổ máu mồm, máu mũi rồi ra lệnh tống giam Tôn thị vào khu tử tội.

    Sau đó, huyện quan trả tự do cho tên chủ đò Trương Triều, Châu Nghĩa và hai người bàng cận của Triệu Tín là Triệu Quãng và Triệu Hiệp rồi ông làm tờ trình về Thượng Ty xin chém đầu Tôn thị về tội giết chồng.

    Giấy chạy tới Thượng Ty hôm trước thì bữa Bao Công đi tuần tra đến huyện lỵ.

    Theo thường lệ, Bao Công dạy huyện quan đem trình tất cả hồ sơ các vụ án. Khi coi tới hồ sơ Tôn thị, Bao Công lấy bút son khoanh một vòng bên lời khai của tên chủ đò Trương Triều rồi cho mời huyện quan qua hỏi:

    - Quan nghĩ thế nào về lời khai của Trương Triều.

    - Thưa thượng quan, đoạn nào?

    - À, cái chỗ y khai đến nhà Triệu Tín đó. trong biên bản có ghi khi đến nhà thấy cửa còn đóng, chủ đò lên tiếng gọi Tôn thị, vợ Triệu Tín rằng: “Chị ơi, chị hỡi, mở cửa cho tôi” . Sự kiện này đã được Tôn thị xác nhận là đúng. Vậy quan có ý kiến chi riêng về lời khai này không?

    - Dạ thưa không.

    Bao Công nhìn huyện quan một lát rồi hỏi tiếp:

    - Phải quan xin xử chém đầu Tôn thị không?

    - Dạ phải.

    - Vậy thì oan cho người ta rồi. May mà ta đến kịp, thôi bây giờ ông cho lính hoả bài đi đòi chủ đò trương Triều về đây cho ta xét hỏi.

    Látsau lính đưa tên chủ đò về tới công đường.

    Bao Công nhìn hắn từ đầu đến chân rồi đột ngột hỏi:

    - Ngươi đã giết Triệu Tín sao còn nhẫn tâm để oan cho Tôn thị?

    Trương Triều giả bộ ngạc nhiên:

    - Thưa thượng quan, tôi đâu có giết Triệu Tín.

    Bao Công cười nhạt và nói dằn một tiếng:

    - Đừng lấy vải thưa che mắt thánh. Ngươi đã lộ chân tướng rồi, tưởng ta không thấy sao?

    Tên chủ đò chột dạ nhưng vẫn gân cổ cãi:

    - Dạ thưa tôi không hề giết chồng Tôn thị.

    - Ngươi chối phải không. Được, để ta nói cho coi. Ai sai ngươi lên nhà Triệu Tín?

    - Dạ, thưa Châu Nghĩa.

    - Hắn dặn ngươi ra sao?

    - Dạ, y biểu lên nhà Triệu Tín coi tại sao Tín chưa xuống đò.

    - Rồi sao nữa?

    - Tôi đến nhà Tín thấy đóng cửa im lìm, tôi gọi cửa…

    Bao Công ngắt lời, hỏi mau:

    - Gọi thế nào?

    - Tôi kêu Tôn thị: “chị ơi, chị hỡi, mở cửa cho tôi”.

    - Ngươi quen biết Tôn thị từ trước sao?

    - Dạ không?

    - Thế tại sao lại gọi Tôn thị mà không kêu Triệu Tín?

    - Dạ thưa tại vì… tại vì…

    Bao Công vỗ án quát vang như sấm:

    Tại vì mày giết Triệu Tín rồi nên biết không còn Tín nữa mới kêu vợ người ta. Biết điều thì khai thiệt đi.

    Trương Triều tái mặt nhưng vẫn một mực không nhận tội.

    Bao Công cả giận sai lính vật tên chủ đò ra đất, đánh cho 100 roi. Nó vẫn nhất định kêu oan.

    Bao Công thấy tên chủ đò gan quá biết là có đánh chết nó cũng không khai, ông nghĩ ra một mẹo liền dịu giọng:

    - Bữa trước ngươi khai với huyện quan là tại vàm sông thường có một đoàn 10 ghe đi về thường xuyên kiếm ăn. Vậy ngươi hãy chỉ cho ta biết những chủ đò nào có thể làm chứng về sự vô tội của ngươi.

    - Dạ thưa thượng quan, hai người chủ đò đậu sát đò tôi là bạn thân có thể làm chứng cho tôi.

    Bao Công gật đầu:

    - Vậy thì tốt lắm. Để ta cho đi kêu họ đến xem sao. Trong khi chờ đợi ngươi hãy tạm ở lại đây đã.

    Nói đoạn ông truyền giam Trương Triều lại rồi kêu lính đi đòi hai chủ đò kế cận về Nha cho ông xét hỏi.

    Lát sau lính dẫn hai chủ đò về tới. Bao Công giả bộ nạt nộ họ:

    - Hai người chết đến nơi rồi vậy có điều chi nói năng không?

    Hai chủ đò xanh mặt run rẩy nói:

    - Dạ thưa thượng quan, chúng tôi tội tình chi mà quan nỡ giết.

    - Tội nặng lắm. Trương Triều khai đứa bây đã mưu giết Triệu Tín để cướp đoạn tiền bạc. Bởi vậy ta phải xử tử chúng bây để thường mạng cho Tín.

    Cả hai sụp lại Bao Công rồi khai rằng:

    - Thưa thượng quan chính là Trương Triều đã giết Triệu Tin, đâu phải tụi tôi. Nguyên bữa nọ, lối canh tư, Tín xuống đò chờ bạn là Châu Nghĩa rồi ngủ quên. Triều thấy vắng vẻ không có ai nên chèo đò ra giữa sông xô Tín xuống dòng nước rồi trở về giả bộ ngủ say cho tới lúa Châu Nghĩa đến gọi. Thực sự là như vậy, anh em tôi không có can dự chi, xin quan minh ét cho.

    Bao Công liền cho dẫn Trương Triều lên đối chất. Tên chủ đò sát nhân hết đường chối cãi phải nhận tội.

    Bao Công lên án chém đầu Trương Triều rồi truyền trả tự do cho Tôn thị và thả hai chủ đò đã cung khai sự thật.

    Đoạn ông làm giấy cách chức tức thì huyện quan gà mờ.

    Ai cũng phục tài Bao Công chỉ nghe qua lời khai mà luận ra thủ phạm đã giết phú thương Triệu Tín.
  4. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 18

    Hồi 18 : TÙ VÌ BẠN

    Ngày xưa ở bên Tàu có huyện Đinh Hải, thuộc phủ Ninh Ba, tỉnh Triết Giang có quan kiểm sự tên Cao Khoa và quan Thị Lang tên Hạ Chánh là đôi bạn chí thân và ngụ cùng một làng.

    Hai người thường qua lại nhà nhau, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”, đàm đạo với nhau ra chiều tương đắc lắm.

    Một bữa hạ Chánh sưa soạn sang nhà Cao Khoa sẩy thấy bạn đến chơi, nét mặt hớn hở.

    Hạ Chách lật đật ra rước:

    - Tôi định sang bên bác đây. Bữa nay bác có chi mà vui tươi vậy?

    - Sang báo bác rõ nhà tôi đã có tin mừng và mời bác sang nhà chơi.

    Hạ Chánh vỗ tay reo:

    - Thiệt hả. Vậy thì tốt quá. Vợ tôi có tin vui và tôi đang sửa soạn sang nói để bác mừng cho thì bác đã sang.

    Cao Khoa tươi cười đáp:

    - Hay lắm, hay lắm. Bên tôi sẵn có tiệc rượu rồi, mời bác qua ăn mừng luông thể.

    Tới nhà Cao Khoa đôi bạn nhập tiệc nâng ly mừng nhau rồi cùng ước hẹn nếu sau này đôi bên sanh con trai và con gái thì sẽ cho chúng kết hôn với nhau. Tiệc rượu “chỉ phúc giao hôn” (làm sui khi con còn trong bụng mẹ) kéo dài đến khuya mới tan.

    Cuối năm ấy, vợ Hạ Chánh sanh con trai đặt tên là Hạ Xương Thời còn vợ Cao Khoa sanh con gái đặt tên là Quí Ngọc.

    Hạ Chách cậy bà mai thay mặt nhà trai đem đôi kim thoa đến làm lễ vật nơi nhà gái. Cao Khoa vui vẻ thâu nhận rồi trao lại một cặp trâm ngọc để làm tin.Từ đó hai nhà đi lại với nhau càng thêm thắm thiết.

    Sau Hạ Chách đổi về làm việc tại kinh thành. Tuy làm quan nhưng Hạ Chánh rất thanh liêm nên gia cảnh xem ra cũng thanh bạch lắm, trong khi ấy Cao Khoa khéo xoay xở nên ngày càng thêm giàu có.

    Ít năm sau, Hạ Chánh lâm bạo bệnh và từ trần tại kinh đô. Được tin cấp báo, Cao Khoa vội lên phúng điếu sui gia. Khi biết gia cảnh bạn, Cao Khoa liền xuất tiền giúp đỡ vợ Hạ Chánh mới đem được xác chồng về xứ chôn cất.

    Mấy năm sau, Cao Khoa đến tuổi về hưu. Vì giàu có nên ngày lại ngày ông ta chỉ ngao du sơn thủy, đi dưỡng tuổi già.

    Nói về Hạ Xương Thời tuy nhà nghèo và cha mất sớm nhưng nhờ tư chất thông minh lại siêng năng chăm chỉ nên học hành ngày càng lấn tới, nổi tiếng khắp vùng.

    Đến nănm Hạ xương Thời được mười sáu tuổi, Bà quả phụ Hạ Chánh cậy người mai tới nhà Cao Khoa hỏi cưới Quí Ngọc cho con trai.

    Cao Khoa nghe xong, cười lớn mà rằng:

    - Trước ta có hứa gả con Ngọc cho thằng Thời nhưng phàm việc cưới xin ph3i giữ cho đủ lễ để con gái ta khỏi hờn duyên tủi phận. Vậy ngươi há về nói với thằng thời so sắm cho đủ sáu lễ ta mới thuận gả con gái ta cho nó. Còn như nghèo túng không kham nổi, thì nên hồi đi là hơn rồi ta sẽ ban cho chút tiền bạc đặng đi kiếm vợ khác. Thôi ngươi về báo cho mẹ con nó hay. Ý ta đã nhất định rồi, đừng nài nỉ vô ích.

    Người mai lủi thủi về thuật lại cho mẹ con Hạ Xương Thời nghe. Bà quả phụ Hạ Chánh thở dài, ứa lệ nhìn con.

    Hạ Xương Thời kiếm lời an ủi mẹ già rồi từ đó, chỉ chăm lo dùi mài kinh sử.

    Về phần Quí Ngọc được mẹ cho biết quyết định của cha, nàng đau khổ vô cùng, bèn vào can cha:

    - Xin phụ thân chơ ùqua khắt khe, kẻo người ngoài cười chê cha con mình bội ước.

    Cao Khoa gắt:

    - Cứ đủ một trăm lượng bạc vàng sính lễ là ta cho mi theo nó còn không thì thôi. Đừng có nhiều lời.

    Quí Ngọc òa lên khóc, rồi chạy vô phòng. Nữ tỳ Thu Hương kiếm lời an ủi cô chủ:

    - Tiểu thơ cũng chẳng nên buồn rầu làm chi. Quan muốn tiểu thơ vào nhà quyền quí cao sang đặng sung sướng tấm thân. Nay phải từ hôn Hạ Xương thời, quan cũng biết là không phải đạo song vì thương tiểu thơ…

    Quí Ngọc ngắt lời nữ tỳ:

    - Như vậy cha mẹ ta sẽ mang tiếng tiếng là người bội ước. Vả lại, Hạ Xương Thời tuy nghèo song học giỏi lại điềm đạm dễ thương, diện mạo khôi ngô, tất sau này cũng mở mày mở mặt với thiên hạ được. Sự nghèo nàn của chàng nhất thời. Nếu ta không giúp đỡ chàng thì uổng mất một nhân tài. Em nghĩ sao.

    Nữ tỳ Thu Hương đáp:

    - Tiểu thơ nghĩ thế cũng phải hiềm một điều Hạ Công tử lấy đâu ra một trăm lạng bạc vàng dẫn lễ bây giờ?

    Quí Ngọc nghĩ thế dài không đáp. Hồi lâu nàng lẩm bẩm:

    - Ta đã có cách.

    Nữ tỳ nghe không rõ mới hỏi lại:

    - tiểu thơ dạy điều chi.

    - Ta nói ta có cách rồi, miễn là cha ta dừng sớm nhận lời gả ta cho người khác là được.

    Từ sau bữa đó, Quí Ngọc lén lấy trộm vàng của cha đem giấu vô phòng. Sợ bại lộ, lâu lâu nàng mới dám lấy chút ít, thành ra trong suốt một năm trường nàng mới gom góp được lối vài lượng quý kim.

    Trong khi đó nàng vẫn sai nữ tỳ Thu Hương lén tới thăm hỏi Hạ Xương Thời để chàng thư sinh đừng thất vọng.

    Nhưng tuyệt nhiên nàng không tiết lộ kế hoạch của nàng cho nữ tỳ hay biết.

    Nói về công tử Hạ Xương Thời từ ngày bị Cao Khoa thách thức quá nhiều, chàng làm thinh luôn, không nghĩ tới việc lấy vợ nữa.

    Nhờ mẹ chàng vất vả sớm hôm tần tảo quyết tâm nuôi con ăn học đến thành tài nên trong nhà cũng không đến nỗi túng thiếu lắm.

    Hạ công tử suốt ngày quanh quẩn nơi thư phòng, đọc sách ngâm thơ, ít khi đi ra đến ngoài. Chàng chỉ có một người bạn tâm giao là Lý Thiện Phụ, bạn đồng môn, thường hay lui tới nhà chàng cùng chung học tập.

    Thấm thoát đã ba thu kể từ ngày Cao Khoa có ý từ hôn Hạ công tử.

    Thấy mẹ con Hạ Xương Thời im lặng đã lâu, nhiều gia đình khá giả lân la ngỏ ý hỏi xin Quiù Ngọc cho con trai họ. Và Cao Khoa cũng kén rể cho xong năm ấy.

    Thấy nguy cơ đã gần kề, nàng Quí Ngọc hốt hoảng kêu nữ tỳ Thu Hương vô dặn nhỏ một hồi. Nghe xong, con Thu Hương trợn mắt lè lưỡi bảo Quí Ngọc:

    - Tiểu thơ làm thế lỡ quan biết thì khốn cả hai chị em mình. Nhưng thôi em hết lòng giúp đỡ chị.

    Nói đoạn nó lén sang thư phòng Hạ Xương Thời và bẩm rằng:

    - Thưa công tử Cao lão gia chê công tử nghèo muốn từ hôn, nên cố ý đòi một trăm lượng bạc vàng làm sính lễ. Cô tôi không nỡ nên đã can gián lão gia nhiều phen mà chẳng được. Nay sắp có đám khác đến hỏi cô tôi. Vì vậy cô tôi đã góp nhặt được hơn môït trăm lượng bạc vàng biểu tôi qua mời công tử mai cuối canh một đến cổng sau dinh tư Cao lão gi vô Hoa đình lấy về đặng dẫn lễ cưới cô tôi. Xin công tử đừng sai hẹn. Tiện thiếp sẽ mặc quần áo trắng chờ công tử ở Hoa đình.

    Hạ công tử cảm động đáp:

    - Ta cảm phục lòng to61tcu3a Cao tiểu thơ. Vậy nàng về thưa lại, tối mai ta xin y hẹn.

    Tỳ nữ của Thu Hương vừa ra khỏi phòng thì bạn của Hạ công tử là Lý Thiện Phu đến.

    Lý Thiện Phu cười hề hề, nheo mắt hỏi bạn:

    - Chà trông anh hớn hở quá ta. Chắc là vì người đẹp vừa đi ra đó chăng? Ai thế?

    Hạ công tử đỏ mặt, lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì Phụ đã hỏi dồn:

    - Thôi mà, có điều vui mừng cứ cho anh em hay để chia vui chứ.

    Hạ công tử thiệt thà thuật lại cho bạn nghe. Lý Thiện Phụ vốn là đứa gian ngoan, quỷ quyệt, liền tính kế phỗng tay trên số bạc một trăm lượng của Hạ công tử.

    Hắn giả bộ vỗ tay reo:

    - Anh có phước lắm đó. Được mỹ nhân lo cho đến thế là nhứt rồi. Mừng anh nhé.

    Qua sáng sau, Lý Thiện Phụ tới mời công tử tối nay lúc lên đèn sang nhà hắn uống rượu chơi. Hạ công tử nhận lời liền.

    Lý Thiện Phụ cả mừng, ra chợ sắm rượu thịt làm cơm. Trên đường về hắn ghé qua tiệm thuốc bắc mua một gói bột nhỏ chi đó rồi tất tả về nhà.

    Tối lại, Hạ công tử khăn gói chỉnh tề đến nhà họ Lý.

    Lý Thiện Phụ rót rượu mừng bạn. Hai người ăn uống cười đùa vui vẻ. Qua một tuần rượu, Phụ làm bộ chợt nhớ ra điều chi vỗ đùi bạn:

    - Chút xíu quên mất. Có chai rượu quý, người ta cho từ lâu vẫn để dành nay có dịp vui mừng của anh không bỏ ra uống thì uổng quá.

    Nói đoạn hắn cười hề hề đứng lên mở tủ lôi ra một hũ sành mầu da lươn đầy hai bát. Hắn lén bỏ chất bột trắng mua hồi sáng vô một bát rồi trao cho Hạ công tử và mời bạn cạn chén.

    Hạ Xương Thời vô tình nốc thẳng một hơi.

    Lát sau thuốc ngấm, họ Hạ phục bên mâm rượu ngủ vùi. Lý Thiện Phụ mỉm cười lẩm bẩm: “Thuốc mê này công hiệu thiệt. Thằng này còn lâu mới tỉnh lại được, dư thì giờ cho mình hành động”.

    Nói rồi hắn châm thêm đèn và lo dọn dẹp tiệc rượu. Sau đó hắn đặt bạn nằm ngay ngắn trên giường nhưng không quên để thêm một chiếc gối nữa bên cạnh bạn.

    Xong xuôi Lý Thiện Phụ sửa sang lại áo quần và đi đến nhà Cao lão gia. Lúc ấy đã cuối canh một (khoảng mười giờ tối).

    Thấy cửa sau vườn hé mở, hắn lẻn vô và len qua các luống bông tới thẳng chỗ hẹn.

    Hắn còn đang ngó quanh bỗng thấy một bóng tha thướt bước xuống thềm Hoa đình. Hắn phóng tới thì thấy một cô gái vận quần áo trắng tay cầm một gói lớn.

    Nhờ được nghe Xương Thời thuật lại nên Lý Thiện Phụ bình tĩnh cất tiếng hỏi:

    - Phải tỳ nữ Thu Hương của Cao tiểu thơ đó không?

    Có tiếng đàn bà trong tréo đáp lại:

    - Dạ tiện thiếp đây.

    - Vậy mau đưa bạc cho ta.

    - Ngươi không phải là Hạ công tử.

    Lý Thiện Phụ giựt mình nhưng vẫn liều đáp:

    - Chẳng phải ta thì còn ai nữa.

    - Giọng nói không giống. Thôi để tiện thiếp vô hỏi lại tiểu thơ đã.

    Nói rồi, thị nữ ôm gói bạc chạy tuốt về trình chủ:

    - Tiểu thơ ơi! Kẻ đó đòi lấy gói bạc không phải lạ Hạ công tử.

    Quí Ngọc đáp:

    - Em thiệt là vô ý quá. Trời tối em phải xáp lại gần nhận diện cho trúng chớ đứng xa nghe giọng nói thì chắc sao đặng. Thôi em trở lại Hoa đình coi lại đi chớ để công tử mất công chờ đợi.

    Thu Hương toan quay ra thì Cao tiểu thơ gọi giật lại:

    - À này Thu Hương. Trao bạc xong em về phòng đi nghỉ, không cần trở lại đây nữa lỡ quan bắt gặp sợ nghe khó trả lời nghe.

    Thị nữ “dạ” một tiếng rồi lủi vào vườn, trở lại chỗ hẹn.

    Tới nơi, thấy bóng đen vẫn còn đứng đó, thị mạnh bạo tiến đến sát bên nhìn rồi nói:

    - Ngươi không phải là Hạ công tử mà là kẻ gian rồi.

    Thu Hương chưa dứt lời thì Lý Thiện Phụ đã vung tay đấm thiệt mạnh vào bụng thị nữ. Đứa tớ gái của cao tiểu thơ lăn ra chết tức thì, không kịp kêu một tiếng.

    Lý Thiện Phụ cúi xuống lượm gói bạc rồi lần ra cửa chuồn êm. Về tới nhà, hắn giấu lẹ gói bạc một nơi rồi leo lên giường nằm nghỉ bên Hạ Xương Thời.

    Tiếng trống cầm canh thong thả buông hai tiếng, Lý Thiện Phụ lẩm bẩm : “Cho tỉnh lại thì vừa” . Hắn lấy khăn thấm nước lạnh lau mặt Hạ Xương Thời.

    Lát sau Hạ công tử mở mắt rồi nhỏm dậy, hốt hoảng bảo bạn:

    - Đã tới canh hai chưa anh ? Tôi tính đi việc ấy kẻo người ta mất công chờ đợi.

    Tên phản bạn chặc lưỡi, làm bộ nói:

    - Không dè tửu lượng của anh kém quá vậy. Rượu mới xoàng xoàng đã ngã gục. Thôi bây giờ mới qua canh hai, lúc này vắng vẻ anh đi càng tiện và cũng không trễ lắm đâu.

    Hạ Xương Thời sửa lại khăn áo rồi cáo từ Lý Thiện Phụ mà đi đến nhà họ Cao.

    Tới nơi thấy cửa vườn sau hé mở, Thời tiến thẳng tới chỗ hẹn. Thấy một bóng trắng nằm gục trên thềm Hoa đình, chàng đoán là Thu Hương liền cất tiếng gọi. Không thấy trả lời, chàng cho là thị ngủ quên liền đến gần lay gọi.

    Thấy nó vẫn im lìm, chàng xem lại kỹ mới hay thi thể thị nữ đã lạnh ngắt. Hạ công tử hoảng sợ vùng bỏ chạy về nhà, trong bụng lo sợ vô cùng cho là cha vợ âm mưu hại mình, nhưng không mảy may nghi ngờ chi Lý Thiện Phụ cả.

    Sáng sớm, Cao tiểu thơ chờ mãi không thấy nữ tỳ lên hầu mới kêu gia nhân biểu đi kiếm. Lát sau họ tìm thấy Thu Hương nằm chết cong queo ở ngoài vườn.

    Thấy nữ tỳ vì mình mà bỏ mạng, Cao tiểu thơ liền vào thú thật với Cao Khoa:

    - Thưa cha, tối qua con có sai nữ tỳ Thu Hương đem vàng bạc nữ trang ra cho Hạ Xương Thời để hắn làm lễ cưới con. Ai dè y sanh lòng lang thú đoạt quí vật rồi lại hạ sát nữ tỳ. Như vậy là không có ý cưới con.

    Cao Khoa nổi giận rầy la con gái một hồi rồi làm đơn cáo với huyện quan đại ý như sau:

    - Nguyên tên Hạ Xương Thời tuy là học trò nhưng lỗi đạo thánh hiền, hắn nghèo túng sanh lòng gian dụ dỗ tỳ nữ Thu Hương lấy trộm bạc vàng và nữ trang của gia đình tôi đem cho hắn. Được bạc rồi, y đang tâm sát hại con Thu Hương ngay trong vườn hoa nhà tôi để khỏi bị bại lộ. Xin quan chiếu phép nước nghiêm trị tên Hạ Xương Thời để làm gương răn dạy người đời.

    Huyện quan tiếp đặng đơn liền cho lính đi bắt Hạ công tử đem về cho ông xét hỏi.

    Họ Hạ bị bắt khi còn đan nằm nghỉ trong thư phòng.

    Huyện quan hỏi:

    - Mang danh là con quan Thị lang lại theo đòi bút nghiên sao anh chẳng biết giữ mình lại cướp của giết người làm ô danh cha mẹ.

    Hạ công tử thưa:

    - Xin quan minh xét cho. Tôi bị cha vợ phản phúc lập mưu làm hại để tiện bề từ hôn. Quả thiệt tôi oan.

    Nhưng Hạ công tử không chịu tiết lộ chuyện Cao tiểu thơ sai Thu Hương mời đến Huê viên để trao bạc vàng dẫn cưới vì chàng cho là làm như vậy sẽ mất danh dự và phụ lòng tốt của vị hôn thê.

    Huyện quan vốn cũng nể Hạ công tử là dòng dõi quan quyền nay lại nghe khai vậy mới cho mời Cao Khoa đến hỏi:

    - Họ Hạ kêu rằng nay ông muốn từ hôn nên lập mưu hại anh ta. Vậy chớ sự thực thế nào phải khai cho thiệt.

    - Nữ tỳ Thu Hương đêm trước đem bạc vàng cho hắn. Hai đứa hẹn nhau tại Huê đình làm nơ trao bạc. Chắc hắn muốn nuốt trọn không chia cho con Thu Hương nên giết đi cho khỏi bại lộ.

    Huyện quan hỏi:

    - Chớ ông có bằng chứng gì không?

    - Có chứ. Việc Thu Hương đem bạc vàng cho Hạ Xương Thời,con gái tôi là Quí Ngọc có thấy. Nếu như Thời không đánh chết nữ tỳ thì tôi cũng bỏ qua, chẳng cáo làm chi. Còn điều hắn vu cho tôi mưu hại hắn để hồi hôn xét ra vô lý. Vì tôi có thù oán chi hắn mà phải tận tình đến mức giết một nhân mạng để hại hắn? Muốn từ hôn hắn, tôi có nhiều cách, hà tất phải làm vậy.

    Huyện quan nghe có lý, xẵng giọng hỏi Hạ công tử:

    - Thế nào có nhận tội không?

    - Dạ, thưa tôi không hề giết Thu Hương. Họ Cao vu vạ cho tôi…

    Cao Khoa ngắt lời:

    - Hắn gian ngoan xin quan chớ tin lời hắn.

    Huyện quan đáp:

    - Việc đâu còn có đó. Lính đâu đi mời Cao tiểu thơ đến ta hỏi chuyện.

    Lát sau Cao tiểu thơ đến trước công đường. Quan hỏi:

    - Tình tiết nội vụ thế nào tiểu thơ phải chứng cho thiệt chớ có khai man mà bị hình phạt.

    Cao tiểu thơ đáp:

    - Thưa quan, vì có sự chỉ phúc giao hôn ngày trước nên tôi và Hạ công tử bị ràng buộc bởi lời hứa hôn đó. Thấy nhà vị hôn phu nghèo không đủ tiền dẫn cưới, tôi có góp nhặt được hơn một trăm lạng bạc vàng và sai nữ tỳ Thu Hương qua dặn họ Hạ tối qua tới sau vườn mà lấy. Sau khi lấy được bạc rồi họ Hạ lại đang tâm giết Thu Hương, mãi sáng ra, tôi mới hay biết.

    Huyện quan hỏi:

    - Theo ý tiểu thơ, vì sao mà Thu Hương bị giết?

    - Có lẽ họ Hạ muốn cưỡng gian nữ tỳ của tôi nhưng nó chẳng chịu nên giết cho bõ ghét. Cũng có thể họ Hạ giận cha tôi đã từ hôn nên đánh chết con Thu Hương để gieo vạ cho cha tôi. Xin quan minh xét.

    Huyện quan gật đầu nói:

    - Lời nàng khai hợp lý lắm. Rồi ông trỏ Hạ công tử mà quát rằng:

    - Quí Ngọc đối chứng những việc trước thì đúng còn việc nữ tỳ Thu Hương quả thực tôi không có làm. Chắc có tiền oan nghiệp chướng chi đây nên tôi mới bị cảnh này…

    Quan huyện cắt lời:

    - Sao lúc trước chối nay lại nhận?

    - Tôi không hề nhận đã giết Thu Hương. Tôi chỉ nhận là nàng có sai nữ tỳ đến hẹn tôi đi lấy bạc…

    - Thế sao không khai ngay lại chờ Cao tiểu thơ nói rồi mới nhận?

    - Dạ… thưa… tôi không muốn nàng phải mang tiếng vì tôi.

    Huyện quan la:

    - Thôi ngươi chớ có nhiều lời. Chối quanh vô ích. Chẳng qua là nhà ngươi thấy chối không được nữa mới phải nhận chịu. Đúng là ngươi đã giết Thu Hương vì ngoài ngươi ra còn ai biết nữa? Ta lên án ngươi phải chịu tử hình còn về phần quí Ngọc con gái họ Cao, ta huỷ lời hứa hôn và cho phép đi lấy chồng khác. Lính đâu, đem Hạ Xương Thời hạ ngục cho ta.

    Lính dạ rân Hạ công tử nhốt vào khu tử tội. Sau đó huyện quan chạy giấy về Thượng Ty xin xử tử. Thượng Ty hạ giảm xuống án tù.

    Hạ công tử bị bạn phản, lâm vào vòng lao lý kể đã tới hai năm thì Bao Công tuần tra vừa tới huyện Đinh Hải.

    Để biết rõ thực trạng của địa phương, Bao Công mặc giả làm anh lái buôn đi quan sát khắp nơi.

    Huyện quan trông thấy tưởng kẻ gian phi liền sai lính bắt giam vào ngục. Bao Công chẳng nói chi cứ lặng lẽ vào ngồi với các tù nhân. Chờ cho quân coi ngục ra khỏi. Bao Công mới lên tiếng bảo đám tội nhơn:

    - Tôi có biết đôi ba chữ đi làm công giữ sổ sách cho người ta, ai dè bị chủ vu cáo mà phải vào đây. Quan chưa xét xử. Tôi tính làm đơn khiếu oan nên có mang theo sẵn đồ viết đây. Như ai có điều chi oan ức cứ nói thiệt ra tôi làm dùm cho luôn thể.

    Hạ công tử nghe nói liền đem việc mình tỏ ra. Bao Công ghi vào giấy, đóng ấn tín của mình bên dưới rồi kêu lính gác biểu đem ra trình quan.

    Đọc xong, huyện quan sợ xanh mặt chạy vội vào ngục thất xá dài Bao Công mà xin lỗi. Bao Công cười nói: “Quan không có lỗi chi” rồi theo huyện quan về dinh thay y phục đại thần.

    Lát sau. Bao Công đăng đường lấy hồ sơ Hạ Xương Thời ra coi lại rồi hỏi huyện quan:

    - Thiệt tình quan vẫn tin Thời là thủ phạm giết nữ tỳ Thu Hương?

    - Thưa Thượng quan, thiểm chức chắc chắn là y chứ không ai khác. Hắn chối dài mãi tới khi Cao tiểu thơ ra khai hắn mới chịu nhận.

    - Họ Hạ không nhận đã giết thu Hương chỉ nhận có được Cao tiểu thơ cho nữ tỳ thu Hương đến hẹn đi lấy bạc thôi. À mà quan có hỏi Hạ Xương Thời coi y có đến chỗ hẹn không sao không thấy ghi vô biên bản?

    - Dạ thưa… không. Vả lại thấy y lúng túng quá nên thiểm chức cho là có hỏi cũng vô ích, hắn sẽ tìm cách chối quanh.

    - Quan có thấy lời khai của quan Kiểm Sự Cao Khoa cũng có vẻ lúng túng không?

    - Thưa… kể ra thì cũng không được minh bạch lắm. Dường như ông ta cố che đậy việc con gái đưa bạc cho họ Hạ.

    Bao Công gật đầu nói:

    - Nếu không thể vì thế mà nghi oan cho cao Khoa đã hạ sát nữ tỳ để vu vạ cho Hạ Xương Thời thì cũng không nên vội kết tội họ Hạ. Ta không võ đoán là họ Hạ vô tội nhưng ta trách quan đã ngưng cuộc điều tra lại ở nửa chừng, khiến cho người ta có thể bị oan.

    Suy nghĩ một lát, Bao Công nói tiếp:

    - Bây giờ quan phải làm gấp bốn việc ta dặn đây: Thứ nhất là dẫn Hạ Xương Thời lên để ta hỏi lại, thứ hai là cho mời Cao tiểu thơ tới cho ta hỏi chuyện, thứ ba là cho mật điều tra đám gia nhân của Cao Khoa coi có đứa nào tự nhiên xin thôi hoặc có chi khác ý không, thứ bốn mật điều tra trong giới bạn học của Thời xem tánh nết ra sao và có ai có vẻ chi khác lạ chăng. Bốn việc này đáng lẽ quan phải làm rồi.

    Nhưng thôi ta cũng miễn thứ cho vì quan còn trẻ, ít kinh nghiệm, vả lại việc này cũng khó. Quan khá lui ra và thi hành mau lẹ các điều ta dặn.

    Lát sau, lính dẫn Hạ Công tử vô, Bao Công hỏi:

    - Ngươi hãy thuật rõ lại mọi việc từ lúc Cao Khoa từ hôn khéo cho đến phút ngươi bị bắt. Có thế nào phải khai cho thiệt.

    Hạ công tử nhất nhất thuật lại đầu đuôi câu chuyện đúng với sự thật nhất là lúc chàng vô vườn hoa họ Cao thế sự thể ra sao.

    Họ Hạ vừa thuật xong thì lính vào bẩm có Cao tiểu thơ đến. Bao Công truyền cho Hạ công tử ra chờ bên ngoài để lát nữa ông còn xét hỏi thêm. Đoạn ông cho mời Cao tiểu thơ vô và hỏi liền:

    - Tiểu thơ vẫn giữ vững lời khai năm trước chứ?

    - Thưa, không có chi thay đổi. Chính Thời đã giết nữ tỳ Thu Hương.

    - Vì sao?

    - Vì anh ta không muốn lấy tôi nên đoạt bạc rồi hạ thủ nữ tỳ đăng gieo vạ cho cha tôi để trả thù vì đã bị cha tôi làm xấu mặt.

    Bao Công lặng thinh một lát rồi đột ngột hỏi:

    - Ngoài nữ tỳ Thu Hương còn có ai biết tiểu thơ hẹn Thời đến lấy bạc vàng nữ trang không?

    - Thưa không.

    - Tiểu thơ có nói chuyện với ai không?

    - Không.

    - Ngay cả với Cao lão gia cũng không?

    - Dạ, cũng không.

    - Tiểu thơ có tin là nữ tỳ Thu Hương tiết lộ câu chuyện cho một người khác ngoài Hạ Xương Thời không?

    - Thưa tôi không tin. Nó là người kín tiếng và rất mựng trung thành.

    - Thôi được, cho tiểu thơ về nhưng không được kể lại cho ai nghe các điều ta đã hỏi.

    Quí Ngọc vái chào ra về.

    Bao Công cho gọi Hạ công tử và hỏi rằng:

    - Bữa nữ tỳ Thu Hương tới hẹn ngươi đi lấy bạc có ai biết không?

    - Thưa không.

    - Ngươi có tiết lộ cho ai không?

    - Thưa có.

    - Ai?

    - Dạ, Lý Thiện Phụ, bạn đồng môn với tôi.

    - Khi nghe nươi cho hay câu chuyện, thái độ của họ Lý ra sao?

    - Anh ấy ngỏ lời mừng tôi.

    - Ngươi có nghi hắn đã giết Thu Hương mà đoạt bạc rồi để tội cho ngươi không?

    - Dạ, không.

    Bao Công vẫn kiên nhẫn hỏi:

    - Trước khi đến nhà họ Cao, ngươi có gặp lại Lý Thiện Phụ không?

    - Dạ, có. Chiều đó anh ấy mời tôi uống rượu tại nhà anh nói là để mừng tôi.

    - Rồi sao nữa?

    - Tôi vì tửu lượng kém nên qua hai tuần rượu đã say gục xuống bên mâm ngủ vùi…

    Bao Công ngắt lời:

    - Ngủ lâu mau.

    - Dạ cũng khá. Khi nhập tiệc thì lên đèn, lúc tỉnh dậy đã sang canh hai.

    - Lúc tỉnh dậy thấy Lý Thiện Phụ làm gì?

    - Dạ thấy anh ấy cũng nằm nghỉ bên tôi.

    - Nó thức hay ngủ.

    - Dạ, thức.

    - Nó nói chi?

    - Dạ, anh chê tôi tửu lượng kém và bảo tôi đi bấy giờ thì vắng vẻ và còn kịp.

    Hỏi tới đây, Bao Công ra lệnh cho lính dẫn Hạ công tử trở lại ngục thất. Đoạn ông nói với huyện quan mời hết học trò tại phủ Ninh Ba sáng mai đến huyện để ông khảo duyệt chữ nghĩa.

    Sau đó ông kêu một thám tử thân tín cô dặn nhỏ một hồi.

    Sáng sau mấy chục thư sinh trong toàn phủ đã tề tựu đông đủ.

    Bao Công cho gọi tất cả vô rồi hỏi thăm sơ qua từng người một. Mãi mới tới phiên Lý Thiện Phụ. Bao Công nhận diện rồi hỏi qua người khác. Lát sau, ông ra bài phú cho mọi người cùng làm.

    Đúng ngọ, Bao Công cho góp bài rồi truyền học trò mai sớm lại coi bảng.

    Kết quả:Lý Thiện Phụ đậu đầu. Đám sĩ tử xúm lại mừng họ Lý cùng với Hạ Xương Thời và đôi ba người nữa vẫn được tiếng được giỏi.

    Bao Công ngồi đối ẩm với huyện quan. Nhân bàn về trình độ học vấn của sĩ tử hàng huyện, huyện quan hỏi:

    - Thượng quan thấy Lý Thiện Phụ học lực và tánh tình ra sao?

    Sức học thì khá, còn về tánh tình thì ta định hỏi ý kiến quan đây.

    - Dạ, hắn là người hiền lành, lương thiện.

    Hai người đàm đạo tới đây thì viên thám tử thân tín của Bao Công vô bẩm rằng:

    - Thưa đại quan, kẻ thuộc hạ xin nhắc đại quan mai về tỉnh tiếp người đến mai cho tiểu thơ.

    Bao Công vui vẻ đáp:

    - Tốt lắm, chút xíu ngươi không nhắc ta quên phức đi rồi.

    Rồi ông quay lại bảo huyện quan:

    - Nội trong ngày nay ta sẽ xét nốt mấy hồ sơ còn lại để mai lên đường về tỉnh sớm. Tối nay quan đặt tiệc mời thân hào nhân sĩ làng huyện và Lý Thiện Phụ tới dự trước là để ban khen họ Lý sau là khuyến khích sĩ tử trong vùng.

    Bữa tiệc tiếp diễn trong bầu không khí tưng bừng, vẻ hân hoan hiện trên nét mặt mọi người riêng Lý Thiện Phụ thì lòng như mở hội.Lúc thấy Bao Công tới tuần tra, họ Lý đã hơi chột dạ vì nhớ tới lời đồn Thiết diện đại nhơn xử án như thần. Qua mấy bữa nghe ngóng, họ Lý không thấy ai nghi ngờ gì mình nay lại thấy Bao Công tiếp đãi niềm nở, trọng hậu, nên Phụ càng đắc ý, trong bụng có ý chê người đời đã phóng đại tài tra án của Bao Công. Theo họ Lý, đó cũng chỉ là một lối “rung cây nhát khỉ”.

    Lại nói về Bao Công tuy nói chuyện với mọi người nhưng vẫn để ý dò xét Lý Thiện Phụ qua lời ăn, tiếng nói song ông không đả động gì đến vụ án Hạ xương Thời cả.

    Qua sáng sau, Bao Công dậy sớm, sửa soạn về tỉnh. Trước khi lên đường, ông bảo huyện quan:

    - Vụ án Hạ công tử, chưa có đầu mối chi rõ rệt.Quan cho điều tra kỹ lại về đám gia nhân họ Cao.

    Về tỉnh lỵ được ít bữa. Bao Công viết thư xuống huyện tỏ ý khen ngợi Lý Thiện Phụ và nhờ huyện quan mời họ Lý lên tỉnh dự tiệc. Khắp huyện lấy làm hãnh diện và họ Lý cũng mừng rỡ lắm.

    Chuyến đó Lý Thiện Phụ lên tỉnh được Bao Công tiếp đãi hậu hỹ và chuyện trò rất thân mật khiến họ Lý cảm động vô cùng càng tin là Bao Công không nghi ngờ gì mình cả.

    Ít lâu sau Bao Công lại cho mời Lý Thiện Phụ lên dự tiệc, Khi rượu đã xoàng, Bao Công buồn rầu nói với họ Lý:

    - Ta làm quan thanh liêm như thế nào, tất ngươi cũng đã nghe nói. Cửa nhà thanh bạch nay lại sắp cho con gái đi lấy chồng, không có tư trang nó sẽ tủi thân.

    Bao Công ngưng một chút rồi thở dài nói tiếp:

    - Phần ta cũng đau khổ vì không lo nổi cho con để nó phải thua bạn, kém em. Nỗi lòng không biết tỏ cùng ai, nay thấy ngươi học rộng tài cao, rồi ra thế nào cũng được bảng hổ đề danh, đường hoạn lộ thênh thang cử bước. Đem tâm sự kể ra cho ngươi, ta cũng hổ thẹn vô cùng.

    Tới đây,Bao Công chậm rãi châm thêm rượu cho Lý Thiện Phụ và ngập ngừng nói:

    - Ngươi là bạch diện thư sinh… còn ăn nhờ vào cha mẹ… dù có muốn cũng không thể giúp đỡ ta được. Vậy nếu biết ai có mượn tạm dùm ngày sau ta lo báo bổ xứng đáng cho ngươi. Thôi ngươi hãy cố giúp ta, được thì càng hay, bằng không được thì cũng thôi. Điều cần là đừng tiết lộ cho ai hay biết.

    Lý Thiện Phụ vâng dạ rồi lui về. Dọc đường y tự hỏi:

    - Có thể ông ta bày mẹo để bẫy mình chăng? Vô lý. Nếu ông ta nghi ngờ mình thì đâu có hậu đãi như thế. Vả lại chuyện cưới gả là chuyện có thiệt và có trước mà. Có lẽ ông ta nghèo thật. Chi bằng ta cứ lấy ngay nữ trang đã cướp được đem đến hiến cho ông ta để sau này được lợi là hơn. Tuy vậy cũng để vài ba bữa hãy đem dâng kẻo bao Công thấy lẹ quá sinh nghi.

    Bốn ngày sau, Lý Thiện Phụ lên tỉnh yết kiến Bao Công mang theo một gói vải điều trong có trâm ngọc, trâm vàng của Cao tiểu thơ mà y đã đoạt được lúc trước, sau khi hạ sát nữ tỳ Thu Hương.

    Bao Công cảm ơn Lý Thiện Phụ rồi vừa cười vừa nói

    - Ngươi cứ yên tâm ra về. Ta sẽ trả công ngươi thích đáng.

    Phụ đi khỏi. Bao Công xem xét đồ nữ trang rất kỹ rồi sai lính hoả bài cấp tốc đi đòi huyện quan đem trình hồ sơ vụ án nữ tỳ Thu Hương và áp giải Hạ Xương Thời lên luôn thể.

    Lát sau huyện quan và toán lính giải Hạ công tử về tới Nha môn.

    Bao Công truyền tạm giam Hạ Xương Thời vào lao thất rồi hỏi huyện quan:

    - Theo chỗ quan biết thì gia cảnh Lý Thiện Phụ ra sao?

    - Dạ, chỉ đủ ăn thôi.

    - Y có bà con cô bác chi giàu lớn không?

    - Dạ không.

    Bao Công gật đầu nói:

    - Ta nghi ngờ như vậy. Thôi được bây giờ quan cho đòi Quí Ngọc con Cao Khoa tới hầu gấp. Quan cho mời Lý Thiện Phụ đến huyện giả bộ đàm đạo văn chương thi phú, hễ ta cho kêu thì đưa y lên gặp ta ngay, chớ chậm trễ mà nó trốn mất.

    Huyện quan tuân lệnh lui về. Hơn một tiếng đồng hồ sau lính hầu vào bẩm có Cao Quí Ngọc tuân lệnh đòi đã tới trước công môn.

    Bao Công truyền cho vào. Vừa thấy mặt Cao tiểu thơ, Bao Công đã hỏi:

    - Năm trước, trong gói bạc vàng châu báu nàng uỷ cho tỳ nữ Thu Hương đem trao lại Hạ Xương Thời, có những gì?

    - Dạ thưa có đôi trâm ngọc đôi trâm vàng và mộ số thoi vàng, thoi bạc, tất cả trị giá hơn trăm lượng vàng.

    - Liệu bây giờ nàng có nhận ra nữ trang bị mất không.

    Vừa nói Bao Công vừa bầy các tài vật mà Lý Thiện Phụ dâng ông lúc nẫy.

    Quí Ngọc cầm lên xem qua rồi nói, giọng quả quyết:

    - Thưa Thượng quan, đúng đây là nữ trang của tôi rồi. Vì là đồ gia bảo có những đặc điểm riêng biệt nên tôi nhận ra ngay.

    Bao Công cười đáp:

    - Ta cũng nghĩ như vậy. Vả lại trên các món đồ đều có chữ “Cao” khắc rất nhỏ trên mặt trái, ai không để ý tất không thấy được.

    Nói đoạn Bao Công viết mấy chữ rồi kêu lính hầu vô trao thư và dặn rằng:

    - Ngươi khá đưa tiểu thư ra ngoài chờ lệnh và kêu lính hoả bài đem giấy này xuống quan huyện Đinh Hải ngay lập tức.

    Huyện quan tiếp được công văn, lật đật mở ra coi thấy bao Công ra lệnh áp giải Lý Thiện Phụ lên tỉnh và cho mời Cao Khoa lên hầu luôn thể.

    Lý Thiện Phụ thấy huyện quan sai lính áp giải y lên Nha của Bao Công thì chột dạ, lo lắng hỏi:

    - Có chuyện gì vậy quan?

    - Cái đó thì chờ mà hỏi Bao đại nhơn.

    Lý Thiện Phụ hồi hộp bước vô công đường. Thấy Bao Công nhìn y bằng đôi mắt khác thường. Phụ đoán có chuyện chẳng lành.

    Bao Công không hỏi Phụ vội ông quay ra bảo thơ lại cho dẫn quí Ngọc, Hạ Xương Thời và cao Khoa cùng vô hầu một lượt.

    Lý Thiện Phụ lo sợ tim đập như trống làng, nhưng y cũng cố làm ra vẻ bình tĩnh.

    Chờ cho Quí Ngọc, Hạ Công Tử và Cao Khoa đến trước án. Bao Công mới chậm rãi giơ các đồ nữ trang lên mà hỏi Lý Thiện Phụ:

    - Những món này của nhà ngươi?

    - Dạ phải.

    Bao Công nhìn Quí Ngọc:

    - Tiểu thơ thấy thế nào?

    - Dạ thưa hắn nhận bậy. Những món này là đồ gia bảo của tôi bị mất trong đêm nữ tỳ Thu Hương bị hạ sát.

    Lý Thiện Phụ thất kinh nhưng còn chối cãi:

    - Đồ này của tôi mua năm nọ của khách qua đường sao tiểu thơ dám nhận bất tử vậy.

    Hạ Công Tử chứng kiến từ nãy đến giờ, tới đây bỗng như chợt tỉnh giấc mơ, điểm ngay mặt Lý Thiện Phụ mà nói rằng:

    - Ngươi chẳng mua của ai hết. Chính ngươi được ta quá thiệt thà cho biết buổi hẹn nên đã chuốc rượu cho ta say rồi lén đến Huê đình của Cao Lão gia, đánh chết nữ tỳ Thu Hương mà đoạt gói bảo vật quý kim.

    Lý Thiện Phụ nghe nói hết hồn, chưa biết chống đỡ ra sao thì Bao Công đã hạ luôn một đòn chí tử:

    - Cũng khá khen cho nhà ngươi khéo bầy ra mưu mô thâm độc, bỏ thuốc mê vô rượu để hại bạn. Khôn hồn thì nhận tội đi đừng để ta phải nhọc lòng tra khảo.

    Lý Thiện Phụ cãi không lại đành phải công khai hết sự thật và chỉ chỗ giấu số vàng còn lại. Bao Công truyền lính đến ngay nhà Phụ tịch thâu tang vật .

    Sau khi nghe Lý Thiện Phụ nhận tội lỗi, Cao Khoa hổ thẹn vô cùng, mặt cúi gầm, không dám nhìn Bao Công.

    Bao Công hắng giọng rồi cất tiếng sang sảng phán rằng:

    - Lý Thiện Phụ, mi tham lam gian trá dùng thuốc mê gạt người giữa tiệc, lại phạm tội cướp của giết người, mi đáng tội tử hình để làm gương răn phường tàn bạo. May mà ta điều tra ra nếu không thì Hạ Công tử đã bị hàm oan và chết mòn trong ngục thất còn chi. Việc ta gả con gái và việc ta nhờ mi quơ dùm vài món nữ trang để dùng vào lễ cưới cho con gái ta cũng như việc ta cho mi đậu đầu trong kỳ khảo hạch chẳng qua chỉ là mẹo để đưa dần mi vào bẫy của ta mà thôi.

    Rồi quay sang phía Cao Khoa, Bao Công nói:

    - Ông từng là phụ mẫu chi dân mà sao chẳng biết giữ ngũ thường lại tham sang phụ kẻ bần hàn, nuốt lời “chỉ phúc giao hôn” năm xưa, sự bội ước của ông thật đáng bị trừng phạt nhưng xét vì ông là dòng dõi quan quyền nên ta chiếu phép vua mà rộng tình dung thứ. Nhưng cũng răn ông tự hậu nên ăn ở cho phải đạo làm người: lấy nhân, nghĩa, lễ, tri, tín làm trọng.

    Hướng về phíc Cao tiểu thơ và Hạ Xương Thời, Bao Công dịu giọng nói:

    - Hạ công tử hiền hậu, thiệt thà, chỉ vì quá tin bạn mà mang hoạ vào thân. Nay xét ra công tử vô tội, nên ta truyền trả lại tự do. Về phần Cao tiểu thơ, ta có lời khen nàng tuy gặp nghịch cảnh mà vẫn không quên điều nghĩa, một dạ tiết trinh chẳng chịu ôm cầm thuyền khác. Nay ta xét hai trẻ vẫn xứng đáng với nhau nên ta truyền cho hai họ Hạ và Cao giao hôn với nhau đặng sớm cho hai trẻ kết duyên tần tấn.

    Bao Công phán xong truyền tống giamLý Thiện Phụ vào khu tử tội đoạn ông giao trả nữ trang và gói bạc vàng (mà lính đã đi lấy đem về) cho Quí Ngọc rồi truyền cho nàng cùng phụ thân và vị hôn phu tự do ra về.

    Sách cho chép rằng sau khi được tha về ít lâu. Hạ Công Tử thành hôn với Quí Ngọc. Cảm cái ơn đức cao dày của Bao Công, hai vợ chồng Hạ Xương Thời cho vẽ hình và tạc tượng Bao Công để sớm tối đèn nhang thờ phụng như bậc thần linh vậy.

    Hạ Công Tử tiếp tục học hành vè sau thi đậu làm quan đến chức cấp sự. Hai vợ chồng sanh con cháu đầy đàn, tiền bạc danh vọng chứa chan. Suốt một đời, họ chuyên cưu mang giúp đỡ kẻ khốn cùng và rất ghét bọn sui gia và bằng hữu phi nghĩa. Thật là trời có mắt vậy.
  5. s2.GàCon.s2 Beyond Godlike !!!

    Làm thành viên từ:
    3 Tháng hai 2013
    Số bài viết:
    1,876
    Đã được thích:
    164
    Điểm thành tích:
    63
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    Ăn Xin
    Bao Công xử án

    Chương 19

    Hồi 19 : RƯỢU VÀO, CỦA RA

    Ngày xưa, tại một huyện Nhơn Hòa thuộc phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang bên Tàu, có vợ chồng thương gia họ Sài, tiền bạc rất nhiều mà ruộng nương cũng lắm. Họ Sài có hai con trai tên là Sài Thắng mười tám tuổi và Sài Tổ mười sáu tuổi.

    Thắng và Tổ không thoát khỏi tục lệ tảo hôn hồi đó nên cả hai đều đã lập gia đình, tuy vẫn ngày ngày cắp sách đến trường học chữ thánh hiền.

    Hai anh em nhà ấy hiền lành, thiệt thà lại lấy được vợ nết na, thuần tục, nên chi cảnh nhà rất là đầm ấm yên vui.

    Về sự học, Sài Thắng có phần kém em nhiều. Sài lão gia dư biết nên từ lâu ông có ý muốn cho con cả xếp bút nghiên bỏ đường hoạn lộ bước qua thương trường. Nhưng vì Sài bà can gián nhiều phen nên ông lần lữa mãi đến nay mới nhất định bắt Sài Thắng thôi học đặng kế nghiệp ông.

    Quen như mọi lần, Sài bà nói:

    - Nó mới mười tám tuổi đầu, buôn chi mà bán chi cho đặng. Thôi ông cứ để nó đi học.

    Sài ông gạt phắt:

    - Tôi đã để nó đi học thêm ba bốn năm rồi. Như vậy nó dư đủ chữ nghĩa để giao dịch giấy tờ, sổ sách làm ăn.

    - Ông làm thế không sợ con nó oán mình thương đứa này ghét đứa nọ.

    - Đâu có. Phận làm cha mẹ, con nào chẳng là con. Bà đừng nghĩ là tôi ghét bỏ gì thằng Thắng đâu. Nó tối dạ, học mãi chẳng thông, mình phải lo hướng nó sang nghành thực nghiệp làm ăn thì hơn.

    - Thì ông thư thả vài năm cũng được, nhà ta giàu có cần chi bắt con sớm vất vả. Nó còn trẻ mà.

    - Bà nói chẳng đáo lý chút nào. Aida1m chắc mình có của trọn đời? Vả lại để nó quá lớn thì nó lại càng thêm đau khổ về sự dở dang của nó. Nếu định cho nó doanh thương thì nên cho ra đụng chạm với đời vào tuổi mười tám cũng không sớm gì, hơn nữa tôi sẽ cho người đi theo hầu nó thì lo gì. Cho dù nó có thất bại những lần đầu càng thêm kinh nghiệm có sao?

    Sài bà thở dài đáp:

    - Cái đó tùy ông. Nhưng ông liệu lời chỉ bảo cho con nó hiểu. Tôi thiết tưởng mình không nên nói đến sự học hành kém cỏi của nó.

    Sài ông cả cười:

    - Bà không phải lo điều đó. Tôi đã có cách nói cho nó thuận chớ. Khi nào tôi lại làm cho nó mất sự tự tin đi chớ. Ai mà dại vậy.

    Mấy bữa sau, Sài ông kêu Sài Thắng đến mà bảo rằng:

    - Nhà ta tuy giàu sang nhưng vẫn lo lắng vô cùng. Lo là vì làm ra tiền thì khó mà tiêu mòn đi thì dễ. Cổ nhân có câu “miệng ăn núi lở”. Nay ta và mẹ con đều già rồi, tất nhiên hết lộc, sự buôn bán chẳng lanh lợi như xưa. Ta thấy đời nay lớp thanh niên như con hay ỷ vào cha mẹ có chức quyền địa vị hay tiền bạc mà ưa mặc đẹp, ăn ngon, kiêu căng, lãng phí mà không biết rằng bạc tiền là do ông cha phải cực nhọc làm ra, đâu phải tự nhiên mà có. Ta biết con là người khí phách, có khiếu về doanh thương lại muốn tự lập không khi nào lại bắt chước bọn ỷ lại vào cha mẹ. Với sự học của con, ta thấy đủ để con có thể bướn sang thương trường mà không sợ sau này bị chê cười là hàng trọc phú. Vậy ta định cho con đi buôn bán nơi xa đặng thâu nhập kinh nghiệm, trong một thời gian, trước khi về ở hẳn nhà thay ta quán xuyến mọi việc làm ăn. Con nghĩ có hạp ý con không?

    Sài Thắng thưa:

    - Cha dạy rất phải. Con xin tuân lời. Hiềm một nỗi, cha mẹ nay tuổi đã cao, mà em con còn nhỏ nay đã ra đi, vì thế lòng con áy náy.

    Sài ông chậm rãi đáp:

    - Con hiếu đễ thế cũng phải. Nếu con biết thương cha mẹ, thời con nên sớm hun đúc ý chí tự lập, tự cường để ta khỏi phải lo lắng. Còn việc ở nhà d9a4co1 vợ con và vợ chồng Sài Tổ là đủ rồi.

    - Con xin tuân lời cha. Xin chabiếtcon cần phải đi xứ nào trước?

    - Hiện nay phủ Khai Phong ở miệt Đông Kinh đang khan vải, trong khi phủ Hàng Châu ta có vải nhiều. Vậy con đem vốn buôn vải Hàng Châu qua phủ Khai Phong bán lại, hẳn là phải được lời. Con cứ đi lối dăm bảy tháng hay một năm hãy về cũng được.

    Sài bà đau khổ hỏi chồng:

    - Ông xem vùng con nó sắp đi tới, có yên không?

    Sài ông cười hề hề đáp:

    - Làm gì mà chẳng yên. Phủ hàng Châu là vùng ta đây gồm toàn dân làm ăn lương thiện còn phủ Khai Phong là nơi Bao Đại nhơn đang trị nhậm. Quãng đường giữa hai phủ rất là yên ổn, người ta đi như đi chợ. Bà đừng lo lắng hão huyền cho con nó sợ.

    Nói đoạn ông quay ra bảo Sài Thắng:

    - Thôi con sửa soạn cuối tuần trăng này đi thì vừa. Tasẽ cho một gia nhân mạnh khoẻ và trung tín theo hầu. Con phải biết tin cậy nó nhiều kinh nghiệm biết chọn hàng và trả giá.

    Hạ tuần tháng ấy, Sài Thắng cùng một gia nhân, mang tiền bạc dạo khắp phủ Hàng Châu mua được ba gánh vải đem về nhà.

    Sài ông liền bảo con đem các vải mua được cho ông coi. Ông dạy cho con cách phân biệt các loại hàng, chỉ vẽ cho con cách xem nhãn hiệu, đo ni tấc các súc vải vóc cùng cách tính giá bán sỉ và lẻ. Ông bắt con lặp đi lặp lại cho đến thuộc lòng mới nghe. Cẩn thận hơn nữa, ông lại bắt con ghi dấu các hiệu hàng và vô sổ đầy đủ.

    Sau mấy bữa nghỉ ngơi, Sài Thắng cùng gia nhân áp tải đám mã phu chở hàng qua bán bên phủ Khai Phong. Bữa Sài Thắng lên đường, Sài bà và vợ Thắng là Lương thị khóc như mưa. Sài Thắng bồi hồi tấc dạ, dùng dằng chẳng dứt mà đi cho đặng. Sài ông thấy vậy chống gậy trúc đi ra quát mắng om sòm. Hai người đàn bà ngưng tiếng khóc nép bên hiên nhà nhìn chồng con ra đi. Vì là lần đầu tiên xa nhà nên sài Thắng chân bước đi mà mặt còn nghoảnh lại, mối sầu tràn ngập tâm hồn.

    Anh gia nhân vốn là người từng trải, tìm mọi cách gợi chuyện để cậu chủ vui với cảnh vật bên đường mà vơi bớt mỗi buồn xa nhà.

    Mấy bữa đầu, Sài Thắng còn biếng ăn, ít nói nhưng qua vài ngày sau bản tính hiếu động của tuổi thanh niên như sống lại trong lòng người trai trẻ. Chàng say sưa ngắm cảnh đẹp và thấy đời sống giang hồ, rầy đây mai đó cũng có cái thú riêng của nó.

    Gia nhân thấy vậy thì mừng lắm nhưng lại sợ chủ mải vui quên việc làm ăn nên thỉnh thoảng lại lựa lời đem chuyện buôn bán ra bàn.

    Hai thầy trò và toán mã phu chở hàng ngày đi đêm nghỉ, thấm thoát được gần một tháng mới tới phủ Khai Phong.

    Họ theo phía cửa Đông đi vào phố phủ và ghé nghỉ tại nhà ngủ của Tử thâm.

    Hai thầy trò xếp ba gánh vải vô phòng ngủ rồi thay quần áo lên nhà trên nói chuyện với chủ tiệm Tử Thâm.

    Qua tuần nước, chủ tiệm hỏi sài Thắng:

    - Cậu từ đâu lại mang hàng vải chi lên bán vậy?

    - Tôi đem vải vóc tơ lụa ở Hàng Châu lên.

    - Chà, thế thì gặp dịp quá. Vải Hàng Châu rất ăn khách lại đang khan hiếm. Ai mách nước cho cậu vậy?

    - Cha tôi.

    - Cậu mới đi buôn lần đầu sao?

    - Dạ phải.

    Chủ tiệm chăm chú nhìn Sài Thắng và anh gia nhân đứng hầu hồi lâu rồi có lẽ vì tính tọc mạch tự nhiên của nghề nghiệp thúc đẩy, ông ta có ý muốn “sát hạch” Sài Thắng nên hỏi:

    - Chắc cậu rành rẽ về mặt hàng này lắm nhỉ.

    Sài Thắng khiêm tốn đáp:

    - Dạ cũng biết tạm đủ mà thôi.

    Nói đoạn chàng sai gia nhân về phòng lấy mẫu hàng đem lên.

    Chàng giải thích cặn kẽ đặc tính của từng loại hàng một: thứ này mỏng nhưng chắc sợi, thứ kia dày hơn nhưng không được mịn lắm, thứ này kém thứ kia về ni tấc nhưng lại hơn về màu lâu phai v.v… chàng cũng lại nói rõ sản phẩm đặc biệt của mỗi phường dệt cùng ý nghĩa các nhãn hiệu.

    Chủ tiệm Tử Thâm yên lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu tán thưởng. Sài Thắng dứt lời, Tử Thâm đứng dậy vỗ vai chàng và nói:

    - Tôi không hề quen biết cha cậu nhưng qua các lời cậu vừa trình bày, tôi cũng đoán cha cậu phải là một tay buôn có hạng lắm. Thiệt là hổ phụ sinh hổ tử.

    Trong khi gia nhân thu xếp hàng đem cất vô phòng, Sài Thắng hỏi thăm chủ tiệm về nhân văn địa lý của phủ Khai Phong.

    Tử Thâm nói:

    - Đất vùng này phì nhiêu, dân phủ này giàu có và co chân khoa bảng cũng nhiều. Từ ngày Bao Đại nhơn trị nhậm phủ này, dân chúng sống yên ổn làm ăn lại càng sung túc.

    - Thế còn Thiết diện đại nhơn ở phủ Khai Phong là ai mà nghe đồn xử án như thần vậy?

    Tử Thâm cả cười đáp:

    - Thiết diện đại nhơn hay Bao Công là hai danh hiệu để chỉ quan phủ nơi này… (rồi y hạ thấp giọng nói tiếp) … tục danh của ngài, là Bao Chửng. Thôi tôi có việc phải ra ngoài một chút, cậu có đi dạo cảnh xem phố xá thì cứ đi. Ở đây nghiêm lắm, không sợ mất mát đồ vật đâu.

    Hai thầy trò Sài Thắng thong thả đi dạo khắp phố phường. Xem mãi không chán mắt. Phủ Hàng Châu đã là đẹp mà còn thu phủ Khai Phong nhiều.

    Qua Nha của Bao Công, hai người lén nhìn vô. Bỗng Sài Thắng bảo nhỏ gia nhân:

    - Không biết mặt mũi ông ta ra sao mà thiên hạ gọi là Thiết Diện.

    - Nghĩa là sao cậu?

    - Thiết Diện là mặt sắt, chắc là mặt ông ta đen sì.

    - Người gì mà cổ quái vậy cậu?

    - Aáy dị nhân, dị tài mà. Ông ta xử đoán như thần. Ước gì mình có việc vào đây nhìn tận mặt cho rõ thực hư.

    Gia nhân trợn mắt, lè lưỡi:

    - Thôi con van cậu. Mong chi ba cái điều đó. sui lắm đa, cậu. Cậu đói bụng chưa, ta ghé tiệm ăn là vừa.

    Sài Thắng gật đầu. Hai thầy trò ghé tiệm dùng cơm chiều rồi lại dắt nhau đi dạo phố mãi tới khuya mới trở về nhà trọ.

    Xem mãi cũng hết. Rong chơi mấy bữa rồi cũng chán. Bữa nay Sài Thắng cùng gia nhân ở nhà đem hàng vải ra sắp xếp lại để ba ngày nữa đem ra phiên chợ bán.

    Hai người bày la liệt vải vóc ra đầy hai giường. Giữa lúc ấy có tên Hạ Nhựt Hạo ở gần đó đi qua nhìn thấy ngốt của, sanh lòng tham muốn lấy trộm hết.

    Hắn rình suốt ngày hôm đó không thấy hai người đi ra phố như mọi bận. Đêm ấy đôi ba lần hắn toan lẻn vô ăn trộm mà chẳng xong vì sài thắng và gia nhân rất tỉnh ngủ, hơi động dạng một chút là cất tiếng hỏi liền.

    Hạ Nhựt Hạo lẩm bẩm:

    - Bữa nay chưa được, bữa mai được biết đâu? Nó có bán hết vải này cũng còn phải vài tháng là ít.

    Nghĩ vậy hắn quyết tâm rình rập, chờ cơ hội thuận tiện.

    Qua sáng sau, Sài Thắng và gia nhân định bụng nghỉ vì còn hai bữa nữa đã tới phiên chợ, nên không đi đâu chơi cả.

    Nằm chán lại ngồi, ngồi chán lại nằm, thét một hồi Sài Thắng thấy nỗi nhớ nhà tràn ngập tâm hồn. Nỗi buồn xa quê hương càng dâng lên mãnh liệt khi nắng chiều thoi thóp trên ngọn cây cau trong sân nhà trọ. Tiếng chim sào sạc gọi nhau về tổ ấm càng khiến cho chàng trai trẻ sót sa tất dạ.

    Sau cái thở dài não ruột chàng bảo gia nhân:

    - Chú ra phố mua rượu và đồ nhậu về ăn chơi. Có phải bữa nay trời trở lạnh không chú?

    - Trời mới cuối thu mà cậu đã kêu lạnh. Hay là cậu đau? Để tôi kiếm thuốc cho cậu uống, chớ uống rượu vô làm trọng bệnh thì khốn.

    Không muốn cho gia nhân biết ý định của chàng mượn rượu giải sầu, Sài Thắng gượng cười nói tránh đi:

    - Có đau đâu mà phải thuốc men. Tôi không quen dãi nắng dầm sương như chú nên thấy lạnh, chớ có gì đâu. Thôi chú mau đi kiếm rượu về mình nhậu chơi.

    - Cậu muốn thế, tôi cũng chiều cậu. Nhưng cậu không quen uống rượu mà tôi thì tử lượng kém lắm thôi để tôi lên nhà mua lại của chủ quán hai ly nhỏ cũng đủ, khỏi phải ra phố. Còn đồ nhậu tôi có sẵn rồi.

    - Không nên làm phiền người ta. Chú cứ đi mua một hũ rượu ngon về đây, chẳng uống hết thì để dành uống dần có sao.

    Anh gia nhân thấy chủ nói vậy, đành phải ra phố mua một hũ rượu đem về.

    Rồi chủ và tớ ngồi cùng mâm nhắm rượu vui vẻ lắm. Được thứ rượu tốtcàng uống càng ngọt giọng, không say ngay nên hai người vui miệng uống tràn. Một tuần, hai tuần rồi ba, bốn tuần… thét một hồi cả hai đều say khướt. Sài Thắng phục ngay xuống bên mâm rượu ngủ vùi. Anh gia nhân tuy đã lảo đảo song còn cố gắng thu dọn được tiệc rượu rồi mới lăn ra ngủ, ngáy ầm ầm như sấm. Nhưng anh ta chỉ cài cửa sơ sài chớ không chặn cẩn thận như thường lệ.

    Lại nói về Hạ Nhựt Hạo, vẫn rình mò bên ngoài, thấy vậy soạn đồ nghề rồi chờ đến nửa đêm, nhà nhà đều ngủ say mới lần ra nhà trọ, lén tới phòng Sài Thắng cậy cửa chun vô khuôn sạch cả ba gánh vải chất bên bụi chuối sau hè rồi chuyển dần về nhà, tới canh tư thì hoàn tất mà chẳng ai hay biết gì.

    Sáng sau Sài Thắng tỉnh rượu thấy cửa mở toang, nhìn sang giường bên thấy gia nhân vẫn nằm ngủ say mới giật mình chồm dậy thì than ôi ba gánh vải đã không cánh mà bay.

    Sài Thắng tái mặt trong khi anh gia nhân vừa khóc vừa nói:

    - Lỗi tại tôi không cản ngăn cậu nên mới ra cớ sự này. Biết nói làm sao với sài lão gia đây.

    Rồi y toan đấm ngực, miệng mếu máo:

    - Quân phản chủ là tôi. Quân phản chủ là tôi.

    Sài Thắng thở dài vỗ vai người đày tớ trung thành và bảo:

    - Thôi, chú chẳng nên phiền muộn làm chi. Việc đã lỡ rồi. Hối cũng bất cập mà than vãn cũng chẳng ích gì. Ráng đi tìm kiếm lại là hơn.

    Nói đoạn Sài Thắng xăm xăm bước lên nhà trên, gọi củ quán Tử Thâm ra mà hỏi rằng:

    - Tại sao hồi hôm ông lại thừa dịp tôi say rượu mà lấy trộm hết ba gánh vải của tôi?

    Tử Thâm ngạc nhiên đáp:

    Cậu nói chi kỳ lạ vậy. Ai lấy trộm vải, mà cậu mất trộm hồi nào tôi đâu có hay biết gì.

    - Ông là chủ quán, tôi trọ ở nhà ông, nay tôi mất hàng, lỗi ở nơi ôn không trông nom. Nếu ông không kiếm ra, thì phải thường cho tôi.

    - Tôi không lấy sao bắt tôi thường.

    - Ông xúi người ta trộm hàng của tôi.

    - Trời ơi, tôi là chủ tiệm lấy khách là căn bản cơm áo lẽ nào lại xúi người khác trộm đồ của cậu thì còn ai tới lưi nhà trọ này nữa.

    - Mặc ông, tôi ở trọ nhà ông mà mất đồ, ông có lỗi.

    - Tôi không có lỗi chi cả.

    Sài Thắng tức quáhét lớn:

    - Ông có lỗi.

    Chủ tiệm Tử Thâm bực mình la lại:

    - Đừng có nói hàm hồ. Ta không lấy trộm, ta không có lỗi chi cả.

    Đôi bên lời qua tiếng lại mỗi lúc một găng. Sau cùng sài Thắng túm ngay lấy Tử Thâm đẩy ra đường, miệng nói lớn:

    - Lên quan, Lên Bao Công đại nhơn phân xử.

    Tử Thâm giằng co một lúc rồi cũng thuận lên nhờ Bao Công đem đèn trờisoi xét.

    Tới Nha của Bao Công, cả hai kéo nhau vào xin phân xử.

    Thơ lại vô bẩn, Bao Công truyền cho dẫn Sài Thắng là nguyên đơn vô trình bày tự sự.

    Nghe xong, Bao Công lắc đầu nói:

    - Ngươi là người có học, ta không cần phải dài dòng. Phàm muốn bắt người ta vì tội trộm phải có tang chứng mới có lý mà đoán ra. Nay không có tang chứng biết đâu mà đoán cho đặng?

    - Xin Thượng quan cứ bắt giữ Tử Thâm để xét hỏi. Tôi chắc là y chớ chẳng còn ai nữa.

    - Không được. Không bằng chứng sao ta bắt giữ y được. Ta chỉ có thể xét hỏi cả nhà ngươi lẫn cả Tử Thâm rồi sau sẽ hay.

    Nói đoạn, ông sai lính kêu Tử Thâm vô nha hỏi rằng:

    - Ngươi là chủ quán Tử Thâm?

    - Dạ phải.

    - Ngươi đã cho Sài Thắng trọ sao lại trộm hàng của khách để hắn phải đi cáo với ta.

    - Tôi không lấy chi của hắn cả. Hắn mất hồi nào tôi đâu có hay. Nhà trọ khách ra vô tấp nập, y có của mà chẳng giữ, mất ráng chịu chớ tôi nào có lỗi gì?

    Sài Thắng cãi:

    - Thưa thượng quan, chính hắn lấy trộm vải tôi, người lạ làm sao vô nhà trọ được.

    Tử Thâm vẫn quả quyết là, không lấy. Đôi bên cãi lộn trước mặt Bao Công.

    Bao Công nổi giận mắng cả hai rằng:

    - Hay cho các ngươi dám đem nhau tới trước mặt ta mà đấu khẩu. Việc thế nào đã có ta phân xử, sao dám làm ồn ào như vậy. Bây giờ y cũng cho là có lý. Ta tạm giữ cả hai lại xem thực hư thế nào đã.

    Nói đoạn ông truyền lính dẫn hai người xuống trại giam rồi sai thám tử đi điều tra.

    Sau ba ngày dò la, các thám tử chịu, không tìm ra được manh mối vụ trộm.

    Bao Công bất lực lắm. Buổi chiều đó Bao Công trở về nhà riêng ở sau công đường, nét mặt không vui. Đi ngang gian nhà trái thấy quan bà đang ngồi dệt vải. Bao Công ghé vô cầm tấm vải đã dệt xong xem một lát rồi chậc lưỡi nói:

    - Thiệt là nan giải.

    Quan bà ngưng tay dệt hỏi chồng:

    - Quan nói sao?

    - Ta gặp một vụ ăn trộm vải mà không tra ra được thủ phạm vì không có bằng chứng chi cả. Thiệt là nan giải.

    - Người mất vải từ đâu lại?

    - Từ phủ Hàng Châu.

    - Thế lại càng khó nữa. Vì một ngày các phường dệt Hàng Châu dệt biết bao nhiêu là vải và cũng biết bao nhiêu người buôn vải từ Hàng Châu qua đây bán.

    - Ta cũng biết vậy. Rắc rối hơn nữa là theo thông lệ kẻ lái buôn vải nào cũng có quyền bôi bỏ nhãn hiệu của người lái buôn trước rồi áp dấu của mình vô. Như vậy thì còn biết đằng nào mà lần ra nữa.

    - Trừ khi kẻ mất vải có nhớ được cả đến thước tấc của mỗi cây vải bị mất…

    - Phải, nhưng với điều kiện là phải bắt y nguyên cả tấm hay là trọn ba gánh vải.

    Phố phủ này rộng lớn có cả trăm tiệm vải chẳng lẽ khi không vô cớ khám xét hết nhà người ta. Vả lại tên trộm vải cũng chẳng dại gì mà bán tháo cả một lúc tới ba gánh vải. Thế nào hắn cũng bán dần dần từng gánh một. Ta chắc là kẻ trộm vải phải là người trong giới buôn vải. Mà như thế lại càng khó tìm ra nữa. Vì họ đông tới cả trăm người và đi về luôn luôn, biết nghi ai mà bắt?

    Nói đoạn Bao Công chắp tay sau lưng lững thững đi ra vườn hoa, nét mặt đăm chiêu.

    Quan bà nhìn theo, lắc đầu ái ngại.

    Bao Công suy nghĩ suốt đêm đó. Sáng sau ông đăng đường sớm kêu hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ lên mà phán rằng:

    Vùng này đã từ lâu không xảy ra trộm cướp. Nay Sài Thắng từ xa đến lại xảy ra vụ mất trộm vải. Vụ này phải ra ra bằng được, và lại phải dùng mẹo mới xong. Vậy hai người khá làm theo lời ta dặn đây.

    Rồi Bao Công dặn nhỏ hai thám tử một hồi. Cả hai nhận lệnh, vái chào lui ra.

    Liền sau đó Bao Công cho dẫn Sài Thắng và Tử Thâm tới trước công đường rồi làm mặt giận, la lối Sài Thắng rằng:

    - Ta cho điều tra đã ba ngày rồi không tìm ra manh mối chi cả.

    Sài Thắng xót của, nài nỉ:

    - Xin quan thương tình giúp cho.

    Bao Công cau mày đáp:

    - Bộ nhà ngươi tưởng ta không muốn tra cho ra sao? Ngặt một điều không thấy chi thì biết phán đoán làm sao.

    Nói đoạn ông sai lính đuổi cả hai về.

    Hai người đi khỏi, Bao Công kêu hai thám tử Trương Long, Triệu Hổ vô hỏi rằng:

    - Có kiếm được vật ta dặn không?

    - Thưa, có. Chúng tôi chờ đến sáng mai sẽ khởi sự.

    Bao Công gật đầu đáp:

    - Tốt lắm, cứ làm như thế ta đã bảo nghe.

    Hai thám tử dạ rân rồi đi rồi lui ra.

    Lại nói về Hạ Nhựt Hạo, lấy được vải của sài Thắng đem về tơi nhà ở ngoai ô liền lập tức bôi nhãn hiệu của các phường dệt ở Hàng châu cùng dấu hiệu của họ Sài đi, đoạn hắn mở túi lấy con dấu của hắn vị vô các súc vải (thì ra hắn cũng là một tay buôn vải nhưng kiêm… đạo tặc).

    Xong đâu đấy hắn giấu hàng kín một chỗ rồi đi nghe ngóng tình hình.

    Thấy Bao Công thả cả Tử Thâm lẫn Sài Thắng ra. Hạ Nhựt Hạo trà trộn vào đám người hiếu kỳ bu quanh cả hai mà hỏi thăm.

    Nghe nói Bao Công tuyên bố chịu, không tìm ra thủ phạm, Hạ Nhựt Hạo cả mừng lủi mau về nhà, lấy một phần vải vào gánh tính đem vô phố phủ bán cho tiệm quen, ngay sáng ấy.

    Vợ Hạo can chồng:

    - Thiếp nghĩ chàng nên để thư thả rồi hãy đem bán. Nhỡ Bao đại nhơn truy ra thì khốn.

    Hạo nhún vai nói:

    - Nàng chỉ hay lo xa, Bao Công chịu không tra ra thủ phạm và đuổi cả Sài Thắng lẫn Tử Thâm về rồi.

    - Thiếp sợ lắm, chàng ơi! Bao đại nơn mưu kế như thần. Chàng bán gấp thế này thế nào cũng mắc mẹo ông ta mất thôi.

    - Ta đã nói không sao mà. Ta hỏi nàng chớ Sài Thắng mấ trộm vải có gì làm bằng chứng là Hạ Nhựt Hạo này lấy không? Dẽ thường khắp bàn dân thiên hạ này chỉ một mình Sài Thắng biết buôn vải ở Hàng Châu về đất Khai Phong này bán sao? Thế còn ta, từ trước đến nay ta không thường buôn vải về bán cho các tiệm quen trong thành đây là gì?

    Vợ Hạo vẫn e ngại:

    - Thiếp vẫn thấy rờn rợn thế nào ấy. Thiệt là khó nói quá.

    - Nàng thấy sao?

    - Thiếp có linh cảm chàng sẽ bị bắt…

    - Thôi đi bà, đừng có dại miệng. Rõ bụng dạ đàn bà có khác. Thôi để yên cho tôi đi.

    Hạ Nhựt Hạo vừa nói vừa cột lại gánh vải cho chắc. Vợ Hạo chưa chịu thôi, ngập ngừng hỏi chồng.

    - Thế … Thế còn đống vải vóc trong kia… Lỡ có ai biết mách với quan thì chàng trả lời làm sao?

    - thì ta trả lời là vải của ta chớ sao nữa. Trên vải có in dấu nhà rồi còn lo chi?

    - Chàng ôi, lỡ quan quân dò hỏi biết là từ bao lâu nay, lực vợ chồng ta chỉ có đủ tiền buôn một gánh thôi, còn hai gánh kia tiền đâu ra mà buôn, thì biết trả lời làm sao?

    Hạ Nhựt cười bảo vợ:

    - Nàng nói có lý. Thôi để ta giấu hai gánh vải còn lại đi nơi khác.

    Nói rồi hắn cùng vợ lén đem hết hai gánh vải ra giấu trong cây rơm ở sau nhà, rồi cột chó dữ ở gần cho canh gác. Vì Hạ Nhựt Hạo ở vùng ngoại ô phủ Khai Phong nên nhà nọ cách nhà kia khá xa lại thêm bị che khuất bởi vườn cây rộng lớn nên lân bang không ai biết việc làm của hắn.

    Trở vào nhà, Hạo bảo vợ:

    - Làm vậy cho nàng bớt lo ngại chứ thực ra Bao Công chẳng có lý do gì khám xét nhà ta cả.

    Nói đoạn, hắn quẩy gánh vải vào thành bán cho tiệm Uông Thành là chỗ bạn hàng quen biết lâu năm.

    Thâu xong bạc, Hạo tất tả về nhà, giơ túi bạc và bảo vợ rằng:

    - Nàng thấy chưa? Bạc đây nè. Ở nhà có quan quân đến hỏi gì không?

    Vợ Hạo cười xoà không đáp. Chiều đó hai vợ chồng giết chồng ăn mừng.

    Sáng sau, trong khi vợ chồng Hạ Nhựt Hạo còn đang hoan hỉ tính chuyện khuếch trương sự làm ăn buôn bán thì tại nhân Nha của Bao Công, viên cai lính lệ cũng đang kiểm điểm hai toán công sai.

    Sau khi dặn dò cặn kẽ, viên cai ra lệnh cho các toán lính lên đường. Toán thứ nhất đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong phố phủ Khai Phong rao cho dân chúng biết rằng: “Sáng nay quan sẽ cho khảo bia đá trước sân Nha để lấy lại ba gánh vải cho Sài Thắng”.

    Mọi người lấy làm lạ rủ nhau lũ lượt kéo đến trước Nha coi sự thể ra sao. Tới nơi họ thấy một toán lính (toán thứ hai) đang ì ạch khiêng tấm bia đá lớn bỏ hoang trên bãi cỏ gần đó về.

    Cửa Nha mở rộng, phía trong sân một toán lính gươm giáo sáng loà đứng thành hình cánh cung, lưng quay ra cửa, mặt trông vào chiếc án thư bày trước thềm công đường. Sau bàn có kê chiếc ghế phủ da cọp. Đó là nơi lát nữa Bao Công sẽ ra ngồi xử án.

    Toán công sai khiêng tấm bia đá đặt giữa sân, trước án thư rồi xếp mấy bó roi song bên cạnh.

    Lát sau một hồi trống nổi lên vang dậy. Bao Cong từ trong công đường uy nghi lẫm liệt bước xuống thềm đến ngồi trước án thư. Thơ lại khúm núm đặt bút nghiên và chồng hồ sơ lên bàn rồi lui về chắp tay đứng hầu sau lưng Bao Công.

    Thấy trước cửa Nha chỉ loáng thoáng có vài người đi qua liếc mắt dòm vào, Bao Công liền kêu viên thơ lại già đến bên và dặn rằng:

    - Ngươi ra bảo lính canh lui vô hết trong sân và mở thật rộng cửa Nha ra. Sau đó, ngươi bảo Trương và Triệu Hổ lẻn ra ngoài trà trộn trong đám người hiếu kỳ. Hễ nghe thấy trong này có tiếng chiêng trống và binh sĩ reo hò thì hai người cứ đến đứng trước cửa Nha mà dòm vào. Chừng nào thấy quá đông thì nhích dần lên và vô hẳn trong sân Nha giả bộ để coi cho rõ. Đến khi ta vỗ tay ra hiệu, hai thám tử sẽ từ từ rút ra ngoài và bảo lính đóng cửa Nha lại.

    Nói tới đây, Bao Công ngưng lại nhìn viên thơ lại già một lúc, rồi như muốn thử tài viên thuộc hạ, ông chậm rãi hỏi:

    - Ngươi có đoán ra mục đích của ta không?

    - Thưa có…

    - Có thì nói đi.

    - Dạ, nếu kẻ thuộc hạ này đoán không lầm thì quan cho là tên trộm vải của Sài Thắng phải ở trong đám người sẽ vô sân Nha.

    - Vì sao?

    - Thưa, tên trộm vải tự biết y là thủ phạm mà không bị bắt nay thấy quan khảo cái bia là vật vô tri vô giác đẻ mong tra ra hắn thì thật là là đời lắm vậy. Nếu người khác tò mò một phần thì hắn sẽ tò mò tới mười phần. Nhưng…

    - Nhưng sao?

    - Nhưng nếu hắn không đến thì quan tính sao? Và nếu hắn có đến thì quan làm sao tra ra hắn được?

    Bao Công cười đáp: -Cái đó thì… hạ hồi phân giải. Thôi ngươi khá đi lo công việc cho rồi

    Viên thơ lại quay ra, Bao Công vuốt râu, lẩm bẩm:

    - Ta có cách rồi. Tuy nhiên ta cũng chịu bó tay nếu gặp phải tên trộm gian ngoan, không mắc vào bẫy của ta. Vụ Sài Thắng mật vải này lẽ ra có thể bỏ qua vì không tìm thấy manh mối chi cả. Bây giờ đây dù có lập đến kế này nhưng cũng trông nhờ ở sự tình cờ bắt được đầu mối mà thôi. Biết đâu trời lại chẳng run rủi cho ta tìm ra tên trộm.

    Lát sau viên thơ lại trở lại bên Bao Công và bẩm rằng:

    - Thưa quan, mọi sự đã sắp đặt xong.

    Bao Công gật đầu và ắng giọng quát lớn:

    - Lính đâu, hãy đánh cho tên Bia đáng ghét kia hai mươi roi cho ta.

    Một chú lính dạ thật lớn rồi bước tới rút roi song quật đủ hai mươi roi vào tấm bia giữa tiếng chiêng trống đổ hồi và tiếng quân lính reo hò ầm ĩ.

    Thấy không có lính gác lại thấy Trương Long và Triệu Hổ (mặc giả làm lái buôn) đứng chình ình trước cửa Nha mà dòm vô, Đám người hiếu kỳ hùa nhau kéo đến mỗi lúc một đông.

    Bao Công giả bộ cúi xuống coi lại hồ sơ một lát rồi ngửng lên thét vang như sấm:

    - Tên Bia này to gan thực. Lính đâu đánh cho nó hai mươi roi nữa.

    Lại một chú lính khác tiến ra lấy roi song đập đủ hai mươi roi vào tấm bia. Chiêng trống và tiếng reo hò của quân lính lại nổi lên như sóng cồn.

    Hai thám tử của Bao Công bước tuốt vô trong sân Nha. Đám người ào vô theo. Phút chốc sân Nha đầy nhóc người xem Bao Công khảo bia để tra ra kẻ trộm vải của Sài Thắng.

    Bao Công cứ tái diễn mãi tấn tuồng tra bia đá tới lần thư tư thì ông vỗ tay làm hiệu. Nhanh như cắt bọn lính gác đóng ập cửa Nha lại và ra lệnh cho dân chúng phải đứng yên tại chỗ. Bao Công kêu lính dẫn bốn người đứng ở hàng đầu tới trước án như cho ông xét hỏi.

    Bốn người ríu rít tuân lờ, Bao Công giả làm mặt giận, vỗ bàn, la rằng:

    - Ta đang xét xử, cớ sao các ngươi dám dắt những người kia vô đây làm mất trật tự? Tội các ngươi đáng đánh đòn, nhưng ta làm phước tha cho nhưng phải chịu phạt theo lối khác, chịu không?

    Cả bốn dạ rân đáp:

    - Xin chịu.

    Bao Công gật đầu phán rằng:

    - Tốt lắm. Bây giờ bốn người hãy khai tên họ địa chỉ cho thơ lại rồi sau đó sẽ ra thu xếp với đám người đứng ở góc sân kia, coi xem ai bán gì thì phải nộp phạt bằng vật ấy: Thịt phạt thịt, vải phạt vải, gạo phạt gạo, bốn người liệu phải thâu phạt cho đủ rồi đem đến. Hiểu chưa.

    - Dạ hiểu.

    - Vậy thì mau ra cắt nghĩa cho những người kia rồi an phận nấy lo đem đến nộp phật cho đủ. Bốn người sẽõ tự đứng ra ghi tên tuổi địa chỉ của người nạp phạt cùng số loại hàng nạp. Thôi các ngươi đi lo ciệc cho xong đi.

    Bốn người vái dài Bao Công rồi đi về phía cuối sân Nha loan tin cho mọi người hay trong khi Bao Công từ từ đứng dậy lui vô bên trong công đường.

    Chừng một tiếng đồng hồ sau, họ thâu đủ số phạt, không sót một ai và đem trình Bao Công.

    Bao Công xem qua các món thấy có mấy tấm vải liền sai lính để riêng ra đoạn ông kêu bốn người đại diện vô mà hỏi rằng:

    - Trong bốn người có ai buôn bán vải lụakhông?

    - Dạ không?

    - Thế có bà con, cô bác hay bạn hữu làm chi nghề đó không?

    - Thưa, cũng không.

    - Khai cho thiệt nghe, chớ có dấu quanh mà ta tra ra thì bị tội nặng nghe.

    - Dạ, chúng tôi khai thiệt.

    - Tốt lắm. Bây giờ ta tạm giữ lại ba tấm vải mai sẽ hoàn lại, còn các món khác các ngươi đem về trả hết lại cho người ta.

    Bốn người vừa lãnh đồ đem ra khỏi Nha thì Bao Công kêu ngay lính xuống nhà dưới nói với quan bà cho mượn vài ba cây vải nhà dệt đem lên để cùng với đống vải nộp phạt. Đoạn ông sai lính hoả bài đi đòi Sài Thắng và Tử Thâm đến hầu gấp.

    Bao Công lấy tấm vải mà quan bà dệt ra và hỏi Sài Thắng:

    - Phải vải này của ngươi bị mất không?

    - Dạ không. Vải này chẳng phải của tôi.

    Bao Công lại chìa tấm vải khác ra hỏi, Sài Thắng cũng không nhận. Tới lần thứ năm, nhìn một tấm vải nộp phạt, Sài Thắng coi kỹ một lát rồi reo lên:

    - Thưa quan, vải này đúng là của tôi, sao quan tìm ra?

    Bao Công đòi lại tấm vải rồi chậm rãi hỏi Sài Thắng:

    - Có chắc không?

    - Dạ chắc lắm.

    - Nhãn hiệu khác mà sao dám là chắc?

    - Tên trộm đã bôi bỏ nhãn hiệu cũ xong đúng là vải của tôi bị mất trộm. Xin quan lật lại mặt trái, nơi mép trên có ghi chữ “bát” và chữ “tam” nhỏ li ti. Đây là cây vải thứ tám trong loại vải thứ ba chúng tôi buôn từ Hàng Châu qua đây để bán. Tôi xin đọc ra đây thước tấc mỗi cây, xin quan cho đo lại, nếu không đúng, tôi xin chịu tội.

    Nghe xong, Bao Công truyền thơ lại, đo lại thấy đúng như lời khai của Sài Thắng, không sai một phân.

    Ông trỏ những cây vải còn lại biểu sài Thắng coi còn tấm nào của y nữa không. Sài Thắng xem mọt lượt rồi trả lời:

    - Thưa quan chỉ có một cây vải ấy mà thôi.

    Bao Công truyền lính đưa Sài Thắng và Tử Thâm ra sân chờ lệnh ông sai người đi kêu bốn người dân lúc trước đến hầu gấp.

    Bao Công trỏ tấm vải của Sài Thắng và hỏi bốn người rằng:

    - Tấm vải này do ai nộp phạt đây?

    - Dạ, của chủ tiệm Uông Thành.

    - Có đúng không?

    - Thưa đúng lắm. Tất cả chỉ có ba tiệm vải đi coi thì bị phạt. Tấm vải quan vừa hỏi đó là tấm trắng nhất của tiệm Uông Thành. Còn hai tấm kia khác mầu và xấu hơn.

    Bao Công dạy lính công sai đi bắt chủ tiệm Uông Thành về Nha xét hỏi:

    - Phải tấm vải này của nhà ngươi không?

    - Dạ phải.

    - Nhà ngươi đi Hàng Châu buôn về sao?

    - Thưa không, xưa nay tôi chỉ mua lại của các lái buôn thôi.

    - Cây vải này mua của ai?

    - Dạ, của người lái tên là Hạ Nhựt Hạo.

    - Mua nhiều ít và lâu mau rồi?

    - Dạ, mua một gánh, mới bữa qua thôi.

    - Nhà ngươi có biết vải này là của Sài Thắng bị mất trộm không?

    - Thưa không, thường ngày tiệm tôi mua đi bán lại cũng nhiều. Vả lại Hạ Nhựt Hạo với tôi là chỗ bạn hàng lâu năm.

    Bao Công suy nghĩ một lát rồi vuốt râu hỏi tiếp:

    - Những chuyến trước… Tên Hạo có buôn về nhiều như vậy không?

    - Y vẫn thường buôn về một gánh, từ mấy năm nay rồi.

    - Ngươi biết địa chỉ của Hạ Nhựt Hạo chớ?

    - Dạ biết. Trước đây tôi có ghé qua nhà y đôi ba lần dự ti65c.

    Bao Công trỏ Uông Thành mà bảo viên thơ lại già rằng:

    - Nhà ngươi hãy lấy lính đi cùng với người này lại tiệm đem chỗ vải y đã mua được đem về Nha cho ta.Sau đó ngươi lại dẫn lính đi cùng anh ta bắt Hạ Nhựt Hạo và lục soát kỹ nhà tên Hạo xem sự thể ra sao.

    Viên thơ lại tuân lời điểm một toán lính và lên đường tức tốc.

    Lại nói về Hạ Nhựt Hạo vì ở ngoại ô nên không hay biết gì về các sự xẩy ra ở thành cả nên vẫn đắc chí ngồi nhà nhậu nhẹt, tính chuyện tương lai cùng vợ.

    Lúc rượu đã xoàng xoàng, Hạ Nhựt Hạo bảo vợ:

    - Bây giờ, nàng hãy giúp ta đem hai gánh vải giấu nơi cây rơm sau vườn vào nhà, kẻo để lâu hư hết.

    Vợ Hạo can:

    - Thiếp nghĩ chàng nên để qua vài bữa nghe ngóng ra sao cho chắc ăn đã đừng nên hấp tấp. Thiếp vẫn thấy… thế nào ấy.

    Hạo gắt:

    - Còn gì nữa mà không chắc ăn. Nàng chỉ hay lo quẩn, lo quanh.

    Vợ Hạo thấy chồng gắt, vội đấu dịu:

    - Thì chắc ăn rồi, thiếp có nói sao. Nhưng thôi đề chiều nay lấy vào cũng chẳng muộn gì. Chàng hãy nhậu tiếp đi cho vui vẻ đã.

    Hạo hài lòng, cười hề đáp:

    - Ờ nói vậy nghe xuông tai hơn…

    Hắn chưa dứt lời xẩy có con trai lớn của người bạn ở đầu xóm hớt hải chạy xồng xộc vào nhà, vừa thở vừa nói rằng:

    - Bác Hạo ơi, các quân lính trên Nha về bắt bác kia kìa. Họ sắp vô tới nơi đó, bác.

    Nói rồi, thằng bé lủi nhanh như cắt ra cửa và chạy mất dạng.

    Vợ Hạo mặt tái mét, run rẩy bảo chồng:

    - Đấy, thiếp nói có sao đâu.

    Hạ Nhựt Hạo tuy có chột dạ nhưng vẫn cố bình tĩnh bảo vợ:

    - Nàng đừng có hốt hoảng cứ làm mặt thản nhiên như không để mặc ta đối phó. Nếu họ có xét nhà và hạch hỏi cứ khai là đờn bà không hay biết gì cả.

    Nói đoạn Hạo ung dung ngồi nhắm rượu.

    Khi quân lính và chủ tiệm Uông Thành ập vô nhà thì Hạo giả bộ ngạc nhiên hỏi:

    - Kìa bác Uông Thành đi đâu mà có quân lính theo rầm rộ vậy?

    Chủ tiệm Uông Thành không dám trả lời chỉ đưa mắt nhìn viên thơ lại. Người này nạt nộ Hạo rằng:

    - Ngươi lấy trộm ba gánh vải của Sài Thắng rồi đem bán cho tiệm Uông Thành hết một gánh. Biết điều thì nhận tội và nộp trả hai gánh còn lại ngay đi.

    Hạo cứng cỏi chỉ maặt Uông Thành nói:

    - Hay cho anh này, khi không vu vạ cho người ta.

    Nào ai lấy trộm vải của Sài Thắng? Dễ thường tới mấu năm nay tôi cũng bán vải ăn trộm cho anh ấy hẳn!

    Chủ tiệm Uông Thành chưa biết trả lời ra sao thì viên thơ lại đã quát lớn:

    - Việc thế nào đã có bao Đại nhơn phân xử. Lính đâu xét nhà tên này cho ta.

    Vợ Hạo nghe vậy thất kinh đưa mắt nhìn chồng rồi nhìn về phía cây rơm sau vườn. Hạo trừng mắt nhìn vợ. Vợ Hạo cúi mặt nhìn xuống đất, tay hơi run run. Nhưng may quân lính không ai để ý đến mụ cả, chỉ hối nhau đi lục soát khắp nhà Hạo. Dĩ nhiên là họ không thấy gì cả.

    Viên thơ lại bực tức hô hai lính công sai ra kiếm sau vườn. Con chó mực cột gần cây rơm cất tiếng sủa rầm ĩ. Hai chú kli1nh đến gần cây rơm ngó quanh một lúc rồi bảo nhau:

    - Thôi vô cho được việc, đứa nào dại mà giấu vải ngoài vườn cho mưa nắng làm hư đi sao:

    Thế là cả hai kéo nhau trở vô nhà và lắc đầu nói với viên thơ lại:

    - Ngoài vườn cũng chẳng có gì lạ cả.

    Viên thơ lại quay rabảo Hạ Nhựt Hạo:

    - Thôi được anh theo tôi về trình qan.

    - Tôi làm gì mà bắt tôi.

    - Thì lệnh quan, trên bảo đưa anh về Nha thì cứ phải tuân theo đã.

    Hạo đành phải theo quân lính lên đường…

    Trước mặt Bao Công, Hạo vẫn chối dài. Bao Công bình tĩnh hỏi:

    - Nhà ngươi qua Hàng Châu buôn chuyến vải này lâu mau?

    Hạo lúng túng đáp liền:

    - Dạ cách đây một tuần.

    Mọi lần trước đi về mấy bữa thì đem bán cho tiệm Uông Thành?

    - Dạ lối đôi ba bữa.

    - Sao kỳ này chậm bán vậy.

    Hạo lúng túng đáp:

    - Dạ …. Vì đau.

    Bao Công nhanh ý nhận ra ngay sự thiếu thành thật của Hạ Nhựt Hạo nên quát lớn:

    - Nói láo. Mi không ra khỏi làng từ hai tuần nay. Lính đâu vật nó ra đánh mười roi cho ta.

    Hạo bị đòn chịu không thấu đành thú nhận lấy trộm ba gánh vải của sài Thắng.

    Bao Công hỏi:

    - Còn hai gánh vải dấu ở đâu?

    - Dạ, trong cây rơm ở sau vườn.

    Bao Công trợn mắt quát viên thơ lại:

    - Đồ ăn hại, bảo xét nhà nó cũng không xét kỹ.

    Nói rồi ông sai lính đi lấy chỗ vải đem về Nha.

    Sài Thắng nhận là ba gánh vải của mình. Bao Công quở mắng sài Thắng:

    - Lần này ta tha cho nhà ngươi. Lần sau không nên hồ đồ gán tội cho người ngay nữa nghe.

    Nếu không tra ra có phải là oan cho Tử Thâm không?

    Sài Thắng và Tử Thâm vái tạ Bao Công rồi vui vẻ chia nhau gánh vải ra về.

    Còn Hạ Nhựt Hạo bị bao Công kết án đày đi xứ xa.
Cảm ơn bạn đã đến với Forumtruyen.net cùng đọc truyện đủ mọi thể loại như truyện teen, truyện ngắn hay ebook truyện

Chia sẻ trang này